Nó được cho thấy bởi sự xuất hiện nhiều hãng ô tô nổi tiếng được lắp ráp tại Việt Nam như TOYOTA, FORD, MITSUBISHI,… Do đó vấn đề đặt ra ở đây cho một người kỹ sư là phải nắm rõ được kết
Trang 1Nguyễn Quan Thanh
Ộ MÔN KỸ THUẬT CƠ KHÍ
ẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG TRUY
0497) Khóa : 37
Trang 2BỘ MÔN KỸ THUẬT CƠ KHÍ -
CầnThơ, ngày 25 tháng 01 năm 2015
PHIẾU ĐỀ NGHỊ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CHO SINH VIÊN
NĂM HỌC: 2014 – 2015
1 Họ và tên cán bộ hướng dẫn: Nguyễn Quan Thanh
2 Tên đề tài: Nghiên cứu hệ thống truyền lực trên các dòng xe ô tô của Mitsubishi
3 Địa điểm thực hiện: Công ty Cổ phần Cơ khí ô tô Cần Thơ
4 Số lượng sinh viên thực hiện: 01
5 Thời gian thực hiện: từ ngày 12/01 đến 08/05/2015
6 Sinh viên thực hiện: Đặng Quang Trạng MSSV: 1110497
7 Mục tiêu đề tài: nghiên cứu hệ thống truyền lực trên các dòng xe ô tô của Mitsubishi
8 Các nội dung chính và giới hạn của đề tài:
a Giới thiệu về hãng Mitsubishi
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập và rèn luyện đạo đức và tác phong tại trường Đại
học Cần Thơ, em có dịp tiếp cận thực tế và kết hợp những kiến thức đã học trên
ghế nhà trường với những kinh nghiệm thực tiễn tại bộ môn mà luận văn tốt
nghiệp của em đến nay đã được hoàn thành Tất cả là nhờ vào công ơn quý báo
của thầy cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là quý thầy cô Khoa Công Nghệ đã
tận tình truyền đạt những kiến thức vô cùng quý giá cho em trong suốt thời gian
qua Đây sẽ là hành trang tri thức vô cùng quý báu giúp em vững bước trong
cuộc sống và tự tin hơn trong công việc
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, em đã nhận được sự
hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng
kính trọng và biết ơn sâu sắc em xin được bày tỏ lời cám ơn chân thành tới:
Bộ môn Kỹ Thuật Cơ Khí đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn
Thầy Nguyễn Quan Thanh, người thầy kính mến đã hết lòng giúp đỡ, dạy
bảo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Anh Nguyễn Đình Cẩn, cố vấn dịch vụ công ty Cơ Khí Ô tô Cần Thơ, anh
là một người thầy đáng kính trong công việc cũng như trong cuộc sống Anh đã
động viên giúp đỡ và chỉ bảo rất nhiều để em có thể hoàn thành luận văn này
Ban lãnh đạo công ty và các Kĩ Thuật Viên đã hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều
kiện thuận lợi trong quá trình làm việc học tập và thu thập số liệu tại công ty để có
thể hoàn thành được luận văn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Đặng Quang Trạng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy Nguyễn Quan Thanh và xuất phát từ yêu cầu phát sinh trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu Các số liệu
có nguồn gốc rõ rãng tuân thủ đúng nguyên tắc và kết quả trình bày trong luận văn được thu thập trong quá trình nghiên cứu là trung thực và chưa từng được ai công bố trước đây
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Trang 5TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Ô tô là một trong những phương tiện vận tải và du lịch quan trọng trong
