1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG

85 904 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sử dụng các thí nghiệm sinh học phù hợp thí nghiệm sinh trưởng trong điều kiệncác trang trại kết hợp ở vùng đồi núi để xác định một số chỉ tiêu về sinh trưởng vàsinh sản của lợn bản đị

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI ĐẠI HỌC HUẾ

SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Trung Thông

Huế, 2010

Trang 2

Lời cảm ơn

Để đề tăi nghiín cứu năy được thực hiện, chúng tôi đê nhận được sự hỗ trợ tăi chính

vă tạo điều kiện của Trung tđm khuyến nông tỉnh, Sở Nông nghiệp vă Phât triển nôngthôn, Sở Khoa học – Công nghệ vă Ủy ban nhđn dđn tỉnh Quảng Ngêi Chúng tôi xinđược băy tỏ sđu sắc lòng biết ơn chđn thănh Đồng thời, lời cảm ơn chđn thănh đượcgửi đến cân bộ chuyín môn, cân bộ lênh đạo vă người dđn địa phương ở câc vùngkhâc nhau trín địa băn tỉnh Quảng Ngêi – những người đê nhiệt tình hợp tâc, giúp đỡ

vă đặc biệt đê cung cấp những thông tin quý giâ phục vụ cho đề tăi

Chúng tôi đânh giâ cao sự hợp tâc của câc hộ gia đình Ông Lí Minh Bửu ở xê HănhPhước – huyện Nghĩa Hănh, Ông Tiíu Tùng ở xê Hănh Minh – huyện Nghĩa Hănh văÔng Nguyễn Thănh Lộc ở xê Minh Long, huyện Minh Long đê tạo điều kiện thuận lợicho đề tăi nghiín cứu được thực hiện một câch tốt nhất

Chúng tôi xin cảm ơn câc cân bộ phđn tích phòng Thí nghiệm Trung tđm – KhoaChăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lđm Huế đê tận tình giúp đỡ trong quâ trìnhthực hiện đề tăi nghiín cứu năy

Huế, ngăy 20 thâng 08 năm 2010 Nhóm nghiín cứu

Trang 3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

1 Mục tiêu:

Đề tài nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh giá hiện trạng và thu thập cácthông tin cơ bản về đặc điểm sinh học của lợn bản địa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, từ

đó tạo cơ sở cho việc sử dụng, bảo tồn và quản lý nguồn gen của lợn bản địa Ngoài ra,

đề tài còn nhằm tăng cường sử dụng tiềm năng của địa phương để phát triển các hệthống chăn nuôi lợn phù hợp với các điều kiện tự nhiên, điều kiện chăm sóc nuôidưỡng khác nhau, góp phần tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng đồi núi, tạo sảnphẩm sạch, an toàn, có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu tiêu dùng ngày càng giatăng của xã hội

2 Các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thường quy về điều tra, phương pháp có sự tham gia của cán bộchuyên môn, cán bộ lãnh đạo và người dân địa phương để nắm được thực trạng về lợnbản địa trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Sử dụng các thí nghiệm sinh học phù hợp (thí nghiệm sinh trưởng trong điều kiệncác trang trại kết hợp ở vùng đồi núi) để xác định một số chỉ tiêu về sinh trưởng vàsinh sản của lợn bản địa và lợn lai giữa lợn bản địa với lợn rừng

- Sử dụng các kỹ thuật phân tích truyền thống trong phòng thí nghiệm kết hợp vớicác kỹ thuật sinh học phân tử hiện đại để nghiên cứu, đánh giá chất lượng thịt và đahình gen của lợn bản địa được nuôi trong điều kiện trang trại kết hợp ở vùng đồi núitỉnh Quảng Ngãi

3 Kết quả chính đạt được:

- Kết quả điều tra cho thấy ưu điểm của lợn bản địa là khả năng thích nghi cao vớimôi trường, tính chống chịu bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, gắn liền với nghi lễ

và tập quán văn hóa của người dân, Tuy nhiên, số lượng lợn Kiềng Sắt hiện còn rất

ít và phân bố rải rác ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, tập trung chủ yếu ở một số xãthuộc 2 huyện Ba Tơ và Sơn Tây

- Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản cho thấy lợn nái Kiềng Sắt động dụclần đầu ở giai đoạn 5 tháng tuổi Khi động dục, lợn nái thường biểu hiện không rõ ràng

và yên tĩnh hơn so với một số giống lợn khác Mỗi năm lợn nái Kiềng Sắt đẻ 1,96 lứa

Số con sơ sinh trên lứa tăng dần từ lứa 1 dến lứa 3 Tỉ lệ số con cai sữa dao động từ95,63 – 95,86% so với số con sơ sinh

- Ở giai đoạn 11 tháng tuổi, lợn Kiềng Sắt có trọng lượng trung bình 29,42 kg Tốc

độ tăng trọng trung bình là 105,26 g/con/ngày Tiêu tốn thức ăn tinh trung bình ở giaiđoạn thí nghiệm là 3,81 kg TĂT/1 kg TT Đối với con lai giữa lợn nái Kiềng Sắt vớilợn đực rừng, các giá trị này cho kết quả thấp hơn, lần lượt là 25,30 kg/con, 89,32g/con/ngày và 3,57 kg TĂT/1 kg TT

- Đối với lợn Kiềng Sắt, tỉ lệ thịt móc hàm và tỉ lệ thịt xẻ lần lượt là 74,16% và60,28% Tỉ lệ nạc/thịt xẻ đạt 43,41% Trên đối tượng lợn lai, tỉ lệ nạc cho kết quả caohơn (55,18%) Tuy nhiên, tỉ lệ thịt móc hàm và tỉ lệ thịt xẻ có giá trị thấp hơn, tươngứng là 66,23% và 52,64% Khả năng giữ nước của thịt lợn lai sau 24 giờ tương đươngvới khả năng giữ nước của thịt lợn Kiềng Sắt (96,11% so với 96,51%) Kết quả nghiêncứu chất lượng thịt cho thấy phương thức nuôi áp dụng trên lợn Kiềng Sắt và lợn laigiữa lợn nái Kiềng Sắt với lợn đực rừng cho sản phẩm sạch, an toàn và đáp ứng đượcyêu cầu của thị trường Không có dấu vết của hiện tượng tồn dư tetracylin, furazolidon

Trang 4

và clenbuterol trong các mẫu thịt lợn nghiên cứu Thịt có mùi thơm, dai, vị rất ngọt vàtính ngon miệng cao hơn hẳn so với các loại thịt lợn khác có phổ biến trên thị trường

- Đã khuếch đại thành công và xác định được đa hình gen leptin và PSS ở lợn Kiềng

Sắt Kết quả nghiên cứu này là dữ liệu quan trọng trong công tác phát triển giống lợnKiềng Sắt theo định hướng cho chất lượng thịt cao, đồng thời là cơ sở để đưa ra cácchiến lược bảo tồn nguồn gen quý của lợn bản địa ở địa phương

Từ những kết quả nghiên cứu cho thấy lợn bản địa có những đặc tính quý về mặtsinh học và chất lượng thịt, do đó việc tiến hành các biện pháp nhằm bảo tồn và pháttriển lợn Kiềng Sắt là hết sức cần thiết Đặc biệt là việc quy hoạch vùng chăn nuôi, giữlại những con lợn thuần và loại thải những con lai nhằm giữ gìn và phát triển lợn bảnđịa, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa của địa phương

Trang 5

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi an toàn và bền vững là hướng nghiên cứu được quan tâm nhiều trongnhững năm qua Để đảm bảo sản xuất bền vững, ít phụ thuộc thức ăn công nghiệp vàcác nông dược khác, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã khuyến cáo các tỉnhnên chủ động sử dụng các giống bản địa và khai thác nguồn thức ăn phong phú, rẻ tiền

và sẵn có ở địa phương (Cục Chăn Nuôi, 2007) Giống bản địa là những giống vật nuôigắn bó lâu đời và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái nông nghiệp cũng như tập quánsản xuất, bản sắc văn hóa của một vùng miền hay dân tộc nào đó (Nguyễn KimĐường, 1992; Lê Viết Ly và cs, 1999) Theo Hoàng Kim Giao (2006) các biện phápphát triển chăn nuôi phải được khuyến khích theo cả hai hướng, đó là chăn nuôi thâmcanh trong các trang trại tập trung quy mô lớn và chăn nuôi theo hướng truyền thống.Hiện nay, Nhà nước khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi theo hướng truyềnthống do các giống nội địa rất phong phú, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện vàtập quán chăn nuôi theo các vùng khác nhau, đáp ứng được nhu cầu đa dạng về sảnphẩm Ngoài ra, việc sử dụng các giống bản địa vào thực tiễn sản xuất nhằm bảo tồn

đa dạng sinh học cũng là một trong những nội dung quan trọng trong chính sách pháttriển chăn nuôi hiện nay

Có bằng chứng cho thấy hiện nay lợn bản địa vẫn còn được nuôi ở một số xã thuộcvùng núi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi (Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, 2008).Theo tiếng của người Hre, lợn bản địa có tên gọi là lợn Kiềng Sắt Lợn Kiềng Sắt cóđặc điểm ngoại hình cơ bản là lông đen tuyền toàn thân, da đen, mặt thẳng, mõm khádài, chân thẳng, thân ngắn và thon, tai nhỏ vừa và thẳng vểnh lên trên Lợn Kiềng Sắt

có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu miền núi và tập quán chăn nuôi củangười dân địa phương, có khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng,tính chống chịu bệnh tật tốt, … Lợn Kiềng Sắt hiện đang có tầm quan trọng trong cơcấu đàn của địa phương, không chỉ có vai trò quan trọng trong kinh tế gia đình mà còn

là vật cúng tế linh thiêng trong những ngày lễ hội của buôn làng

Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá một cách cơ bản

và toàn diện về lợn Kiềng Sắt Các nghiên cứu nhằm quản lý và khai thác tiềm năngcủa lợn Kiềng Sắt vào việc phát triển đa dạng hệ thống canh tác, phù hợp với sinh thái

và trình độ sản xuất của từng vùng cũng chưa được thực hiện Từ những lý do nêu

trên, đề tài “Nghiên cứu phát triển các giống lợn bản địa cho hệ thống chăn nuôi trong các trang trại kết hợp ở vùng trung du và đồi núi nhằm sản xuất thịt lợn chất lượng cao và an toàn phục vụ thị trường tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi’’

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nắm được thực trạng (đặc điểm ngoại hình, năng suất và chất lượng thịt) của lợnbản địa (lợn Kiềng Sắt) hiện đang còn được sử dụng trong chăn nuôi trên địa bàn tỉnh

Trang 6

Quảng Ngãi, từ đó làm cơ sở cho việc sử dụng, bảo tồn và quản lý nguồn gen lợn bảnđịa

- Tạo ra con lai có máu lợn bản địa với hệ thống sản xuất trong các trang trại kếthợp ở vùng đồi núi Đồng thời nghiên cứu sinh trưởng và chất lượng thịt của con laigiữa lợn bản địa ở Quảng Ngãi với lợn rừng

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Số liệu nghiên cứu của đề tài này sẽ là tài liệu quan trọng đóng góp vào cơ sở dữliệu về sinh trưởng, phát triển và chất lượng thịt của các giống lợn ở Việt Nam

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để các cơ quan thẩm quyền triển khai bảo tồn

và sử dụng tốt hơn tiềm năng của lợn bản địa vào quá trình phát triển kinh tế – xã hộicho các vùng đồi núi trong địa bàn của tỉnh Quảng Ngãi Đồng thời cung cấp thêmthông tin về lợn bản địa cho tỉnh Quảng Ngãi – một đối tượng vật nuôi quý khôngđược quan tâm nhiều Đề tài cũng đã góp phần cung cấp sản phẩm thịt an toàn và hợpthị hiếu người tiêu dùng trên địa bàn, đa dạng hóa và tạo sinh kế bền vững cho ngườidân ở khu vực đồi núi, góp phần tăng thu nhập cho người dân, đồng thời tận dụngnguồn lao động và tài nguyên trong nông thôn

Trang 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Đa dạng sinh học

2.1.1 Tổng quan về đa dạng sinh học

Trong những năm gần đây, do nhiều nguyên nhân như áp lực của sự gia tăng dân số,vấn đề ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất đã ảnh hưởng lớn đến đời sốngcủa nhân loại Nhiều nhà khoa học đã lên tiếng kêu gọi mọi người hãy bảo vệ hànhtinh của chúng ta, mà trong đó vấn đề bảo đảm duy trì sự cân bằng của đa dạng sinhhọc đóng vai trò rất quan trọng Trong công tác nghiên cứu bảo tồn, cần phải nắmvững về đa dạng sinh học, từ đó mới tiến hành chiến lược bảo tồn các sinh vật, nhằmduy trì sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất Theo Mackenzie và cs (2003), đa dạngsinh học là tính đa dạng giữa các sinh vật sống từ mọi nguồn, trong đó bao gồm các hệsinh thái trên cạn, biển và các hệ sinh thái dưới nước khác cùng với các phức hệ sinhthái khác trong đó các sinh vật sống chỉ là một thành phần

Theo Richard (1999) đa dạng sinh học là sự phồn thịnh của sự sống, bao gồm toàn

bộ sinh vật sống trên trái đất, có thể nhìn nhận đa dạng sinh học ở ba cấp độ khácnhau, bao gồm: đa dạng loài, đa dạng gen và đa dạng hệ sinh thái Đa dạng loài là đadạng ở mức độ loài, là sự phong phú của các loài Ở cấp độ này, đa dạng sinh học baogồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất từ vi khuẩn, nấm đến các loài động, thựcvật sống trong một vùng nhất định Đa dạng di truyền hay đa dạng gen là đa dạng ởmức độ trong loài, bao gồm sự đa dạng phong phú của các gen trong quần thể Đadạng gen thể hiện sự phong phú ở mức độ gen, là tập hợp những biến đổi của các gen

và các kiểu genotype trong nội bộ của một loài, giữa các loài, cũng như sự khác biệtgiữa cá thể cùng chung sống trong một quần thể Đây là sự đa dạng quan trọng nhất,

nó là chìa khóa của một loài có thể tồn tại lâu dài trong tự nhiên, vì nó có khả năngthích nghi với những thay đổi bất lợi của thời tiết, khí hậu, môi trường (Lê Trọng Cúc,2002) Ngoài ra, đa dạng sinh học còn bao gồm sự phong phú về các hệ sinh thái gọi là

đa dạng hệ sinh thái Đa dạng về hệ sinh thái là một cộng đồng gồm các loài sinh vậtsống trong cùng một điều kiện nhất định, nó thể hiện ở sự khác nhau giữa các kiểuquần xã sinh vật tạo nên do các cơ thể sống và mối quan hệ giữa chúng với nhau vàvới các điều kiện sống (đất, nước, khí hậu, địa hình) (Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) Bacấp độ này có mối quan hệ tương hỗ, nhưng mỗi cấp độ đều đủ độc lập để nghiên cứunhư ba phần riêng biệt Ngoài mối quan hệ tương hỗ giữa ba cấp độ đó, trong đa dạngsinh học còn có tác động tương hỗ giữa các sinh vật với các nhân tố môi trường Cácnhân tố trong đa dạng sinh học liên kết với nhau để tồn tại, tạo ra một thế cân bằngnhất định

2.1.2 Giá trị của đa dạng sinh học

Vai trò của đa dạng sinh học đối với con người chúng ta khó có thể đánh giá hếtđược, bởi vì con người đang sống trong một môi trường luôn có sự biến động Ngoàinhững giá trị có thể nhìn thấy của đa dạng sinh học, còn có những giá trị vô cùng tolớn khác mà chúng ta không thể đánh giá Bởi vì không có sự đa dạng sinh vật trên tráiđất của chúng ta thì sẽ không bao giờ có sự sống McNeely (1988 và 1990) (tdtNguyễn Nghĩa Thìn, 2005) đã chia giá trị của đa dạng sinh học thành hai loại là giá trịtrực tiếp và giá trị gián tiếp

Hầu hết lương thực, thực phẩm cho con người được cung cấp từ động thực vật, đây

là giá trị vô cùng quan trọng của đa dạng sinh học, hơn 3000 loài/250.000 giống câyđược coi là nguồn thức ăn, 75% chất dinh dưỡng cho con người cung cấp từ lúa, mì,ngô, khoai, mạch, khoai lang và sắn Trong đó 3 loại lúa, mì, ngô cung cấp hơn 50%

Trang 8

chất dinh dưỡng cho con người, Một nguồn thực phẩm quan trọng mà không thểkhông kể đến là thực phẩm có nguồn gốc từ động vật Con người không thể sống đượcnếu không có lượng protein cung cấp cho cơ thể, mà hầu hết nguồn thực phẩm nàyđược cung cấp từ động vật như chim, thú, cá, côn trùng, sâu, ấu trùng, Lượng thựcphẩm này chiếm một tỉ lệ rất lớn ở một số quốc gia: Botswana 40%, Nigeria 20%,Zaire 75% (Salc, 1981; Myers, 1998; tdt Nguyễn Nghĩa Thìn, 2005) Ngoài vai trò lànguồn cung cấp thực phẩm, đa dạng sinh học còn mang lại nguồn thông tin cho cáclĩnh vực văn hoá, giáo dục, thẩm mỹ và tinh thần như cung cấp cây cảnh (NguyễnNghĩa Thìn, 2005) Đặc biệt trong đời sống tinh thần của con người, những khu rừngnguyên sinh, rừng sinh thái là nơi tạo nguồn cảm xúc cho sáng tạo trong văn học, hộihọa, thơ ca, nó cũng là nguồn tài nguyên phục vụ cho dịch vụ du lịch giải trí, săn bắn,câu cá, sưu tập, chụp ảnh, Ngoài ra, các gen, các loài và các hệ sinh thái là kho tàngchứa đựng các thông tin về sự sống để thích nghi với môi trường thay đổi trong quákhứ (Lê Trọng Cúc, 2002)

Ngoài những giá trị trực tiếp của đa dạng sinh học mà ta có thể nhìn thấy được, mộtgiá trị khác mà con người không thể bán hoặc định lượng, đó là những lợi ích mà nómang lại như điều hoà khí hậu, đảm bảo số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, Trong thế giới sinh vật, sự tác động tương hỗ của các sinh vật trong quá trình sống đãđem lại cho con người năng suất cây trồng và tính bền vững nông nghiệp Theo tác giả

Lê Trọng Cúc (2002), hơn 40 loại cây trồng ở Mỹ có giá trị 30 tỉ USD phụ thuộc vàocôn trùng truyền phấn, trong đó có 15% là ong nhà, còn lại là côn trùng hoang dại.Ong, bướm, chim, dơi, các loài động vật có vú và các côn trùng khác đã thụ phấn chohơn 70% cây trồng trên thế giới và 90% thực vật có hoa Hiện nay trong công tác bảo

vệ thực vật, nhiều quy trình đã được các nhà khoa học khuyến khích áp dụng như quytrình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), là một hệ thống quản lý dịch hại mà trongkhung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại,

sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độcủa các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế Việc sử dụng các sinhvật ký sinh và thiên địch trong các hệ sinh thái trên thế giới đã làm giảm khoảng 5 – 10lần lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng, nếu không có các loài này mà chỉ sử dụngthuốc bảo vệ thực vật để bảo vệ mùa màng sẽ là thảm họa đối với môi trường Trongnông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản đang còn phụ thuộc rất nhiều đến các loài hoang

dã, họ hằng của các loài đã thuần hoá Chúng cung cấp các nguyên liệu di truyền cókhả năng kháng bệnh, nâng cao năng suất, cải thiện sự thích nghi đến các điều kiệnmôi trường,

2.1.3 Đa dạng động vật ở Việt Nam

Ở những vùng nhiệt đới nói chung và Việt Nam nói riêng, với khí hậu nóng ẩm,mưa nhiều và rất đa dạng về sinh thái, địa hình Hệ thống động thực vật học ở đâycũng vô cùng phong phú và thường có chuỗi thức ăn phức tạp Theo Nguyễn Thị Ngọc

