1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)

85 462 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN BỘ MÔN HÓA ------ LÊ MINH THỊNH PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC OROXYLUM INDICUM L.. Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của chún

Trang 1

BỘ MÔN HÓA - -

LÊ MINH THỊNH

PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE

CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC

(OROXYLUM INDICUM (L.) VENT.), HỌ CHÙM ỚT

(HỌ BIGNONIACEAE)

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: CỬ NHÂN HÓA DƯỢC

Cần Thơ, 2015

Trang 2

KHOA KHOA HỌC TỰ NHIÊN

BỘ MÔN HÓA - -

LÊ MINH THỊNH

PHÂN LẬP CHẤT TỪ CAO DICHLOROMETHANE

CỦA VỎ THÂN CÂY NÚC NÁC

(OROXYLUM INDICUM (L.) VENT.), HỌ CHÙM ỚT

Trang 3

LỜI CẢM ƠN



Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cô Ts Tôn Nữ Liên Hương, cô đã hết lòng giảng dạy, hướng dẫn, quan tâm tôi trong suốt quá trình làm luận văn

Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến Thầy Dương Minh Viễn, phòng Sinh Học Đất – Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành phần thử hoạt tính kháng oxi hóa của luận văn

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến PGS Ts Bùi Thị Bửu Huê,

Ts Nguyễn Trọng Tuân, CVHT cô Phạm Bé Nhị, cùng các Thầy Cô trong Bộ môn Hóa – Khoa Khoa Học Tự Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ đã dạy dỗ, truyền đạt cho em nhiều kiến thức quý báu trong suốt bốn năm đại học và đã tạo điều kiện thuận lợi để em thực hiện luận văn này

Cũng không quên gửi lời cảm ơn các anh, chị học viên Cao học, đặc biệt

là anh Nguyễn Đăng Khoa cao học K20, tập thể lớp Hóa Dược K37, các bạn sinh viên trong phòng thí nghiệm Hữu cơ – Bộ môn Hóa, Khoa Khoa học

Tự Nhiên – Trường Đại học Cần Thơ đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên tôi Cuối cùng, con xin gửi lời tri ân sâu sắc đến Ông bà, Cha mẹ và những người thân trong gia đình đã luôn tạo mọi điệu kiện tốt nhất về vật chất lẫn tinh thần giúp con hoàn thành chương trình học của mình

Xin chân thành cảm ơn !

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Sinh viên ký tên

Trang 4

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

1 Cán bộ hướng dẫn: Ts Tôn Nữ Liên Hương

2 Đề tài: Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc

nác (Oroxylum indicum (L.) Vent.), họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)

3 Sinh viên thực hiện: Lê Minh Thịnh MSSV: 2112097

Lớp: Hóa Dược Khóa: 37

4 Nội dung nhận xét:

a Nhận xét về hình thức của LVTN:

b Nhận xét về nội dung của LVTN (Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):

 Đánh giá nội dung thực hiện đề tài:

 Những vấn đề còn hạn chế:

c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (Ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):

d Kết luận, đề nghị và điểm:

Trường Đại Học Cần Thơ

Khoa Khoa Học Tự Nhiên

Trang 5

NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN

1 Cán bộ phản biện:

2 Đề tài: Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc

nác (Oroxylum indicum (L.) Vent.), họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)

3 Sinh viên thực hiện: Lê Minh Thịnh MSSV: 2112097

Lớp: Hóa Dược Khóa: 37

4 Nội dung nhận xét:

a Nhận xét về hình thức của LVTN:

b Nhận xét về nội dung của LVTN (Đề nghị ghi chi tiết đầy đủ):

 Đánh giá nội dung thực hiện đề tài:

 Những vấn đề còn hạn chế:

c Nhận xét đối với từng sinh viên tham gia thực hiện đề tài (Ghi rõ từng nội dung chính do sinh viên nào chịu trách nhiệm thực hiện nếu có):

d Kết luận, đề nghị và điểm:

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Cán bộ phản biện

Trường Đại Học Cần Thơ

Khoa Khoa Học Tự Nhiên

Bộ Môn Hóa Học

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc



Trang 6

TÓM TẮT

Núc nác hay còn gọi là Hoàng Bá Nam có tên khoa học là Oroxylum

indicum (L.) Vent, thuộc chi Oroxylum, họ Bignoniaceae Núc nác phân bố

nhiều ở Ấn Độ và Đông Nam Á Từ lâu, rể Núc nác được sử dụng để trị bệnh lao, kiết lỵ và tiêu chảy Quả dùng để trị viêm phế quản, bệnh bạch bì, diệt giun sán, bệnh trĩ Vỏ của thân và lá có hoạt tính kháng khuẩn, thuốc giảm đau và bảo vệ dạ dày Hạt điều trị nhiễm trùng họng, cao huyết áp

Từ nguyên liệu bột của vỏ thân cây Núc nác dùng phương pháp ngâm dầm với methanol để điều chế cao tổng, sau đó dùng kỹ thuật chiết lỏng – lỏng để điều chế các loại cao có độ phân cực khác nhau Sử dụng phương pháp sắc ký nhanh cột khô và sắc ký cột hở kết hợp với sắc ký lớp mỏng, đã phân lập được hai hợp chất từ cao dichloromethane là: methyl 3,4-dihydroxybenzoate

(ORI.T1) và rengyolone (ORI.T2)

Cấu trúc của chúng được xác định bằng phương pháp phổ hiện đại: MS, NMR và so sánh với tài liệu phổ của chất đã công bố

Hoạt tính kháng oxi hóa của các cao và ORI.T1 được đánh giá bằng thử nghiệm sàng lọc gốc tự do DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl)

Từ khóa: Núc nác, Hoàng Bá Nam, Bignoniaceae, rengyolone, DPPH

Trang 7

ABSTRACT

Oroxylum indicum (L.) Vent (family: Bignoniaceae), which is distributed

throughout India, South East Asia Medicinal properties of Oroxylum indicum

(L.) Vent are known for hundreds of years to various civilizations of the world

Root of Oroxylum indicum is used in tuberculosis, cough, diarrhoea The bark

and seeds of the plant are also used as analgesic and antimicrobial and proctive activity The fruit is used to treat bronchitis, leucoderma, anthelmintic, piles The seeds are purgative and taken orally to treat throat infections and hypertension

gastro-From dry material powder of stem bark Oroxylum indicum (L.) Vent, we

used the beam immersion method with methanol to make total extract, then liquid - liquid extraction technique was carried out to make different polarized extracts We used dry-column flash chromatography and open column chromatography combined with thin-layer chromatography, we have isolated two compounds from dichloromethane extract are methyl

3,4-dihydroxybenzoate (ORI.T1), rengyolone (ORI.T2)

Their structures were determined on the basis of NMR, MS and by comparison their spectroscopic data with those reported

Antioxidant activity of the extracts and ORI.T1 was evaluated using DPPH (1,1-diphenyl-2-picrylhydrazyl) radical scavenging assay

Keywords: Oroxylum indicum, Bignoniaceae, rengyolone, DPPH

Trang 8

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của tôi, các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác và được chỉnh sửa theo ý kiến của hội đồng

Ngoài ra, các nội dung nghiên cứu của chúng tôi nằm trong phạm vi đề tài

“Khảo sát thành phần hóa học của vỏ thân cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.)