nền kinh tế quốc dân Trên đất nước ta hiện nay đang sử dụng nhiều loại ô tô con
đời mới trong đó phải kể đến các dòng xe Mitsubishi Nó rất phù hợp với địa
hình và điều kiện kinh tế nước ta trong sự phát triển của xã hội và nền kinh tế
đang từng bước phát triển Các dòng xe của Mitsubishi sử dụng động cơ công
suất lớn, các hệ thống có kết cấu hiện đại đảm bảo độ tin cậy và độ an toàn cao
Do vậy, yêu cầu phải sử dụng đúng kỹ thuật, phải có hiểu biết sâu về kết cấu,
tính năng kỹ thuật của xe trong các điều kiện khác nhau, nhằm khai thác hết tính
năng của xe Sẵn sàng tình trạng kỹ thuật cho xe là yếu tố quan trọng nhằm đảm
bảo việc khai thác, sử dụng xe an toàn, hiệu quả Vì vậy, vấn đề đặt ra là mỗi cán
bộ, nhân viên kỹ thuật phải có trình độ chuyên môn vững vàng, đáp ứng được
yêu cầu trong khai thác và sử dụng xe Để đáp ứng nhu cầu trên, em được giao đề
tài “Nghiên cứu hệ thống truyền lực trên các dòng xe Mitsubishi ” Trong đề tài
này em sẽ giải quyết những nội dung sau:
- Chương 1: Giới thiệu về hãng Mitsubishi
- Chương 2: Tổng quát về hệ thống truyền lực trên các dòng xe Mitsubishi
- Chương 3: Các loại hệ thống truyền lực trên các dòng xe Mitsubishi
- Chương 4: Những hư hỏng thường gặp và cách khắc phục
Qua đề tài này sẽ giúp cho em hiểu biết sâu xa hơn về hệ thống truyền lực
để có thêm kiến thức cho công việc sau này, giải quyết những khó khăn trong
qua trình học và có cơ hội tiếp xúc thực tế
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU VỀ HÃNG MITSUBISHI 1
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 1
1.2 Các dòng xe của Mitsubishi ở Việt Nam 5
1.2.1 Xe Mitsubishi Pajero 5
1.2.2 Xe Mitsubishi Grandis 7
1.2.3 Xe Mitsubishi Triton 8
1.2.4 Xe Mitsubishi Zinger 9
1.2.5 Xe Mitsubishi Pajero Sport 11
1.2.6 Xe Mitsubishi Mirage 12
1.2.7 Xe Mitsubishi Jolie 13
CHƯƠNG 2 15
TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC 15
TRÊN CÁC DÒNG XE MITSUBISHI 15
2.1 Công dụng và phân loại 15
2.1.1 Công dụng 15
2.1.2 Phân loại 15
2.2 Cấu tạo chung của hệ thống truyền lực 15
2.2.1 Ly hợp 16
2.2.2 Hộp số 24
2.2.3 Cầu trước chủ động 31
2.2.4 Cầu sau chủ động 33
2.2.5 Các đăng 35
CHƯƠNG 3 37
CÁC LOẠI HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC 37
Trang 73.1 Ly hợp 38
3.2 Hộp số sàn 45
3.3 Cầu chủ động 51
3.4 Hộp số tự động 54
3.4.1 Số tự động vô cấp ( Xe Mirage) 54
3.4.2 Hộp số tự động có cấp 59
3.5 Khớp Các đăng 89
CHƯƠNG 4 91
NHỮNG HƯ HỎNG THƯỜNG GẶP 91
VÀ CÁCH KHẮC PHỤC 91
4.1 Ly hợp 91
4.2 Hộp số sàn 96
4.3 Cầu chủ động 99
4.4 Hộp số tự động 100
4.5 Khớp các đăng 101
CHƯƠNG 5 102
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 102
5.1 Kết luận 102
5.2 Kiến nghị 102
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Logo Mitsubishi 2
Hình 1.2 Ông Yataro Iwasaki 2
Hình 1.3 Chiếc model-A 3
Hình 1.4 Nội thất xe Pajero 7
Hình 1.5 Xe Pajero 7
Hình 1.6 Xe Grandis 8
Hình 1.7 Triton 9
Hình 1.8 Xe Zinger 10
Hình 1.9 Nội thất xe Zinger 11
Hình 1.10 Nội thất xe Pajero Sport 12
Hình 1.11 Xe Pajero Sport 12
Hình 1.12 Xe Mirage 13
Hình 1.13 Xe Jolie 14
Hình 2.1 Sơ đồ bố trí chung trên xe ô tô cầu sau chủ động 16
