KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN BỘ MÔN HÓA ------ LÊ MINH THỊNH PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC OROXYLUM INDICUM L.. Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của chún
Trang 1BỘ MÔN HÓA - -
LÊ MINH THỊNH
PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE
CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC
(OROXYLUM INDICUM (L.) VENT.), HỌ CHÙM ỚT
(HỌ BIGNONIACEAE)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: CỬ NHÂN HÓA DƯỢC
Cần Thơ, 2015
Trang 2KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN
BỘ MÔN HÓA - -
LÊ MINH THỊNH
PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE
CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC
(OROXYLUM INDICUM (L.) VENT.), HỌ CHÙM ỚT
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Ts Tôn Nữ Liên Hương, cô đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến Thầy Dương Minh Viễn, phòng Sinh Học Đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành phần thử hoạt tính kháng oxi hóa của luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến PGS Ts Bùi Thị Bửu Huê,
Ts Nguyễn Trọng Tuân, CVHT cô Phạm Bé Nhị, cùng các Thầy Cô trong Bộ môn Hóa – Khoa Khoa Học Tự Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ đã dạy dỗ, truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báu trong suốt bốn năm đại học và đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện luận văn này
Cũng không quên gửi lời cảm ơn các anh, chị học viên Cao học, đặc biệt
là anh Nguyễn Đăng Khoa cao học K20, tập thể lớp Hóa Dược K37, các bạn sinh viên trong phòng thí nghiệm Hữu cơ – Bộ môn Hóa, Khoa Khoa học
Tự Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi Cuối cùng, con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Ông bà, Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã luôn tạo mọi điệu kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần giúp con hoàn thành chương trình học của mình
Xin chân thành cảm ơn !
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Sinh viên ký tên
Trang 4NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
1 Cán bộ hướng dẫn: Ts Tôn Nữ Liên Hương
2 Đề tài: Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc
nác (Oroxylum indicum (L.) Vent.), họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)
3 Sinh viên thực hiện: Lê Minh Thịnh MSSV: 2112097
Lớp: Hóa Dược Khóa: 37
4 Nội dung nhận xét:
a Nhận xét về hình thức của LVTN:
b Nhận xét về nội dung của LVTN (Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
Đánh giá nội dung thực hiện đề tài:
Những vấn đề còn hạn chế:
c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (Ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):
d Kết luận, đề nghị và điểm:
Trường Đại Học Cần Thơ
Khoa Khoa Học Tự Nhiên
Trang 5NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
1 Cán bộ phản biện:
2 Đề tài: Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc
nác (Oroxylum indicum (L.) Vent.), họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)
3 Sinh viên thực hiện: Lê Minh Thịnh MSSV: 2112097
Lớp: Hóa Dược Khóa: 37
4 Nội dung nhận xét:
a Nhận xét về hình thức của LVTN:
b Nhận xét về nội dung của LVTN (Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):
Đánh giá nội dung thực hiện đề tài:
Những vấn đề còn hạn chế:
c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (Ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):
d Kết luận, đề nghị và điểm:
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Cán bộ phản biện
Trường Đại Học Cần Thơ
Khoa Khoa Học Tự Nhiên
Bộ Môn Hóa Học
Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Trang 6TÓM TẮT
Núc nác hay còn gọi là Hoàng Bá Nam có tên khoa học là Oroxylum
indicum (L.) Vent, thuộc chi Oroxylum, họ Bignoniaceae Núc nác phân bố
nhiều ở Ấn Độ và Đông Nam Á Từ lâu, rể Núc nác được sử dụng để trị bệnh lao, kiết lỵ và tiêu chảy Quả dùng để trị viêm phế quản, bệnh bạch bì, diệt giun sán, bệnh trĩ Vỏ của thân và lá có hoạt tính kháng khuẩn, thuốc giảm đau và bảo vệ dạ dày Hạt điều trị nhiễm trùng họng, cao huyết áp
Từ nguyên liệu bột của vỏ thân cây Núc nác dùng phương pháp ngâm dầm với methanol để điều chế cao tổng, sau đó dùng kỹ thuật chiết lỏng – lỏng để điều chế các loại cao có độ phân cực khác nhau Sử dụng phương pháp sắc ký nhanh cột khô và sắc ký cột hở kết hợp với sắc ký lớp mỏng, đã phân lập được hai hợp chất từ cao dichloromethane là: methyl 3,4-dihydroxybenzoate
(ORI.T1) và rengyolone (ORI.T2)
Cấu trúc của chúng được xác định bằng phương pháp phổ hiện đại: MS, NMR và so sánh với tài liệu phổ của chất đã công bố
Hoạt tính kháng oxi hóa của các cao và ORI.T1 được đánh giá bằng thử nghiệm sàng lọc gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl)
Từ khóa: Núc nác, Hoàng Bá Nam, Bignoniaceae, rengyolone, DPPH
Trang 7ABSTRACT
Oroxylum indicum (L.) Vent (family: Bignoniaceae), which is distributed
throughout India, South East Asia Medicinal properties of Oroxylum indicum
(L.) Vent are known for hundreds of years to various civilizations of the world
Root of Oroxylum indicum is used in tuberculosis, cough, diarrhoea The bark
and seeds of the plant are also used as analgesic and antimicrobial and proctive activity The fruit is used to treat bronchitis, leucoderma, anthelmintic, piles The seeds are purgative and taken orally to treat throat infections and hypertension
gastro-From dry material powder of stem bark Oroxylum indicum (L.) Vent, we
used the beam immersion method with methanol to make total extract, then liquid - liquid extraction technique was carried out to make different polarized extracts We used dry-column flash chromatography and open column chromatography combined with thin-layer chromatography, we have isolated two compounds from dichloromethane extract are methyl
3,4-dihydroxybenzoate (ORI.T1), rengyolone (ORI.T2)
Their structures were determined on the basis of NMR, MS and by comparison their spectroscopic data with those reported
Antioxidant activity of the extracts and ORI.T1 was evaluated using DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) radical scavenging assay
Keywords: Oroxylum indicum, Bignoniaceae, rengyolone, DPPH
Trang 8LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi, các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác và được chỉnh sửa theo ý kiến của hội đồng
Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của chúng tôi nằm trong phạm vi đề tài
“Khảo sát thành phần hóa học của vỏ thân cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.)