Ẩn (2004), ở Việt Nam đã phát hiện được 15.575 loài động vật, trong đó có 1.009 loàichim, 265 loài thú, 349 loài bò sát lưỡng cư, 2.000 loài cá biển, hơn 500 loài cá nướcngọt và hằng ngàn loài nhuyễn thể, thuỷ sinh vật khác Trong các loài động vật đã pháthiện có tới 172 loài đặc hữu với 14 loài thú Giới động vật Việt Nam có nhiều loài đặchữu bao gồm hơn 100 loài và phân loài chim, khoảng 80 loài và phân loài thú; trong

đó có rất nhiều loài đặc trưng nhiệt đới có giá trị bảo tồn như: Cheo (Tragulus), Chồn bay (Cynocephalus), Cầy mực (Arctictis), Culi (Nycticebus), Heo vòi (Tapirus), Bò xám (Pseudibis davisoni), Ngan cánh trắng (Cairina scululata), Kết quả nghiên cứu

của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới cho thấy Việt Nam là một nước giàu về

Trang 9

thành phần loài, có mức độ cao về đặc hữu so với các nước trong khu vực Ở ViệtNam có 15/21 loài khỉ, trong đó có 7 loài đặc hữu, 10/49 loài chim đặc hữu, trong khiMyanmar, Thái lan, Malaysia mỗi nơi chỉ có 2 loài, Lào có 1 loài và Campuchia không

có loài đặc hữu nào (Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2004)

Trong khi đó, đối với vật nuôi tại Việt Nam, theo đánh giá của Jucovski (1970) (tdtNguyễn Huy Dũng và Vũ Văn Dũng, 2007), Việt Nam là một trong 12 trung tâmnguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới

Sự ra đời của các giống vật nuôi ở Việt Nam gắn liền với quá trình phát triển nôngnghiệp hằng ngàn năm của người nông dân Việt Nam là nước đa dân tộc, với 54 dântộc anh em thuộc từng vùng miền khác nhau Mỗi dân tộc đều có một đời sống văn hoáđặc thù riêng đậm đà bản sắc Trong quá trình sống và sản xuất, họ có cách thuần hoá

và nuôi dưỡng gia súc khác nhau tạo nên nhiều giống bản địa được xem là những lễvật có giá trị văn hoá đặc thù của từng dân tộc, để sử dụng cúng tế trong các dịp lễ hội.Mặt khác, trong quá trình phát triển về nông nghiệp, Việt Nam luôn được coi là nước

đi sau về công tác giống vật nuôi, đặc biệt ở nông thôn vùng sâu, vùng xa chưa có điềukiện tiếp cận và đầu tư thâm canh các giống gia súc có năng suất cao theo hướng côngnghiệp Do vậy, các giống bản địa vẫn được người nông dân nuôi dưỡng, mặc dầunhững giống này có năng suất thấp, nhưng có phẩm chất thịt ngon, khả năng chốngchịu tốt với các điều kiện bất lợi của môi trường và đặc biệt nó phù hợp với phươngthức chăn nuôi quản canh với nguồn thức ăn nghèo dinh dưỡng của địa phương

Trong những năm qua, song song với quá trình bảo tồn các giống vật nuôi bản địa,chúng ta còn nhập ngoại nhiều giống gia súc, gia cầm có năng suất cao nhằm tạo bướcđột phá về năng suất vật nuôi Theo số liệu thống kê của Viện Chăn nuôi tính đến năm

2002 nước ta đã nhập 65 giống vật nuôi Trong đó có 1 giống trâu, 5 giống bò, 1 giốngngựa, 5 giống dê, 3 giống hươu, 1 giống thỏ, 9 giống lợn, 26 giống gà, 6 giống vịt, 2giống ngan, 1 giống ngỗng, 2 giống bồ câu, 2 giống chim cút, 1 giống đà điểu (Lê Viết

Ly và cs, 2002; tdt Nguyễn Ngọc Huy, 2004) Các giống vật nuôi chủ yếu hiện nay ởViệt Nam được thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Các giống vật nuôi chủ yếu ở Việt Nam

Trang 10

Qua bảng 1 ta thấy ở Việt Nam, số lượng các giống vật nuôi bản địa và nhập ngoại

là tương đương nhau, chứng tỏ việc nhập ngoại các giống vật nuôi đã làm thay đổi cấutrúc của tập đoàn giống Việc nhập ngoại các giống vật nuôi đã nâng cao năng suất vậtnuôi, nhưng nó cũng làm nghèo đi sự đa dạng của các giống vật nuôi bản địa, do quátrình loại thải những động vật nuôi năng suất thấp Về thuỷ sản, các loài cá nuôi cónguồn gốc từ nước ngoài được nhập và thuần dưỡng ở Việt Nam khoảng 50 loài.Trong đó có 35 loài cá cảnh còn lại là các loài cá nuôi lấy thịt

2.2 Giống bản địa

2.2.1 Khái niệm

Trải qua hằng nghìn năm, dưới sự tác động của chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhântạo đã hình thành nên những giống vật nuôi mang bản sắc riêng của từng quốc gia, củatừng vùng, từng miền Chúng có những đặc điểm quý, đó là khả năng sử dụng tốt cácloại thức ăn thô, khả năng thích nghi cao, khả năng chống chịu bệnh tốt, thịt thơmngon, Tuy nhiên có những giống có năng suất rất cao nhưng khi gặp điều kiện khíhậu, dinh dưỡng khác với nơi nó được sinh ra lại tỏ ra kém thích nghi, năng suất thấphơn mức trung bình của giống và dễ bị nhiễm bệnh Chính điều này đã giải thích quátrình hình thành các giống vật nuôi bản địa (Nguyễn Kim Đường, 1992; Lê Viết Ly và

cs, 1999) Như vậy, giống vật nuôi nào gắn bó lâu đời và thích nghi tốt với điều kiệnsinh thái nông nghiệp cũng như tập quán sản xuất, bản sắc văn hóa của một vùng miềnhay dân tộc nào đó thì trở thành giống vật nuôi bản địa của nơi đó

2.2.2 Đặc điểm của giống bản địa

Các giống bản địa không chỉ phản ánh khả năng di truyền của giống mà còn giántiếp biểu hiện tập quán sản xuất của địa phương Chúng có những ưu điểm sau:

- Khả năng thích nghi tốt với điều kiện sinh thái môi trường khắc nghiệt

- Khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng và phù hợp với điềukiện chăm sóc của người dân địa phương

2.2.3 Sự đa dạng các giống lợn bản địa ở Việt Nam

Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển lâu đời, cùng với đó ngànhchăn nuôi cũng được hình thành từ khá sớm Số lượng các giống vật nuôi của nước tacũng rất phong phú và đa dạng Trong đó, lợn là loài có khả năng lợi dụng tốt các phụphế phẩm nông công nghiệp, khả năng sinh sản khá cao, quay vòng khá nhanh và chophân bón tốt Do đó chăn nuôi lợn luôn là ngành chăn nuôi chủ yếu của Việt Nam Lợnđược nuôi ở tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp, đặc biệt là các vùng Đông Bắc,Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long(Nguyễn Văn Thiện và cs, 2001) Các giống lợn ở nước ta khá phong phú chiếmkhoảng 20,57% tổng số giống vật nuôi bản địa của Việt Nam (Báo Nông nghiệp ViệtNam, 2009) Trải dài từ Bắc đến Nam đều có những giống lợn bản địa đặc trưng chotừng miền, từng vùng Theo thống kê, Việt Nam có tới 20 giống lợn bản địa như lợn Ỉ,lợn Móng Cái, lợn Thuộc Nhiêu, lợn Hung (Hà Giang), lợn Vân Pa (Quảng Trị), lợnMường Khương (Lào Cai), lợn Táp Ná (Cao Bằng), lợn Lửng Phú Thọ, lợn đen

Trang 11

Mường Lay (Điện Biên), … Các giống lợn bản địa chủ yếu được bà con các dân tộcmiền núi khắp các vùng từ Móng Cái (Quảng Ninh) qua dãy Trường Sơn đến BìnhPhước lưu giữ và chăn nuôi ở quy mô nhỏ với phương thức thả rông Các giống lợnbản địa ở nước ta có sự phân bố đa dạng và những đặc điểm ngoại hình rất riêng, đặctrưng cho từng giống và từng vùng khác nhau

Lợn Lửng: Là giống lợn của một số thôn bản của các xã vùng sâu, vùng xa như

Xuân Sơn, Vĩnh Tiền, Yên Sơn, Đông Cửu (Phú Thọ) Chúng có một số đặc điểm nhưtầm vóc nhỏ, toàn thân đen tuyền, trán nhô, mặt phẳng, mõm dài, tai chuột, chân nhỏ.Thịt lợn Lửng thơm và ngon như thịt lợn rừng

Lợn đen Mường Lay (Điện Biên): Đây là giống lợn đen phàm ăn, phát triển mạnh,

thích nghi tốt với điều kiện khắc nghiệt, khả năng chống chịu bệnh cao Lợn đenMường Lay có khả năng sinh sản tốt, mỗi lứa đẻ trung bình 12-15 con, thậm chí tới 20con/lứa Nuôi lợn đen Mường Lay ít tốn thức ăn nhưng chúng vẫn lớn đều, thịt sănchắc, thơm và ngọt Do đó thịt của chúng được coi là thực phẩm sạch và được nhiềungười ưa chuộng (Trịnh Phú Ngọc, 2009)

Lợn Mường Khương: Là giống lợn địa phương có từ lâu đời, gắn liền với đời sống

người H’Mông và được nuôi nhiều nhất ở huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai Lợn

có màu lông đen tuyền hoặc đen có đốm trắng ở đầu đuôi và ở chân, lông thưa vàmềm Đa số lợn có tầm vóc to cao, bốn chân khỏe, lưng ít võng, mõm thẳng và dài Ởcác lứa tuổi khác nhau, tỉ lệ thịt và mỡ của lợn cũng khác nhau Đặc điểm nổi bật củagiống lợn này là có khả năng chống chịu tốt với các điều kiện chăn thả ở các vùng núicao Có thể sử dụng các ưu điểm này để lai tạo nhằm nâng cao tầm vóc của lợn địaphương có trọng lượng nhỏ

Lợn Ỉ: Có nguồn gốc ở miền Bắc Nam Định, hiện giống lợn này đang ở trong tình

trạng nguy kịch và chỉ còn sót lại ở một số xã của tỉnh Thanh Hoá Qua một thời giandài, giống lợn Ỉ mỡ đã tạp giao với các nhóm giống lợn khác và trở thành giống lợn Ỉngày nay với hai loại hình chính là Ỉ mỡ và Ỉ pha Chúng có một số đặc điểm ngoạihình chung như da đen, lông ngắn và thưa, đầu to, lưng thẳng, bụng xệ và chân thấp.Lợn Ỉ có những đặc điểm di truyền quý giá như thành thục sớm, mắn đẻ, khéo nuôicon, khả năng sử dụng tốt các loại thức ăn thô xanh, khả năng chống chịu bệnh tốt

Lợn Móng Cái: Là giống lợn nội được hình thành và phát triển lâu đời ở vùng Đông

Bắc Việt Nam Trước đây Móng Cái và Ỉ là hai giống lợn nội chính được nuôi và pháttriển rộng rãi trong ngành chăn nuôi của miền Bắc và miền Trung nước ta Có thể xemcác vùng Hà Cối (huyện Đầm Hà) và Tiên Yên (Đông Triều) của tỉnh Quảng Ninh lànguồn cội của giống lợn Móng Cái Do đặc điểm sinh sản tốt nên từ những năm 60 –

70 trở đi lợn Móng Cái đã lan nhanh ra khắp đồng bằng Bắc Bộ làm cho vùng nuôi lợn

Ỉ bị thu hẹp dần Từ sau 1975 giống lợn này được lan nhanh ra các tỉnh miền Trung kể

cả phía Nam Lợn Móng Cái có một số đặc điểm như đầu đen, có điểm trắng giữa trán,lưng và mông có mảng đen kéo dài hình yên ngựa, đầu to, miệng nhỏ dài, tai nhỏ vànhọn, lưng võng, bụng hơi xệ Ưu điểm của giống lợn này là sớm thành thục về tínhdục, sinh sản tốt, nuôi con khéo

Lợn Cỏ: Đây là giống lợn đặc trưng của một số vùng đất nghèo ở miền Trung, chủ

yếu ở các tỉnh khu Bốn cũ Trước những năm 60, giống lợn này thấy nhiều ở các tỉnhNghệ An, Hà Tĩnh, khu vực Bình Trị Thiên Do lợi ích kinh tế thấp và nhất là sau khi

có chủ trương phổ biến rộng giống lợn Móng Cái ra các tỉnh miền Trung thì đàn lợnnày bị thu hẹp nhanh và gần như tuyệt chủng Lợn Cỏ có tầm vóc nhỏ, nhỏ hơn so vớicác giống lợn nội như lợn Móng Cái, lợn Ỉ Đại đa số là lợn lang trắng đen, mõm dài,xương nhỏ, bụng xệ Đây là loại lợn mini Có lúc người chăn nuôi định giữ lại để tạo

Trang 12

lợn địa phương mini do có chất lượng thịt thơm ngon Tuy nhiên do giá trị kinh tế thấpnên con người đã bỏ giống lợn này trước khi có ý đồ bảo tồn chúng

Lợn Sóc: Là giống lợn thuần rất lâu đời và duy nhất được dân địa phương nuôi, gắn

bó với đời sống kinh tế và văn hoá của đồng bào Tây Nguyên Hình dáng lợn Sóc rấtgần với lợn rừng, tầm vóc nhỏ, mõm dài, hơi nhọn và chắc, thích hợp với đào bới kiếmthức ăn Da thường dày, lông đen, dài, có bườm dài và dựng đứng Chân nhỏ nhưng rấtnhanh nhẹn Ưu điểm của lợn Sóc là có khả năng tự kiếm thức ăn trên các loại địa hìnhkhác nhau, khả năng làm tổ, đẻ con và nuôi con nơi hoang dã không cần sự can thiệpcủa con người Thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở Cao Nguyên với độ cao > 500m

so với mặt biển, khả năng chống chịu bệnh tật cao, nhanh nhẹn, sống thả, ít phụ thuộcvào sự cung cấp của con người

Lợn Mẹo (Lợn Mèo Nghệ An): Lợn Mẹo được nuôi trong điều kiện thả rông quanh

năm, ít được sự chăm sóc của con người, chủ yếu ở vùng núi tỉnh Nghệ An, tập trungnhiều ở hai huyện Kỳ Sơn và Tương Dương Sau các cuộc điều tra giống những năm

60 lợn Mẹo được phổ biến dần xuống các huyện đồng bằng Nghệ An (Anh Sơn, ĐôLương, Nam Đàn) và con đực được lai với các giống địa phương để nuôi kinh tế Tầmvóc to, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng, khả năng chống chịu bệnh tốt – đó lànhững đặc điểm nổi bật của giống lợn này Đây là những đặc điểm rất hiếm thấy ở cácgiống lợn bản địa ở nước ta

Lợn Lang Hồng: Được nuôi nhiều ở vùng đồng bằng và thung lũng hạ lưu sông

Cầu, sông Thương và sông Lục Nam Lợn Lang Hồng có ngoại hình tương đối giốnglợn Móng Cái Giống lợn này vốn là loại lợn hướng mỡ nên càng béo càng di chuyểnkhó khăn, chân đi cả bàn, vú quét đất Đây là giống lợn thành thục về tính sớm, chịuđựng kham khổ và có khả năng sinh sản tốt

Lợn Thuộc Nhiêu: Lợn Thuộc Nhiêu một thời là giống lợn nổi tiếng ở vùng Tiền

Giang, Long An và vùng phụ cận thành phố Hồ Chí Minh Lợn Thuộc Nhiêu là giốnglợn lai giữa lợn ngoại với lợn nội được hình thành từ hằng trăm năm trước đây và đượcphát triển trong sản xuất ở nhiều vùng Hiện giống lợn này được phát triển rộng rãi cáctỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, Long An, Đồng Nai, Bình Thuận, Cần Thơ, Sóc Trăng,

Đa số lợn có tầm vóc khá, có thể chất thanh sổi, thân hình vuông, thấp, lưng hơi oằn,mông vai nở, chân thấp, yếu, đi ngón, móng xoè, đuôi ngắn Với việc gia tăng máungoại thông qua lai với lợn Yorkshire đực, lợn Thuộc Nhiêu ngày càng có ngoại hình

và đặc điểm của lợn Yorkshire Tuy nhiên do tính chất của giống lai và phương thứcnuôi nên lợn Thuộc Nhiêu có nhiều mỡ hơn

Lợn Ba Xuyên: Lợn Ba Xuyên tập trung nhiều ở tỉnh Sóc Trăng Hiện nay, giống

lợn này phân bố rải rác ở các tỉnh Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Kiên Giang, AnGiang, Long An, Đồng Tháp, Lợn Ba Xuyên thích hợp với vùng lúa đồng bằng sôngCửu Long, nơi nhiều thức ăn tinh giàu năng lượng nên hình thành giống lợn to, nhiều

mỡ Phần lớn lợn Ba Xuyên có cả bông đen và bông trắng trên cả da và lông, phân bốxen kẽ nhau Đầu to vừa phải, mặt ngắn, mõm hơi cong, trán có nếp nhăn, tai to vừa vàđứng Bụng to nhưng gọn, mông rộng, chân ngắn, móng xoè, chân chữ bát và đi móng,đuôi nhỏ và ngắn Lợn Ba Xuyên có khả năng cho thịt khá cao, tuy nhiên chất lượngthịt chưa cao do mỡ lưng khá dày và diện tích cơ thăn chưa lớn

Lợn Phú Khánh: Được phân bố chủ yếu ở tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên Lợn Phú

Khánh có da lông màu trắng tuyền, lông hơi thưa, da mỏng, đầu nhỏ, mõm cong vừaphải, tai đứng hướng về phía trước, lưng thẳng, bụng to nhưng không xệ, ngực sâu,chân chắc khoẻ nhưng đi bàn Lợn có tầm vóc to trung bình, khả năng sản xuất thịt tốt(Nguyễn Quang Linh và cs, 2006)

Trang 13

Lợn đen Lũng Pù (Lợn Mèo Vạc, Hà Giang): Là giống lợn quý của người Mông, có

tầm vóc to lớn Chúng có lông đen, dày và ngắn, da thô, tai nhỏ cụp xuống, mõm dàitrung bình Giống lợn này mang những đặc điểm quý như khả năng thích nghi tốt vớiđiều kiện khí hậu khắc nghiệt của vùng núi cao, dễ nuôi, phàm ăn, sức đề kháng cao,tính chống chịu bệnh tốt So sánh với các giống lợn Việt Nam, lợn đen Lũng Pù có tốc

độ tăng trọng khá cao, thịt lại thơm ngon, tuy nhiên mỡ hơi nhiều

Nhìn chung các giống lợn bản địa Việt Nam thường có tầm vóc nhỏ (ngoại trừ lợnMường Khương và lợn Mẹo Nghệ An), lông đen hoặc lang trắng đen, linh hoạt Tuynhiên do không đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi, nhiều giống đã và đang đối mặtvới nguy cơ tuyệt chủng như lợn Cỏ, lợn Ỉ Ngoài ra do khả năng sinh trưởng củagiống lợn bản địa thấp và công tác giống không được chú trọng đã dẫn đến tỉ lệ đồnghuyết cao, chất lượng đàn giống bị ảnh hưởng rất lớn Tuy vậy khả năng sinh sản củamột số giống lợn bản địa là một đặc điểm di truyền quý hiếm, đặc biệt là hai giống lợnMóng Cái và lợn Ỉ (Lê Viết Ly và cs, 1999)

2.2.4 Sự cần thiết phải bảo tồn các giống lợn bản địa

2.2.4.1 Nguyên nhân giảm đàn của các giống lợn bản địa

Sự suy giảm các giống vật nuôi bản địa nói chung và các giống lợn nói riêng có thể

do các nguyên nhân sau:

- Việc du nhập nguyên liệu di truyền mới

Phân tích sự biến động của cơ cấu giống vật nuôi trong những năm gần đây chothấy việc du nhập các giống ngoại có năng suất cao và giống lai tạo vẫn là nguyênnhân lớn nhất gây nên sự suy giảm nguồn gen các giống bản địa Trong vòng 10 nămqua, nhiều giống lợn ngoại đã được nhập vào nước ta như lợn Landrace, lợnYorkshire, lợn Duroc, lợn Hampshire, Các giống này được sử dụng cho mục đíchchủ yếu là lai tạo với lợn Móng Cái của địa phương để tạo con lai F1 sản xuất thịt Cácgiống nhập nội và giống lai tạo với đặc tính ưu việt là năng suất cao, thời gian nuôingắn đã hấp dẫn người chăn nuôi Điều này dẫn đến các giống bản địa với năng suấtthấp bị đào thải dần trong sản xuất Ngoài ra, việc nhập nội các giống vật nuôi đã làmcho nhiều quần thể giống bản địa khó tìm thấy ở dạng thuần chủng do việc “tự lai tạo”tràn lan ở các vùng nông thôn đã không được kiểm soát (Lê Viết Ly và cs, 2003)

- Mặt trái của các chính sách nông nghiệp, nhu cầu thị trường thay đổi và sự suy giảm hệ thống kinh tế

Đây là tập hợp các nguyên nhân đan xen vào nhau tạo nên tiền đề cho việc du nhậpcác giống mới và lai tạo Ở Việt Nam, những chính sách không hợp lý đã gây nên sựlao đao cho nhiều giống địa phương Lợn Móng Cái đã từng là “nạn nhân điển hình”của các loại chính sách đó Vào năm 1995, số lượng lợn Móng Cái giảm nghiêm trọng:Nông trường Thành Tô (Hải Phòng) – nơi nuôi lợn Móng Cái nổi tiếng một thời đãphải giảm số lượng đàn xuống mức tối thiểu, còn khoảng 100 con Nông dân đổ xônuôi lợn ngoại có tỉ lệ nạc cao nhằm xuất khẩu với sự trợ giá của Nhà nước Điều nàykhiến cho những giống bản địa với năng suất thấp bị lãng quên trong sản xuất, quỹ genđộng vật nuôi của địa phương ngày một nghèo đi Nhu cầu thị trường ngày một thayđổi cũng là nguyên nhân làm cho các giống bản địa ít được quan tâm và đầu tư chănnuôi Ngoài ra, sự mở rộng đất canh tác và đất thổ cư cũng đã thu hẹp phạm vi sinhsống của động vật nói chung và giống bản địa nói riêng (Lê Viết Ly và cs, 1999)

- Sự khắc nghiệt của tự nhiên và vấn đề ô nhiễm môi trường

Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt những năm cuối thế kỷ 20, con người luônphải chứng kiến sự thay đổi bất thường của thời tiết như hiện tượng Ennino, Laminahay hiệu ứng nhà kính, sự nóng dần lên của trái đất Con người cùng những loài sinh

Trang 14

vật khác đang phải đối diện với một thảm họa của ô nhiễm môi trường toàn cầu(Laurence, 1979) Chính những nguyên nhân trên đã làm suy thoái tài nguyên đa dạngsinh học, trong đó có tài nguyên các giống vật nuôi bản địa (FAO, 1990).

- Nguy cơ suy thoái giống do cận huyết

Hiện tượng giao phối cận huyết làm cho động vật nói chung và giống vật nuôi nóiriêng đặc biệt là lợn đang bị suy thoái dần Biểu hiện của sự suy thoái là sức sống củađời con giảm, năng suất thấp hơn, sức chống chịu với điều kiện ngoại cảnh cũng giảm

đi (Frankham, 1995; Lê Viết Ly và cs, 2003) Chính sự suy thoái này đã khiến nhữngngười chăn nuôi không còn muốn lưu giữ các giống vật nuôi nữa Nguyên nhân sâu xagây nên sự giao phối cận huyết là do công tác giống không được kiểm soát tốt Việcchọn giống để nuôi trong các nông hộ hiện nay thường chú trọng vào các đặc điểmngoại hình, chủ yếu chọn lọc trong đàn nơi có nguồn giống đực tốt Một số quần thểgiống vật nuôi bản địa chỉ tồn tại với quy mô đàn nhỏ, số lượng đực giống ít và được

sử dụng qua nhiều thế hệ cũng là nguyên nhân gây nên cận huyết và giảm sút tínhnăng của giống (Phan Cự, 2000) Tổng hợp các nguyên nhân trên đã làm cho cácgiống lợn bản địa nói riêng cũng như các giống vật nuôi nói chung bị mất dần “địa vị”trong sản xuất

2.2.4.2 Ý nghĩa của việc bảo tồn các giống lợn bản địa

Các giống lợn bản địa là bản sắc văn hoá đặc trưng của mỗi vùng, miền khác nhau.Việc bảo tồn các giống vật nuôi này có ý nghĩa vô cùng to lớn

- Đáp ứng nhu cầu của con người

Theo Harris và cs (1956), lợn là loài cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng caocho con người, 1 gam thịt lợn nạc cung cấp khoảng 22% nhu cầu protein (tdt Lê Viết

Ly và cs, 2003) Sản lượng thịt lợn sản xuất ra cao hơn nhiều so với các loại gia súckhác, chiếm 80% tổng số thịt được tiêu thụ ở nước ta (Bộ Khoa học Công nghệ và môitrường, 1994) Mặt khác nền kinh tế phát triển càng mạnh, đời sống của người dâncàng được nâng cao dẫn đến nhu cầu tiêu dùng của các loại thực phẩm có chất lượngcao ngày càng được gia tăng, đặc biệt là các loại thực phẩm được chế biến từ cácgiống lợn bản địa Ưu điểm của các giống lợn này là thịt thơm ngon, có hương vị đặctrưng và khả năng chống chịu bệnh tật tốt Hiện nay ngành chăn nuôi lợn đã nhậpnhiều giống mới như lợn Landrace, lợn Yorkshire, lợn Duroc, … và đã đáp ứng phầnlớn nhu cầu cho con người Những giống lợn nhập cho năng suất cao và thời gian nuôingắn nhưng chất lượng lại kém hơn so với giống lợn bản địa Mặt khác, từ tháng8/2008 đến nay, dịch bệnh thường xuyên xảy ra dẫn đến số lượng đàn giống nhập nộigiảm mạnh, nhiều hộ chăn nuôi bị thua lỗ, hiệu quả sản xuất thấp (Nguyễn Anh Tuấn,2008) Với những nguyên nhân đó các giống lợn bản địa đang được đầu tư phát triển

do chúng có thể đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng và người chănnuôi

- Đóng góp vào quỹ gen động vật Việt Nam

Các giống lợn bản địa thường có tầm vóc nhỏ nhưng mang những đặc điểm ditruyền quý giá Đó là khả năng sử dụng các loại thức ăn thô nghèo dinh dưỡng, khảnăng chống chịu các bệnh nhiệt đới nhất là bệnh ký sinh trùng Một số giống có khảnăng đẻ nhiều con, phẩm chất thịt tốt, thơm, ngon phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng(Trần Thanh Vân và Đinh Thu Hà, 2005) Một số khác thích nghi với các vùng núi cao

và nhiệt độ tương đối thấp như lợn Mường Khương và một số quen chịu với môitrường ẩm ướt như lợn Ỉ, … Đó là các tính trạng có ý nghĩa quan trọng trong khoa họcchăn nuôi lợn ở Việt Nam Nếu không có các biện pháp bảo tồn các vốn gen quý đó,một lúc nào đó các giống lợn bản địa sẽ bị mai một dần hoặc mất đi Chính vì vậy,

Trang 15

nghiên cứu về các giống lợn bản địa sẽ góp phần bảo tồn nguồn gen, tăng cường tính

đa dạng sinh học vật nuôi không chỉ riêng Việt Nam mà của cả Thế giới

- Dùng làm nái nền trong các công thức lai

Một số giống lợn bản địa ở nước ta vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ đờisống, công nghiệp chế biến, xuất khẩu cũng như yêu cầu công nghiệp hoá của ngànhchăn nuôi Trong những năm qua, chúng ta đã nhập nội một số giống lợn ngoại nhằmcải thiện năng suất chăn nuôi lợn như lợn Landrace, lợn Yorkshire, lợn Duroc, …(Phùng Thị Vân và cs, 2006) Tuy nhiên những giống lợn ngoại không thể thoả mãnyêu cầu khắt khe của người tiêu dùng Xu thế hiện nay là sử dụng các giống lợn bảnđịa lai với các giống ngoại nhập tạo ra các con lai, vừa có thể đảm bảo chất lượng sảnphẩm thịt tốt vừa cho năng suất cao Móng Cái là giống lợn đóng vai trò nái nền chủyếu để lai với đực ngoại như Yorkshire, Landrace, Các thế hệ con lai đều có năngsuất và tỉ lệ nạc cao, có thể phát triển tốt trong điều kiện chăn nuôi nông hộ (Vũ ĐìnhTôn và cs, 2007)

- Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Ở một số vùng miền, các giống lợn bản địa không những phù hợp với điều kiệnchăn nuôi, phương thức chăn nuôi mà còn gắn liền với bản sắc văn hoá dân tộc Đó là

lễ hội tôn nghiêm mang đậm bản sắc văn hoá như là vật thách cưới của các dân tộcHre, Kor (lợn Kiềng Sắt) hay đơn giản là mâm cổ cúng gia tiên rất cần có giống lợnbản địa Điều này cho thấy việc mất đi các giống lợn bản địa nói riêng cũng như cácgiống vật nuôi bản địa nói chung sẽ làm nghèo vốn văn hoá sẵn có của nhiều đồng bào(Lê Viết Ly và cs, 1999)

- Bảo vệ đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái

Cần thiết phải giữ lại những giống địa phương vì chúng cho phép những ngườinông dân lựa chọn đàn giống và phát triển giống phù hợp với sự thay đổi của môitrường, bệnh tật và yêu cầu của người tiêu dùng Đa dạng sinh học là sự bảo đảmchống lại những đe dọa như nạn đói, thiên tai, dịch bệnh Ở một khía cạnh khác, đadạng sinh học góp phần ổn định đời sống kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia, mỗi khuvực Do vậy, đa dạng sinh học nói chung và đa dạng các giống vật nuôi nói riêng làduy nhất và không thể thay thế (Lê Trọng Cúc, 2002)

2.2.5 Các phương pháp bảo tồn và lưu giữ

Mục đích cơ bản của công tác bảo tồn vốn gen vật nuôi nói chung và lợn bản địanói riêng là tái tạo sự đa dạng sinh học vật nuôi, đảm bảo nền sản xuất được bền vững

Do đó, bên cạnh việc nhập nội các giống vật nuôi có năng suất cao, cần tổ chức bảotồn và sử dụng các giống vật nuôi nội quý hiếm làm nguyên liệu cho việc lai tạo giống,cung cấp thực phẩm sạch và đáp ứng được nhu cầu khắt khe của người tiêu dùng(Nguyễn Văn Thiện, 2007)

2.2.5.1 Các giải pháp chung

- Phải đảm bảo sự tồn tại về giống, đặc biệt là các giống bản địa (số lượng, cơ cấuđực cái, hệ thống giao phối) Các giống bản địa có những tính trạng đặc trưng, đặchữu, là nguồn gen quý cho quỹ gen vật nuôi Bằng phương pháp bảo tồn nguyên vị

(in-situ) chúng ta có thể giữ được bản chất tốt vốn có của các giống bản địa.

- Có chính sách hỗ trợ các giống đang dùng trong sản xuất có nguy cơ giảm nhanh

số lượng Các giống này thường bị cạnh tranh bởi các giống ngoại hoặc giống lai cónăng suất cao dẫn đến mất dần “địa vị” trong sản xuất như lợn Cỏ, lợn Ỉ Chúng ta cầnphải vận động những gia đình có khả năng nuôi và có chính sách hỗ trợ thích đáng

Trang 16

- Xây dựng hệ thống bảo tồn nguyên liệu di truyền như tinh, phôi, DNA, nhiễm sắc

thể hoặc lưu giữ cơ thể sống bằng phương pháp bảo tồn ngoại vi (ex-situ).

- Đưa nội dung bảo tồn vốn gen vật nuôi vào công tác khuyến nông Xây dựng cácchính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn nguồn gen kết hợp nôngnghiệp theo định hướng sản xuất hằng hoá

- Nâng cao trình độ dân trí và mối quan tâm của cộng đồng về bảo tồn nguồn gen.Vấn đề này có thể đưa vào nội dung giảng dạy ở các bậc trung học, đại học; tăngcường thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng

- Tiến hành công tác đào tạo cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ làm công tác giống.Mục đích của đào tạo là nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phục vụ choviệc bảo tồn nguồn giống vật nuôi

- Mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế nhằm học tập kinh nghiệm vàphối hợp giúp đỡ trong việc bảo tồn các giống quý hiếm trong khu vực

- Nhà nước cần tăng cường đầu tư kinh phí, trang thiết bị phục vụ cho công tác bảotồn nguồn gen và giống như hệ thống chuồng trại, thiết bị sản xuất tinh, … (Kết quảnghiên cứu bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam, Bộ Khoa học Công nghệ và môitrường, 1994)

2.2.5.2 Các giải pháp cụ thể bảo tồn các giống lợn bản địa

- Nghiên cứu, thu thập thông tin và có kế hoạch bảo tồn nguồn gen lợn bản địa.Xác định được các giống lợn bản địa cần bảo tồn và quy hoạch các vùng chăn nuôiphù hợp với đặc điểm sinh thái của mỗi giống Việc này cần có sự tham gia của cácnông hộ, cơ quan, tổ chức có năng lực quản lý, chỉ đạo cố vấn và kinh phí hỗ trợ bướcđầu cho người chăn nuôi (Bộ Khoa học Công nghệ và môi trường, 1994)

- Cải tiến các phương pháp chăn nuôi lợn bản địa ở các hộ gia đình như giống, thức

ăn, kỹ thuật, thú y, môi trường, Đồng thời xây dựng các trang trại chăn nuôi lợn quy

mô nhỏ và vừa theo phương pháp chăn nuôi công nghiệp tại các tỉnh ở trung du Bắc

Bộ, đồng bằng sông Hồng, miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long gắn vớigiảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường Tích cực tìm kiếm thị trường xuất khẩu thịtlợn (Nguyễn Văn Thiện và cs, 2001)

- Chuyển dịch chăn nuôi lợn nói chung và lợn bản địa nói riêng tập trung đến cácvùng trung du, gò đồi, miền núi và vùng đồng bãi ở đồng bằng xa khu dân cư nhằmgiải quyết vấn đề đất đai và ô nhiễm môi trường Hiện na, quá trình công nghiệp hóa

và đô thị hoá diễn ra ngày càng nhanh tại các khu vực đồng bằng nên việc chuyển dịchchăn nuôi trang trại lợn đến các vùng miền trung du là xu thế tất yếu (Bộ Nông nghiệp

và phát triển nông thôn, 2009) Đồng thời phải có giải pháp về nguồn thức ăn cho chănnuôi lợn

- Quy mô hoá và hiện đại hoá đàn giống bản địa bằng các quy trình nuôi mới, nhânđàn giống cả về số lượng và phạm vi phân bố nhằm đảm bảo sự đa dạng, tránh cậnhuyết và bảo vệ các đặc điểm của con giống Đồng thời chúng ta phải có kế hoạch sửdụng đàn lợn nái nội tốt làm nguyên liệu để lai tạo với lợn ngoại nhằm nâng cao hiệuquả kinh tế, làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình chăn nuôi lợn thích hợp (Lê ThịThuý và Bùi Khắc Hùng, 2008)

2.3 Tình hình chăn nuôi lợn trên thế giới và ở Việt Nam

2.3.1 Tình chăn nuôi lợn trên thế giới

Nghề chăn nuôi lợn ra đời rất sớm Cách đây một vạn năm nghề chăn nuôi lợn đãxuất hiện và phát triển ở châu Âu và châu Á Sau đó, khoảng thế kỷ XVI bắt đầu pháttriển ở châu Mỹ và thế kỷ XVIII phát triển ở châu Úc Đến nay, chăn nuôi lợn đã trở

Trang 17

thành một nghề truyền thống của nhiều quốc gia Nhiều nước có ngành chăn nuôi lợnvới công nghệ cao và tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada,Singapore, Đài Loan, Nhìn chung các nước tiên tiến có ngành chăn nuôi lợn theohình thức công nghiệp và đạt trình độ chuyên môn hóa cao Tuy vậy, đàn lợn trên thếgiới có sự phân bố không đồng đều ở các châu lục Trong đó, chăn nuôi lợn ở các nướcchâu Âu chiếm khoảng 52%, châu Á là 30,4%, châu Úc là 5,8%, châu Phi 3,2% và8,6% ở châu Mỹ Giá trị dinh dưỡng cao của thịt lợn là nguồn thực phẩm tốt cho conngười Ngoài ra, ngành chăn nuôi lợn đã đem lại nhiều lợi nhuận không nhỏ cho nềnkinh tế của các nước này (Nguyễn Quang Linh và cs, 2006).

2.3.2 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam

Ở nước ta, ngành chăn nuôi tương đối phát triển, đặc biệt là chăn nuôi lợn Sốlượng đàn lợn liên tục tăng qua các năm, từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,9 triệu connăm 2006, tăng trưởng bình quân 4,29%/năm Năm 2006, đồng bằng Sông Hồng có7,2 triệu con tăng trưởng bình quân 3,9%/năm, tương ứng các vùng: đồng bằng SôngCửu Long 4,00 triệu con, tăng 6,21%/năm, Tây Nguyên 1,4 triệu con, tăng4,25%/năm, Đông Nam Bộ 2,8 triệu con, tăng 8,79%/năm, Đông Bắc 4,5 triệu con,tăng 3,06%/năm, Bắc Trung Bộ 3,8 triệu con, tăng 2,57%/năm, Nam Trung Bộ 2,05triệu con, tăng 1,32%/năm Riêng vùng Tây Bắc có số lượng 1,1 triệu con, tăng 2,19

%/năm Mười tỉnh có tổng đàn lợn lớn là Thanh Hoá 1,34 triệu con, Hà Tây 1,13 triệu,Nghệ An 1,18 triệu, Thái Bình 1,05 triệu, Đồng Nai 1,24 triệu, Bắc Giang 1,03 triệu,Hải Dương 0,87 triệu, Nam Định 0,83 triệu, Bình Định 0,63 triệu, Hải Phòng 0,61triệu Những năm qua đàn lợn nái có tốc độ tăng trưởng cao từ 2,95 triệu con năm

2001 lên 4,33 triệu con năm 2006 Đàn lợn nái năm 2006 chiếm trên 16% tổng đàn,trong đó nái ngoại là 442 ngàn con chiếm 10,2% đàn nái Các tỉnh có tỉ lệ lợn ngoạicao là thành phố Hồ Chí Minh (100% nái ngoại), Đồng Nai, Bình Dương,

Những năm gần đây, bên cạnh phương thức chăn nuôi lợn truyền thống, đặc trưng

là chăn nuôi hộ gia đình với quy mô nhỏ, năng suất thấp, chăn nuôi lợn theo phươngthức tập trung công nghiệp đang có xu hướng ngày càng phát triển Các tỉnh có trangtrại chăn nuôi lợn nhiều như Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, LâmĐồng, Hà Tây, Đắc Lắc, Hải Dương, Thanh Hoá, Thái Bình, Tiền Giang, Đã có một

số điển hình hợp tác xã chăn nuôi lợn hướng nạc như Nam Sách – Hải Dương, ĐanPhượng – Hà Tây, Yên Định – Thanh Hoá Đây là loại hình tổ chức sản xuất có nhiềulợi thế giảm chi phí đầu vào vì đã tập trung các dịch vụ như cung cấp con giống, thức

ăn công nghiệp, thú y, thụ tinh nhân tạo và bao tiêu sản phẩm, Tỉ trọng chăn nuôilợn trang trại (công nghiệp và bán công nghiệp) tăng nhanh Hơn 6 triệu lợn thịt ngoại

và phần lớn lợn lai F2, F3 được nuôi trong trang trại Năm 2005, cả nước có khoảng 10triệu lợn giết mổ đạt tỉ lệ nạc từ 50 – 58%/tổng số 36,3 triệu lợn giết thịt

Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn phổ biến là chăn nuôi nhỏ, phân tántrong nông hộ, năng suất chăn nuôi thấp, giá thành cao Năm 2005, sản lượng thịt sảnxuất trung bình/nái/năm đạt 589 kg (nái ngoại đạt 1.423 kg/nái/năm; lợn lai nội ngoại

563 kg/nái/năm, lợn nội 248 kg/nái/năm) Trong khi đó, các nước có trình độ chănnuôi lợn tiên tiến là 1.800 – 1.900 kg/nái/năm Công tác chọn lọc, nuôi dưỡng và quản

lý đực giống chưa tốt, khâu giết mổ, chế biến thịt còn thủ công, chưa đáp ứng tiêuchuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2009)

2.3.3 Tình hình chăn nuôi lợn của tỉnh Quảng Ngãi

Đàn lợn của tỉnh Quảng Ngãi tương đối phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân từnăm 1994 – 2005 là 4,48%/năm, trong đó giai đoạn từ năm 1994 – 2000 có tốc độ pháttriển chậm và không ổn định, bình quân giai đoạn này chỉ đạt 2,08%/năm Giai đoạn từ

Trang 18

năm 2000 – 2005 có tốc độ phát triển nhanh hơn, bình quân đạt 7,45%/năm Năm 2006

và 2007, đàn lợn giảm bình quân 5,2% so với năm 2005 do tác động của dịch lỡ mồmlong móng và dịch tai xanh Tuy nhiên, đến cuối năm 2007 giá thịt lợn tăng cao, do đóđàn lợn phát triển mạnh trở lại Đàn lợn năm 2007 là 519.598 con, trong đó lợn nái có102.063 con, chiếm 19,64% tổng đàn, số con xuất bán thịt là 571.190 con, sản lượngthịt đạt 30.167 tấn Đàn lợn tập trung chủ yếu các huyện đồng bằng, chiếm trên84,22% tổng đàn lợn của tỉnh, trong đó chủ yếu tập trung các huyện chăn nuôi lợn pháttriển như Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa và Mộ Đức Cùng với phong trào chăn nuôilợn phát triển, nhiều hình thức chăn nuôi chuyên canh và các dịch vụ đi kèm đã đượchình thành như thụ tinh nhân tạo, thú y, sản xuất lợn giống, … tạo thành một hệ thống

hỗ trợ phát triển khá đồng bộ (NXB thống kê Quảng Ngãi, 2007)

Các giống lợn được nuôi chủ yếu là giống hướng nạc Yorkshire và Landrace nhưngphần lớn là con lai F2, F3 (tỉ lệ máu ngoại khoảng 75%) Các giống kiêm dụng chủyếu là Móng Cái Lợn Móng Cái hầu hết được dùng làm cái nền cho phối tinh với cácgiống hướng nạc để tạo con lai F1 nuôi thịt Một số hộ nuôi Móng Cái thuần – đây lànguồn giống rất quan trọng để chọn lọc nhân giống cung cấp cho các hộ nuôi lợnMóng Cái Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có lợn Kiềng Sắt thường được nuôi ở đồngbào dân tộc thiểu số Hiện nay lợn Kiềng Sắt vẫn còn được nuôi phổ biến ở miền núi

do dễ nuôi, thịt ngon nên dù năng suất thấp nhưng vẫn được ưa chuông (Ủy ban nhândân tỉnh Quảng Ngãi, 2008) Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu cơ bảncũng như các nghiên cứu đồng bộ nhằm quản lý và khai thác tiềm năng của lợn KiềngSắt vào việc phát triển đa dạng các hệ thống canh tác, phù hợp với điều kiện từng vùngsinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng

2.4 Đặc điểm sinh trưởng của lợn và một số yếu tố ảnh hưởng

2.4.1 Đặc điểm sinh trưởng của lợn

Sự sinh trưởng của lợn bắt đầu từ khi trứng thụ tinh đến khi trưởng thành Sinhtrưởng là quá trình cơ thể tăng lên về trọng lượng và kích thước do sự lớn lên và phânchia tế bào Cũng như các loài gia súc khác, sự sinh trưởng của lợn cũng tuân theo cácquy luật:

- Quy luật theo giai đoạn: Ở quy luật này có 2 giai đoạn sinh trưởng chính gồm giaiđoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai Giai đoạn trong thai chia làm 3 thời kỳ là phôithai, tiền thai và bào thai Giai đoạn ngoài thai được chia ra thời kỳ bú sữa, thời kỳthành thục và thời kỳ già cỗi

- Quy luật sinh trưởng không đồng đều: Đây là sự không đồng đều về khả năngtăng trọng, không đồng đều về sự sinh trưởng phát triển của các cơ quan bộ phận trong

cơ thể lợn và không đồng đều về khả năng tích luỹ mỡ

Quy luật sự sinh trưởng của lợn được biểu hiện ở đồ thị 1 Tốc độ sinh trưởng tronggiai đoạn đầu tăng dần theo tháng tuổi (trừ lúc bị stress ngay sau khi sinh và khi caisữa đột ngột), sau đó tăng trọng chậm lại và kéo dài đến khi trưởng thành Ở giai đoạntrưởng thành, lợn hầu như không tăng trọng hoặc khả năng tăng trọng là thấp, chủ yếu

là tích luỹ mỡ Do đó, trong chăn nuôi phải biết thời điểm sinh trưởng mà tại đó lợntăng trọng cao nhất để kết thúc vỗ béo cho thích hợp Ở các giai đoạn khác nhau, sựsinh trưởng chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau Ở giai đoạn lợn con, lợn sinhtrưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng tăng dần theo tuổi Từ lúc sơ sinh đến lúc caisữa, trọng lượng của lợn con tăng từ 10 đến 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độsinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần Các cơ quan trong cơ thể lợncon cũng thay đổi và tăng lên nhanh chóng Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vậtchất khô tăng dần, các thành phần hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng

Trang 19

Giai đoạn sau cai sữa đến 4 tháng tuổi, đây cũng là giai đoạn nuôi lợn có hiệu quả kinh

tế cao nhất, bởi vì lợn có khả năng tăng trọng nhanh và khả năng tích lũy nạc tốt nhất.Tuy nhiên, ở giai đoạn này lợn con sau khi cai sữa chuyển sang sống độc lập, tự thíchnghi với các điều kiện của môi trường sống mới Do đó, người chăn nuôi phải có biệnpháp nuôi dưỡng và chăm sóc lợn con tốt để lợn có thể sinh trưởng và phát triển bìnhthường Giai đoạn nuôi từ 4 tháng đến 6 tháng tuổi, đây là giai đoạn lợn choai (lợnnhỡ), lợn lớn nhanh về trọng lượng và kích thước, thích vận động nhiều và cũng là giaiđoạn lợn có khả năng sử dụng thức ăn thô xanh tốt Giai đoạn từ 6 - 8 tháng tuổi, tronggiai đoạn này lợn lớn nhanh, khả năng tích lũy mỡ cao, ít vận động và ngủ nhiều.(Hoàng Nghĩa Duyệt và Nguyễn Quang Linh, 1997)

Khả năng sinh trưởng của một số giống lợn bản địa: Kết quả nghiên cứu của Lê thị

Thuý và Bùi Khắc Hùng (2008) trên đối tượng lợn Móng Cái và lợn Bản cho thấytrọng lượng cơ thể tăng dần theo tháng tuổi và các chỉ số dài thân, vòng ngực và caovai tăng tương ứng (bảng 2) Trọng lượng cơ thể của lợn Móng Cái giai đoạn 1 thángtuổi là 0,52 kg; 2 tháng tuổi là 6,90 kg và 11 tháng tuổi là 55,50 kg Đối với lợn Bản,các giá trị này lần lượt là 0,43 kg/con, 5,40kg/con và 38,77 kg/con Sự gia tăng vềtrọng lượng, chiều dài thân, số đo vòng ngực và cao vai qua các tháng tuổi thể hiện lợn

có tốc độ tăng trọng nhanh, khả năng sinh trưởng tốt

Bảng 2 Trọng lượng, dài thân, vòng ngực và cao vai của lợn Móng Cái và lợn Bản

Vòng ngực (cm)

Cao vai (cm)

Trọng lượng (kg)

Dài thân (cm)

Vòng ngực (cm)

Cao vai (cm)

Bảng 3 Sinh trưởng của một số giống lợn Việt Nam

Trang 20

2.4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng

2.4.2.1 Giống

Các giống khác nhau có năng suất khác nhau Tăng trọng trung bình hằng ngày của các giống lợn bản địa như Móng Cái khoảng 300 – 350 gam/ngày, trong khi con lai có thể đạt 550 – 650 g/ngày, lợn ngoại nuôi tốt có thể đạt 700 –

750 g/ngày Các giống lợn ngoại có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh hơn các giống lợn nội Các giống lợn khác nhau có sự tăng trưởng khác nhau (Siebrits và Kemm, 1982; Ellis, 1983; tdt Trần Đình Miên và Phan Cự Nhân, 1994) Nguyên nhân của hiện tượng này có thể do sự khác biệt về nhu cầu dinh dưỡng, chế độ nuôi dưỡng, khả năng tiêu hoá và hấp thu của con vật Sự phát triển của các tuyến tiêu hoá mạnh hay yếu phụ thuộc vào các giống khác nhau Các enzym có tính đặc hiệu cao trong quá trình phân giải trong các chất dinh dưỡng khác nhau Điều này thể hiện rõ ở lợn hướng nạc, mức độ chuyển hoá protein cao nên enzym phân giải protein được tiết ra mạnh Ngược lại, ở lợn hướng mỡ, mức độ chuyển hoá carbohydrate, lipid cao nên enzym phân giải các chất này được tiết

ra mạnh Ngoài các giống có hướng sản xuất khác nhau (hướng nạc, hướng mỡ)

có năng suất khác nhau, thì các giống có cùng hướng sản xuất nhưng năng suất cũng hoàn toàn khác nhau Theo nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2006), ở các giống lợn Landrace, Yorkshire, Duroc, lợn lai F1 (Landrace x Yorkshire) và (Yorkshire x Landrace) có khả năng tăng trọng, tiêu tốn thức ăn và chất lượng thịt cũng khác nhau (bảng 4) 27

Bảng 4 Khả năng sinh trưởng của một số lợn nuôi thịtChỉ tiêu theo dõi Landrace Yorkshire Duroc (Landrace

bổ sung vào thức ăn nuôi lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi sẽ tăng tốc độ sinhtrưởng lên 8,3% Phan Ngọc Kính (2001) đã sử dụng chế phẩm EM bổ sung vào thức

ăn Kết quả khảo sát 112 con lợn ở 29 hộ ở Quảng Trị cho thấy lợn thí nghiệm tăng

Trang 21

trọng lượng hơn lô đối chứng là 3,1 kg/tháng Phùng Thăng Long và Trần Văn Hạnh(2005) đã nghiên cứu khả năng sản xuất và ảnh hưởng của các khẩu phần ăn khác nhau(thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và thức ăn tự phối trộn) đến sức sinh trưởng của 3 tổ hợplai ((Piétrain x Duroc) x (Landrace x Yorkshire)), (Duroc x (Landrace x Yorkshire)) và(Landrace x Yorkshire) Kết quả cho thấy sau 4 tháng nuôi, mỗi khẩu phần ăn đã có sựkhác biệt có ý nghĩa thống kê về trọng lượng kết thúc giữa các tổ hợp lai khác nhautrong cùng khẩu phần ăn hoặc các tổ hợp lai giống nhau ở các khẩu phần ăn khácnhau Về chỉ tiêu tăng trọng trung bình/ngày cũng cho kết quả tương tự Đối với chấtlượng thịt xẻ, tổ hợp lai ((Piétrain x Duroc) x (Landrace x Yorkshire)), (Duroc x(Landrace x Yorkshire)) và (Landrace x Yorkshire) được cho ăn bằng hỗn hợp thức ănhoàn chỉnh hoặc hỗn hợp thức ăn tự phối có hàm lượng protein thô là 15%, 13,5% và13%, mật độ năng lượng đạt 2.900 Kcal ME/kg thức ăn cho 3 giai đoạn sinh trưởngtương ứng là 17 – 30 kg, 31 – 60 kg và 61 kg đến khi giết thịt, kết quả cho thấy tốc độsinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và tỉ lệ nạc cao hơn so với lợn Yorkshirethuần nuôi cùng điều kiện

Ngoài ra, khi lập khẩu phần cho lợn cần có một tỉ lệ xơ thích hợp, nếu lượng chất

xơ vượt quá 10 – 15% khẩu phần, lượng thức ăn ăn vào có thể giảm Ngược lại khẩuphần có chất xơ cao, tiêu tốn thức ăn cho lợn phải nhiều hơn để lợn có thể duy trì nănglượng tiêu hoá Mặt khác, cách thức chế biến thức ăn cũng ảnh hưởng lớn đến sự sinhtrưởng của lợn do ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất sử dụng thức ăn Nếu thức ănđược nghiền mịn làm tăng khả năng sử dụng hơn thức ăn thô, do làm tăng tỉ lệ tiêuhoá, giảm năng lượng cho nhai, thức ăn dễ tẩm ướt với enzyme tiêu hoá, tạo điều kiệncho quá trình tiêu hoá và hấp thu tốt Hiện nay, thức ăn thường được chế biến ở dạngviên và mức ăn vào thường cao hơn so với thức ăn bột Ngoài ra trong quá trình làmviên, do hiện tượng gelatin hoá một phần của tinh bột, nhờ thế enzyme tiêu hoá dễ tácđộng làm tăng khả năng tiêu hoá năng lượng

Quá trình xử lý nhiệt thức ăn làm tăng khả năng tiêu hoá và hấp thu thức ăn nhờ pháhuỷ các chất độc cũng như chất ức chế trong thức ăn, như xử lý nhiệt đậu nành sẽ pháhuỷ chất ức chế enzyme trypsin và hoạt chất hemaglutinin mất độc lực Nấu chín củkhoai tây, khoai lang cho lợn ăn đã làm tăng tỉ lệ tiêu hoá chất khô và protein Ngoài

ra, cách thức cho ăn cũng ảnh hưởng đến sự tiêu hoá của lợn Khi tăng trọng lượngthức ăn tiêu thụ sẽ làm tăng nhu động ruột, tốc độ di chuyển thức ăn trong đường tiêuhoá, cơ hội hấp thu ít, khả năng phân giải của các enzyme tiêu hoá không triệt để làm

tỉ lệ tiêu hoá giảm (Lê Đức Ngoan, 2002)

2.4.2.3 Chăm sóc quản lý

- Phương thức nuôi

Phương thức nuôi có liên quan chặt chẽ đến chế độ dinh dưỡng, do vậy sẽ ảnhhưởng đến sinh trưởng của vật nuôi Chế độ nuôi thâm canh với khẩu phần giàu nănglượng hoặc nuôi nhốt dẫn đến lợn phát triển nhanh nhưng tăng tích luỹ mỡ Ngược lạivới chế độ nuôi bán thả với thức ăn giàu xơ, lợn sẽ phát triển chậm hơn so với phươngthức nuôi thâm canh nhưng tỉ lệ nạc nhiều hơn Theo thông báo của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn (1980), khi giảm 27% năng lượng ăn vào so với mức ăn tự dođối với lợn có trọng lượng 20 – 45 kg, lượng mỡ cơ thể giảm 8%, tăng trọng giảm25%, tích luỹ nạc giảm 11% trong khi tiêu tốn thức ăn không giảm

- Môi trường

Nhiệt độ môi trường, độ ẩm, tiểu khí hậu chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến khảnăng ăn vào và tăng trọng của lợn Hai yếu tố nhiệt độ và độ ẩm tác động đồng thời lêncon vật làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của chúng Trong một nghiên cứu đối với lợn

Trang 22

có trọng lượng từ 25 – 106 kg, lượng ăn vào trung bình hằng ngày giảm khi nhiệt độtăng đến 280C ở độ ẩm tương đối từ 65 – 70% (Gonyou và cs, 2003; tdt Lê Văn Phước,2006) Cũng theo tác giả này, việc tăng độ ẩm tương đối từ 40 – 94% ở nhiệt độ khôngkhí không đổi là 240C sẽ gây nên sự suy giảm đáng kể lượng ăn vào và khả năng tăngtrọng/ngày Thí nghiệm của Mousgard (1959) (tdt Nguyễn Thiện và cs, 2005) về sựảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm đến sự tích luỹ và tăng trọng của lợn cho thấy ở nhiệt

độ dao động từ 15 – 230C với độ ẩm là 50 – 70%, khả năng tích luỹ đạm và tăng trọngcủa lợn cho kết quả tốt nhất (bảng 5)

Bảng 5 Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi đến tích luỹ và tăng trọngcủa lợn giai đoạn 30-80 kg

Nhiệt độ và độ ẩm chuồng nuôi Đạm tích luỹ

(gN/ngày) Tăng trọng (kg/ngày) Nhiệt độ (0C) Ẩm độ tương đối (%)

- Gen ảnh hưởng đến toàn bộ các tính trạng

- Gen ảnh hưởng đến một nhóm tính trạng liên quan

- Gen ảnh hưởng đến từng tính trạng riêng rẽ

Tính di truyền về mặt sức sản xuất cao hay thấp, chuyên hóa hay kiêm dụng ảnhhưởng rõ rệt tới sinh trưởng, phát dục của các bộ phận trực tiếp sản xuất như bầu vú bòsữa, mông vai bò thịt, Để tạo nên tính di truyền mong muốn, cần thiết chọn lọc đểcủng cố tính di truyền và phối hợp tốt đực cái để tính di truyền được truyền cho đờicon lai (Nguyễn Quang Linh và cs, 2006) Theo Phạm Thị Kim Dung và Nguyễn VănĐức (2004) giữa các tính trạng sản xuất cơ bản của lợn như tăng trọng lượng, tiêu tốnthức ăn, độ dày mỡ lưng và tỉ lệ nạc có mối tương quan di truyền chặt chẽ với nhau Vìvậy khi chọn lọc một tính trạng nào đó dẫn đến một số tính trạng khác cũng bị thay đổi

về mặt cấu trúc di truyền và năng suất vật nuôi Có lúc sự thay đổi đó có lợi cho sảnxuất như tăng trọng lượng nhanh dẫn đến tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng trọng giảm.Nhưng ngược lại, nhiều sự thay đổi làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế như khi tăngnăng suất sữa ở bò thì tỉ lệ mỡ sữa giảm xuống (Phạm Thị Kim Dung và Nguyễn VănĐức, 2004)

2.5 Đặc điểm sinh sản của lợn

2.5.1 Sự thành thục về tính

Gia súc sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển nhất định thì có khả năng sinh sản.Tuổi con vật bắt đầu có khả năng sinh sản gọi là tuổi thành thục về tính Tuổi thànhthục về tính được xác định bằng lần động dục và rụng trứng đầu tiên của con cái cũngnhư sự xuất hiện tinh trùng tự do ở dịch hoàn phụ và ống sinh tinh của con đực Ở thờiđiểm này, dưới ảnh hưởng của các tuyến nội tiết sinh dục, cơ quan sinh dục phát triển,đặc điểm sinh dục phụ phát triển và con vật có những ham muốn sinh dục Nếu ở giaiđoạn này, tinh trùng gặp trứng con cái sẽ có khả năng thụ thai (Lê Văn Thọ và ĐàmVăn Tiện, 1992) Thời gian thành thục về tính khác nhau tùy từng giống, từng loài vàgiới tính Theo Trần Cừ (1975), thời gian thành thục về tính của một số loài động vật

Trang 23

được trình bày ở bảng 6 Theo thông báo của bảng 6 cho thấy ở mỗi loài đều có sựkhác nhau về thời gian thành thục về tính Ngoài ra, giới tính cũng ảnh hưởng lớn đếnthời gian thành thục, con đực thường thành thục sớm hơn con cái

Bảng 6 Thời gian thành thục về tính của một số loài động vật

2.5.3 Đặc điểm sinh sản của lợn đực

Lợn đực thành thục về tính rất sớm, tuy nhiên người ta thường đưa vào sử dụng lúc