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí chung trên ô tô cầu trước chủ động 16
Hình 2.3 Cấu tạo chung bộ ly hợp 19
Hình 2.4 Sơ đồ chung của hệ thống truyền lực 20
Hình 2.5 Ly hợp đang đóng 21
Hình 2.6 Sơ đồ ngắt ly hợp 22
Hình 2.7 Sơ đồ đĩa ly hợp (xương đĩa) 23
Hình 2.8 Nắp đậy ly hợp 23
Hình 2.9 Sơ đồ dẫn động ở hộp số sàn thông thường 25
Hình 2.10 Sơ đồ dẫn động hộp số sàn sau 26
Hình 2.11 Sơ đồ cấu tạo hộp số sàn 26
Hình 2.12 Sơ đồ cấu tạo cơ bản của hộp số sàn 27
Hình 2.13 Sơ đồ cơ cấu đồng tốc 28
Hình 2.14 Biến mô 29
Hình 2.15 Ly hợp và phanh 30
Hình 2.16 Ly hợp một chiều 30
Hình 2.17 Cầu trước chủ động và bộ vi sai 33
Hình 2.18 Cấu tạo cầu sau chủ động 34
Hình 2.19 Cấu tạo bộ vi sai 35
Hình 2.20 Khớp các đăng 36
Trang 9Hình 3.2 Đĩa ma sát 41
Hình 3.3 Cơ cấu điều khiển ly hợp bằng cáp 44
Hình 3.4 Thiết bị điều chỉnh cáp tự động 45
Hình 3.5 Sơ đồ cấu tạo hộp số 46
Hình 3.6 Sơ đồ động học của hộp số 47
Hình 3.7 Vỏ hộp số 48
Hình 3.8 Trục chủ động 48
Hình 3.8 Trục bị động 49
Hình 3.9 Cấu tạo chi tiết của bộ đồng tốc 50
Hình 3.10 Cáp dẫn động điều khiển hộp số 51
Hình 3.11 Cấu tạo truyền lực chính 52
Hình 3.12 Hộp vi sai 53
Hình 3.13 Mặt cắt của hộp số vô cấp 56
Hình 3.14 Sơ đồ cấu tạo chung của hộp số vô cấp 56
Hình 3.14 Cấu tạo Puli va dây đai 57
Hình 3.15 Cơ cấu điều khiển hộp số vô cấp 58
Hình 3.16 Bộ biến mô 61
Hình 3.17 Nguyên lí hoạt động của bánh bơm 62
Hình 3.18 Nguyên lí hoạt động của bánh tuabin 63
Hình 3.18 Nguyên lí hoạt động của stato 63
Hình 3.19 Nguyên lý hoạt động của bộ biến mô 64
Hình 3.20 Nguyên lí khuếch đại mô men bộ biến mô 65
Hình 3.21 Nguyên lí hoạt động của khớp một chiều 66
Hình 3.22 Nguyên lý hoạt động củabộ biến mô khi ở các cấp số D, 2 ,L,R 66
Hình 3.22 Nguyên lý hoạt động củabộ biến mô khi xe dừng 67
Hình 3.23:Nguyên lý hoạt động củabộ biến mô khi xe chuyển động 68
Hình 3.24 Nguyên lý hoạt động của bộ biến mô khi xe chạy với tốc độ thấp 68
Hình 3.25 Nguyên lý hoạt động củabộ biến mô khi xe chuyển động ở tốc độ trung bình hoặc tốc độ cao 69
Hình 3.26 Nguyên lý hoạt động của khóa biến mô 70
Hình 3.27 Nguyên lý hoạt động của khóa biến mô khi vận hành 70
Hình 3.28 Nguyên lý hoạt động của khóa biến mô khi nhả khớp 71
Hình 3.29 Cấu tạo của bộ truyền bánh răng hành tinh 72
Hình 3.30 Nguyên lý hoạt động của 72
bộ truyền bánh răng hành tinh khi tăng tốc 72
Hình 3.31 Nguyên lý hoạt động của 73
bộ truyền bánh răng hành tinh khi tăng tốc 73
Hình 3.32 Nguyên lý hoạt động của 73
Trang 10bộ truyền bánh răng hành tinh khi dẫn động trực tiếp 73
Hình 3.33 Khi Xe Lùi 74
Hình 3.34 Kết cấu phanh B1 và B2 75
Hình 3.35 Kết cấu ly hợp C1(UD) 76
Hình 3.36 Kết cấu bộ ly hợp C3 (OD)trên hộp số 77
Hình 3.37 Kết cấu bộ ly hợp C2 trên hộp số 78
Hình 3.38 Khớp một chiều 78
Hình 3.39 Sơ đồ các phanh và ly hợp được bố trí trên hộp số 79
Hình 3.40 Sơ đồ mô tả chung điều khiển hộp số 80
Hình 3.41Sơ đồ khối phần điều khiển điện tử 81
Hình 3.42 Sơ đồ mạch điện của bộ cảm biến đóng mạch điện hệ thống 82
Hình 3.43 Cấu tạo của van điều khiển điện từ 83
Hình 3.44 Sơ đồ và sự phối hợp giữa các đường dầu điều khiển của van MV 85
Hình 3.45 Kết cấu van điều tiết áp suất của hộp số 86