Vent.)” của học viên Nguyễn Đăng Khoa, cao học Hóa Hữu Cơ K20, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ Học viên có thể sử dụng một số kết quả của luận văn này để phục vụ cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Sinh viên ký tên
Lê Minh Thịnh Cán bộ hướng dẫn
Ts Tôn Nữ Liên Hương
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT iv
ABSTRACT v
LỜI CAM ĐOAN vi
MỤC LỤC vii
MỤC LỤC HÌNH ix
MỤC LỤC BẢNG x
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT xi
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
1.4 Nội dung nghiên cứu 1
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Tổng quan thực vật 3
2.1.1 Khái quát về họ Bignoniaceae 3
2.1.2 Phân loại thực vật 3
2.1.3 Mô tả thực vật 4
2.1.4 Phân bố 5
2.2 Công dụng thực vật 5
2.2.1 Theo kinh nghiệm dân gian 5
2.2.2 Các hoạt tính sinh học đã được nghiêm cứu 7
2.2.3 Nghiên cứu trong y học và thử lâm sàng 11
2.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trước đây 12
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 12
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12
2.3.3 Một số hợp chất của các nghiên cứu từ cây Oroxylum indicum 13
2.4 Hợp chất flavonoid 22
Trang 102.4.1 Favonoid 22
2.4.2 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid 22
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Phương tiện nghiên cứu 24
3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
3.1.2 Dụng cụ 24
3.1.3 Hóa chất 24
3.2 Phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Phương pháp chiết tách 24
3.2.2 Phân lập hợp chất hữu cơ 25
3.2.3 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất cô lập được 25
3.2.4 Hoạt tính kháng oxi hóa 25
3.3 Thực nghiệm 30
3.3.1 Điều chế các cao 30
3.3.2 Khảo sát cao dichloromethane 32
3.3.3 Thử hoạt tính kháng oxi hóa 37
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Kết quả 42
4.1.1 Kết quả điều chế cao và phân lập chất 42
4.1.2 Kết quả khảo sát hoạt tính kháng oxi hóa bằng DPPH 42
4.2 Thảo luận 43
4.2.1 Khảo sát cấu trúc của ORI.T1 43
4.2.2 Khảo sát cấu trúc của ORI.T2 45
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49
5.1 Kết luận 49
5.2 Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC A PHỔ CỦA ORI.T1 53
PHỤ LỤC B PHỔ CỦA ORI.T2 59
Trang 11MỤC LỤC HÌNH
Hình 2.1 Lá và thân Núc nác 4
Hình 2.2 Trái và hoa Núc nác 4
Hình 2.3 Khung cơ bản của nhóm hợp chất flavonoid 22
Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid 23
Hình 3.1 Phản ứng khử gốc tự do DPPH 26
Hình 3.2 Tóm tắt thí nghiệm kháng oxi hóa bằng DPPH 29
Hình 3.3 Vỏ cây Núc nác tươi 30
Hình 3.4 Tóm tắt quy trình điều chế cao 31
Hình 3.5 SKC nhanh cao dichloromethane 32
Hình 3.6 Sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột OD4 34
Hình 3.7 Sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột tiểu phân đoạn OD6.8 36
Hình 3.8 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của Vitamin C 37
Hình 3.9 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của các cao ở cùng nồng độ 50 µg/mL 38
Hình 3.10 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cao dichloromethane 39
Hình 3.11 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cao Ethyl acetate 40
Hình 3.12 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của ORI.T1 41
Hình 4.1 Tinh thể ORI.T1 43
Hình 4.2 Công thức của ORI.T1 44
Hình 4.3 SKLM và hình dạng của ORI.T2 45
Hình 4.4 Công thức của ORI.T2 47
Trang 12MỤC LỤC BẢNG
Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.)
Vent.[1] 7
Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent 13
Bảng 3.1 Dãy nồng độ của Vitamin C 27
Bảng 3.2 Dãy các cao ở cùng nồng độ 50 µg/mL 27
Bảng 3.3 Dãy nồng độ của cao DC 28
Bảng 3.4 Dãy nồng độ của cao Ea 28
Bảng 3.5 Dãy nồng độ của ORI.T1 28
Bảng 3.6 Kết quả SKC nhanh cao dichloromethane 33
Bảng 3.7 Kết quả sắc ký cột phân đoạn OD4 34
Bảng 3.8 Kết quả sắc ký cột phân đoạn OD6 35
Bảng 3.9 Các tiểu phân đoạn của phân đoạn OD6.8 36
Bảng 3.10 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của Vitamin C 37
Bảng 3.11 Giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của các cao ở nồng độ 50 µg/mL 38
Bảng 3.12 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của cao dichloromethane 39
Bảng 3.13 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của cao Ethyl acetate 40
Bảng 3.14 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của ORI.T1 41
Bảng 3.15 So sánh EC50 của các mẫu 41
Bảng 4.1 Dữ liệu phổ 1H, 13C-NMR của ORI.T1 44
Bảng 4.2 So sánh phổ ORI.T1 với methyl 3,4-dihydroxybenzoate [15] 44
Bảng 4.3 Phổ 1H-NMR, 13C-NMR và HMBC của ORI.T2 47
Bảng 4.4 Dữ liệu phổ 1H-13C HSQC của ORI.T2 48
Bảng 4.5 So sánh phổ ORI.T2 với Rengyolone 48
Trang 13NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ESI-MS Electrospray Ionization Mass spectrometry
DEPT Distortionless Enhancement by Polarization Transfer HSQC Heteronuclear Single Quantum Correlation
HMQC Heteronuclear Multiple Bond Coherennce
δ chemical shift relative to TMS (Tetramethylsilan)
SGOT Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase
SGPT Serum Glutamic Pyruvic Transaminase
XTT Muối
2,3-bis-(2-methoxy-4-nitro-5-sulfophenyl)-2H-tetrazolium-5-carboxanilide
Trang 14ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assay
IC50 half maximal inhibitory concentration
EC50 half maximal effective concentration
DPPH Gốc tự do 2,2- diphenyl-1-picrylhydrazyl
LDL-C Low Density Lipoprotein-Cholesterol
VLDL-C Very Low Density Lipoprotein-Cholesterol
HDL-C High Density Lipoprotein-Cholesterol
WIRS Water Immersion plus Restraint Stress
Trang 15CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề
Thực vật có chứa một loạt các hợp chất có hoạt tính sinh học như chất béo, carbohydrate, phenolic, terpenoid, carotenoid, anthocyanin và tinh dầu Gần một nửa số dược phẩm bán chạy nhất từ tự nhiên hoặc có liên quan chặt chẽ với các sản phẩm tự nhiên, điều đó nói lên tiềm năng to lớn cho việc xác định các hợp chất có hoạt tính sinh học quan trọng trong y học từ nguồn này Người ta ước tính rằng chỉ có một tỷ lệ nhỏ các hợp chất từ các nguồn sinh học đã được phân lập và nghiên cứu Điều này đã thúc đẩy sự quan tâm của cả công nghiệp
và nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học thực vật vì những đặc tính sinh học mạnh mẽ của chúng
Cũng không nằm ngoại mục đích trên, nên đề tài: Phân lập chất từ cao
dihloromethane của vỏ thân cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Vent),
họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae) được chọn làm mục tiêu nghiên cứu, với mong muốn góp phần tìm hiểu rõ hơn về thành phần hóa học của loài thực vật này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu về loài Núc nác Oroxylum indicum (L.) Vent., họ Chùm ớt (họ
Bignoniaceae)
Phân lập và xác định cấu trúc ít nhất 1 hợp chất
Thử hoạt tính kháng oxi-hóa của các cao và hợp chất phân lập được
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vỏ thân cây Núc Nác (Oroxylum indicum (L.)