7 – 8 tháng tuổi đối với lợn nội và 8 – 9 tháng tuổi đối với lợn ngoại Lợn đực giốngsản xuất một lượng tinh dịch là 50 – 100ml/1 lần khai thác, lợn đực ngoại khoảng 200– 500ml tinh dịch Tùy theo độ tuổi và tình trạng sức khỏe của đực giống, người chănnuôi có thể khai thác theo chế độ nhất định, thông thường là từ 2 – 3 lần mỗi tuần Nếu

sử dụng lợn đực phối giống trực tiếp thì mỗi lợn đực có thể đảm nhiệm từ 30 – 40 lợncái Ngược lại nếu thụ tinh nhân tạo, số lợn nái đảm nhiệm có thể lên đến 200 – 300con Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào tình hình cơ sở chăn nuôi cũng nhưphương thức phối cho con cái (Vũ Đình Tuân và Trần Thị Thuận, 2005)

2.5.4 Sinh sản của lợn nái

Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, theo đặc điểm sinh sản người ta chia thành 3 loạilợn: Lợn nái hậu bị (chưa chửa đẻ), lợn nái kiểm định (đang chửa đẻ hoặc nuôi con lứa

1 – 2) và lợn nái cơ bản (đang chửa đẻ hoặc nuôi con lứa thứ 3 trở đi)

- Lợn nái hậu bị: Lợn sinh trưởng nhanh cả về trọng lượng cơ thể và cơ quan sinhdục Đến khi thành thục về tính, lợn có biểu hiện của động dục và chu kỳ động dục daođộng từ 18 – 21 ngày Ở chu kỳ động dục đầu tiên, triệu chứng động dục chưa điểnhình, số lượng và kích thước của tế bào trứng nhỏ Giống và nuôi dưỡng là hai yếu tốảnh hưởng lớn đến tuổi thành thục về tính và số lượng tế bào trứng chín và rụng

Trang 24

Ngoài ra, sự kích thích tính dục của con đực hay phương thức phối giống cũng tácđộng đến 2 yếu tố này

- Lợn nái kiểm định và cơ bản

+ Nái chửa: Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày Trong đó, ở 80ngày đầu (chửa kỳ 1) bào thai chưa phát triển nhiều, 3/4 trọng lượng bào thai là sựtăng lên ở giai đoạn chửa kỳ 2, đặc biệt là 2 tuần chửa cuối Sự gia tăng trọng lượngbào thai có sự khác biệt về thành phần hoá học ở từng thời kỳ thai Đối với lợn nái cóchửa, trao đổi chất tăng, đồng hoá chiếm ưu thế, không động dục và sinh lí các hoạtđộng bài tiết, tiêu hoá, tuần hoàn, … đều có sự thay đổi Ở lợn nái hậu bị, trọng lượng

cơ thể tăng nhanh giai đoạn có chửa Ở giai đoạn này cần phải có chế độ theo dõi vàchăm sóc đặc biệt nhằm hạn chế trường hợp một số hợp tử hoặc thai bị chết trong thời

kỳ chửa, nhất là ở những tuần đầu sau phối giống

+ Nái nuôi con: Đặc trưng của giai đoạn này là sự tiết sữa nuôi con, do vậy nhu cầudinh dưỡng của nái nuôi con cao Khả năng tiết sữa của lợn nái phụ thuộc vào giống,

cá thể và dinh dưỡng Sự tiết sữa ở lợn nái đều tuân thủ theo quy luật Sữa đầu có hàmlượng chất dinh dưỡng cao, trong đó đặc biệt có chứa γ – globuline – chất có tác dụngnâng cao sức đề kháng bệnh tật cho lợn con Sản lượng sữa tăng dần sau khi đẻ và đạtcực đại ở tuần thứ 3, sau đó giảm dần Các vú vùng ngực (phía trước) luôn cho sữanhiều hơn so với vú ở phía sau

2.5.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản

Sinh sản là một chuỗi các quá trình sinh học, ở từng quá trình chịu tác động của một

số yếu tố khác nhau, đồng thời có những yếu tố tác động xuyên suốt (sức khoẻ, dinhdưỡng, di truyền, điều khiển của hệ thần kinh, …) Các yếu tố ảnh hưởng đến năngsuất sinh sản của lợn nái có thể chia thành 2 loại là yếu tố tác động do di truyền và yếu

tố tác động do ngoại cảnh

2.5.5.1 Giống

Giống là yếu tố quyết định tới sức sản xuất của lợn nái, các giống khác nhau chonăng suất sinh sản khác nhau Theo Đặng Vũ Bình (1999), lợn Móng Cái, Yorkshire,Landrace có năng xuất sinh sản rất khác nhau được trình bày ở bảng 7 Khi cho lai cácgiống với nhau, con lai từ các tổ hợp lai khác nhau cũng cho khả năng sinh sản khácnhau và khác với bố mẹ của chúng Theo Phùng Thị Vân và cs (2001), tổ hợp lai đựcYorkshire và nái Landrace nâng cao số con sơ sinh còn sống/ổ là 1,03 con; tỉ lệ nuôisống đến cai sữa là 3,52%, trọng lượng bình quân lúc 60 ngày tuổi 10,0 kg/con so vớilợn nái Landrace phối thuần Tuy nhiên, ở tổ hợp lai giữa con đực Landrace với náiYorkshire không làm tăng số con sơ sinh còn sống/ổ, nhưng tăng tỉ lệ nuôi sống lợncon đến cai sữa là 1,61%, trọng lượng bình quân lúc 60 ngày tuổi tăng khoảng 0,4 kg

so với lợn nái Yorkshire phối thuần

Bảng 7 Năng suất sinh sản của một số giống lợn nuôi tại Việt Nam

Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày) 196,2 x 0,9 179 x 7,0 178,4 x 10,4

Số con đẻ ra còn sống (con) 10,6 x 0,06 9,8 x 0,3 9,9 x 0,5

Trọng lượng trung bình lợn con sơ

Trang 25

Sau thời kỳ sinh trưởng, lợn bắt đầu có khả năng sinh sản gọi là thành thục về tính.Đối với con cái, con vật động dục và rụng trứng đầu tiên Ngược lại ở con đực biểuhiện bằng sự xuất hiện của tinh trùng tự do ở ống sinh tinh và dịch hoàn phụ Ở giaiđoạn này dưới ảnh hưởng của nội tiết sinh dục, cơ quan sinh dục đực phát triển, giasúc có những ham muốn sinh dục và phản xạ tính xuất hiện Sự thành thục về tínhthường xảy ra sớm hơn so với sự thành thục về thể vóc Sau một thời kỳ sinh trưởng

và phát triển, đến một thời điểm nhất định con vật mới đạt tới độ thành thục về thểvóc, lúc này cơ thể mới phát triển hoàn thiện Khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thểvóc, nếu cho phối giống lứa đầu sớm sẽ ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng và pháttriển của cơ thể mẹ và của bào thai Kết quả là con mẹ yếu, tuổi sử dụng sẽ giảm, nguy

cơ đẻ khó dễ xảy ra do xương chậu con mẹ chưa phát triển hoàn chỉnh, con con cókích thước nhỏ, trọng lượng thấp và sức khỏe yếu (Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện,1992) Do vậy, phối giống chỉ nên thực hiện khi lợn cái hậu bị đã thành thục về thểvóc

Tuổi thành thục về tính chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố như giống, phươngthức nuôi, Lợn nội có tuổi thành thục về tính sớm hơn so với lợn ngoại Lợn Ỉ,Móng cái có tuổi thành thục về tính ở giai đoạn 5 – 8 tháng tuổi, trong khi đối với lợncái ngoại là 6 – 7 tháng tuối Lợn cái hậu bị nuôi nhốt sẽ có thời gian thành thục vềtính chậm hơn lợn cái hậu bị nuôi thả Trong giai đoạn hậu bị, đối với lợn nội 4 thángtuổi và lợn ngoại 5 tháng tuổi, nếu cho tiếp xúc với lợn đực sẽ thúc đẩy lợn cái hậu bịđộng dục sớm hơn (Nguyễn Thiện và cs, 1998)

Trọng lượng của lợn cái hậu bị cũng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản Nếu lợn quábéo sẽ làm hạn chế quá trình rụng trứng, làm giảm số lợn con/lứa Vì vậy, ở lợn cáihậu bị ngoại giai đoạn 6 – 7 tháng tuổi phải cho ăn hạn chế để đến khi phối giống(khoảng 7,5 – 8 tháng tuổi) trọng lượng lợn đạt khoảng 100 kg (Nguyễn Thiện và cs,1998)

2.5.5.3 Thứ tự các lứa đẻ

Khả năng sản xuất của lợn nái bị ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợnhậu bị, ở lứa đẻ thứ nhất cho số lượng con/ổ thấp, sau đó từ lứa thứ 2 trở đi số lượngcon trên ổ tăng dần lên cho đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần (NguyễnThiện và cs, 1998) Theo Vũ Ngọc Sơn và cs (2010), trên đối tượng lợn Ỉ, lứa 1 trungbình có 6,5 con, lứa 2 là 8,9 Đối với lợn Lũng Pù, lứa 1 đẻ trung bình 5,7 con, trongkhi lứa 2 là 6,7 con Theo Nguyễn Văn Nhiệm và cs (2002), các tính trạng số con/ổ vàtrọng lượng lợn con/ổ tăng dần từ lứa thứ 2, tăng nhanh từ lứa thứ 3 đến lứa thứ 7 vàsau đó giảm dần từ lứa thứ 8 Do vậy trong chăn nuôi, để tăng năng suất sinh sảnngười ta thường chú trọng giữ vững số lượng con/ổ ở các lứa thứ sáu trở đi bằng các

kỹ thuật chăn nuôi, điều này sẽ có lợi hơn là loại thải chúng để thay thế bằng đàn náihậu bị khác

2.5.5.4 Phối giống cho lợn nái

Để tăng năng suất sinh sản cho lợn nái cần thực hiện tốt một số kỹ thuật quan trọngnhư xác định thời điểm phối tinh thích hợp, nguyên tắc là phối vào thời điểm nào đểxác suất tinh trùng gặp được tế bào trứng nhiều nhất Do đó, lợn nái khi đến tuổi phốigiống, người chăn nuôi phải tăng cường theo dõi để chọn thời điểm thụ tinh thích hợp.Thời gian động dục của lợn nái được chia làm 3 giai đoạn là trước chịu đực, chịu đực

và sau chịu đực Sau khi phối tinh được 15 phút, tinh trùng vận động đến tử cung lợncái, sau 1 – 2 giờ tinh trùng sẽ vận động đến nơi thụ tinh thích hợp Số tinh trùng cầncho một lần phối tinh để có tỉ lệ thụ thai cao là 3 tỉ Sau khi xuất hiện triệu chứng độngdục đầu tiên (khoảng 40 – 48 giờ), tế bào trứng bắt đầu rụng, lúc này lợn nái biểu hiện

Trang 26

mê ị Trong thực tế sản xuất, để xác định thời điểm phối tinh thích hợp, phải theo dõilợn nái khi có những biểu hiện của động dục (2 lần/ngày vào sáng sớm và chiều tối) đểxác định thời điểm xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên Thời gian kéo dài độngdục của lợn là 3 – 5 ngày tùy theo giống và thời gian phối thích hợp là cuối ngày thứ 2,đầu ngày thứ 3 Ở thời gian này, lợn nái biểu hiện động dục cao độ nhất, âm hộ chuyển

từ màu đỏ hồng sang màu tím tái Lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng conkhác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum, lợn sẽ đứng yên, cong đuôi và thích giaophối Đây là thời điểm phối tinh thích hợp nhất cho lợn nái Nếu đo điện trở âm đạo,giá trị của điện trở giảm xuống thấp nhất Để nâng cao tỉ lệ thụ thai, ngoài việc phảixác định thời điểm phối tinh thích hợp, thì kỹ thuật phối tinh và chất lượng tinh trùngcũng hết sức quan trọng Thời điểm phối tinh tốt nhất vào buổi sáng sớm, thời tiết mát,yên tĩnh, và thao tác phải đúng kỹ thuật Có thể áp dụng các hình thức phối lắp, phốikép để nâng cao tỉ lệ thụ thai Sau khi phối xong cần phải ghi chép đầy đủ và theo dõithường xuyên

2.6 Chất lượng thịt

2.6.1 Khái niệm chất lượng thịt

Khi nói đến chất lượng thịt của lợn cần hiểu khái niệm này bao gồm 2 phần: (1)Một là chất lượng thịt xẻ được xác định theo các thông số gồm trọng lượng thịt xẻ, tỉ lệnạc, dài thân thịt, các phần thịt mông, vai, lưng và cơ thăn (2) Chất lượng thịt gồm cócác chỉ tiêu về mặt phẩm chất thịt như độ giữ nước, màu sắc, pH, tỉ lệ mỡ dắt, độ mịncủa thịt, …

2.6.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt

2.6.2.1 Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền ảnh hưởng đầu tiên đến phẩm chất thịt của thịt lợn là yếu tố congiống Giữa các giống khác nhau sẽ có phẩm chất thịt xẻ cũng như phẩm chất thịt khácnhau Hầu hết các giống lợn nội trong thân thịt có tỉ lệ mỡ cao (lợn Ỉ có tỉ lệ mỡ lên tới48% so với thịt xẻ và tỉ lệ nạc thấp, ở lợn Móng Cái tỉ lệ nạc cũng chỉ đạt 37%) Trongkhi đó, hầu hết các giống lợn ngoại nhập nội chủ yếu là các giống lợn hướng nạc nhưlợn Yorkshire có tỉ lệ nạc 52 – 53%, lợn Landrace có tỉ lệ nạc 54 – 56%, đặc biệt làgiống lợn Piétrain có tỉ lệ nạc rất cao trên 60% Tuy nhiên, những giống lợn nội thịtthường có vị thơm ngon, thớ cơ nhỏ, mịn Trái lại như giống Piétrain tuy cho tỉ lệ nạccao song thịt thường nhão và chua (pH giảm rất nhanh sau khi mổ 45 phút) TheoSellier và Monin (1994) ở các giống Piétrain, Landrace Bỉ và Landrace Đức có tỉ lệthịt đùi, tỉ lệ thịt nạc và diện tích cơ thăn cao hơn các giống khác Các giống địaphương thường có tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỉ lệ nạc thấp,nhưng tỉ lệ mỡ trong cơ lại cao Monin và cs (1987) cho biết, giống là yếu tố quantrọng ảnh hưởng chất lượng thịt, còn trọng lượng giết thịt, khẩu phần thức ăn, giới tính

và điều kiện nuôi dưỡng ít ảnh hưởng đến chất lượng thịt Ngoài ra, giống còn ảnhhưởng khả năng tích lũy mỡ

Ngoài yếu tố di truyền giống, yếu tố di truyền về kiểu gen cũng ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng của thịt lợn Mặc dầu các tính trạng chất lượng có hiệu suất di truyềnthấp, nhưng yếu tố di truyền của nó đóng vai trò quyết định trong việc “thiết kế” thànhphần và chất lượng thịt lợn (Selier, 1998, tdt Davoli và Braglia, 2008) Nhìn chung, sựdao động là từ 10% đến 30% trong các tính trạng chất lượng và các sản phẩm thịt,chẳng hạn như pH cuối cùng, màu sắc, khả năng giữ nước, thất thoát nhỏ giọt, độmềm, mỡ dắt, được quyết định bởi nền tảng di truyền của động vật (Selier, 1998, tdtDavoli và Braglia, 2008) Di truyền học phân tử cung cấp các công cụ để phân tíchnhững biến đổi di truyền số lượng trực tiếp ở mức độ DNA với khả năng phát hiện

Trang 27

những gen riêng biệt ảnh hưởng đến các đặc điểm chất lượng Chất lượng thịt chịu sựchi phối của 1 số gen chưa biết nằm ở các vùng QTL và một vài gen riêng lẻ nó có thể

có tác động lớn đến một tính trạng đặc trưng Hiện nay, các nhà khoa học đang tậptrung xác định các yếu tố trong các phân tử sinh học và phân tử phục vụ cho việc chọnlọc dựa vào chất đánh dấu trong nhân giống, tạo điều kiện để “thiết kế thịt” bằng cácphương pháp phân tử và di truyền (Plastow và cs, 2004; Mullen và cs, 2006) Đến nay,nhiều gen ảnh hưởng đến chất lượng thịt đã được xác định Trong đó hai gen có tác

động chủ yếu là Ryanodine receptor (gen HAL hay RYR1) điều hòa vận chuyển Ca++

qua các màng tế bào cơ và Rendment Napole (gen RN) tác động đến hàm lượng

glycogen trong cơ (Davoli và Braglia, 2008) Ngoài ra, một số gen khác liên quan đến

chất lượng thịt cũng đã được xác định như gen IGF2 liên quan đến sự phát triển sợi cơ

và hàm lượng thịt nạc; gen MC4R liên quan đến lượng ăn vào, sinh trưởng và hàm lượng mỡ, gen CAST liên quan đến độ mềm và một số tính trạng chất lượng thịt khác.

+ Gen Halothane (HAL) hay PSS hay RYR1 là một trong những gen quy định tính

trạng đầu tiên ở lợn được mô tả ở mức độ phân tử Từ những năm 1960, gen halothane

đã được xác định có sự liên quan mật thiết với hiện tượng PSE ở thịt Thịt PSE là kếtquả của sự tăng biến tính protein do pH thấp ở giai đoạn đầu sau mổ thịt kết hợp nhiệt

độ cao (Klont và cs, 1994) Fujii và cs (1991) đã mô tả một test quan trọng giúp sànglọc chất lượng thịt lợn dựa trên việc xác định đột biến gây bệnh trên gen PSS Test này

giúp các nhà chọn giống tách chính xác 3 kiểu gen PSS (NN, Nn và nn), và cho phép nghiên cứu chi tiết hơn về tác động của đột biến gen PSS lên chất lượng thịt Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa kiểu gen PSS với các tính trạng chất lượng

thịt (khả năng giữ nước, màu sắc, độ mềm ) Nghiên cứu của Franco và cs (1998),

cho thấy sự có mặt của alen n làm tăng thất thoát nước ở cơ semimembranous, làm

giảm chất lượng thịt (tdt Band và cs, 2005) Lundstrom và cs (1995), cũng đã khẳng

định gen PSS tác động đến cơ dài lưng longissimus dorsi, kết quả là làm giảm độ mềm

thịt lợn Theo Fisher và cs (2000), giá trị pH ban đầu thấp (đo trong vòng 45 phút saugiết mổ) ở lợn có kiểu gen Nn, đặc biệt là lợn mang gen nn, làm giảm chất lượng thịt

do quá trình thủy phân glycogen tăng nhanh sau giết mổ

+ Gen Rendment Napole (RN) là 1 gen quan trọng tác động đến các tính trạng chất

lượng thịt, được xem là nguyên nhân gây ra hiện tượng thịt lợn RSE (Warner và cs,1997) Thịt có màu đỏ phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng, tuy nhiên các đặcđiểm thịt mềm và rỉ nước chứng tỏ các protein cơ có khả năng giữ nước thấp Enzym

adenosin monophosphate kinase điều hòa tổng hợp glycogen Ở lợn đồng hợp tử và dị

hợp tử RN, enzyme này đã biến đổi, không thể ức chế sản sinh glycogen hiệu quả như

ở lợn bình thường Giai đoạn sau giết mổ, glycogen được chuyển đổi thành axít lactic,

do đó nồng độ glycogen trong thịt lợn mang gen RN càng cao thì nồng độ axít lactic

được sản sinh càng cao Sự gia tăng sản sinh axít lactic làm cho pH cuối cùng của thịtgiảm xuống (Lundstrom và cs, 1996; Enfalta và cs, 1997), giảm khả năng giữ nước(LeRoy và cs, 1996; tdt Kerry và Ledward, 2002) Hiện nay đã có các bộ kit di truyềnthương mại chuẩn để kiểm tra gen RN trên thịt lợn

Nghiên cứu của Friedman và Halaas (1998) và Kennes và cs (2001), cho thấy gen

leptin có vai trò trong việc điều hòa trao đổi chất và năng lượng, tích lũy mỡ.