Vent.)” của học viên Nguyễn Đăng Khoa, cao học Hóa Hữu Cơ K20, Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Cần Thơ Học viên có thể sử dụng một số kết quả của luận văn này để phục vụ cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ

Cần Thơ, ngày tháng năm 2015

Sinh viên ký tên

Lê Minh Thịnh Cán bộ hướng dẫn

Ts Tôn Nữ Liên Hương

Trang 9

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

TÓM TẮT iv

ABSTRACT v

LỜI CAM ĐOAN vi

MỤC LỤC vii

MỤC LỤC HÌNH ix

MỤC LỤC BẢNG x

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT xi

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

1.4 Nội dung nghiên cứu 1

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Tổng quan thực vật 3

2.1.1 Khái quát về họ Bignoniaceae 3

2.1.2 Phân loại thực vật 3

2.1.3 Mô tả thực vật 4

2.1.4 Phân bố 5

2.2 Công dụng thực vật 5

2.2.1 Theo kinh nghiệm dân gian 5

2.2.2 Các hoạt tính sinh học đã được nghiêm cứu 7

2.2.3 Nghiên cứu trong y học và thử lâm sàng 11

2.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trước đây 12

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 12

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12

2.3.3 Một số hợp chất của các nghiên cứu từ cây Oroxylum indicum 13

2.4 Hợp chất flavonoid 22

Trang 10

2.4.1 Favonoid 22

2.4.2 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid 22

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Phương tiện nghiên cứu 24

3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

3.1.2 Dụng cụ 24

3.1.3 Hóa chất 24

3.2 Phương pháp nghiên cứu 24

3.2.1 Phương pháp chiết tách 24

3.2.2 Phân lập hợp chất hữu cơ 25

3.2.3 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất cô lập được 25

3.2.4 Hoạt tính kháng oxi hóa 25

3.3 Thực nghiệm 30

3.3.1 Điều chế các cao 30

3.3.2 Khảo sát cao dichloromethane 32

3.3.3 Thử hoạt tính kháng oxi hóa 37

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42

4.1 Kết quả 42

4.1.1 Kết quả điều chế cao và phân lập chất 42

4.1.2 Kết quả khảo sát hoạt tính kháng oxi hóa bằng DPPH 42

4.2 Thảo luận 43

4.2.1 Khảo sát cấu trúc của ORI.T1 43

4.2.2 Khảo sát cấu trúc của ORI.T2 45

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Kiến nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

PHỤ LỤC A PHỔ CỦA ORI.T1 53

PHỤ LỤC B PHỔ CỦA ORI.T2 59

Trang 11

MỤC LỤC HÌNH

Hình 2.1 Lá và thân Núc nác 4

Hình 2.2 Trái và hoa Núc nác 4

Hình 2.3 Khung cơ bản của nhóm hợp chất flavonoid 22

Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid 23

Hình 3.1 Phản ứng khử gốc tự do DPPH 26

Hình 3.2 Tóm tắt thí nghiệm kháng oxi hóa bằng DPPH 29

Hình 3.3 Vỏ cây Núc nác tươi 30

Hình 3.4 Tóm tắt quy trình điều chế cao 31

Hình 3.5 SKC nhanh cao dichloromethane 32

Hình 3.6 Sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột OD4 34

Hình 3.7 Sắc ký lớp mỏng và sắc ký cột tiểu phân đoạn OD6.8 36

Hình 3.8 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của Vitamin C 37

Hình 3.9 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của các cao ở cùng nồng độ 50 µg/mL 38

Hình 3.10 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cao dichloromethane 39

Hình 3.11 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cao Ethyl acetate 40

Hình 3.12 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của ORI.T1 41

Hình 4.1 Tinh thể ORI.T1 43

Hình 4.2 Công thức của ORI.T1 44

Hình 4.3 SKLM và hình dạng của ORI.T2 45

Hình 4.4 Công thức của ORI.T2 47

Trang 12

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.)

Vent.[1] 7

Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent 13

Bảng 3.1 Dãy nồng độ của Vitamin C 27

Bảng 3.2 Dãy các cao ở cùng nồng độ 50 µg/mL 27

Bảng 3.3 Dãy nồng độ của cao DC 28

Bảng 3.4 Dãy nồng độ của cao Ea 28

Bảng 3.5 Dãy nồng độ của ORI.T1 28

Bảng 3.6 Kết quả SKC nhanh cao dichloromethane 33

Bảng 3.7 Kết quả sắc ký cột phân đoạn OD4 34

Bảng 3.8 Kết quả sắc ký cột phân đoạn OD6 35

Bảng 3.9 Các tiểu phân đoạn của phân đoạn OD6.8 36

Bảng 3.10 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của Vitamin C 37

Bảng 3.11 Giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của các cao ở nồng độ 50 µg/mL 38

Bảng 3.12 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của cao dichloromethane 39

Bảng 3.13 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của cao Ethyl acetate 40

Bảng 3.14 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của ORI.T1 41

Bảng 3.15 So sánh EC50 của các mẫu 41

Bảng 4.1 Dữ liệu phổ 1H, 13C-NMR của ORI.T1 44

Bảng 4.2 So sánh phổ ORI.T1 với methyl 3,4-dihydroxybenzoate [15] 44

Bảng 4.3 Phổ 1H-NMR, 13C-NMR và HMBC của ORI.T2 47

Bảng 4.4 Dữ liệu phổ 1H-13C HSQC của ORI.T2 48

Bảng 4.5 So sánh phổ ORI.T2 với Rengyolone 48

Trang 13

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

ESI-MS Electrospray Ionization Mass spectrometry

DEPT Distortionless Enhancement by Polarization Transfer HSQC Heteronuclear Single Quantum Correlation

HMQC Heteronuclear Multiple Bond Coherennce

δ chemical shift relative to TMS (Tetramethylsilan)