Vent.) thu hái ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Phạm vi nghiên cứu: Cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc nác
(Oroxylum indicum (L.) Vent.)
1.4 Nội dung nghiên cứu
Nguyên liệu sau khi thu về được cắt nhỏ, phơi khô và sấy ở nhiệt độ 60C, xay nhuyễn
Sử dụng phương pháp ngâm dầm mẫu bột nguyên liệu khô trong methanol khoảng 3 – 4 lần để chiết các hợp chất trong bột cây
Cô quay loại dung môi thu được cao methanol tổng
Áp dụng kỹ thuật chiết lỏng – lỏng với các dung môi n-hexane, dicloromethane, ethyl acetate thu được các cao tương ứng
Trang 16Sử dụng sắc ký cột kết hợp sắc ký lớp mỏng để phân lập các chất có trong cao
Mẫu chất tinh khiết được gửi đo phổ NMR để định danh các hợp chất đã phân lập được
Đánh giá kết quả và viết báo cáo
Trang 17CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Tổng quan thực vật
2.1.1 Khái quát về họ Bignoniaceae
Họ Bignoniaceae, hoặc họ Trumpet Creeper, là một họ thực vật có hoa bao gồm khoảng 650-750 loài trong 116-120 chi Các thành viên của họ chủ yếu là thân gỗ, cây bụi và hiếm hơn là dây leo và thân thảo Như cây bụi, chúng là dây leo bện hoặc dây leo có tua của nho, và hiếm gặp dây leo gốc Phân bố ở Đông
Á, Nam Phi, Australia và đa dạng nhất là ở Nam Mỹ.[1]
2.1.2 Phân loại thực vật
Núc nác tên khoa học là Oroxylum indicum (L.) Vent thuộc họ Chùm ớt
(Bignoniaceae) Phân loại thực vật được báo cáo trong các thư viện như sau:
Giới (Kingdom): Plantae (Thực vật)
Loài (Species): O Indicum
Một số tên thổ ngữ theo các ngôn ngữ khác nhau tùy theo vùng mà cây phân bố:
Tiếng Assamese: Bhatghila
Tiếng Anh: Broken bones plant, Indian calosanthes, Indian Trumpet,
Indian trumpet flower, Midnight horror, Oroxylum, Tree of Damocles
Tiếng Trung Quốc: Hanyu pinyin: mù húdié, butterfly tree
Tiếng Nepal: Tatelo
Tiếng Bengali: Tona
Tiếng Phạn: Bhut-vriksha, Dirghavrinta, Kutannat, Manduk (hoa)
patrorna, Putivriksha, Shallaka, Shuran or Son, Vatuk [1]
Trang 182.1.3 Mô tả thực vật
Thân: là loài thân gỗ cây nhỏ, chiều cao trung bình từ 8 – 10 m, nhẵn, ít
phân cành, mặt ngoài vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng
Lá: Lá đối xứng với nhau, xẻ 2-3 hoặc 5-6 lần hình lông chim, cuốn lá dài
từ 60-100cm, to và láng nhẵn; có 3-5 lá non trong mỗi lá chét
Hình 2.1 Lá và thân Núc nác
Hoa: Hoa màu nâu đỏ sẫm phía ngoài, mọc thành chùm dài ở ngọn thân
Đài hình ống, cứng, dày, có 5 khía nông Tràng hình chuông, phình rộng, có 5 thùy hợp thành 2 môi, 5 nhị sinh sản bằng nhau Bầu hơi rộng, chứa nhiều noãn xếp thành 4 hàng
Quả: Quả nang, rất to, dài 50 – 80cm, chứa nhiều hạt
Hạt: Hạt dẹp, dài 7,5 cm, dày 5 cm, có cánh mỏng
Cây có thể trồng bằng hạt và bằng dâm cành vào mùa xuân Hoa thường
ra vào tháng 6 -7 và mang trái vào tháng 11.[3,5,8]
Hình 2.2 Trái và hoa Núc nác
Trang 192.1.4 Phân bố
Ngoại trừ ở khu vực khô ở phía tây, Oroxylum indicum phân bố trên khắp
Ấn Độ và Đông Nam Á, trên dãy Hy Mã Lạp Sơn với một phần mở rộng đến Bhutan và phía nam Trung Quốc, ở bán đảo Đông Nam Á (giữa Trung Quốc và
Ấn Độ) và trên lãnh thổ Malaysia
Nó cũng hiện diện ở quần xã rừng của công viên quốc gia Manas Và một
số vùng, quốc gia khác như: Fujian, Guangdong, Indonesia (Java, Sumatra), Lào, Myanmar, Nepal, Philippines, Thái Lan và Việt Nam (Lawania và cộng
sự, 2010, Maciuk và cộng sự, 2000)
2.2 Công dụng thực vật
2.2.1 Theo kinh nghiệm dân gian
Vỏ rễ cây chát, đắng, cay; chất làm se ruột, làm mát, kích thích tình dục, thuốc bổ, kích thích sự thèm ăn, trị viêm phế quản, kháng giun, chống nôn mửa, trị kiết lỵ, bệnh bạch bì, hen suyễn Nó còn được sử dụng để điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, mồ hôi, và thấp khớp Dầu (Sesamum indicum) và thuốc bột từ vỏ và rễ được cho là bổ cho tiêu hóa Hạt được làm sạch và sử dụng uống để điều trị nhiễm trùng cổ họng và cao huyết áp
Trái cây chát, ngọt; dùng làm chất kích thích tiêu hóa, thuốc kháng giun; trị hiệu quả các bệnh về họng và tim, bệnh trĩ, viêm phế quản, sử dụng như một thuốc long đờm; cải thiện sự thèm ăn; hữu ích trong bệnh bạch bì
Trong hệ thống thuốc của Ấn Độ rễ, vỏ cây, thân cây và lá được dùng trị ngộ độc do rắn cắn Trong bộ lạc khác nhau của Manipur (Ấn Độ) như Hậu môn, Kuki, Mao, Tanghkul và Zeliangrong dùng vỏ và hạt của cây được sử dụng trị bệnh sốt, viêm phổi và hệ hô hấp (repiratory) Nó cũng được sử dụng