Neuenschwander (1996) đã xác định được vị trí gen leptin trên nhiễm sắc thể số 18 (q13 - q21) ở lợn Năm 1997, trình tự của gen leptin cũng đã được công bố trên ngân

hàng gen (mã số V66254) gồm 3 exon và 2 intron Hardge và cs (1998) đã phát hiện

mối liên quan giữa đa hình gen leptin với các tính trạng về tốc độ sinh trưởng, tỉ lệ nạc

và mức tiêu thụ thức ăn trong quần thể lợn Ngoài ra, nghiên cứu của Jiang và Gibson

Trang 28

(1999) đã phát hiện 2 đột biến câm C876T trong intron 1 và A1112G trong intron 2, và

1 đột biến G3714T trong exon 3 Từ đó nhóm tác giả nhận thấy đa hình G3417T có sự

liên quan với tỉ lệ mỡ (kiểu gen CC tương ứng với tỉ lệ nạc cao) Năm 2003, Kuryl và

cs đã sử dụng phương pháp PCR-RFLP để phân tích mối tương quan giữa đa hình gen

leptin với tính trạng chất lượng thịt từ 249 mẫu của nhiều giống lợn khác nhau Kết

quả cho thấy kiểu gen leptin TT liên quan tới tỉ lệ nạc cao và mỡ đùi thấp Như vậy, gen leptin là 1 gen liên quan đến tính trạng chất lượng thịt lợn và khả năng tăng trọng.

Lê Thị Thúy và cs (2004) đã tiến hành nghiên cứu đa hình kiểu gen leptin liên quan trên một số giống lợn nuôi tại Việt Nam Sau khi khuếch đại gen leptin bằng PCR,

phản ứng RFLP được thực hiện với enzym hạn chế Hind III Kết quả cho thấy gen

leptin có 2 dạng alen A và G và 3 kiểu gen tương ứng: kiểu gen AA (cho 1 băng có

kích thước 658bp); kiểu gen GG (cho 2 băng có kích thước 491bp và 167bp); kiểu gen

GA (cho 3 băng có kích thước 658bp, 491bp và 167bp) Nhóm tác giả cũng đã khẳng

định kiểu gen GG liên quan đến tính trạng chất lượng thịt tốt (tỉ lệ nạc cao) và khả

năng tăng trọng nhanh ở lợn, phù hợp với một số nghiên cứu của nhiều tác giả trên thếgiới

2.6.2.2 Yếu tố dinh dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh chi phối đến khảnăng sinh trưởng và cho thịt của lợn thịt Lượng thức ăn ăn vào cũng như thành phầndinh dưỡng của thức ăn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trọng của lợn Lợn cókhả năng tích lũy protein cao thì cần tăng mức năng lượng và protein cao hơn so vớilợn bình thường Mức năng lượng cao trong khẩu phần sẽ làm tăng tốc độ tăng trọng,giảm tiêu tốn thức ăn so với mức năng lượng thấp Mức năng lượng và protein trongkhẩu phần thấp sẽ làm tăng quá trình tích mỡ trong cơ Hàm lượng xơ thô tăng từ 2,4%lên 11% thì tăng trọng mỗi ngày của lợn giảm từ 566 g xuống 408 g và lượng thức ăncần cho 1 kg tăng trọng tăng lên 62% Chất khoáng có vai trò đặc biệt quan trọng đốivới lợn thịt Tốc độ sinh trưởng và phẩm chất thịt cũng thay đổi tùy thuộc vào mốiquan hệ giữa các vitamin với các chất khoáng Hiệu quả sử dụng protein chịu ảnhhưởng bởi nhiều yếu tố Lợn hướng nạc có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so vớilợn hướng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trưởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái và lợnđực thiến Khẩu phần cân đối axít amin tốt hơn khẩu phần không cân đối Tăng mứcLysine vào khẩu phần một cách hợp lý sẽ làm tăng mức thu nhận thức ăn và tăng tốc

độ sinh trưởng, nâng cao được tỉ lệ nạc, giảm lượng mỡ thân thịt, tăng diện tích cơlưng dài Lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dưỡng cao (protein, năng lượng) sẽ có sự pháttriển mạnh về thịt nạc, mỡ và tỉ lệ mỡ trong cơ thấp hơn, tỉ lệ xương cao hơn so vớilợn nuôi bằng khẩu phần dinh dưỡng thấp

Monin (1987) cho rằng hình thức nuôi hạn chế thức ăn và số lượng năng lượngtrong khẩu phần có ảnh hưởng đến chất lượng thân thịt Ở lợn được nuôi tự do, nănglượng thu nhận cao hơn so với nhu cầu nên tích lũy mỡ nhiều hơn Ngoài protein vàaxít amin, các chất béo bổ sung vào khẩu phần thức ăn cũng có tác động đến năng suất

và chất lượng thịt Tỉ lệ tiêu hóa chất béo trong khẩu phần, lượng năng lượng trao đổi

và chất béo ăn vào, nhiệt độ chuồng nuôi đều có ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng củachất béo khi nó được dùng làm nguồn năng lượng cho lợn Nói chung việc thay thếnăng lượng từ carbohydrate bằng chất béo trong khẩu phần cho lợn ở môi trường nhiệt

độ trung bình sẽ cải thiện tăng trọng và giảm được số năng lượng trao đổi cần thiết chotăng trọng Mối quan hệ về sinh trưởng giữa cơ, mỡ và xương sẽ ảnh hưởng đến sựsinh trưởng của gia súc Lợn sinh trưởng chậm, khi giết mổ ở độ tuổi cao sẽ có tỉ lệ

Trang 29

cao về xương và mỡ Lợn sinh trưởng cao sẽ có nhiều mỡ hơn lợn sinh trưởng bìnhthường, đặc biệt là ở con đực.

2.6.2.3 Phương thức nuôi dưỡng

Việc nuôi dưỡng lợn theo các cách khác nhau như cho lợn ăn tự do hay hạn chế sẽlàm ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt Mức độ ảnh hưởng này lại khônggiống nhau giữa lợn đực thiến và lợn cái Cho ăn tự do sẽ làm tăng tốc độ tăng trọngcủa cả lợn đực thiến và lợn cái so với cho ăn hạn chế Về độ dày mỡ lưng cao hơn hẳn

ở những con đực cho ăn tự do và tỉ lệ nạc lại thấp hơn so với cho ăn hạn chế Chỉ nêncho ăn tự do đến khi lợn đạt tới trọng lượng 50 kg, sau đó áp dụng chế độ ăn hạn chế.Như vậy sẽ phát huy được khả năng tăng trọng của lợn vừa giảm được những hạn chếcủa chế độ ăn tự do

2.6.2.4 Độ tuổi

Tuổi giết thịt có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất thịt Nếu giết thịt sớm thìnăng suất còn thấp, vì ở giai đoạn này lợn tăng trọng chưa cao, song nếu kéo dài thìảnh hưởng đến kinh tế do mức tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng lớn Phẩm chất thịtcũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ phát triển khác nhau ở từng giaiđoạn Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ khi còn nhỏ nhưng tốc độ đó giảm dần, còn

mô mỡ tích lũy ngày càng tăng Tính từ khi sinh ra đến 7 tháng tuổi trọng lượng lợntăng gấp khoảng 100 lần, trong khi đó mô xương chỉ tăng khoảng 30 lần, mô cơ tăngkhoảng 81 lần, còn mô mỡ tăng 675 lần Ngoài ra khi tuổi tăng thì tỉ lệ nước giảm, còn

tỉ lệ mỡ trong cơ và nitơ trong protein tăng lên

2.6.2.5 Sức khỏe và trọng lượng ban đầu

Sức khỏe và trọng lượng của lợn khi cai sữa ảnh hưởng đến năng suất, là chỉ tiêuđánh giá trọng lượng con giống khi nhập chuồng Lợn có sức khỏe tốt chứng tỏ tronggiai đoạn theo mẹ và cai sữa không có bệnh tật, khả năng thu nhận và tiêu hóa thức ăntốt, có thể đạt được năng suất tối đa trong giai đoạn nuôi thịt Sức khỏe trong giai đoạn

bú sữa mà kém như do thiếu máu, còi cọc thì đến giai đoạn nuôi thịt tăng trọng kém.Trọng lượng cai sữa có ảnh hưởng đến trọng lượng lúc xuất chuồng Trọng lượng bắtđầu nuôi và trọng lượng giết thịt có một mối tương quan dương tương đối chặt chẽ và

có thể dùng làm một chỉ số chọn lọc

2.6.3 Một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng thịt

Khái niệm nhu cầu về chất lượng thịt lợn ở nước ta nói chung không chỉ dừng lại ở

tỉ lệ nạc cao, mức độ sạch và an toàn Khái niệm chất lượng thịt đối với người ViệtNam còn phải bao gồm cả những đánh giá khác mà khó có thể phân tích bằng hóa học,

đó là chất lượng được đánh giá bằng cảm giác khi ăn thông qua mùi vị, kết cấu của thịt

và cảm giác nhai Nói tóm lại, khái niệm chất lượng thịt của chúng ta rất riêng và tạo

ra văn hóa ẩm thực Việt Nam Cho đến nay, các nghiên cứu đánh giá chất lượng thịtlợn ở Việt Nam rất ít, đặc biệt các nghiên cứu chất lượng thịt sử dụng những phươngpháp mới như ứng dụng các thiết bị nghiên cứu hiện đại như kỹ thuật phân tử mà thếgiới đang áp dụng hầu như không có Hiện nay, chất lượng thịt tốt và an toàn đóng vaitrò rất quan trọng đối với ngành công nghiệp thịt, là yếu tố hỗ trợ cho sức tiêu thụ vàthỏa mãn thị hiếu của người tiêu dùng Đánh giá và phân loại chất lượng thịt đã trởthành một khâu quan trọng trong ngành công nghiệp thịt của thế giới Chất lượng thịtthường được xác định qua các thông số như độ dày mỡ lưng, hàm lượng mỡ trong cơ,

mỡ dắt, diện tích mắt thịt, khả năng giữ nước, pH, khả năng thủy phân glycogen, màusắc, độ mềm, độ mọng nước và hương vị của thịt

Khả năng giữ nước của thịt là 1 thông số chất lượng kỹ thuật quan trọng đối vớingành công nghiệp thịt Việc đánh giá khả năng giữ nước của thịt đã được tiến hành

Trang 30

trong nhiều năm qua nhưng cho đến nay vẫn chưa có 1 quy trình chuẩn quốc tế (Otto

và cs, 2004) Hiện nay, các phương pháp đánh giá truyền thống như phương pháp néngiấy lọc (Grau và Hamm, 1953), phương pháp giấy lọc (Kauffman và cs, 1986),phương pháp túi (Honikel, 1987) và phương pháp khay (tray method, Lundstrom vàMalmfors, 1985) vẫn được sử dụng phổ biến (tdt Otto và cs, 2004) Không dừng lại ở

đó, cũng theo Otto và cs (2004), các nhà khoa học vẫn đang cố gắng tìm kiếm cácphương pháp khác thích hợp hơn nhằm xác định khả năng giữ nước của thịt, chẳng hạnphương pháp EZ-DripLoss (Rasmussen và Andersson, 1996), phương pháp sử dụngvật liệu hấp thu giai đoạn đầu sau giết mổ (Walukonis và cs, 2002)

Màu sắc có vai trò quan trọng đối với chất lượng thịt sống, ảnh hưởng đến sự lựachọn của người tiêu dùng Màu sắc của thịt tươi là sự kết hợp giữa kết quả sự biến tínhprotein do thay đổi pH, với hàm lượng và tình trạng oxy hóa của myoglobin Giá trị

pH giảm nhanh ở giai đoạn đầu sau giết mổ làm cho thịt có màu tái; ngược lại thịt cómàu đỏ sậm khi giá trị pH cuối cùng cao Trong quá trình xử lý thịt, myoglobin vàoxomyoglobin được chuyển thành nitrosomyoglobin khi có mặt nitrite, làm cho thịt cómàu hồng Màu sắc thịt có thể tiếp tục thay đổi trong giai đoạn bảo quản tùy vào chấtliệu bao bì, quy trình đóng gói và điều kiện bảo quản Do đó, hàm lượng myoglobintrong thịt sống cũng là 1 chỉ thị chất lượng thịt đối với quá trình chế biến Nhóm hemcủa myoglobin và hemoglobin có thể định lượng bằng phương pháp quang phổ

Khả năng giữ nước và màu sắc của thịt bị tác động bởi sự thủy phân glycogen trong

cơ sau giết mổ Vì vậy các giá trị pH ban đầu (pHi) và cuối cùng (pHu) được xem là chỉthị chất lượng thịt, cho phép dự đoán khả năng giữ nước và màu sắc thịt Sự sụt giảm

pH nhanh ở giai đoạn sau giết mổ thường dẫn đến khả năng giữ nước thấp Ở động vật

bị stress dài trước giết mổ, giá trị pH trong các cơ ở thời điểm giết mổ thấp hơn so vớiđộng vật bị stress ngắn (Henckel và cs, 1999 tdt Kusec và cs, 2007) Nếu lợn bị kiệtsức lúc giết mổ, hàm lượng glycogen thấp trong cơ sẽ làm cho giá trị pHu cao và thịt bịhiện tượng DFD

Hiện vẫn chưa thống nhất ngưỡng pH cho từng nhóm chất lượng thịt Theo Sellier

và Monin (1994), giá trị pHi < 5,8 và pHu < 5,5 cho phép dự đoán thịt lợn PSE; Forrest(1998) cũng thông báo rằng pHu ≤ 5,5 chỉ thị cho điều kiện PSE; trong khi đó, VanLaack (2000) cho rằng thịt PSE khi pHu = 5,7 (tdt Kusec và cs, 2007) Theo Kusec và

cs (2005), pH 5,7 là giá trị ngưỡng phân biệt cơ longissimus dorsi thịt lợn “rỉ nước”hay “bình thường” Hàm lượng mỡ dắt cũng ảnh hưởng đến hương vị của thịt Ở thịtlợn, hàm lượng các axít béo không no nhiều liên kết đôi liên quan với hương vị khácthường, trong khi đó các axít béo không no một liên kết đôi và axít béo bão hòa lại cóliên quan với hương vị thịt lợn và tính ngon miệng

2.6.4 Nghiên cứu nâng cao chất lượng thịt lợn

2.6.4.1 Kỹ thuật cơ bản làm thay đổi tính axít trong thịt, cải thiện độ mềm thớ

cơ và màu sắc của thịt

Hàm lượng axít trong thịt, độ mềm của các thớ cơ và màu sắc của thịt ảnh hưởng rấtlớn đến chất lượng của thịt lợn Nguyên nhân chính làm giảm chất lượng thịt là do thịtlợn dễ biến đổi sau khi giết thịt Thịt trở nên nhợt nhạt, nhão và rỉ nước Đó là hiệntượng PSE, nguyên nhân là do những biến đổi tự nhiên về hoá học mô sau khi giết mổ,thịt lợn đều trở nên axít hơn một cách điển hình, thịt bị mất nước, trở nên nhợt nhạt vànhão Công nghiệp sản xuất thịt không có cách nào để khống chế một cách thiết thựcnhững sự thay đổi này Việc làm đông nhanh cũng chỉ làm chậm sự biến đổi đó chứkhông chấm dứt được tình trạng PSE Koffman, Marion Greaser và Ronald Russellcùng với Ed Pospiech (Wisconsin, 2002, Khuất Chi Mai dịch) đã đề nghị tiêm dung

Trang 31

dịch Na Bicarbonate vào trong thịt và để nó khuếch tán qua các thớ cơ, điều này đãlàm giảm thấp hàm lượng axít trong thịt thăn, thịt mông và những mảnh cắt khác,phương pháp này không làm thay đổi mùi vị của thịt, nó làm cho thịt giữ được màusắc, thớ cơ có độ mềm và khả năng giữ nước của thịt tốt hơn.

2.6.4.2 Các giải pháp khoa học công nghệ ở khâu chăn nuôi trước và sau khi giết mổ

Ngoài các kỹ thuật cơ bản làm thay đổi tính axít trong thịt, cải thiện độ mềm thớ cơ

và màu sắc của thịt thì các giải pháp khoa học công nghệ trước khi giết mổ cũng ảnhhưởng đến chất lượng của thịt Trong đó, các giải pháp ở khâu dinh dưỡng thức ăn ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng của thịt lợn trước khi giết mổ Theo Lã Văn Kính(2007) có thể thay thế kháng sinh bằng các axít hữu cơ hoặc probiotics để làm chất bổsung thay thế kháng sinh trong thức ăn cho lợn thịt, hoặc có thể sử dụng một số chấthấp phụ độc tố để làm giảm tác hại của độc tố nấm mốc trong thức ăn đến sinh trưởng

và phát triển của lợn thịt

Cùng với các giải pháp khoa học công nghệ ở khâu dinh dưỡng thức ăn, những giảipháp ở khâu giống và chăm sóc nuôi dưỡng như mức độ ảnh hưởng của giống đến sảnxuất thịt lợn an toàn, ảnh hưởng của mật độ chuồng nuôi đến khả năng sinh trưởng củalợn thịt, ảnh hưởng của nhiệt độ chuồng nuôi đến năng suất, sức khỏe và hiệu quả chănnuôi lợn thịt cũng hết sức quan trọng Ngoài các giải pháp khoa học công nghệ trên,giải pháp sản xuất thịt an toàn và chất lượng cao ở khâu giết mổ và đóng gói như thiết

kế chế tạo máy giết mổ quy mô nhỏ từ 15 - 30 con/giờ đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toànthực phẩm, cải tiến các phương tiện vận chuyển thịt lợn nhằm giảm thiểu vấy nhiễm visinh trên quày thịt cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thịt và sức khỏe của ngườitiêu dùng (Lã Văn Kính, 2007)

Trong vận chuyển, không nên nhốt những lợn khác đàn trong cùng phương tiện vậnchuyển khi chuyên chở đến lò mổ Không nên cho lợn ăn khi vận chuyển đường xanhưng phải cung cấp đầy đủ nước uống Cho lợn nghỉ ngơi trước giết mổ sẽ giảm tỉ lệthịt PSE Thời gian cho lợn nghỉ ngơi trước giết mổ nên từ 3 đến 4 giờ và thường ítnhất là 2 giờ Tuy nhiên, nếu cho lợn nghỉ quá lâu có thể tăng tỉ lệ thịt khô, cứng vàsậm màu Không nên cho lợn ăn trước giết mổ ít hơn 6 giờ và không nhiều hơn 24 giờ.Thời gian ngừng cho ăn trước giết mổ có ảnh hưởng cộng gộp cùng với các nhân tốkhác chẳng hạn như thời gian và phương tiện vận chuyển lợn, thời gian lợn nghỉ ngơitại lò mổ Không nên vận chuyển lợn vào những ngày quá nắng nóng và vào các giờcao điểm trong ngày

2.6.5 Nghiên cứu về chất lượng thịt của một số giống lợn

Nhiều tác giả đã quan tâm và nghiên cứu về chất lượng thân thịt của các giống lợnkhác nhau ở những vùng miền khác nhau trong những điều kiện nghiên cứu khác nhau.Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) không có sự sai khác về tỉ lệ thịtmóc hàm nhưng có sự sai khác về tỉ lệ thịt xẻ giữa 2 con lai (Duroc × (Landrace ×Yorkshire)) và (Piétrain × (Landrace × Yorkshire)) Tỉ lệ nạc so với thịt xẻ của con lai(Piétrain × (Landrace × Yorkshire)) đạt 65,73% Đối với con lai (Duroc × (Landrace ×Yorkshire)), giá trị này chỉ đạt 61,78% Trong khi đó, nghiên cứu của Đặng Vũ Bình

và cs (2008) cho thấy có sự khác biệt rõ rệt về tỉ lệ thịt nạc so với trọng lượng thịt móchàm giữa 3 công thức lai, cao nhất là con lai ((Piétrain × Duroc) × (Yorkshire × MóngCái)) đạt 53,68%, tiếp theo là (Duroc × (Yorkshire × Móng Cái)) đạt 52,54% và thấpnhất là (Landrace × (Yorkshire × Móng Cái)) đạt 50,54%