SGOT Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase

SGPT Serum Glutamic Pyruvic Transaminase

XTT Muối

2,3-bis-(2-methoxy-4-nitro-5-sulfophenyl)-2H-tetrazolium-5-carboxanilide

Trang 14

ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assay

IC50 half maximal inhibitory concentration

EC50 half maximal effective concentration

DPPH Gốc tự do 2,2- diphenyl-1-picrylhydrazyl

LDL-C Low Density Lipoprotein-Cholesterol

VLDL-C Very Low Density Lipoprotein-Cholesterol

HDL-C High Density Lipoprotein-Cholesterol

WIRS Water Immersion plus Restraint Stress

Trang 15

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Thực vật có chứa một loạt các hợp chất có hoạt tính sinh học như chất béo, carbohydrate, phenolic, terpenoid, carotenoid, anthocyanin và tinh dầu Gần một nửa số dược phẩm bán chạy nhất từ tự nhiên hoặc có liên quan chặt chẽ với các sản phẩm tự nhiên, điều đó nói lên tiềm năng to lớn cho việc xác định các hợp chất có hoạt tính sinh học quan trọng trong y học từ nguồn này Người ta ước tính rằng chỉ có một tỷ lệ nhỏ các hợp chất từ các nguồn sinh học đã được phân lập và nghiên cứu Điều này đã thúc đẩy sự quan tâm của cả công nghiệp

và nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học thực vật vì những đặc tính sinh học mạnh mẽ của chúng

Cũng không nằm ngoại mục đích trên, nên đề tài: Phân lập chất từ cao

dihloromethane của vỏ thân cây Núc nác (Oroxylum indicum (L.) Vent),

họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae) được chọn làm mục tiêu nghiên cứu, với mong muốn góp phần tìm hiểu rõ hơn về thành phần hóa học của loài thực vật này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Tìm hiểu về loài Núc nác Oroxylum indicum (L.) Vent., họ Chùm ớt (họ

Bignoniaceae)

Phân lập và xác định cấu trúc ít nhất 1 hợp chất

Thử hoạt tính kháng oxi-hóa của các cao và hợp chất phân lập được

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Vỏ thân cây Núc Nác (Oroxylum indicum (L.)

Vent.) thu hái ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

Phạm vi nghiên cứu: Cao dichloromethane của vỏ thân cây Núc nác

(Oroxylum indicum (L.) Vent.)

1.4 Nội dung nghiên cứu

Nguyên liệu sau khi thu về được cắt nhỏ, phơi khô và sấy ở nhiệt độ 60C, xay nhuyễn

Sử dụng phương pháp ngâm dầm mẫu bột nguyên liệu khô trong methanol khoảng 3 – 4 lần để chiết các hợp chất trong bột cây

Cô quay loại dung môi thu được cao methanol tổng

Áp dụng kỹ thuật chiết lỏng – lỏng với các dung môi n-hexane, dicloromethane, ethyl acetate thu được các cao tương ứng

Trang 16

Sử dụng sắc ký cột kết hợp sắc ký lớp mỏng để phân lập các chất có trong cao

Mẫu chất tinh khiết được gửi đo phổ NMR để định danh các hợp chất đã phân lập được

Đánh giá kết quả và viết báo cáo

Trang 17

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Tổng quan thực vật

2.1.1 Khái quát về họ Bignoniaceae

Họ Bignoniaceae, hoặc họ Trumpet Creeper, là một họ thực vật có hoa bao gồm khoảng 650-750 loài trong 116-120 chi Các thành viên của họ chủ yếu là thân gỗ, cây bụi và hiếm hơn là dây leo và thân thảo Như cây bụi, chúng là dây leo bện hoặc dây leo có tua của nho, và hiếm gặp dây leo gốc Phân bố ở Đông

Á, Nam Phi, Australia và đa dạng nhất là ở Nam Mỹ.[1]

2.1.2 Phân loại thực vật

Núc nác tên khoa học là Oroxylum indicum (L.) Vent thuộc họ Chùm ớt

(Bignoniaceae) Phân loại thực vật được báo cáo trong các thư viện như sau:

Giới (Kingdom): Plantae (Thực vật)

Loài (Species): O Indicum

Một số tên thổ ngữ theo các ngôn ngữ khác nhau tùy theo vùng mà cây phân bố:

Tiếng Assamese: Bhatghila

Tiếng Anh: Broken bones plant, Indian calosanthes, Indian Trumpet,

Indian trumpet flower, Midnight horror, Oroxylum, Tree of Damocles

Tiếng Trung Quốc: Hanyu pinyin: mù húdié, butterfly tree

Tiếng Nepal: Tatelo

Tiếng Bengali: Tona

Tiếng Phạn: Bhut-vriksha, Dirghavrinta, Kutannat, Manduk (hoa)

patrorna, Putivriksha, Shallaka, Shuran or Son, Vatuk [1]

Trang 18

2.1.3 Mô tả thực vật

Thân: là loài thân gỗ cây nhỏ, chiều cao trung bình từ 8 – 10 m, nhẵn, ít

phân cành, mặt ngoài vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng

Lá: Lá đối xứng với nhau, xẻ 2-3 hoặc 5-6 lần hình lông chim, cuốn lá dài

từ 60-100cm, to và láng nhẵn; có 3-5 lá non trong mỗi lá chét

Hình 2.1 Lá và thân Núc nác

Hoa: Hoa màu nâu đỏ sẫm phía ngoài, mọc thành chùm dài ở ngọn thân

Đài hình ống, cứng, dày, có 5 khía nông Tràng hình chuông, phình rộng, có 5 thùy hợp thành 2 môi, 5 nhị sinh sản bằng nhau Bầu hơi rộng, chứa nhiều noãn xếp thành 4 hàng

Quả: Quả nang, rất to, dài 50 – 80cm, chứa nhiều hạt

Hạt: Hạt dẹp, dài 7,5 cm, dày 5 cm, có cánh mỏng

Cây có thể trồng bằng hạt và bằng dâm cành vào mùa xuân Hoa thường

ra vào tháng 6 -7 và mang trái vào tháng 11.[3,5,8]

Hình 2.2 Trái và hoa Núc nác

Trang 19

2.1.4 Phân bố

Ngoại trừ ở khu vực khô ở phía tây, Oroxylum indicum phân bố trên khắp

Ấn Độ và Đông Nam Á, trên dãy Hy Mã Lạp Sơn với một phần mở rộng đến Bhutan và phía nam Trung Quốc, ở bán đảo Đông Nam Á (giữa Trung Quốc và

Ấn Độ) và trên lãnh thổ Malaysia

Nó cũng hiện diện ở quần xã rừng của công viên quốc gia Manas Và một

số vùng, quốc gia khác như: Fujian, Guangdong, Indonesia (Java, Sumatra), Lào, Myanmar, Nepal, Philippines, Thái Lan và Việt Nam (Lawania và cộng

sự, 2010, Maciuk và cộng sự, 2000)