để chữa trị các chứng rối loạn dạ dày.[1,5]
Lá được sử dụng ngoài để điều trị hở lá lách (an enlarged spleen) và cũng
để giảm đau đầu và viêm loét và cũng dùng làm thuốc giảm đau và kháng khuẩn
Ở Nepal, thuốc sắc từ rễ được sử dụng trị tiêu chảy và bệnh lỵ Hạt được
sử dụng để hỗ trợ tiêu hóa Dịch từ hạt được áp dụng để điều trị nhọt và vết thương Rễ được sử dụng như chất làm se (astrigent), chống viêm, kích thích tình dục, long đờm, thuốc trừ giun sán và thuốc bổ Vỏ cây là thuốc lợi tiểu và thuốc tiêu và hữu ích trong tiêu chảy và bệnh lỵ Vỏ rễ và hạt dùng làm thuốc tống hơi (carminative), thuốc tiêu, thuốc bổ, thuốc làm toát mồ hôi và chất làm
se Vỏ rễ cũng được sử dụng để điều trị các vấn đề mật, ho, tiêu chảy và kiết lỵ
Trang 20Nó cũng được sử dụng trong một công thức được dùng để hỗ trợ trí nhớ (nootropic).[5]
Ở Miến Điện và Philippines, vỏ cây được sử dụng để điều trị bệnh thấp
khớp và bệnh lỵ
Ở Bangladesh, thân lá, rễ, hoa quả và thân cây vỏ cây được dùng để chống
viêm amiđan, rắn cắn, viêm khớp dạng thấp, phù thũng, bệnh phụ khoa, đau bụng, bệnh lỵ, rối loạn da, động kinh, sát khuẩn, tiêu chảy lạnh, bất tỉnh đột ngột, kích thích tình dục, sốt, dịch tả, đau cổ họng, làm se, vàng da, ghẻ, chàm (eczema), huyết trắng, vấn đề tiết niệu, đau răng, mủ với nước tiểu, cảm giác rát
ở đường tiết niệu.[7]
Ở Thái Lan, với tên địa phương là “pa-ka” Nó đã được sử dụng làm thuốc
y học cổ truyền để chống viêm, lợi tiểu, chống viêm khớp, kháng nắm và hoạt tính kháng khuẩn (Warrier và cộng sự, 1995).[2]
Ở Việt Nam, quả của nó được sử dụng để điểu trị một số bệnh như thuốc
làm long đờm, chống ho, nhuận tràng và rối loạn dạ dày Ngoài ra, Viện dược liệu đã sản xuất dạng chế phẩm viên Nunaxin từ cao núc nác sử dụng cho các bệnh mề đay sơ phát và mạn tính, vẩy nến, hen phế quản trẻ em thể nhẹ và trung bình Không chỉ định cho các trường hợp dị ứng nhẹ và cấp.[4,6]
Trang 212.2.2 Các hoạt tính sinh học đã được nghiêm cứu
Các hoạt tính từ các bộ phận khác nhau của cây Núc nác được nghiên cứu được tóm tắt ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.) Vent.[1]
1 Kháng oxi hóa
Vỏ thân Ethyl acetate, methanol, ethanol,
chloroform Thân cây Methanol
Vỏ thân Methanol, Ethyl acetate
7 Chống ung thư Quả, vỏ thân Ethanol, nước, methanol
Hoạt tính kháng viêm: Cao nước của lá cây Núc nác được báo cáo là có
hoạt tính kháng viêm đáng kể Hoạt tính kháng viêm được nghiên cứu in vivo trên mô hình chân chuột được làm phù bằng carageenan và được báo cáo rằng cao nước của lá ORI biểu hiện hoạt tính chống viêm hiệu quả ở liều 150 mg/kg trọng lượng cơ thể và 300 mg/kg trọng lượng cơ thể Cao nước của ORI với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể cho thấy hoạt động kháng viêm tối đa Tuy nhiên hoạt tính tạo ra của cả hai liều là ít hiệu quả hơn so với các chất ức chế chuẩn natri diclofenac Cao ở cả hai liều cho thấy hoạt tính kháng viêm đáng
kể ở 5 giờ Chống lại tiêm carrageenan cho thấy cao chủ yếu là ức chế sự phóng thích protaglanding giống như cơ chất Kết luận, lá của ORI cho thấy hoạt động chống viêm trong đó có thể được cho là do sự hiện diện của các thành phần hóa học khác nhau Một số hợp chất flavonoid cũng đã được báo cáo trước đây là chất chống viêm
Hoạt tính giải độc gan: Lá ORI được sử dụng rộng rãi như là một chất
phòng ngừa rối loạn gan trong hệ thống dược Ấn Độ Tenpe và cộng sự báo cáo
Trang 22hoạt động chống độc cho gan của các cao của ORI Gây nhiễm độc gan bằng CCl4 Các cao petro ether, chloroform, ethanol và nước đã được tiêm cho động vật mắc bệnh (chuột) ở một liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể và theo dõi mức enzyme huyết thanh Tất cả các nhóm thử nhiệm đã cho thấy sự giảm đáng kể hàm lượng SGOT, SGPT, ALP, bilirubin toàn phần và tăng đáng kể mức protein được quan sát trên chuột tiêm CCl4 điều trị với ORI Trong số các cao thì cao ethanol cho hoạt tính hiệu quả hơn Loại các gốc tự do đã được báo cáo và hoạt tính bảo vệ gan của những cao này có khả năng là do nó khử gốc tự do và tạo ra men microsome ức chế sự peroxi lipid gây ra bởi CCl4 Nghiên cứu khoa học
đã chứng minh việc sử dụng ORI của dân gian về rối loạn gan và là một phần trong công thức trị bệnh bằng thảo mộc khác được sử dụng trong điều trị bệnh gan
Hoạt tính kháng ung thư:
-Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ tiềm năng chống ung thư của ORI bằng cách sử dụng nhiều mô hình khác nhau Nghiên cứu của Narisa và cộng sự cho thấy cao cồn 95% của ORI với thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào bằng cách xác định tác dụng chống tăng sinh trên dòng tế bào Hep2 (tế bào ung thư thanh quản) Tăng sinh tế bào được đo bằng phương pháp so màu dựa trên khả năng của các tế bào hoạt động trao đổi chất tách những muối XTT tetrazolium màu vàng thành formazan màu cam và formazan dạng hòa tan được trực tiếp định lượng bằng quang phổ quét multiwall (ELISA reader plate) Cao ethanol thể hiện hoạt tính gây độc tế bào chống lại các dòng tế bào Hep2 ở nồng độ 0,05% -Roy và cộng sự báo cáo các tác dụng in vitro của baicalein về khả năng kích thích sự chết theo chương trình của tế bào trên dòng tế bào HL-60 (tế bào ung thư bạch cầu) Khả năng tồn tại sau khi xử lý với baicalein để 24h được định lượng bằng cách đếm tế bào sống bằng cách nhuộm màu xanh Trypan (xanh dương) (tế bào chết bị nhuộm màu) Kết quả cho thấy baicalein gây ra sự
ức chế 50% của HL-60 tế bào ở nồng độ 25-30 µM Sự ức chế sự tăng sinh của
tế bào HL-60 sau 36-48 h tiếp xúc với 10 hoặc 20 µM baicalein đã gây ra sự tích tụ các tế bào ở giai đoạn S (bắt đầu sự sinh tổng hợp DNA) hoặc G2M Kết quả chỉ ra rằng baicalein có tác dụng chống khối u trên các tế bào ung thư ở người, và cao ORI có thể được sử dụng trong điều trị ung thư bổ sung
-Nakahara và cộng sự báo cáo rằng cao methanol ORI ức chế mạnh sự đột biến của Trp-P-1 trong một thử nghiệm Ames Các thành phần chống gây đột biến chính đã được xác định là baicalein với giá trị IC50 của 2,78 +/- 0,15 µM Các thể chống gây đột biến của các cao được tương quan với hàm lượng (3,95
Trang 23+/- 0,43%, trọng lượng khô) baicalein Baicalein đóng vai trò là chất tác động trực tiếp lên gen đột biến vì nó ức chế sự N-hydroxyl hóa của Trp-P-2
-Leticia và cộng sự báo cáo rằng cao của ORI cho thấy độc tính trên dòng
tế bào ung thư được thử nghiệm, với giá trị IC50 19,6 µg/mL đối với CEM (những dòng tế bào ung thư), 14,2 µg/mL đối với HL-60, 17,2 µg/mL đối với B-16 (tế bào khối u hắc tố da ác tính) và 32,5 µg/mL đối với HCT- 8 (ung thư kết tràng) Trên trứng cầu gai biển, nó cũng ngăn cản sự tiến triển của chu kỳ tế bào kể từ khi chia tách lần đầu (IC50 = 13,5 µg/mL) Trên cơ sở của tất cả những phát hiện này có thể kết luận rằng cao của ORI, có thể được coi như là nguồn tiềm năng của các hợp chất chống ung thư
Hoạt tính kháng khuẩn: Hoạt tính kháng khuẩn của các cao của ORI đã
được thử nghiệm chống lại mười bốn vi khuẩn gây bệnh (năm gram dương và chín gram âm) và bảy loại nấm gây bệnh (bởi Kawsar và cộng sự) sử dụng phương pháp kháng sinh đồ Cao Ethyl acetate thô cho thấy mức độ nhẹ đến vừa phải hoạt động chống lại các vi khuẩn và nấm trong khi cao methanol cho thấy ít hoạt động chống lại vi khuẩn nhưng hoạt động vừa phải chống nấm Nồng độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid cô lập từ ORI đã kháng lại
vi khuẩn Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Shigella dysenteriae và các giá trị được tìm thấy giữa 64 - 128 μg/mL Nghiên cứu của Thatoi và cộng sự tiếp tục khẳng định hoạt tính bằng cách sử dụng các chủng khác nhau Ali và cộng sự (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của cao dichloromethane của ORI chống nắm ngoài da (dermatophytes) và nấm gây thối
gỗ và báo cáo hoạt tính kháng nấm mạnh mẽ trong cao dichloromethane của ORI
Hoạt tính bảo vệ dạ dày: Zaveri và cộng sự báo cáo các hoạt động bảo
vệ dạ dày của cao cồn 50% từ vỏ rễ của ORI và các cao thành phần như: petro ether, chloroform, ethyl acetate và n-butanol làm giảm tổn thương niêm mạc dạ dày do ethanol gây ra Cao n-butanol cũng đã được nghiên cứu trong mô hình WIRS Cao cồn (300 mg/kg) và các cao thành phần (với liều 100-300 mg/kg) cho thấy giảm đáng kể trong viêm loét dạ dày chống lại thiệt hại dạ dày do ethanol gây ra Trong số tất cả các cao thành phần, cao n-butanol cho thấy sự
ức chế tối đa các tổn thương dạ dày Trong mô hình WIRS, tiền xử lý với cao n-butanol cho thấy chống loét đáng kể và hoạt động chống oxy hóa trong niêm mạc dạ dày, trái lại với sự tăng chỉ số loét, lipid peroxide và giảm superoxidedismutase, catalase và giảm nồng độ glutathione gây ra bởi stress Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả bảo vệ dạ dày đáng kể của cao n-butanol chống lại cả ethanol và loét dạ dày WIRS gây ra ở chuột Hoạt tính này là do các flavonoid được tìm thấy trong ORI.[5]