Chất lượng thịt xẻ giữa hai nhóm con lai (Piétrain × Móng Cái) và (Yorkshire ×Móng Cái) không có nhiều sai khác Tuy nhiên con lai (Piétrain × Móng Cái) có độ

Trang 32

dày mỡ lưng mỏng hơn, diện tích mắt thịt lớn hơn so với con lai (Yorkshire × MóngCái) (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006a) Mặc dù trọng lượng giết thịtchênh lệch nhau khá lớn, nhưng không có sự khác biệt rõ rệt về một số chỉ tiêu chấtlượng thịt xẻ giữa các con lai F1(Piétrain × Yorkshire) và (Piétrain × (Yorkshire ×Móng Cái)) Các con lai có tỉ lệ nạc khá cao, tương ứng là 55,41% và 53,07% Các conlai (Piétrain × Yorkshire) và (Piétrain × (Yorkshire × Móng Cái)) có tỉ lệ các phần thịt

có giá trị, đặc biệt là tỉ lệ thịt đùi cao hơn, tỉ lệ thịt bụng thấp hơn một cách rõ rệt sovới con lai (Piétrain × Móng Cái) Con lai (Piétrain × (Yorkshire × Móng Cái))có tốc

độ sinh trưởng khá, tiêu tốn thức ăn tương đối thấp, tỉ lệ nạc cao tương đương với lợnngoại Có thể sử dụng công thức lai này trong sản xuất nông hộ nhằm nâng cao năngsuất và tỉ lệ nạc Sử dụng lợn đực giống Piétrain phối giống với nái Yorkshire, nái F1(Yorkshire × Móng Cái) và nái Móng Cái tạo được con lai nuôi thịt có năng suất vàchất lượng thịt khá tốt (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2004)

Phan Xuân Hảo (2007), khi nghiên cứu trên lợn Landrace và Yorkshire đã nhậnthấy rằng tỉ lệ nạc ở lợn Landrace là 56,17%, ở Yorkshire là 53,86% và ở F1(Landrace × Yorkshire) là 55,35% Phùng Thị Vân và cs (2006), khi nghiên cứu trêncác nhóm lợn Duroc, Landrace, Yorkshire, F1 (Landrace × Yorkshire), F1 (Yorkshire

× Landrace) cho kết quả về tỉ lệ nạc tương ứng là 59,4, 62,1, 62,49, 62,75 và 62,9% Tỉ

lệ nạc của lợn lai 3 giống (Landrace × (Yorkshire × Móng Cái)) có trọng lượng thịtmóc hàm khá cao đạt 49,99% Chất lượng thịt của con lai ở mức bình thường (VũĐình Tôn và cs, 2008)

Hàm lượng protein thô của cơ thăn trên các nhóm lợn thí nghiệm Duroc, Landrace,Yorkshire, F1 (Landrace × Yorkshire), F1 (Yorkshire × Landrace) tương đương nhau,dao động từ 21,02 – 21,60% Chỉ số iod của mỡ trên các nhóm lợn nuôi thịt tương đốicao xếp theo thứ tự từ thấp đến cao lần lượt là Duroc, Landrace, Yorkshire, F1(Landrace × Yorkshire) và F1 (Landrace × Yorkshire) (Phùng Thị Vân và cs, 2006)

Trang 33

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng được điều tra, phỏng vấn và thu thập thông tin là cán bộ chuyên môn,cán bộ lãnh đạo ở các cấp, già làng và người chăn nuôi ở các vùng khác nhau trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi

- Đối tượng nghiên cứu là lợn Kiềng Sắt được nuôi trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.Đối với nghiên cứu sinh trưởng, lợn được mua ở độ tuổi từ 60 đến 65 ngày tuổi Trongkhi đó để đánh giá khả năng sinh sản của lợn Kiềng Sắt, lợn cái có độ tuổi lớn hơnkhoảng 4 tháng tuổi với trọng lượng dao động từ 6 – 7 kg/con Lợn thí nghiệm đượcmua tại các xã thuộc 02 huyện Ba Tơ và Sơn Tây, sau đó nuôi nhốt tập trung tại Trungtâm của hai huyện này từ 3 – 5 ngày để tiêm phòng các loại vắc xin (vắc xin tam liênphòng các bệnh dịch tả, phó thương hàn, tụ huyết trùng và vắc xin lở mồm longmóng) Sau khi tiêm phòng 7 ngày và làm thủ tục kiểm dịch thú y, lợn được đưa về cáctrại thí nghiệm để tẩy ký sinh trùng và nuôi để làm quen với thức ăn trong thời gian 5ngày trước khi thu thập số liệu thí nghiệm

- Lợn lai giữa lợn nái bản địa ở Quảng Ngãi (lợn Kiềng Sắt) với lợn đực rừng,thường được gọi là lợn Ki theo tiếng của người Hre cũng được đánh giá khả năng sinhtrưởng, phát triển và chất lượng thịt Lợn nái Kiềng Sắt sau khi phối giống với lợn đựcrừng được theo dõi năng suất sinh sản qua 3 lứa đẻ đầu tiên Tương tự với lợn KiềngSắt, con lai giữa lợn nái Kiềng Sắt với lợn đực rừng ở giai đoạn 3 tháng tuổi đượcđánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại 3 trang trại nông lâm kết hợp của

3 hộ dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, gồm:

+ Hộ 1: Ông Tiêu Tùng ở xã Hành Minh, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi + Hộ 2: Ông Lê Minh Bửu ở xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi + Hộ 3: Ông Nguyễn Thành Lộc ở xã Long Hiệp, huyện Minh Long, tỉnh QuảngNgãi

- Các chỉ tiêu về chất lượng thịt và đa hình gene Leptin và PSS của lợn thí nghiệm

được phân tích tại Phòng Thí nghiệm Trung tâm, Khoa Chăn nuôi – Thú y, TrườngĐại học Nông Lâm Huế và Công ty cổ phần dịch vụ Khoa học Công nghệ Sắc ký HảiĐăng, thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 6/2008 đến tháng 5/2010

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nội dung 1: Điều tra thực trạng lợn Kiềng Sắt trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Các thông tin điều tra bao gồm các đặc điểm về hình thái, sinh lý, khả năng sinhtrưởng và năng suất sinh sản của lợn Kiềng Sắt Ngoài ra, một số thông tin về hiệntrạng, phương thức nuôi, kênh tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế và các giải pháp đềnghị từ người dân cũng được khảo sát

3.3.2 Nội dung 2: Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của lợn

Kiềng Sắt được nuôi trong điều kiện trang trại nông lâm kết hợp ở vùng đồi núi tỉnhQuảng Ngãi Các chỉ tiêu sinh trưởng được theo dõi gồm: trọng lượng, tốc độ tăngtrọng, chiều dài thân, chu vi vòng ngực, tiêu tốn thức ăn tinh và chi phí thức ăn tinhqua các tháng thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõi đối với tính trạng sinh sản bao gồm:tuổi động dục lần đầu, trọng lượng cơ thể khi động dục lần đầu, thời gian kéo dài động

Trang 34

dục, chu kỳ động dục, thời gian mang thai, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, sốcon sơ sinh/ổ, số con còn sống sau 24 giờ/ổ, số con cai sữa/ổ, trọng lượng sơ sinh/con,trọng lượng sơ sinh/ổ, thời gian cai sữa, trọng lượng cai sữa/con, trọng lượng cai sữa/ổ

và hệ số lứa đẻ/năm

3.3.3 Nội dung 3: Nghiên cứu các chỉ tiêu năng suất thân thịt và chất lượng thịt của

lợn Kiềng Sắt được nuôi trong điều kiện trang trại nông lâm kết hợp ở vùng đồi núitỉnh Quảng Ngãi

3.3.4 Nội dung 4: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển và chất lượng thịt của lợn lai

giữa lợn bản địa ở Quảng Ngãi với lợn rừng

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra

Các thông tin sơ cấp và thứ cấp được thu thập bằng cách tiếp cận với cán bộ, ngườidân ở các vùng khác nhau trong tỉnh Quảng Ngãi Đối tượng phỏng vấn là các cán bộlãnh đạo, cán bộ chuyên môn, già làng và người dân địa phương Số lượng phiếu điềutra là 166 phiếu, trong đó 61 phiếu cho đối tượng được phỏng vấn là cán bộ tỉnh vàhuyện, số phiếu còn lại (105 phiếu) dành cho đối tượng là người dân thuộc 6 huyệnmiền núi của tỉnh Quảng Ngãi (Ba Tơ, Sơn Hà, Sơn Tây, Trà Bồng, Tây Trà và MinhLong) Địa bàn điều tra thông tin thứ cấp là các cơ quan cấp tỉnh của Quảng Ngãi gồm

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư vàChi cục Thú y Ngoài ra, các phòng chuyên môn của 6 huyện miền núi thuộc địa bànđiều tra sơ cấp gồm Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trạm Khuyến nông,Trạm Thú y và Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện cũng được tiến hành để thu thậpthông tin thứ cấp Đối với những thông tin trên phiếu điều tra, người được hỏi có thểtrả lời một hoặc nhiều đáp án khác nhau Thiết kế phiếu cho hai nhóm đối tượng phỏngvấn (cán bộ và người dân) là khác nhau Tuy nhiên, một số nội dung điều tra có thểchung cho cả 02 nhóm Điều tra, thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp nhằm mục đích thuthập các thông tin cơ bản về các đặc điểm sinh học và đánh giá hiện trạng của lợnKiềng Sắt trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.4.2 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và sinh sản của lợn Kiềng Sắt

3.4.2.1 Nghiên cứu sinh trưởng

Tổng số 30 con lợn Kiềng Sắt gồm 18 lợn đực và 12 con cái thiến ở giai đoạn từ 80– 85 ngày tuổi có trọng lượng trung bình là 4,16 kg, được bố trí nuôi trong 03 trangtrại nông lâm kết hợp để nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng Mỗi trại được bố trí

10 con lợn bao gồm 6 con đực và 4 con cái Số lợn này được bố trí vào 4 ô chuồng,trong đó có 3 ô thí nghiệm và 1 ô nuôi dự trữ (1 con lợn) Mỗi ô nuôi thí nghiệm có 3con với tỉ lệ đực : cái là 2 : 1 Lợn được đánh số tai để theo dõi cá thể Bố trí thínghiệm theo dõi sinh trưởng được thể hiện ở bảng 8

Bảng 8 Sơ đồ bố trí và các khẩu phần thí nghiệm

70% Cám gạo + 30% Bột ngô + Mắm cá

70% Cám gạo + 30% Bột ngô + Mắm cá

Trang 35

Thức ăn tinh giai

đoạn 2

(sau 60 ngày nuôi thí

nghiệm đến giết thịt)

50% Cám gạo + 30% Bột ngô + 20% Bột sắn + Mắm cá

50% Cám gạo + 30% Bột ngô + 20% Bột sắn + Mắm

50% Cám gạo + 30% Bột ngô + 20% Bột sắn + Mắm cá

và cỏ Setaria) theo chế độ bán thỏa mãn (2 lần/1 ngày) Ngược lại, chế độ ăn hạn chế

được áp dụng đối với thức ăn tinh Có 2 loại khẩu phần thức ăn tinh được sử dụng cholợn ăn tương ứng với các giai đoạn tháng tuổi của lợn Kiềng Sắt (bảng 8)

Các chỉ tiêu nghiên cứu sinh trưởng của lợn Kiềng Sắt bao gồm :

+ Trọng lượng của lợn qua các tháng thí nghiệm: Trước khi tiến hành thí nghiệmcân trọng lượng ban đầu của lợn, sau đó cân trọng lượng kết thúc ở mỗi tháng nuôi.Trọng lượng lợn được xác định vào lúc sáng sớm, trước lúc cho ăn bằng cân đồng hồtheo từng cá thể Sự gia tăng trọng lượng của lợn sau mỗi tháng nuôi được xác địnhbằng cách lấy trọng lượng cân cuối tháng sau trừ đi trọng lượng cân cuối tháng trước + Tốc độ tăng trọng của lợn qua các tháng thí nghiệm: Được xác định bằng cách lấytổng trọng lượng thịt hơi của lợn tăng thêm trong một giai đoạn nhất định (hay còn gọi

là tăng trọng tuyệt đối của lợn thí nghiệm qua các tháng nuôi) chia cho tổng số ngàynuôi trong một giai đoạn thí nghiệm, đơn vị tính là g/con/ngày Tốc độ tăng trọng hàngngày của lợn qua các tháng nuôi và trong suốt thời gian nuôi được xác định theo côngthức (1)

+ Tiêu tốn thức ăn tinh (kg thức ăn tinh/kg tăng trọng) của lợn qua các tháng thínghiệm: Trong quá trình thí nghiệm tiến hành xác định lượng thức ăn tinh mỗi con lợn

có thể ăn vào hàng ngày (kg/con/ngày) bằng cách lấy lượng thức ăn cung cấp cho cả ôchia đều cho các cá thể trong cùng 1 ô Sau đó tính lượng thức ăn tinh ăn vào cho cảgiai đoạn thí nghiệm, từ đó tính tiêu tốn thức ăn qua công thức (2)

TTTĂT = Tổng lượng thức ăn tinh ăn vào trong giai đoạn thí nghiệm (kg)

Tổng trọng lượng thịt hơi tăng (kg)

+ Chi phí thức ăn tinh (nghìn đồng/1 kg tăng trọng) của lợn qua các tháng thínghiệm: Được xác định bằng cách lấy tiêu tốn thức ăn tinh/1 kg tăng trọng của lợn ởmỗi giai đoạn nhân với đơn giá của mỗi loại khẩu phần ăn tương ứng, đơn vị tính lànghìn đồng/1 kg tăng trọng

Trang 36

3.4.2.2 Nghiên cứu sinh sản

Để nghiên cứu các chỉ tiêu sinh sản của lợn Kiềng Sắt, tổng số 15 con lợn cái và 3con lợn đực Kiềng Sắt được bố trí trên 3 trang trại, trong đó mỗi trại có 5 con cái và 1con đực Lợn nái được theo dõi các chỉ tiêu sinh sản qua 3 lứa đẻ (lứa 1 – 3) Lợn thínghiệm được nuôi bán thả trong các ô có diện tích 100 m2 và được đánh số tai để theodõi cá thể Trong thời gian đẻ và nuôi con, lợn nái được nuôi ở các ô riêng biệt Chế độnuôi được áp dụng là cho ăn hạn chế đối với khẩu phần thức ăn tinh gồm cám gạo, bột

sắn, bột ngô và mắm cá Thức ăn xanh gồm rau lang, cỏ voi và cỏ Setaria được cho ăn

theo chế độ bán tự do Lợn được cung cấp nước uống tự do và nước sạch để tắm Lợnđược cho ăn 2 lần/1 ngày Các chỉ tiêu sinh sản theo dõi bao gồm:

+ Tuổi động dục lần đầu (ngày): Là thời gian tính từ khi sinh ra cho đến khi lợn cáiđộng dục lần đầu tiên

+ Trọng lượng động dục lần đầu (kg/con): Được xác định vào thời điểm con vật biểuhiện triệu chứng động dục lần đầu

+ Thời gian động dục (ngày): Là khoảng thời gian mà con vật biểu hiện triệu chứngđộng dục

+ Chu kỳ động dục (ngày): Là khoảng thời gian mà con vật lặp lại một lần động dục.+ Thời gian mang thai (ngày): Là khoảng thời gian tính từ khi phối giống thànhcông đến khi đẻ

+ Thời gian cai sữa (ngày): Là khoảng thời gian kể từ khi sinh đến khi cai sữa lợncon

+ Thời gian động dục lại sau cai sữa (ngày): Là khoảng thời gian kể từ khi cai sữađến khi lợn nái động dục trở lại

+ Số lợn con sơ sinh/ổ (con/ổ): Là tổng số con do mỗi nái đẻ ra, kể cả những conchết khô, còi yếu, dị tật tính từ lúc mới đẻ

+ Số con sơ sinh còn sống đến 24 giờ (con/ổ): Là số lợn con sơ sinh/ổ còn sống đến

24 giờ sau khi sinh

+ Trọng lượng lợn con sơ sinh (g/con): Là trọng lượng lợn con sơ sinh được xácđịnh sau khi lau khô, cắt rốn nhưng chưa cho bú

+ Trọng lượng sơ sinh toàn ổ (kg): Là trọng lượng của toàn bộ lợn con sơ sinh/ổđược xác định sau khi lau khô, cắt rốn nhưng chưa cho bú

+ Số lợn con cai sữa (con/ổ): Là số lợn con còn sống đến thời điểm cai sữa

+ Trọng lượng lợn con khi cai sữa (kg/con): Là trọng lượng lợn con được xác địnhtại thời điểm cai sữa

+ Trọng lượng cai sữa toàn ổ (kg): Là trọng lượng toàn bộ lợn con/ổ được xác địnhlúc cai sữa

+ Hệ số lứa đẻ (lứa/năm): Là số lứa đẻ/1 năm của 1 lợn nái, được xác định bằngcách lấy số ngày trong một năm (365 ngày) chia cho khoảng cách lứa đẻ của lợn nái

3.4.3 Nghiên cứu các chỉ tiêu chất lượng thịt lợn Kiềng Sắt

Sau khi kết thúc nuôi thí nghiệm sinh trưởng, 9 con lợn Kiềng Sắt ở giai đoạn 11tháng tuổi có trọng lượng trung bình 29,12 kg/con được mổ khảo sát để xác định cácchỉ tiêu về năng suất thân thịt và chất lượng thịt

3.4.3.1 Các chỉ tiêu về năng suất thân thịt và chất lượng thịt

Các chỉ tiêu về năng suất thân thịt của lợn được xác định theo TCVN 3899-84 (BộNông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2003)

- Trọng lượng thịt móc hàm và tỉ lệ thịt móc hàm

+ Trọng lượng thịt móc hàm: Trước khi giết mổ 24 giờ, lợn được cho nhịn đói, sau

đó tiến hành cân lợn để xác định trọng lượng sống Trọng lượng thịt móc hàm là trọng

Trang 37

lượng cơ thể còn lại sau khi khấu trừ trọng lượng của máu, cơ quan nội tạng và lông (2

- Trọng lượng thịt xẻ và tỉ lệ thịt xẻ

+ Trọng lượng thịt xẻ (trọng lượng thịt tinh): Là trọng lượng thịt móc hàm trừ tổng trọng lượng của đầu, 4 chân, 2 lá mỡ và 2 quả thận (cắt đầu theo hướng vuông góc với trục dài thân đi qua điểm giữa xương chẩm và đốt sống cổ thứ nhất, cắt 4 chân ở giữa khuỷu đối với chân trước và giữa khoeo đối với chân sau)

+ Tỉ lệ thịt xẻ (X 1 ):

X1 (%) =

Trọng lượng thịt xẻ (kg)

X 100Trọng lượng sống trước khi mổ (kg)

- Diện tích cơ thăn (inch2 hoặc cm2 ; 1 inch2 = 6,45 cm2): Được xác định tại vị trígiữa xương sườn số 10 và 11 (Wayne, 2000), tiến hành bằng cách:

+ Cắt đường vuông góc với trục lưng và cơ thăn tại điểm giữa xương sườn 10 và 11.Cắt khớp nối ngay giữa xương sườn 10 và 11 để có một mặt cắt vuông góc với cơthăn Sau khi nhìn thấy sống lưng, dùng dao nhọn cắt xung quanh phần các phía khôngquá 1 inch Quá trình này chỉ tiến hành trên thân thịt lạnh (sau 6 giờ bảo quản lạnhbằng phương pháp truyền thống)

+ Dùng giấy can (giấy không thấm nước và có thể nhìn xuyên qua mặt giấy) để inlên mặt giấy tiết diện cơ thăn, sau đó lấy ra sao chép tiết diện cơ thăn lên giấy kẻ ô ly