2.2 Công dụng thực vật

2.2.1 Theo kinh nghiệm dân gian

Vỏ rễ cây chát, đắng, cay; chất làm se ruột, làm mát, kích thích tình dục, thuốc bổ, kích thích sự thèm ăn, trị viêm phế quản, kháng giun, chống nôn mửa, trị kiết lỵ, bệnh bạch bì, hen suyễn Nó còn được sử dụng để điều trị tiêu chảy, kiết lỵ, mồ hôi, và thấp khớp Dầu (Sesamum indicum) và thuốc bột từ vỏ và rễ được cho là bổ cho tiêu hóa Hạt được làm sạch và sử dụng uống để điều trị nhiễm trùng cổ họng và cao huyết áp

Trái cây chát, ngọt; dùng làm chất kích thích tiêu hóa, thuốc kháng giun; trị hiệu quả các bệnh về họng và tim, bệnh trĩ, viêm phế quản, sử dụng như một thuốc long đờm; cải thiện sự thèm ăn; hữu ích trong bệnh bạch bì

Trong hệ thống thuốc của Ấn Độ rễ, vỏ cây, thân cây và lá được dùng trị ngộ độc do rắn cắn Trong bộ lạc khác nhau của Manipur (Ấn Độ) như Hậu môn, Kuki, Mao, Tanghkul và Zeliangrong dùng vỏ và hạt của cây được sử dụng trị bệnh sốt, viêm phổi và hệ hô hấp (repiratory) Nó cũng được sử dụng

để chữa trị các chứng rối loạn dạ dày.[1,5]

Lá được sử dụng ngoài để điều trị hở lá lách (an enlarged spleen) và cũng

để giảm đau đầu và viêm loét và cũng dùng làm thuốc giảm đau và kháng khuẩn

Ở Nepal, thuốc sắc từ rễ được sử dụng trị tiêu chảy và bệnh lỵ Hạt được

sử dụng để hỗ trợ tiêu hóa Dịch từ hạt được áp dụng để điều trị nhọt và vết thương Rễ được sử dụng như chất làm se (astrigent), chống viêm, kích thích tình dục, long đờm, thuốc trừ giun sán và thuốc bổ Vỏ cây là thuốc lợi tiểu và thuốc tiêu và hữu ích trong tiêu chảy và bệnh lỵ Vỏ rễ và hạt dùng làm thuốc tống hơi (carminative), thuốc tiêu, thuốc bổ, thuốc làm toát mồ hôi và chất làm

se Vỏ rễ cũng được sử dụng để điều trị các vấn đề mật, ho, tiêu chảy và kiết lỵ

Trang 20

Nó cũng được sử dụng trong một công thức được dùng để hỗ trợ trí nhớ (nootropic).[5]

Ở Miến Điện và Philippines, vỏ cây được sử dụng để điều trị bệnh thấp

khớp và bệnh lỵ

Ở Bangladesh, thân lá, rễ, hoa quả và thân cây vỏ cây được dùng để chống

viêm amiđan, rắn cắn, viêm khớp dạng thấp, phù thũng, bệnh phụ khoa, đau bụng, bệnh lỵ, rối loạn da, động kinh, sát khuẩn, tiêu chảy lạnh, bất tỉnh đột ngột, kích thích tình dục, sốt, dịch tả, đau cổ họng, làm se, vàng da, ghẻ, chàm (eczema), huyết trắng, vấn đề tiết niệu, đau răng, mủ với nước tiểu, cảm giác rát

ở đường tiết niệu.[7]

Ở Thái Lan, với tên địa phương là “pa-ka” Nó đã được sử dụng làm thuốc

y học cổ truyền để chống viêm, lợi tiểu, chống viêm khớp, kháng nắm và hoạt tính kháng khuẩn (Warrier và cộng sự, 1995).[2]

Ở Việt Nam, quả của nó được sử dụng để điểu trị một số bệnh như thuốc

làm long đờm, chống ho, nhuận tràng và rối loạn dạ dày Ngoài ra, Viện dược liệu đã sản xuất dạng chế phẩm viên Nunaxin từ cao núc nác sử dụng cho các bệnh mề đay sơ phát và mạn tính, vẩy nến, hen phế quản trẻ em thể nhẹ và trung bình Không chỉ định cho các trường hợp dị ứng nhẹ và cấp.[4,6]

Trang 21

2.2.2 Các hoạt tính sinh học đã được nghiêm cứu

Các hoạt tính từ các bộ phận khác nhau của cây Núc nác được nghiên cứu được tóm tắt ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.) Vent.[1]

1 Kháng oxi hóa

Vỏ thân Ethyl acetate, methanol, ethanol,

chloroform Thân cây Methanol

Vỏ thân Methanol, Ethyl acetate

7 Chống ung thư Quả, vỏ thân Ethanol, nước, methanol

Hoạt tính kháng viêm: Cao nước của lá cây Núc nác được báo cáo là có

hoạt tính kháng viêm đáng kể Hoạt tính kháng viêm được nghiên cứu in vivo trên mô hình chân chuột được làm phù bằng carageenan và được báo cáo rằng cao nước của lá ORI biểu hiện hoạt tính chống viêm hiệu quả ở liều 150 mg/kg trọng lượng cơ thể và 300 mg/kg trọng lượng cơ thể Cao nước của ORI với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể cho thấy hoạt động kháng viêm tối đa Tuy nhiên hoạt tính tạo ra của cả hai liều là ít hiệu quả hơn so với các chất ức chế chuẩn natri diclofenac Cao ở cả hai liều cho thấy hoạt tính kháng viêm đáng

kể ở 5 giờ Chống lại tiêm carrageenan cho thấy cao chủ yếu là ức chế sự phóng thích protaglanding giống như cơ chất Kết luận, lá của ORI cho thấy hoạt động chống viêm trong đó có thể được cho là do sự hiện diện của các thành phần hóa học khác nhau Một số hợp chất flavonoid cũng đã được báo cáo trước đây là chất chống viêm

Hoạt tính giải độc gan: Lá ORI được sử dụng rộng rãi như là một chất

phòng ngừa rối loạn gan trong hệ thống dược Ấn Độ Tenpe và cộng sự báo cáo

Trang 22

hoạt động chống độc cho gan của các cao của ORI Gây nhiễm độc gan bằng CCl4 Các cao petro ether, chloroform, ethanol và nước đã được tiêm cho động vật mắc bệnh (chuột) ở một liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể và theo dõi mức enzyme huyết thanh Tất cả các nhóm thử nhiệm đã cho thấy sự giảm đáng kể hàm lượng SGOT, SGPT, ALP, bilirubin toàn phần và tăng đáng kể mức protein được quan sát trên chuột tiêm CCl4 điều trị với ORI Trong số các cao thì cao ethanol cho hoạt tính hiệu quả hơn Loại các gốc tự do đã được báo cáo và hoạt tính bảo vệ gan của những cao này có khả năng là do nó khử gốc tự do và tạo ra men microsome ức chế sự peroxi lipid gây ra bởi CCl4 Nghiên cứu khoa học