Trang 24Hoạt tính kháng oxi hóa: Khả năng loại gốc tự do của các cao khác nhau
của lá cây Núc nác, một trong những cây thuốc được sử dụng rộng rãi, được đánh giá trong ống nghiệm bằng thử nghiệm sử dụng diphenyl-picryl-hydrazyl (DPPH) Trong phương pháp này, các chất chống oxy hóa có trong các chất chiết xuất từ thực vật phản ứng với DPPH (nồng độ 0,1 mM), đó là một gốc tự
do ổn định và chuyển nó thành 1,1-diphenyl-1,2-picryl hydrazine Hiệu quả khử của cao thực vật và mẫu chuẩn (axit L-ascorbic) làm giảm gốc tự do DPPH theo thứ tự sau: axit L-ascorbic> Ethyl acetate (I)> Methanol (II)> Nước (III) và hiệu suất là 97,4%, 61,4%, 40,8% và 29,2% ở nồng độ 100 µg/mL Axit ascorbic đã được sử dụng như một mẫu chuẩn cho giá trị IC50 24,0 µg/mL, trong khi đó, các cao thô ethyl acetate (I), methanol (II) và nước (III) từ lá của ORI cho thấy hoạt động chống oxy hóa với giá trị IC50 lần lượt là 49,0, 55,0 và 42,5 µg/mL Không cao nào trong số các cao được tìm thấy có hoạt tính mạnh hơn các axit ascorbic chuẩn Nhưng vẫn còn, hoạt tính loại gốc tự do của cao nước (III) và Ethyl acetate (I).[13]
Đái tháo đường: Tính trị đái tháo đường của Núc nác đã được đánh giá
trong các mô hình thí nghiệm trên động vật Hoạt tính hạ đường huyết của các cao rễ đã được nghiên cứu ở chuột bạch Wistar Trong một nghiên cứu, bệnh đái tháo đường đã gây ra ở chuột Wistar bạch tạng bởi tiêm màng bụng một mũi Alloxan (120 mg/kg BW) Trong một nghiên cứu khác, các bệnh tiểu đường gây
ra như là kết quả của kháng insulin bằng cách tiêm dưới da một mũi dexamethasone (10 mg/kg BW) Dùng đường uống các cao ethanol và nước từ
rễ cây Núc nác ở mức liều 300 và 500 mg/kg bw trong 21 ngày và 11 ngày, trong hai nghiên cứu khác nhau cho thấy có sự giảm đáng kể glucose huyết thanh, triglyceride, mức cholesterol toàn phần và một sự gia tăng đáng kể mức glycogen gan và cơ bắp, khi so sánh với nhóm kiểm soát bệnh tiểu đường Sự giảm nồng độ glucose huyết thanh được trình bày do cao nước và cồn ở mức
500 mg/kg BW sau 21 ngày và 11 ngày tương ứng là 50,92% và 49,59% -Cao methanol và nước của lá câu Núc nác cũng đã được tìm thấy có hoạt động chống lại bệnh đái tháo đường do alloxan gây ra ở chuột Sự kiểm soát của cao methanol và nước ở nồng độ 300 mg/kg BW cho 21 ngày với Alloxan (120 mg/kg bw), có sự phục hồi đáng kể các thông số sinh hóa huyết thanh như mức glucose máu lúc đói, mỡ máu, dấu ấn sinh học (biomarker) enzyme, protein huyết thanh tổng, creatinine huyết thanh, urê huyết thanh, huyết thanh SGOT, SGPT và ALP Cao methanol có tác dụng trị đái tháo đường mạnh hơn cao nước
Chống mỡ máu cao: cao tổng từ vỏ rễ cây Núc nác đã được khảo sát trên
mô hình chuột bạch Wistar bị mỡ máu cao do cholesterol Các cao từ rễ thể hiện
Trang 25giảm đáng kể mức cholesterol toàn phần, triglycerides toàn phần, LDL-C, VLDL-C và gia tăng đáng kể nồng độ HDL-C khi so sánh với mẫu thuốc Lovastatin Các chỉ số xơ vữa và tỷ lệ LDL-C:HDL-C cũng được giảm tới mức
độ đáng kể ở nhóm điều trị với cao Mức SGOT và SGPT cũng được ước tính
và tìm thấy là ít hơn so với nhóm chứng hyperlipidemic đáng kể Nghiên cứu khoa học đã chứng minh việc sử dụng dân gian cây Núc nác trong các rối loạn tim mạch và là thành phần trong công thức bồi dưỡng sức khỏe khác được sử dụng trong các bệnh tim mạch
Hoạt tính giảm đau: Hoàng Bá Nam được sử dụng từ lâu như là một
thuốc giảm đau Tác dụng dược lý, hoạt tính được báo cáo trên cao butanol vỏ
rễ của ORI Hai mô hình thử nghiệm là: làm tổn thương đuôi và acid acetic gây
ra sự đáp ứng đau, được sử dụng để thử hoạt tính giảm đau Đối với phương pháp làm tổn thương đuôi, chuột bạch Wistar chọn cả đực và cái từ 200-250 g Một nhóm được kiểm soát bằng 100 mg/kg BW, p.o., và nhóm khác được kiểm soát bằng thuốc morphin chuẩn (10 mg/kg BW, i.p.) Một giờ sau khi sử dụng thuốc, đuôi của chuột được đặt trên dây nichrome của dụng cụ đo cảm giác đau
và thời gian đo vào lúc động vật cử động được đuôi của chúng được coi là thời gian phản ứng (the time taken by the animal to flick its tail was taken as reaction time) Hoạt động giảm đau được đo ở 0 và 30 phút Acid acetic gây sự đau; Chuột bạch Swiss được chọn từ 20-25 g Phần cao n-butanol được tiêm 100 mg/kg BW, p.o, trong một nhóm Một nhóm khác tiêm Aspirin làm chuẩn (25 mg/kg BW, i.p) Một giờ sau khi tiêm, việc tiêm acid acetic 0,6% v/v (10 v/v/kg