đã biết sự tương ứng giữa một diện tích B và trọng lượng A Cắt bỏ phần ngoài rìa của

tờ giấy ô ly không có dấu vết của tiết diện cơ thăn và cân phần giấy ô ly ngoài rìa đã bịcắt là D Ta gọi trọng lượng của phần giấy ô ly tương ứng với tiết diện của cơ thăn là

C và diện tích của mắt thịt (hay diện tích phần giấy ô ly tương ứng với tiết diện của cơthăn) là X Ta s có: C A - D

Như vậy diện tích của mắt thịt (tiết diện cơ thăn) s là:

Việc xác định diện tích mắt thịt phải được lặp lại 3 lần trên cùng một vị trí để tăng

độ chính xác của kết quả thu được

A =

B x CA

Trang 38

Hình 1 Diện tích cơ thăn và độ dày mỡ lưng tại vị trí xương sườn số 10

- Độ dày mỡ lưng: Được đo bằng thước kẹp Palmer tại các vị trí giữa xương sườn

10 và 11, giữa xương sườn 13 và 14, kể từ giữa xương sườn 13 và 14 lùi về sau 3 cm

và vị trí tính từ xương sườn cuối cùng lùi về sau 8 cm (Margareth và cs, 2004) Chiabằng mắt trục dài trên cơ thăn thành 4 phần Độ dày mỡ tại vị trí đối diện với điểm 3/4trục dài về phía bụng theo đường vuông góc với da (hình 1) Độ dày mỡ lưng được xácđịnh lặp lại 3 lần trên cùng một vị trí để tăng độ chính xác của kết quả thu được

- Độ dài thân thịt: Được đo bằng thước dây tính từ điểm trước đốt xương sống cổ

đầu tiên đến điểm trước đầu xương khum

- Tỉ lệ mỡ và da: Được xác định bằng cách tách mỡ và da bao quanh các phần thịt

xẻ, tránh cắt các phần thịt nạc và tránh để lại mỡ trên phần thịt nạc Sau đó tiến hànhcân trọng lượng mỡ, da của các phần thịt xẻ và mỡ bụng (cân chung) Tỉ lệ mỡ và da(X2) của lợn thí nghiệm được tính toán theo công thức sau:

X2 (%) =

Trọng lượng mỡ và da, mỡ bụng (kg)

X 100Trọng lượng thịt xẻ(kg)

- Tỉ lệ nạc: Được xác định bằng cách tách toàn bộ thịt nạc trên thân thịt xẻ, sau đó

lấy toàn bộ lượng nạc chia cho trọng lượng thịt xẻ Tỉ lệ nạc của lợn thí nghiệm đượctính toán theo công thức sau:

X3 (%) = Trọng lượng thịt nạc (kg) Trọng lượng thịt xẻ(kg) X 100

3.4.3.2 Các chỉ tiêu chất lượng thịt

Chất lượng thịt lợn thí nghiệm được đánh giá thông qua các chỉ tiêu pH của thịt, khảnăng giữ nước của thịt, chỉ số Iod của mỡ, hàm lượng các chất dinh dưỡng (hàm lượngchất khô, khoáng tổng số, lipid tổng số, protein tổng số, năng lượng tổng số), hàmlượng cholesterol, thành phần các axít béo, dư lượng kháng sinh (tetracyline), dưlượng furazolidon và dư lượng hormone

- pH thịt: Giá trị pH của thịt được xác định bằng máy đo pH (Meat pH meter, HI

99163, Hanna) có đầu điện cực đâm xuyên trực tiếp trong miếng thịt pH của thịt đượcxác định ở 3 vị trí sau: cơ dài lưng giữa xương sườn 13 và 14, cơ mông và cơ đùi tạicác thời điểm bảo quản sau khi giết thịt 45 phút (pHi) và 24 giờ (pHu)

Trang 39

- Khả năng giữ nước của thịt, các thành phần dinh dưỡng của thịt và chỉ số iod của

mỡ lợn Kiềng Sắt

Các chỉ tiêu gồm khả năng giữ nước của thịt, thành phần dinh dưỡng của thịt và chỉ

số iod của mỡ thịt lợn Kiềng Sắt được tiến hành phân tích tại Phòng Thí nghiệm Trungtâm, Khoa Chăn nuôi – Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Huế

+ Khả năng giữ nước của thịt được xác định theo phương pháp của Bertram (2001).Sau khi giết mổ 24 giờ, miếng thịt có trọng lượng khoảng 100 g ở cơ dài lưng đượcđem cắt song song cùng chiều của thớ thịt Các mẫu thịt có kích thước 1,5 – 2 cmchiều dài và diện tích mặt cắt ngang khoảng 0,4 x 0,4 cm, trọng lượng khoảng 0,5 g.Mẫu được xác định trọng lượng và đặt trong các ống ly tâm cùng 1 tấm giấy lọc (kíchthước lỗ 90 m) ở đáy ống Ly tâm mẫu với tốc độ 3000 vòng/phút trong 1 giờ ở 4oC.Sau khi ly tâm, xác định lại trọng lượng của mẫu Khả năng giữ nước của thịt được xácđịnh dựa trên trọng lượng của mẫu trước và sau khi ly tâm

+ Các thành phần dinh dưỡng của thịt lợn Kiềng Sắt: Cơ dài lưng, cơ mông, cơ đùicủa lợn Kiềng Sắt được lấy mẫu để phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng tổng số(vật chất khô, protein tổng số, lipid tổng số, khoáng tổng số, năng lượng tổng số) theoAOAC (1990) Hàm lượng protein được xác định bằng phương pháp Microkjeldahltrên thiết bị KjeltecTM2200 (Foss Tecator, Thụy Điển) Hàm lượng lipid tổng số trongthịt lợn được phân tích trên hệ thống SoxtecTM2050 (Foss Tecator, Thụy Điển) Nănglượng tổng số trong các mẫu thịt được xác định bằng hệ thống bomb calorimeter bán

tự động (Parr 6300)

+ Chỉ số iod của mỡ được xác định theo phương pháp của Wijs (tdt Phạm Văn Sổ vàBùi Thị Như Thuận, 1991) Mẫu mô mỡ được lấy ở vị trí xương sườn số 10, cáchxương sống 5 cm, sâu 2,5 cm và bảo quản mẫu ở nhiệt độ -200C cho đến khi phân tích(Gatlin và cs, 2003)

- Thành phần axít béo của mỡ, dư lượng kháng sinh và dư lượng hormone

Các mẫu mỡ bụng dọc theo bìa rốn được sử dụng để xác định thành phần axít béocủa mỡ (Apple và cs, 2007) trên thiết bị GC/MS Các mẫu thịt ở các vị trí cơ dài lưng,

cơ mông, cơ đùi được đem xác định dư lượng tetracyline, dư lượng furazolidone và dưlượng clenbuterol Dư lượng tetracyline trên các mẫu thịt được phân tích bằng thiết bịHPLC/UV Dư lượng furazolidone và clenbuterol được xác định bằng LC/MS/MS Tất

cả các phân tích trên được thực hiện tại Công ty cổ phần dịch vụ Khoa học Công nghệSắc ký Hải Đăng, thành phố Hồ Chí Minh

3.4.3.3 Các chỉ tiêu cảm quan trước và sau khi ăn

Sử dụng phiếu điều tra đối với những người có mặt tại địa điểm mổ khảo sát Ngườiđược hỏi s cho nhận xét về các chỉ tiêu như màu sắc thịt, cấu trúc thịt, độ mịn của thịtcủa lợn sau khi giết thịt Phiếu khảo sát đưa ra nhiều phương án trả lời để người đượcphỏng vấn lựa chọn

- Màu sắc thịt: rất nhợt nhạt; nhợt nhạt vừa; bình thường; tái sáng hay tái xám

- Cấu trúc thịt: rất nhão và chảy xệ; nhão vừa và chảy xệ; bình thường; chắc vừa vàkhô hay rất chắc và khô

- Độ mịn của thịt: rất thô, thô nhẹ, mịn vừa phải, hoặc mịn

Tương tự, thịt lợn sau khi đã được chế biến (đun sôi khoảng 20 phút) được khảo sáttheo các chỉ tiêu như: màu sắc thịt, mùi vị, độ dai, độ mềm, độ ngọt, tính ngon miệng.Những người tham gia cung cấp thông tin trong điều tra này là những người đã thưởngthức thịt lợn Kiềng Sắt ở Quảng Ngãi

3.4.3.4 Đa hình gen Leptin và PSS

Trang 40

- Tách chiết DNA tổng số từ mẫu máu lợn

DNA tổng số được tách chiết từ các mẫu máu toàn phần bằng EzWayTM GenomicDNA kit (Koma Biotech) Dung dịch DNA tổng số được xác định nồng độ trên máyquang phổ (SmartSpecTM300, Biorad) ở bước sóng 260/280nm Chất lượng DNA đượckiểm tra thông qua điện di trên agarose gel 0,8% ở 100V

Đệm điện di được sử dụng là 1× TAE (0,04M Tris-acetate và 0,001M EDTA) Saukhi nhuộm agarose gel 15 phút trong dung dịch ethidium bromide (0,5 μg/l), hình ảnhg/l), hình ảnhđiện di được phân tích bằng hệ thống Gel Documentation (Biorad)

- Tiến hành PCR

Việc khuếch đại các đoạn trình tự nucleotide mã hóa gen Leptin và PSS ở lợn được

tiến hành bằng kỹ thuật PCR với các cặp primer đặc hiệu Trong đó cặp primer LEP1

và LEP2 được sử dụng để khuếch đại gen Leptin; cặp primer PSS1 và PSS2 được sử dụng cho gen PSS Trình tự nucleotide của các primer như sau:

- Phương pháp RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism)

Sản phẩm PCR của gen Leptin được cắt bằng enzyme hạn chế Hind III; trong khi đó sản phẩm PCR của gen PSS được cắt hạn chế bằng enzyme BsiHKA I Phản ứng được

thực hiện với tổng thể tích 25μg/l), hình ảnhl bao gồm 1× đệm, 5 đơn vị enzyme hạn chế, 20 l sảnphẩm PCR và được ủ qua đêm ở 37oC Kết quả của các phản ứng RFLP được kiểm trabằng phương pháp điện di trên agarose gel 2% ở 80V trong đệm 1 × TAE

3.4.4 Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển và chất lượng thịt của lợn lai giữa lợn bản địa với lợn rừng

3.4.4.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái bản địa khi phối giống với lợn đực rừng

Tổng số 15 con lợn cái Kiềng Sắt khoảng 4 tháng tuổi và 3 con lợn đực rừng được

bố trí trên 3 trang trại thí nghiệm, trong đó mỗi trại có 5 con cái và 1 con đực Để đánhgiá khả năng sinh sản của lợn nái Kiềng Sắt khi được phối giống với lợn đực rừng, cácchỉ tiêu sinh sản được theo dõi qua 3 lứa đẻ đầu tiên (lứa 1 – 3) Lợn thí nghiệm đượcđánh số tai để theo dõi cá thể Trong thời gian đẻ và nuôi con, lợn nái được nuôi ở các

ô riêng biệt Diện tích mỗi ô nuôi, khẩu phần thí nghiệm và chế độ cho ăn đối với lợnnái Kiềng Sắt ở công thức lai này tương tự với nghiên cứu khả năng sinh sản của lợnnái Kiềng Sắt khi được phối giống với lợn đực cùng loài Lợn được nuôi trong các ô

có có diện tích 100m2 và được cho ăn 2 lần/1 ngày Chế độ ăn hạn chế được áp dụngđối với thức ăn tinh (cám gạo, bột sắn, bột ngô và mắm cá), trong khi thức ăn xanh

(rau lang, cỏ voi và cỏ Setaria) được cho ăn theo chế độ bán thỏa mãn Nước uống

cũng được cung cấp tự do Các chỉ tiêu sinh sản theo dõi trong nghiên cứu này baogồm: số con sơ sinh/ổ, số con còn sống sau 24 giờ/ổ, số con cai sữa/ổ, trọng lượng sơ

Ngày đăng: 22/12/2015, 12:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
43. Lê Viết Ly, Hoàng Kim Giao, Mai Văn Sánh, Võ Văn Sự và Lê Minh Sắt, 1999. Chuyên khảo “Bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam”, Tập 1. NXB Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn nguồn gen vật nuôi ở Việt Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
1. Nguyễn Thị Ngọc Ẩn, 2004. Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên, NXB Nông nghiệp Khác
19. Hoàng Nghĩa Duyệt và Nguyễn Quang Linh, 1997. Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
20. Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải, 2001. Làm tươi máu lợn Large White (LW) Việt Nam bằng máu giống lợn Yorkshire Australia ở một số tỉnh miền Bắc. Tạp chí Chăn nuôi, số 6, 10 – 12 Khác
22. Nguyễn Kim Đường, 1992. Chọn giống và nhân giống gia súc. NXB Nông nghiệp Hà Nội Khác
23. Hoàng Kim Giao, 2006. Một số biện pháp để phát triển chăn nuôi. Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, số 3, 19 – 21 Khác
24. Trần Thanh Hải và Lê Đình Phùng, 2009. Khả năng sinh trưởng và sinh sản của lợn bản địa Vân Pa (lợn Mini Quảng Trị). Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 12, 153 – 157 Khác
25. Phan Xuân Hảo, 2007. Đánh giá sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt ở lợn Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace × Yorkshire). Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, số 1, 31 – 35 Khác
26. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thuý, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành và Đặng Vũ Bình, 2009. Đánh giá năng suất và chất lượng thịt của các con lai giữa đực lai PiDu (Piétrain x Duroc) và nái Landrace, Yorkshire hay F1(LD). Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 4, 484 – 490 Khác
27. Phan Xuân Hảo và Ngọc Văn Thanh, 2010. Đặc điểm ngoại hình và tính trạng sản xuất của lợn Bản nuôi tại Điện Biên. Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 2, 239 – 246 Khác
28. Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi, 2010. Thành phần thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1 (Landrace x Yorkshire) phối với đực lai ((Landrace x Duroc (Omega)) x (Piétrain x Duroc (PiDu))). Tạp chí Khoa học và Phát triển, số 3, 439 – 447 Khác
30. Dư Thanh Hằng và Nguyễn Văn Lai, 1999. Trao đổi và tiêu hoá nitơ ở lợn Móng Cái được nuôi bằng nhiều loại thức ăn xanh. Tạp chí Chăn nuôi, số 4 Khác
31. Trần Quang Hân, 2004. Tham số kiểu hình, di truyền và các tính trạng năng suất sinh sản lợn nái trắng Phú Khánh. Tạp chí Chăn nuôi, số 11, 4 – 8 Khác
32. Trần Thị Hân, 2008. Bảo tồn nguồn gene giống lợn Vân Pa. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Trị Khác
33. Từ Quang Hiển và Lục Xuân Đức, 2005. Điều tra một số chỉ tiêu sinh học của giống lợn Lang tại huyện Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng. Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi. NXB Nông nghiệp, 227 – 229 Khác
34. Nguyễn Duy Hoan và Vi Thị Thanh Thuỷ, 2009. Xác định mức độ tồn dư một số loại kháng sinh trong thịt và cơ quan nội tạng của lợn nuôi tại Thái Nguyên. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 3, 68 – 71 Khác
35. Vũ Đình Huy và Hoàng Gián, 1999. Khả năng sinh sản của lợn nái Móng Cái tại các xí nghiệp lợn giống Thanh Hóa. Tạp chí Chăn nuôi, số 2, 19 – 20 Khác
36. Nguyễn Ngọc Huy, 2004. Khảo sát và đề xuất phương thức bảo tồn tính đa dạng giống vật nuôi bản địa ở tỉnh thừa Thiên Huế. Luận văn Thạc sĩ Khoa học, trường Đại học Khoa học Huế Khác
37. Phan Ngọc Kính, 2001. Sử dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu EM trong chăn nuôi lợn thịt. Tạp chí Chăn nuôi, số 4, 5 – 7 Khác
38. Lã Văn Kính, Nguyễn Nghi, Phạm Tất Thắng và Đoàn Vĩnh, 1999. Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y 1998 – 1999, Phần Dinh dưỡng và Thức ăn. 324 – 329 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Các giống vật nuôi chủ yếu ở Việt Nam - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 1. Các giống vật nuôi chủ yếu ở Việt Nam (Trang 9)
Bảng 3. Sinh trưởng của một số giống lợn Việt Nam - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 3. Sinh trưởng của một số giống lợn Việt Nam (Trang 19)
Bảng 8. Sơ đồ bố trí và các khẩu phần thí nghiệm                Trại (Hộ) - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 8. Sơ đồ bố trí và các khẩu phần thí nghiệm Trại (Hộ) (Trang 34)
Hình 1. Diện tích cơ thăn và độ dày mỡ lưng tại vị trí xương sườn  số 10 - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Hình 1. Diện tích cơ thăn và độ dày mỡ lưng tại vị trí xương sườn số 10 (Trang 38)
Bảng 9. Thực trạng lợn Kiềng Sắt ở tỉnh Quãng Ngãi - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 9. Thực trạng lợn Kiềng Sắt ở tỉnh Quãng Ngãi (Trang 42)
Hình 2. Lợn Kiềng Sắt Quảng Ngãi: (A) Lợn nái, (B) Lợn đực - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Hình 2. Lợn Kiềng Sắt Quảng Ngãi: (A) Lợn nái, (B) Lợn đực (Trang 43)
Bảng 13. Một số ưu, nhược điểm, cách tiêu thụ và hiệu quả kinh tế của lợn  Kiềng Sắt - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 13. Một số ưu, nhược điểm, cách tiêu thụ và hiệu quả kinh tế của lợn Kiềng Sắt (Trang 46)
Bảng 14. Một số thông tin về thực trạng, lý do nuôi và ý kiến của người chăn  nuôi lợn Kiềng Sắt - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 14. Một số thông tin về thực trạng, lý do nuôi và ý kiến của người chăn nuôi lợn Kiềng Sắt (Trang 48)
Bảng 17. Chiều dài thân và vòng ngực của lợn Kiềng Sắt qua các tháng thí  nghiệm (n = 27) - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 17. Chiều dài thân và vòng ngực của lợn Kiềng Sắt qua các tháng thí nghiệm (n = 27) (Trang 52)
Hình 4. Kết quả điện di trên agarose gel 2% các sản phẩm PCR từ cặp primer  LEP1 và LEP2 - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Hình 4. Kết quả điện di trên agarose gel 2% các sản phẩm PCR từ cặp primer LEP1 và LEP2 (Trang 62)
Hình 3. Kết quả tách chiết DNA tổng số của lợn Kiềng Sắt - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Hình 3. Kết quả tách chiết DNA tổng số của lợn Kiềng Sắt (Trang 62)
Hình 7. Kết quả phản ứng cắt hạn chế sản phẩm PCR của gen   PSS  bằng - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Hình 7. Kết quả phản ứng cắt hạn chế sản phẩm PCR của gen PSS bằng (Trang 63)
Bảng 27. Một số tính trạng sinh sản theo lứa của lợn nái Kiềng sắt khi phối  giống với lợn đực rừng - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 27. Một số tính trạng sinh sản theo lứa của lợn nái Kiềng sắt khi phối giống với lợn đực rừng (Trang 65)
Bảng 32. Các chỉ tiêu chất lượng thịt xẻ của lợn lai giữa lợn bản địa với lợn  rừng - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 32. Các chỉ tiêu chất lượng thịt xẻ của lợn lai giữa lợn bản địa với lợn rừng (Trang 70)
Bảng 37. Kết quả đánh giá tính chất cảm quan của thịt lợn lai giữa lợn bản địa  với lợn rừng (Tổng số phiếu điều tra: 20) - NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN các GIỐNG lợn bản địa CHO hệ THỐNG CHĂN NUÔI TRONG các TRANG TRẠI kết hợp ở VÙNG TRUNG DU và đồi núi NHẰM sản XUẤT THỊT lợn CHẤT LƯỢNG CAO và AN TOÀN PHỤC vụ THỊ TRƯỜNG TIÊU DÙNG TRÊN địa bàn TỈNH QUẢNG NG
Bảng 37. Kết quả đánh giá tính chất cảm quan của thịt lợn lai giữa lợn bản địa với lợn rừng (Tổng số phiếu điều tra: 20) (Trang 74)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w