Hình 3.46 Kết cấu van chuyển số A (a) và B (b) của hộp số 87
Hình 3.47 Vị trí bộ tích năng trên mạch thủy lực hộp số 88
Hình 3.48 Sơ đồ bơm bánh răng lệch tâm của hộp số 89
Hình 3.49 Khớp các đăng 90
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tóm tắt những hư hỏng, nguyên nhân và cách khắc phục của ly hợp 94
Bảng 4.2 Bảng tóm tắt những hư hỏng, nguyên nhân và cách khắc phục của hộp số 97
Bảng 4.3 Bảng tóm tắt những hư hỏng, nguyên nhân và cách khắc phục 99
Bảng 4.4 Bảng tóm tắt những hư hỏng, nguyên nhân và cách khắc phục 100
Bảng 4.5 Bảng tóm tắt những hư hỏng, nguyên nhân và cách khắc phục 101
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, các phương tiện giao thông vận tải là một phần không thể thiếu trong cuộc sống con người Xã hội đã có nhiều thay đổi kể từ lúc nó được hình thành, và càng ngày xã hội lại càng hoàn thiện hơn và tốt đẹp hơn Trong nền công nghiệp ô tô cũng vậy kể từ lúc chiếc ô tô đầu tiên ra đời đến nay nó đã có nhiều thay đổi và tất nhiên là thay đổi có kế thừa và phát triển
Nước ta đang trên đà phát triển, đặc biệt là nghành công nghiệp, trong đó
có nghành công nghiệp ô tô cũng rất được chú trọng và phát triển Nó được cho thấy bởi sự xuất hiện nhiều hãng ô tô nổi tiếng được lắp ráp tại Việt Nam như TOYOTA, FORD, MITSUBISHI,… Do đó vấn đề đặt ra ở đây cho một người kỹ
sư là phải nắm rõ được kết cấu của các cụm, hệ thống trên các loại xe để từ đó khai thác và sử dụng xe một cách có hiệu quả cao nhất về công dụng, an toàn, kinh tế trong điều kiện ở Việt Nam
Một trong những hệ thống quan trọng của ô tô là hệ thống truyền lực Hệ thống này có chức năng truyền và phân phối momen quay và công suất từ động
cơ đến các bánh xe chủ động, làm thay đổi momen và chiều quay của bánh xe theo yêu cầu Vì những chức năng quan trọng của nó mà người ta không ngừng cải tiến hệ thống này để nâng cao tính năng của nó
Vì vậy, trong quá trình học tập về chuyên nghành cơ khí giao thông tại
trường Đại học Cần Thơ em được giao nhiệm vụ đề tài “Nghiên cứu hệ thống
truyền lực trên các dòng xe ô tô của Mitsubishi”
Trang 13CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU VỀ HÃNG MITSUBISHI
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Mitsubishi Motors là hãng sản xuất ôtô lớn thứ 6 của Nhật Bản và xếp thứ
17 trong số các hãng xe có doanh số toàn cầu cao nhất Mitsubishi thuộc hệ thống
tập đoàn Mitsubishi, một tập đoàn công nghiệp lớn nhất Nhật Bản Mitsubishi Motor được thành lập năm 1970 từ công ty con chuyên sản xuất ôtô của Công ty công nghiệp nặng Mitsibishi Từ khi ra đời, Mitsubishi Motor đã hợp tác với nhiều đối tác nước ngoài và là hãng đi tiên phong trong chiến lược mở rộng thị trường khi chủ tịch đầu tiên của công ty, Tomio Kubo còn đương chức Đến nay hãng vẫn tiếp bước thành công của Chủ tịch Tomio Kubo Năm 1971, Mitsubishi
đã bán bớt cổ phần cho công ty Chrysler trong 22 năm và DaimlerChrysler trở thành cổ đông điều hành từ năm 2000 đến 2005 Trong khi liên doanh sản xuất