đã chứng minh việc sử dụng ORI của dân gian về rối loạn gan và là một phần trong công thức trị bệnh bằng thảo mộc khác được sử dụng trong điều trị bệnh gan

Hoạt tính kháng ung thư:

-Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ tiềm năng chống ung thư của ORI bằng cách sử dụng nhiều mô hình khác nhau Nghiên cứu của Narisa và cộng sự cho thấy cao cồn 95% của ORI với thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào bằng cách xác định tác dụng chống tăng sinh trên dòng tế bào Hep2 (tế bào ung thư thanh quản) Tăng sinh tế bào được đo bằng phương pháp so màu dựa trên khả năng của các tế bào hoạt động trao đổi chất tách những muối XTT tetrazolium màu vàng thành formazan màu cam và formazan dạng hòa tan được trực tiếp định lượng bằng quang phổ quét multiwall (ELISA reader plate) Cao ethanol thể hiện hoạt tính gây độc tế bào chống lại các dòng tế bào Hep2 ở nồng độ 0,05% -Roy và cộng sự báo cáo các tác dụng in vitro của baicalein về khả năng kích thích sự chết theo chương trình của tế bào trên dòng tế bào HL-60 (tế bào ung thư bạch cầu) Khả năng tồn tại sau khi xử lý với baicalein để 24h được định lượng bằng cách đếm tế bào sống bằng cách nhuộm màu xanh Trypan (xanh dương) (tế bào chết bị nhuộm màu) Kết quả cho thấy baicalein gây ra sự

ức chế 50% của HL-60 tế bào ở nồng độ 25-30 µM Sự ức chế sự tăng sinh của

tế bào HL-60 sau 36-48 h tiếp xúc với 10 hoặc 20 µM baicalein đã gây ra sự tích tụ các tế bào ở giai đoạn S (bắt đầu sự sinh tổng hợp DNA) hoặc G2M Kết quả chỉ ra rằng baicalein có tác dụng chống khối u trên các tế bào ung thư ở người, và cao ORI có thể được sử dụng trong điều trị ung thư bổ sung

-Nakahara và cộng sự báo cáo rằng cao methanol ORI ức chế mạnh sự đột biến của Trp-P-1 trong một thử nghiệm Ames Các thành phần chống gây đột biến chính đã được xác định là baicalein với giá trị IC50 của 2,78 +/- 0,15 µM Các thể chống gây đột biến của các cao được tương quan với hàm lượng (3,95

Trang 23

+/- 0,43%, trọng lượng khô) baicalein Baicalein đóng vai trò là chất tác động trực tiếp lên gen đột biến vì nó ức chế sự N-hydroxyl hóa của Trp-P-2

-Leticia và cộng sự báo cáo rằng cao của ORI cho thấy độc tính trên dòng

tế bào ung thư được thử nghiệm, với giá trị IC50 19,6 µg/mL đối với CEM (những dòng tế bào ung thư), 14,2 µg/mL đối với HL-60, 17,2 µg/mL đối với B-16 (tế bào khối u hắc tố da ác tính) và 32,5 µg/mL đối với HCT- 8 (ung thư kết tràng) Trên trứng cầu gai biển, nó cũng ngăn cản sự tiến triển của chu kỳ tế bào kể từ khi chia tách lần đầu (IC50 = 13,5 µg/mL) Trên cơ sở của tất cả những phát hiện này có thể kết luận rằng cao của ORI, có thể được coi như là nguồn tiềm năng của các hợp chất chống ung thư

Hoạt tính kháng khuẩn: Hoạt tính kháng khuẩn của các cao của ORI đã

được thử nghiệm chống lại mười bốn vi khuẩn gây bệnh (năm gram dương và chín gram âm) và bảy loại nấm gây bệnh (bởi Kawsar và cộng sự) sử dụng phương pháp kháng sinh đồ Cao Ethyl acetate thô cho thấy mức độ nhẹ đến vừa phải hoạt động chống lại các vi khuẩn và nấm trong khi cao methanol cho thấy ít hoạt động chống lại vi khuẩn nhưng hoạt động vừa phải chống nấm Nồng độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid cô lập từ ORI đã kháng lại

vi khuẩn Bacillus subtilis, Staphylococcus aureus, Escherichia coli và Shigella dysenteriae và các giá trị được tìm thấy giữa 64 - 128 μg/mL Nghiên cứu của Thatoi và cộng sự tiếp tục khẳng định hoạt tính bằng cách sử dụng các chủng khác nhau Ali và cộng sự (1998) nghiên cứu ảnh hưởng của cao dichloromethane của ORI chống nắm ngoài da (dermatophytes) và nấm gây thối

gỗ và báo cáo hoạt tính kháng nấm mạnh mẽ trong cao dichloromethane của ORI

Hoạt tính bảo vệ dạ dày: Zaveri và cộng sự báo cáo các hoạt động bảo

vệ dạ dày của cao cồn 50% từ vỏ rễ của ORI và các cao thành phần như: petro ether, chloroform, ethyl acetate và n-butanol làm giảm tổn thương niêm mạc dạ dày do ethanol gây ra Cao n-butanol cũng đã được nghiên cứu trong mô hình WIRS Cao cồn (300 mg/kg) và các cao thành phần (với liều 100-300 mg/kg) cho thấy giảm đáng kể trong viêm loét dạ dày chống lại thiệt hại dạ dày do ethanol gây ra Trong số tất cả các cao thành phần, cao n-butanol cho thấy sự

ức chế tối đa các tổn thương dạ dày Trong mô hình WIRS, tiền xử lý với cao n-butanol cho thấy chống loét đáng kể và hoạt động chống oxy hóa trong niêm mạc dạ dày, trái lại với sự tăng chỉ số loét, lipid peroxide và giảm superoxidedismutase, catalase và giảm nồng độ glutathione gây ra bởi stress Nghiên cứu này cho thấy hiệu quả bảo vệ dạ dày đáng kể của cao n-butanol chống lại cả ethanol và loét dạ dày WIRS gây ra ở chuột Hoạt tính này là do các flavonoid được tìm thấy trong ORI.[5]