BW, ip) được đưa ra vào sau đó, số lượng đau được quan sát cho tối đa 30 phút
Sự giảm đau bởi bất kỳ cách điều trị trên động vật được quan tâm đều thể hiện dương tính với giảm đau, dùng đường uống của cao n-butanol kéo dài đáng kể thời gian phản ứng trên chuột Uống cao n-butanol cũng giảm đáng kể số lượng đau là 75,93% so với thuốc aspirin là 87,05% Hoạt tính giảm đau được quy cho
sự hiện diện của những flavonoid như baicalein, acid ellagic, biochanin-A có trong rễ của ORI.[7]
2.2.3 Nghiên cứu trong y học và thử lâm sàng
Theo mục 19, khoảng B, quyết định số 154-BYT/QG về việc “Bổ sung
danh mục thuốc, hóa chất dược dụng, hóa chất sát côn trùng, diệt côn trùng dược liệu thống nhất trong toàn ngành y tế hai năm 1974-1975” ngày 9/4/1974,
viên uống Núc nác (Nunaxin) 0,25 g được bào chế từ flavonoid toàn phần trong
vỏ thân cây Núc nác, chính thức được lưu hành trong hai năm 1974-1975 dưới dạng thuốc thành phẩm để nghiên cứu, với các công dụng điều trị mề đay và mẩn ngứa
Trang 262.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trước đây
2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Núc nác chứa một số nhóm hợp chất như phenol, tannin, alkaloid, flavonoid, saponin Vỏ của thân và lá chứa các flavonoid là chrysin, oroxylin-A và baicalien (Sankara và cộng sự, 1972 A; Sankara và cộng sự, 1972 B), oroxyloside methyl ester và chrysin-7-O-methyl glycoside (Rao và cộng sự, 2007) Mohd Ali và các cộng sự, 1999 đã tách ra được 4 hợp chất khung pterocarpan [1,10]
Hạt chứa ellagic acid (Vasanth và cộng sự, 1991) Yan R và cộng sự, (2011) báo cáo 19 hợp chất khác nhau được cô lập từ hạt
Phần vỏ của rể chứa các hợp chất như chrysin, baicalein, biochanin-A và ellagic acid Oroxylin A, chrysin, triterpene carboxylic acid và ursolic acid được tìm thấy trong vỏ của quả Núc nác (Suratwadee và cộng sự, 2002) [1]
Năm 2010, một nghiên cứu ở Thái Lan cũng trên vỏ của thân đã cô lập được 15 hợp chất bao gồm chín flavonoid, hai terpenoid, một isocoumarin, một benzofuranone, 2 dẫn xuất của acid benzoic.[4]
Một nghiên cứu khác, lá cũng có chứa anthraquinone, aloeemodin Tâm
gỗ chứa β-sitosterol, iso-flavone, prunetin Vỏ cây chứa lượng vết alkaloid, acid tannic, sitosterol và galactose Rễ và thân cũng chứa pterocarpan, rhodioside, p-hydroxyphenylethanols, cyclohexanols Hạt chứa chrysin, baicalein, baicalein-7-O-glucoside, baicalein-7-O-diglucoside (Oroxylin B) và dầu bóng, hàm lượng khoảng 20%.[5]
2.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Nhóm nghiên cứu gồm: Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Tiến Công, Nguyễn
Vũ Mai Trang, Nguyễn Thị Minh Trang Đã phân lập được bốn hợp chất: Chrysin, Hispidulin, baicalein, oroxylin A từ cặn chiết ethanol của lá cây núc nác.[14]
Trang 272.3.3 Một số hợp chất của các nghiên cứu từ cây Oroxylum indicum
Các hợp chất đã được chiết tách từ loài Oroxylum indicum (L.) Vent.được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent
(M amu)
Nhiệt độ nóng chảy ◦C Flavonoid
286
3
Biochanin A
C16H12O5 (M = 290 amu)
211,5
Trang 284
8,8-bisBaicalein
C30H18O10 (M = 538
197
6
Pinocembrin
C15H12O4 (M = 256 amu)
203
7
Pinobanksin
C15H12O5 (M = 272 amu)
-
Trang 29-
Trang 3014
Hispidulin
C16H12O6
(M = 300 amu)
-
15
O O
292
17
-Sitosterol
C29H50O (M = 414 amu)
142
Trang 3118
Lupeol
C30H50O (M = 426 amu)
-
20
Friedeli
C30H50O (M = 426 amu)
281
Trang 32Glycoside
22
Oroxyloside methy ester
C23H27O10 (M = 463 amu)
-
Trang 33-
27
Baicalein-7-O-diglucoside
C21H20O15 (M = 416 amu)
-
Trang 34>=350
Trang 3534
Methylsulfonylmethane
C2H6O2S (M = 94
35
Mellin 8-hydroxy-3-methylisochroman-1-one
C10H9O3
(M = 177 amu)
-
36
Protocatechuic acid 3,4-dihydroxybenzoic acid
C7H6O4
(M = 155 amu)
-
38
C7H6O3
(M = 138.03 amu)
-
39
O O
anthraquinone
C14H8O2
(M = 208.21 amu)
-
40
O
O O
Methyl oroxylopterocarpan
C19H18O3
(M = 294 amu)
230-231
Trang 362.4 Hợp chất flavonoid
Qua các nghiên cứu trước được trình bày ở trên cho thấy Trong vỏ thân
cây Oroxylum indicum (Vent.) hợp chất chiếm vị trí chủ đạo là flavonoid
2.4.1 Favonoid
Flavonoid là nhóm hợp chất màu thực vật, tạo nên màu cho rất nhiều rau,
quả, hoa…Phần lớn các flavonid có màu vàng (do từ flavus là màu vàng) ; Tuy
vậy, một số sắc tố có màu xanh, tím, đỏ, không màu cũng được xếp vào nhóm