và thoả thuận cấp phép công nghệ với công ty ôtô Hyundai (Hàn Quốc) và Proton (Malaysia) thì ở Châu Âu, Mitsubishi cùng với Volvo đồng sở hữu xưởng sản xuất ôtô lớn nhất Hà Lan trong 10 năm của thập niên 90 Đến năm 2001, Mitsubishi hoàn toàn là chủ sở hữu xưởng sản xuất này Nhờ vào các hợp đồng liên minh mà Mitsubishi đã thu được mức lợi nhuận lớn trong thập niên 70 và 80, tăng doanh số bán hàng năm từ 250.000 lên 1,5 triệu xe Tuy nhiên việc đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Đông Nam Á khiến Mitsubishi phải vật lộn với nhiều khó khăn hơn các đối thủ do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 và công ty đã rất vất vả để tăng doanh số bán và duy trì lợi nhuận Hình ảnh Logo với 3 viên kim cương đỏ hướng về 3 phía được thiết kế bởi Yataro Iwasaki, người sáng lập Mitsubishi Biểu tượng này được lấy ý tưởng từ gia huy của gia tộc Tosa, gia tộc đầu tiên đã thuê Yataro Iwasaki làm việc và nóc nhà được thiết kế với 3 hình thoi chụm đầu vào nhau thành một khối của gia đình ông
Trang 14Trong suốt hai thậ
Mitsubishi ghi dấu sự không ng
hơi, khởi đầu là chiếc xe du l
bước ngoặt lớn trong lịch s
Hình 1.2 Ông Yataro Iwasaki
ốt hai thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX, lịch sử củ
ấ ự không ngừng nỗ lực sáng tạo trong thiết kế v
ếc xe du lịch Model-A Chính mẫu xe này đã đánh
n trong lịch sử phát triển của Mitsubishi – được chính thành viên tiềm năng của ngành công nghiệp xe hơi th
m 1918, Mitsubishi thành công trong việc chế tạo chiếc xe tải đầu ti
ếc xe đã xuất sắc vượt qua cuộc thử nghiệm độ ổn đị
ị ử của tập đoàn
ế ế và chế tạo xe đánh dấu một
ợc chính thức công
ơi thế giới Đến
ả đầu tiên - chiếc
ệ độ ổn định và tin
Trang 15Hình 1.3 Chiếc model-A
Năm 1931, nền công nghiệp Nhật Bản chứng kiến một cuộc “tiểu cách mạng” trong ngành cơ khí khi động cơ diesel lần đầu tiên được phát triển và ứng dụng trong các phương tiện đi lại – đó chính là động cơ 450AD phun nhiên liệu trực tiếp Chỉ một năm sau đó, Mitsubishi tiếp tục xuất xưởng chiếc xe buýt đầu tiên – chiếc B46 – to nhất và có công suất lớn nhất thời bấy giờ Thập niên 30 được coi là thời đại vàng của Mitsubishi khi hãng lần lượt giới thiệu những ý tưởng và sản phẩm “đầu tiên” không chỉ đối với chính hãng mà còn đối với ngành công nghiệp xe hơi Nhật Bản
Năm 1946, dưới ảnh hưởng của quân Đồng minh, hầu hết các tập đoàn công nghiệp của Nhật Bản đều bị giải thể, trong đó có cả Mitsubishi Heavy Industries – công ty mẹ của bộ phận sản xuất xe hơi Mitsubishi Việc Mitsubishi Heavy Industries bị tách thành 3 công ty nhỏ có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động chế tạo xe hơi Chính trong năm này, Mizushima ra đời Đây là một chiếc
xe hơi 3 bánh nhỏ, gọn, rất phù hợp cho việc đi lại gần, lại hết sức tiết kiệm nhiên liệu Chỉ vài tháng sau đó, Silver Pigeon được chế tạo dựa trên nguyên tắc thiết thực và tiết kiệm nhiên liệu, cũng xuất xưởng Có thể nói, chính chiếc xe này đã tạo nên cơn sốt phương tiện đi lại cá nhân tại Nhật Bản
Thời gian này, với những hậu quả do chiến tranh để lại, nhu cầu về xe thương mại ở Nhật tăng cao, nhưng nhiên liệu vẫn là một bài toán nan giải Chiếc