Trang 24

Hoạt tính kháng oxi hóa: Khả năng loại gốc tự do của các cao khác nhau

của lá cây Núc nác, một trong những cây thuốc được sử dụng rộng rãi, được đánh giá trong ống nghiệm bằng thử nghiệm sử dụng diphenyl-picryl-hydrazyl (DPPH) Trong phương pháp này, các chất chống oxy hóa có trong các chất chiết xuất từ thực vật phản ứng với DPPH (nồng độ 0,1 mM), đó là một gốc tự

do ổn định và chuyển nó thành 1,1-diphenyl-1,2-picryl hydrazine Hiệu quả khử của cao thực vật và mẫu chuẩn (axit L-ascorbic) làm giảm gốc tự do DPPH theo thứ tự sau: axit L-ascorbic> Ethyl acetate (I)> Methanol (II)> Nước (III) và hiệu suất là 97,4%, 61,4%, 40,8% và 29,2% ở nồng độ 100 µg/mL Axit ascorbic đã được sử dụng như một mẫu chuẩn cho giá trị IC50 24,0 µg/mL, trong khi đó, các cao thô ethyl acetate (I), methanol (II) và nước (III) từ lá của ORI cho thấy hoạt động chống oxy hóa với giá trị IC50 lần lượt là 49,0, 55,0 và 42,5 µg/mL Không cao nào trong số các cao được tìm thấy có hoạt tính mạnh hơn các axit ascorbic chuẩn Nhưng vẫn còn, hoạt tính loại gốc tự do của cao nước (III) và Ethyl acetate (I).[13]

Đái tháo đường: Tính trị đái tháo đường của Núc nác đã được đánh giá

trong các mô hình thí nghiệm trên động vật Hoạt tính hạ đường huyết của các cao rễ đã được nghiên cứu ở chuột bạch Wistar Trong một nghiên cứu, bệnh đái tháo đường đã gây ra ở chuột Wistar bạch tạng bởi tiêm màng bụng một mũi Alloxan (120 mg/kg BW) Trong một nghiên cứu khác, các bệnh tiểu đường gây

ra như là kết quả của kháng insulin bằng cách tiêm dưới da một mũi dexamethasone (10 mg/kg BW) Dùng đường uống các cao ethanol và nước từ

rễ cây Núc nác ở mức liều 300 và 500 mg/kg bw trong 21 ngày và 11 ngày, trong hai nghiên cứu khác nhau cho thấy có sự giảm đáng kể glucose huyết thanh, triglyceride, mức cholesterol toàn phần và một sự gia tăng đáng kể mức glycogen gan và cơ bắp, khi so sánh với nhóm kiểm soát bệnh tiểu đường Sự giảm nồng độ glucose huyết thanh được trình bày do cao nước và cồn ở mức

500 mg/kg BW sau 21 ngày và 11 ngày tương ứng là 50,92% và 49,59% -Cao methanol và nước của lá câu Núc nác cũng đã được tìm thấy có hoạt động chống lại bệnh đái tháo đường do alloxan gây ra ở chuột Sự kiểm soát của cao methanol và nước ở nồng độ 300 mg/kg BW cho 21 ngày với Alloxan (120 mg/kg bw), có sự phục hồi đáng kể các thông số sinh hóa huyết thanh như mức glucose máu lúc đói, mỡ máu, dấu ấn sinh học (biomarker) enzyme, protein huyết thanh tổng, creatinine huyết thanh, urê huyết thanh, huyết thanh SGOT, SGPT và ALP Cao methanol có tác dụng trị đái tháo đường mạnh hơn cao nước

Chống mỡ máu cao: cao tổng từ vỏ rễ cây Núc nác đã được khảo sát trên

mô hình chuột bạch Wistar bị mỡ máu cao do cholesterol Các cao từ rễ thể hiện

Trang 25

giảm đáng kể mức cholesterol toàn phần, triglycerides toàn phần, LDL-C, VLDL-C và gia tăng đáng kể nồng độ HDL-C khi so sánh với mẫu thuốc Lovastatin Các chỉ số xơ vữa và tỷ lệ LDL-C:HDL-C cũng được giảm tới mức

độ đáng kể ở nhóm điều trị với cao Mức SGOT và SGPT cũng được ước tính

và tìm thấy là ít hơn so với nhóm chứng hyperlipidemic đáng kể Nghiên cứu khoa học đã chứng minh việc sử dụng dân gian cây Núc nác trong các rối loạn tim mạch và là thành phần trong công thức bồi dưỡng sức khỏe khác được sử dụng trong các bệnh tim mạch

Hoạt tính giảm đau: Hoàng Bá Nam được sử dụng từ lâu như là một

thuốc giảm đau Tác dụng dược lý, hoạt tính được báo cáo trên cao butanol vỏ

rễ của ORI Hai mô hình thử nghiệm là: làm tổn thương đuôi và acid acetic gây

ra sự đáp ứng đau, được sử dụng để thử hoạt tính giảm đau Đối với phương pháp làm tổn thương đuôi, chuột bạch Wistar chọn cả đực và cái từ 200-250 g Một nhóm được kiểm soát bằng 100 mg/kg BW, p.o., và nhóm khác được kiểm soát bằng thuốc morphin chuẩn (10 mg/kg BW, i.p.) Một giờ sau khi sử dụng thuốc, đuôi của chuột được đặt trên dây nichrome của dụng cụ đo cảm giác đau

và thời gian đo vào lúc động vật cử động được đuôi của chúng được coi là thời gian phản ứng (the time taken by the animal to flick its tail was taken as reaction time) Hoạt động giảm đau được đo ở 0 và 30 phút Acid acetic gây sự đau; Chuột bạch Swiss được chọn từ 20-25 g Phần cao n-butanol được tiêm 100 mg/kg BW, p.o, trong một nhóm Một nhóm khác tiêm Aspirin làm chuẩn (25 mg/kg BW, i.p) Một giờ sau khi tiêm, việc tiêm acid acetic 0,6% v/v (10 v/v/kg

BW, ip) được đưa ra vào sau đó, số lượng đau được quan sát cho tối đa 30 phút

Sự giảm đau bởi bất kỳ cách điều trị trên động vật được quan tâm đều thể hiện dương tính với giảm đau, dùng đường uống của cao n-butanol kéo dài đáng kể thời gian phản ứng trên chuột Uống cao n-butanol cũng giảm đáng kể số lượng đau là 75,93% so với thuốc aspirin là 87,05% Hoạt tính giảm đau được quy cho

sự hiện diện của những flavonoid như baicalein, acid ellagic, biochanin-A có trong rễ của ORI.[7]