này vì về mặt hóa học, chúng có cùng khung sườn cơ bản
Flavonoid có cấu trúc cơ bản là 1,3-diphenylpropane, nghĩa là 2 vòng
benzene A và B nối nhau qua một dây có 3 carbon, nên thường được gọi là C6
-C3-C6.[9]
Hình 2.3 Khung cơ bản của nhóm hợp chất flavonoid
2.4.2 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid
Hầu hết các flavonoid đều có chứa một dị vòng 6 cạnh, được hình thành
từ sự tác kích thân hạch kiểu Michael của một nhóm phenol vào ketone bất bão
hòa tạo ra flavanone Flavanone có thể cho ra nhiều dẫn xuất khác dựa trên
khung cơ bản này, ví dụ: flavone, flavonol, anthocyanidin và catechin.[4]
Trang 37
Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid
R’ = H, R’’ = H : galagin R’ = H, R’’ = OH : kaempferol
3 x
R = H, R’= H: cinnamol CoA
R = H, R’= OH: p-hydroxycinnamoyl CoA
R = OH, R’= OH: 3,4-hydroxycinnamoyl CoA
Trang 38CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Phương tiện nghiên cứu
3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài luận văn “Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây
Núc nác (Oroxylum indicum L Vent) thuộc họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)”
được thực hiện tại Phòng thí nghiệm hóa hữu cơ 1 – Khoa Khoa học Tự nhiên, khu II, trường Đại Học Cần Thơ
Thời gian: từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015
3.1.2 Dụng cụ
Tủ sấy: dùng để sấy nguyên liệu và dụng cụ thủy tinh
Máy cô quay: dùng để đuổi dung môi ra khỏi dung dịch mẫu và thu hồi dung môi
Na2SO4 dùng để làm khan dung môi
Sulfuric acid, vanillin dùng để pha thuốc thử hiện hình
Trang 39thao tác với một lượng lớn mẫu cây Ngâm bột cây trong một bình chứa bằng thủy tinh hoặc bằng thép không rỉ, bình có nắp đậy
Phương pháp chiết lỏng – lỏng với các dung môi có độ phân cực tăng dần
để điều chế các cao phân đoạn Sử dụng bình lóng để lắc chiết
3.2.2 Phân lập hợp chất hữu cơ
Để phân lập hợp chất hữu cơ tinh khiết từ cao thì sử dụng phương pháp chủ yếu là sắc ký nhanh cột khô, sắc ký cột hở và dùng sắc ký bản mỏng để theo dõi quá trình tách của cột Ngoài ra, sắc ký bản mỏng còn giúp dự đoán hợp chất tách đã tinh khiết chưa
3.2.3 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất cô lập được
Các chất tinh khiết phân lập ra sẽ được xác định những hằng số lý hoá đặc trưng như: màu sắc, Rf, nhiệt độ nóng chảy, tan tốt trong những dung môi nào… Phổ 1D-NMR (1H-NMR, 13C-NMR), 2D-NMR (HSQC, HMBC), MS được đo tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam số
18 Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội
3.2.4 Hoạt tính kháng oxi hóa
Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến những chất chống oxi hóa, mà nó liên quan đến sự ngăn chặn những ảnh hưởng xấu được cho là các gốc tự do gây
ra trong cơ thể con người, để ngăn chặn thực phẩm và chất béo khỏi hỏng Điều
đó phù hợp với những chất kháng oxi hóa có nguồn gốc tự nhiên hơn là từ nguồn tổng hợp
Vì vậy, nhiều phương pháp để dự đoán hiệu lực của những hợp chất được cho là có tính kháng oxi hóa cũng được phát triển theo Trong đó phải kể đến phương pháp gốc tự do DPPH được sử dụng phổ biến do dễ thực hiện, cho kết quả nhanh [11]
3.2.4.1 Nguyên tắc
Phân tử 1,1-diphenyl-2-picryl-hydrazyl (α,α-diphenyl-β-picrylhydrazyl: DPPH), là một trong số ít gốc nitro hữu cơ tự do ổn định DPPH mang màu tím đậm (có cực đại hấp thu ở bước sóng 517 nm) có thể hòa tan trong dung dịch nước hoặc methanol, kém bền dưới ánh sáng và nhiệt độ (nên được bảo quản trong tối và ở nhiệt độ thấp)
Trong thử nghiệm DPPH, các chất kháng oxi hóa khử gốc tự do DPPH thành diphenyl-picrylhydrazine có màu vàng Đây là phương pháp dựa trên cơ
sở DPPH bị khử trong dung dịch khi có sự hiện diện của chất kháng oxi hóa (có
Trang 40khả năng cho hydro) để hình thành dạng diphenyl-picrylhydrazine (DPPH-H)
trong phản ứng.[12]
Để đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH của chất kháng oxi hóa ta
đo độ hấp thu của dung dịch sau phản ứng (ủ 30 phút, ở 37°C) ở bước sóng
517 nm bằng máy quang phổ UV-Vis
Khả năng kháng oxy hóa thường biểu diễn thông qua phần trăm loại bỏ
A (%) Phần trăm loại bỏ A (%) được tính theo biểu thức sau:
A% = ODc− (ODs− ODb)
Trong đó:
A%: phần trăm loại bỏ gốc tự do DPPH
ODc: Độ hấp thu quang của hỗn hợp không có mẫu thử
ODm: Độ hấp thu quang của hỗn hợp có mẫu thử
ODb: Độ hấp thu quang của mẫu thử