xe buýt B1 của Mitsubishi thực sự là nền tảng lý tưởng cho xe cứu hỏa và các xe chuyên dụng khác Năm 1947, Mitsubishi tiếp tục trình làng chiếc xe buýt động
cơ điện MB46 và chiếc R1 – xe buýt có động cơ đặt sau đầu tiên của Nhật Bản
Từ những chiếc xe gia đình
Đầu thập niên 1960, nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, đời sống của người dân được cải thiện dần và việc sở hữu phương tiện cá nhân cũng trở thành một nhu cầu tất yếu Ước mơ được sở hữu một chiếc xe cho cả gia đình đã trở thành hiện thực với Mitsubishi 500 - mẫu xe không chỉ khẳng định vị trí của
Trang 16Mitsubishi trong lòng người tiêu dùng trong nước mà còn được nồng nhiệt chào đón tại Macau Grand Prix
Năm 1962, Mitsubishi giới thiệu Minica - chiếc compact 4 chỗ siêu nhỏ động cơ xăng 2 kỳ, 359cc không chỉ giúp người tiêu dùng tiết kiệm được một khoảng thuế kha khá mà còn rất tiết kiệm nhiên liệu và hoạt động hết sức bền bỉ Năm 1969, chiếc Colt Galant với thiết kế khí động học và động cơ Saturn SOHC giúp Mitsubishi một lần nữa được ngẩng cao đầu với hàng loạt những giải thưởng do người tiêu dùng bình chọn Bên cạnh nhưng thành công này, Mitsubishi cũng không quên nghiên cứu chế tạo xe thương mại, điển hình là chiếc xe buýt Rosa hay xe tải Canter
Đến cuối thập niên 1960, hoạt động bộ phận nghiên cứu và chế tạo xe hơi
đã đạt đến đỉnh cao và đây là lý do khiến cho các nhà lãnh đạo của Mitsubishi Heavy Industries không thể chần chừ trong việc tách bộ phận này thành một công
ty độc lập Năm 1970, Mitsubishi Motors Corporation (MMC) ra đời
Một trong những trọng tâm của MMC đó là phát triển hơn nữa cơ sở vật chất tại Nhật Bản, tiến hành các hoạt động từ nghiên cứu và phát triển, sản xuất
và phân phối cho đến dịch vụ hậu mãi Tuy nhiên, chính tại xứ sở Kangaroo MMC đã khẳng định sự vượt trội và tin cậy trong các sản phẩm của mình khi chiếc Galant 16GLS giành chiến thắng tại giải đua đường trường Southern Cross Rally Tiếp đó Lancer 1600GSR liên tiếp chiến thắng tại Southern Cross Rally và East Africa Safari Rally (1974 và 1976)
Kết thúc thập niên 70 là hai giải thưởng dành cho chiếc Colt 1400 GLX -
”Xe của Năm” (do tạp chí Japan's Motor Fan magazine bình chọn) và chiếc L200
- "Xe bán tải của Năm" (do tạo chí Pickup, Van & 4WD magazinetrao tặng) Không còn nghi ngờ gì nữa, việc sản phẩm của MMC được tín nhiệm và ưa chuộng trên toàn thế giới chỉ còn là vấn đề thời gian Thông qua việc tài trợ xe cho các sự kiện thế giới như Olympics 1984 tại Sarajevo và Universiade Games
1987 tại Zagreb, Mitsubishi đã quảng bá sản phẩm của mình đến với hàng triệu khán giả trên toàn thế giới
đến bá chủ đường đua Dakar
Năm 1985, với chiến thắng tại Dakar - một trong những đường đua khốc liệt nhất trên thế giới, chiếc Pajero nhanh chóng trở thành chiếc xe được ưa chuộng nhất trên thế giới Một năm sau đó, tạp chí “What car?” đã phong Pajero
là “Chiếc 4 x 4 của năm” Đến năm 1989, MMC đã phát triển được một mạng lưới nhà máy chế tạo và lắp ráp xe hơi tại nhiều quốc gia trên toàn thế giới, trong
đó phải kể đến nhà máy của Diamond Star Motors Corporation - liên doanh giữa MMC và Chrysler
Hirokazu Nakamura trở thành chủ tịch MMC năm 1989 và điều hành công