2.2.3 Nghiên cứu trong y học và thử lâm sàng

Theo mục 19, khoảng B, quyết định số 154-BYT/QG về việc “Bổ sung

danh mục thuốc, hóa chất dược dụng, hóa chất sát côn trùng, diệt côn trùng dược liệu thống nhất trong toàn ngành y tế hai năm 1974-1975” ngày 9/4/1974,

viên uống Núc nác (Nunaxin) 0,25 g được bào chế từ flavonoid toàn phần trong

vỏ thân cây Núc nác, chính thức được lưu hành trong hai năm 1974-1975 dưới dạng thuốc thành phẩm để nghiên cứu, với các công dụng điều trị mề đay và mẩn ngứa

Trang 26

2.3 Các nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trước đây

2.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Núc nác chứa một số nhóm hợp chất như phenol, tannin, alkaloid, flavonoid, saponin Vỏ của thân và lá chứa các flavonoid là chrysin, oroxylin-A và baicalien (Sankara và cộng sự, 1972 A; Sankara và cộng sự, 1972 B), oroxyloside methyl ester và chrysin-7-O-methyl glycoside (Rao và cộng sự, 2007) Mohd Ali và các cộng sự, 1999 đã tách ra được 4 hợp chất khung pterocarpan [1,10]

Hạt chứa ellagic acid (Vasanth và cộng sự, 1991) Yan R và cộng sự, (2011) báo cáo 19 hợp chất khác nhau được cô lập từ hạt

Phần vỏ của rể chứa các hợp chất như chrysin, baicalein, biochanin-A và ellagic acid Oroxylin A, chrysin, triterpene carboxylic acid và ursolic acid được tìm thấy trong vỏ của quả Núc nác (Suratwadee và cộng sự, 2002) [1]

Năm 2010, một nghiên cứu ở Thái Lan cũng trên vỏ của thân đã cô lập được 15 hợp chất bao gồm chín flavonoid, hai terpenoid, một isocoumarin, một benzofuranone, 2 dẫn xuất của acid benzoic.[4]

Một nghiên cứu khác, lá cũng có chứa anthraquinone, aloeemodin Tâm

gỗ chứa β-sitosterol, iso-flavone, prunetin Vỏ cây chứa lượng vết alkaloid, acid tannic, sitosterol và galactose Rễ và thân cũng chứa pterocarpan, rhodioside, p-hydroxyphenylethanols, cyclohexanols Hạt chứa chrysin, baicalein, baicalein-7-O-glucoside, baicalein-7-O-diglucoside (Oroxylin B) và dầu bóng, hàm lượng khoảng 20%.[5]

2.3.2 Các nghiên cứu trong nước

Nhóm nghiên cứu gồm: Lê Thị Thu Hương, Nguyễn Tiến Công, Nguyễn

Vũ Mai Trang, Nguyễn Thị Minh Trang Đã phân lập được bốn hợp chất: Chrysin, Hispidulin, baicalein, oroxylin A từ cặn chiết ethanol của lá cây núc nác.[14]

Trang 27

2.3.3 Một số hợp chất của các nghiên cứu từ cây Oroxylum indicum

Các hợp chất đã được chiết tách từ loài Oroxylum indicum (L.) Vent.được trình bày ở bảng 2.2

Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent

(M amu)

Nhiệt độ nóng chảy ◦C Flavonoid

286

3

Biochanin A

C16H12O5 (M = 290 amu)

211,5

Trang 28

4

8,8-bisBaicalein

C30H18O10 (M = 538

197

6

Pinocembrin

C15H12O4 (M = 256 amu)

203

7

Pinobanksin

C15H12O5 (M = 272 amu)

-

Trang 29

-

Trang 30

14

Hispidulin

C16H12O6

(M = 300 amu)

-

15

O O

292

17

-Sitosterol

C29H50O (M = 414 amu)

142

Trang 31

18

Lupeol

C30H50O (M = 426 amu)

-

20

Friedeli

C30H50O (M = 426 amu)

281

Trang 32

Glycoside

22

Oroxyloside methy ester

C23H27O10 (M = 463 amu)

-

Trang 33

-

27

Baicalein-7-O-diglucoside

C21H20O15 (M = 416 amu)

-

Trang 34

>=350

Trang 35

34

Methylsulfonylmethane

C2H6O2S (M = 94

35

Mellin 8-hydroxy-3-methylisochroman-1-one

C10H9O3

(M = 177 amu)

-

36

Protocatechuic acid 3,4-dihydroxybenzoic acid

C7H6O4

(M = 155 amu)

-

38

C7H6O3

(M = 138.03 amu)

-

39

O O

anthraquinone

C14H8O2

(M = 208.21 amu)

-

40

O

O O

Methyl oroxylopterocarpan

C19H18O3

(M = 294 amu)

230-231

Trang 36

2.4 Hợp chất flavonoid

Qua các nghiên cứu trước được trình bày ở trên cho thấy Trong vỏ thân

cây Oroxylum indicum (Vent.) hợp chất chiếm vị trí chủ đạo là flavonoid

2.4.1 Favonoid

Flavonoid là nhóm hợp chất màu thực vật, tạo nên màu cho rất nhiều rau,

quả, hoa…Phần lớn các flavonid có màu vàng (do từ flavus là màu vàng) ; Tuy

vậy, một số sắc tố có màu xanh, tím, đỏ, không màu cũng được xếp vào nhóm

này vì về mặt hóa học, chúng có cùng khung sườn cơ bản

Flavonoid có cấu trúc cơ bản là 1,3-diphenylpropane, nghĩa là 2 vòng

benzene A và B nối nhau qua một dây có 3 carbon, nên thường được gọi là C6

-C3-C6.[9]

Hình 2.3 Khung cơ bản của nhóm hợp chất flavonoid

2.4.2 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid

Hầu hết các flavonoid đều có chứa một dị vòng 6 cạnh, được hình thành

từ sự tác kích thân hạch kiểu Michael của một nhóm phenol vào ketone bất bão

hòa tạo ra flavanone Flavanone có thể cho ra nhiều dẫn xuất khác dựa trên

khung cơ bản này, ví dụ: flavone, flavonol, anthocyanidin và catechin.[4]

Trang 37

Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid

R’ = H, R’’ = H : galagin R’ = H, R’’ = OH : kaempferol

3 x

R = H, R’= H: cinnamol CoA

R = H, R’= OH: p-hydroxycinnamoyl CoA

R = OH, R’= OH: 3,4-hydroxycinnamoyl CoA

Trang 38

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương tiện nghiên cứu

3.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Đề tài luận văn “Phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây

Núc nác (Oroxylum indicum L Vent) thuộc họ Chùm ớt (họ Bignoniaceae)”

được thực hiện tại Phòng thí nghiệm hóa hữu cơ 1 – Khoa Khoa học Tự nhiên, khu II, trường Đại Học Cần Thơ