ty theo một chiến lược hoàn toàn mới Chiếc xe Pajero trở nên phổ biến ở khắp mọi nơi, kể cả ở những con phố chật chội nhất Tokyo Vào thời điểm này mặc dù doanh số bán ra của dòng SUV và xe tải không ngừng tăng trưởng tại thị trường
Trang 17nước Trái với xu hướng này, Nakamura vẫn đầu tư một khoản khá lớn vào việc phát triển dòng SUV Các nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản đã chê cười Nakamura, cho rằng ông đã đánh một canh bạc mạo hiểm Thế nhưng, canh bạc này Nakamura đã là người chiến thắng Hàng loạt những chiếc xe dẫn động 4 bánh như Pajero, Delica Space Gear đã làm dấy lên một làn sóng của dòng xe SUV tại Nhật Bản vào giữa thập kỷ 90
Năm 1991, Chrysler bán dần cổ phần của mình trong Mitsubishi, chỉ giữ lại khoảng 3% Kể từ đó, Mitsubishi trở thành một nhà sản xuất xe hơi tương đối độc lập và giao dịch giữa Mitsubishi với Chrysler chỉ còn trên phương diện giấy
tờ Đến năm 1993 thì toàn bộ cổ phần Mitsubishi còn lại của Chrysler đã được bán ra thị trường mở, nhưng Chrysler vẫn cung cấp một số động cơ và hệ thống treo cho Mitsubishi Hoa Kỳ Đổi ngược lại, Mitsubishi cũng tham gia quảng bá sản phẩm của Chrysler
Cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á diễn ra năm 1997 gần như đánh quỵ MMC khi doanh số của tập đoàn liên tục suy giảm ở hầu hết các thị trường Phải mất nhiều năm MMC mới khôi phục lại vị thế của mình trên các thị trường Dự kiến trong năm 2007 này, MMC sẽ đạt doanh số hơn 1,5 triệu chiếc trên toàn cầu Tại Việt Nam, Mitsubishi được biết đến với những chiếc xe SUV như Pajero, Jolie hay chiếc van Grandis sang trọng
1.2 Các dòng xe của Mitsubishi ở Việt Nam
Mitsubishi có rất nhiều dòng xe đa dạng trên nhiều nước khác nhau, ở Việt Nam
có những dòng xe Mitsubishi như là: Grandis, Pajero, Pajero Sport, Triton, Jolie, Mirage, Zinger
Đặc điểm của các dòng xe:
1.2.1 Xe Mitsubishi Pajero
Pajero được biết đến là mẫu xe SUV 7 chỗ "nồi đồng cối đá" nhất của hãng xe Mitsubishi tại Việt Nam với động cơ khỏe, tiết kiệm nhiên liệu và cảm giác lái tốt, an toàn
Mitsubishi Pajero được sản xuất lần đầu tiên vào 1982, nó có tên gọi khác
là Montero (ý nghĩa từ cụm từ "Mountain Hunter") tại một số thị trường như Ấn
Độ, Brazil Phiên bản đầu tiên của dòng xe này được giới thiệu tại triển lãm Tokyo Motor Show 1981 và chính thức bán ra thị trường 1 năm sau đó Pajero có
Trang 183 tùy chọn động cơ xăng (I4 và V6), và 3 tùy chọn động cơ diesel I4 hoặc TD I4 tăng áp, trang bị hộp số sàn 5-cấp hoặc số tự động 4-cấp cung cấp bởi hãng Aisin, Nhật Bản
Thế hệ Pajero thứ 4 được giới thiệu tại triển lãm Paris Motor Show 2006, điểm nổi bật là hệ dẫn động Super-Select 4WD II thế hệ mới và hệ thống cân bằng-kiểm soát ASTC (Active Stability & Traction Control) cùng khả năng hỗ trợ phanh lực điện tử Pajero mới sử dụng động cơ diesel Common Rail dung tích 3.2L, sản sinh công suất cực đại 167 mã lực và bản động cơ xăng V6 3.8L, công suất 247 mã lực Pajero được Mitsubishi giới thiệu tại thị trường Việt Nam từ năm 2010, Mitsubishi cũng giới thiệu bản nâng cấp Pajero 2015 với thay đổi ngoại thất ở lưới tản nhiệt mạ crome, đèn pha HID mới với hệ thống rửa đèn, dải đèn LED ban ngày, đèn chiếu sáng phía dưới kính chiếu hậu, mâm đúc thể thao 17-inch 7 chấu Mitsubishi Pajero 2015 được nhập khẩu từ Nhật với 2 màu đen