Thời gian: từ tháng 01/2015 đến tháng 05/2015

3.1.2 Dụng cụ

Tủ sấy: dùng để sấy nguyên liệu và dụng cụ thủy tinh

Máy cô quay: dùng để đuổi dung môi ra khỏi dung dịch mẫu và thu hồi dung môi

Na2SO4 dùng để làm khan dung môi

Sulfuric acid, vanillin dùng để pha thuốc thử hiện hình

Trang 39

thao tác với một lượng lớn mẫu cây Ngâm bột cây trong một bình chứa bằng thủy tinh hoặc bằng thép không rỉ, bình có nắp đậy

Phương pháp chiết lỏng – lỏng với các dung môi có độ phân cực tăng dần

để điều chế các cao phân đoạn Sử dụng bình lóng để lắc chiết

3.2.2 Phân lập hợp chất hữu cơ

Để phân lập hợp chất hữu cơ tinh khiết từ cao thì sử dụng phương pháp chủ yếu là sắc ký nhanh cột khô, sắc ký cột hở và dùng sắc ký bản mỏng để theo dõi quá trình tách của cột Ngoài ra, sắc ký bản mỏng còn giúp dự đoán hợp chất tách đã tinh khiết chưa

3.2.3 Khảo sát cấu trúc hóa học của hợp chất cô lập được

Các chất tinh khiết phân lập ra sẽ được xác định những hằng số lý hoá đặc trưng như: màu sắc, Rf, nhiệt độ nóng chảy, tan tốt trong những dung môi nào… Phổ 1D-NMR (1H-NMR, 13C-NMR), 2D-NMR (HSQC, HMBC), MS được đo tại Viện Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam số

18 Hoàng Quốc Việt, Cầu giấy, Hà Nội

3.2.4 Hoạt tính kháng oxi hóa

Ngày càng có nhiều sự quan tâm đến những chất chống oxi hóa, mà nó liên quan đến sự ngăn chặn những ảnh hưởng xấu được cho là các gốc tự do gây

ra trong cơ thể con người, để ngăn chặn thực phẩm và chất béo khỏi hỏng Điều

đó phù hợp với những chất kháng oxi hóa có nguồn gốc tự nhiên hơn là từ nguồn tổng hợp

Vì vậy, nhiều phương pháp để dự đoán hiệu lực của những hợp chất được cho là có tính kháng oxi hóa cũng được phát triển theo Trong đó phải kể đến phương pháp gốc tự do DPPH được sử dụng phổ biến do dễ thực hiện, cho kết quả nhanh [11]

3.2.4.1 Nguyên tắc

Phân tử 1,1-diphenyl-2-picryl-hydrazyl (α,α-diphenyl-β-picrylhydrazyl: DPPH), là một trong số ít gốc nitro hữu cơ tự do ổn định DPPH mang màu tím đậm (có cực đại hấp thu ở bước sóng 517 nm) có thể hòa tan trong dung dịch nước hoặc methanol, kém bền dưới ánh sáng và nhiệt độ (nên được bảo quản trong tối và ở nhiệt độ thấp)

Trong thử nghiệm DPPH, các chất kháng oxi hóa khử gốc tự do DPPH thành diphenyl-picrylhydrazine có màu vàng Đây là phương pháp dựa trên cơ

sở DPPH bị khử trong dung dịch khi có sự hiện diện của chất kháng oxi hóa (có

Trang 40

khả năng cho hydro) để hình thành dạng diphenyl-picrylhydrazine (DPPH-H)

trong phản ứng.[12]

Để đánh giá khả năng loại bỏ gốc tự do DPPH của chất kháng oxi hóa ta

đo độ hấp thu của dung dịch sau phản ứng (ủ 30 phút, ở 37°C) ở bước sóng

517 nm bằng máy quang phổ UV-Vis

Khả năng kháng oxy hóa thường biểu diễn thông qua phần trăm loại bỏ

A (%) Phần trăm loại bỏ A (%) được tính theo biểu thức sau:

A% = ODc− (ODs− ODb)

Trong đó:

A%: phần trăm loại bỏ gốc tự do DPPH

ODc: Độ hấp thu quang của hỗn hợp không có mẫu thử

ODm: Độ hấp thu quang của hỗn hợp có mẫu thử

ODb: Độ hấp thu quang của mẫu thử

Ngày đăng: 22/12/2015, 12:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Lá và thân Núc nác - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Hình 2.1 Lá và thân Núc nác (Trang 18)
Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.) Vent.[1] - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 2.1 Những hoạt tính đã được nghiên cứu của Oroxylum indicum (L.) Vent.[1] (Trang 21)
Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 2.2 Thành phần hóa học đã công bố của loài Oroxylum indicum (L.) Vent (Trang 27)
Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Hình 2.4 Quy trình sinh tổng hợp flavonoid (Trang 37)
Bảng 3.1 Dãy nồng độ của Vitamin C - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 3.1 Dãy nồng độ của Vitamin C (Trang 41)
Hình 3.2 Tóm tắt thí nghiệm kháng oxi hóa bằng DPPH - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Hình 3.2 Tóm tắt thí nghiệm kháng oxi hóa bằng DPPH (Trang 43)
Hình 3.4 Tóm tắt quy trình điều chế cao - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Hình 3.4 Tóm tắt quy trình điều chế cao (Trang 45)
Bảng 3.6 Kết quả SKC nhanh cao dichloromethane - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 3.6 Kết quả SKC nhanh cao dichloromethane (Trang 47)
Bảng 3.10 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ  DPPH của  Vitamin C - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 3.10 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của Vitamin C (Trang 51)
Hỡnh 3.9 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cỏc cao ở cựng nồng độ 50 àg/mL - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
nh 3.9 Đồ thị thể hiện % loại bỏ DPPH của cỏc cao ở cựng nồng độ 50 àg/mL (Trang 52)
Bảng 3.12 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ  DPPH của cao  dichloromethane - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 3.12 Nồng độ mẫu thử, giá trị mật độ quang và phần trăm loại bỏ DPPH của cao dichloromethane (Trang 53)
Bảng 4.2 So sánh phổ ORI.T1 với methyl 3,4-dihydroxybenzoate [15] - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 4.2 So sánh phổ ORI.T1 với methyl 3,4-dihydroxybenzoate [15] (Trang 58)
Bảng 4.5 So sánh phổ ORI.T2 với Rengyolone. - phân lập chất từ cao dichloromethane của vỏ thân cây núc nác (oroxylum indicum (l ) vent ), họ chùm ớt (họ bignoniaceae)
Bảng 4.5 So sánh phổ ORI.T2 với Rengyolone (Trang 62)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w