và trắng
Trang 19Hình 1.4 Nội thất xe Pajero
Hình 1.5 Dòng xe Pajero
1.2.2 Xe Mitsubishi Grandis
Mitsubishi Grandis là mẫu xe đa dụng cỡ nhỏ (MPV) 7 chỗ được sản xuất
từ năm 2003-2011 Phiên bản Grandis 2003 sử dụng động cơ xăng Mivec I4 2.4L
và động cơ diesel tăng áp DI-D 2.0L từ hãng Volkswagen Mẫu xe Grandis nổi bật với thiết kế mặt cắt, đầu xe là lưới tản nhiệt được vuốt lên với các đường chạy dài lên nắp ca-pô, Grandis chia sẽ nền tảng chung với mẫu xe Mitsubishi Airtrek Grandis là mẫu xe giành được giải thưởng xe MPV tốt nhất năm liên tiếp
Trang 20tại triển lãm Bangkok Motor Show từ 2005-2010 Mitsubishi dự định sẽ đưa cái tên Grandis trở lại thị trường vào năm 2016 Mẫu xe mới sẽ hứa hẹn mang lại không gian nội thất rộng rãi và đẹp mắt hơn, đồng thời là thiết kế hiện đại cùng động cơ tăng áp công suất cao Mẫu xe Grandis xuất hiện tại Việt Nam lần đầu tiên vào 2005 thông qua nhà phân phối Vinastar, Mitsubishi Grandis 2.4 Mivec
sử dụng động cơ 2.4L I4 16 van tích hợp công nghệ điều khiển van biến thiên MIVEC cho công suất cực đại 175.6 mã lực, trang bị hộp số tự động 4 cấp INVECS-II Năm 2010, Grandis Limited được giới thiệu trên thị trường, cấu hình chính của mẫu xe này tương tự như Grandis 2.4 Mivec 2010, năm 2012 Mitsubishi ngừng phân phối mẫu xe này tại Việt Nam
Hình 1.6 Dòng xe Grandis
1.2.3 Xe Mitsubishi Triton
Triton là mẫu xe mang kiểu dáng pha trộn giữa SUV và bán tải tương tự như Ford Ranger Mẫu xe này được nhiều người tiêu dùng Việt Nam thích thú đón nhận với tên gọi vui vẻ "Trai tân", dòng xe bán tải của Mitsubishi nhanh chóng ghi điểm và luôn lọt "Top 3" xe bán chạy nhất phân khúc từ khi mới ra mắt Mitsubishi Triton được sản xuất từ 1978-1986 tại Nhật Bản với tên gọi Mitsubishi Forte, sau đó đổi thành Strada Năm 1982, Mitsubishi tự nhập khẩu
loại xe này bán trên thị trường Hoa Kỳ, Triton có tên gọi là Mighty Max
(1982-1996) Triton thế hệ thứ 4 được sản xuất bởi công ty Mitsubishi ThaiLand từ năm
Trang 213.2L và 2.5L, động cơ xăng V6 dung tích 3.5L cùng hệ dẫn động 4 bánh 4WD Mitsubishi Triton ra mắt người tiêu dùng Việt Nam vào giữa tháng 12/2008 dưới dạng xe nhập khẩu từ Thái Lan của công ty liên doanh sản xuất ô tô VinaStars Tại Việt Nam, Mitsubishi Triton được phân phối với 4 phiên bản GL trang bị động cơ 2.4L cùng hộp số sàn 5 cấp và hệ dẫn động cầu sau bán thời gian có giá bán 482 triệu đồng Phiên bản GLX trang bị động cơ 2.5L cùng hộp số sàn 5 cấp
và hệ dẫn động cầu sau có giá bán 524 triệu đồng Hai phiên bản Triton GLS cao cấp trang bị động cơ 2.5L cùng hộp số sàn 5 cấp/số tự động 4 cấp và hệ dẫn động
2 cầu Easy Select có giá bán tương ứng 603 và 638 triệu đồng Vừa qua, Mitsubishi cũng giới thiệu phiên bản thế hệ mới Triton 2015 với một số thay đổi
về thiết kế ngoại thất và công nghệ an toàn, tiện nghi Triton 2015 có 4 phiên bản động cơ, một bản động cơ xăng 2,4L mang mã 4G64 công suất 128 mã lực và mô-men xoắn cực đại 194 Nm Ba bản động cơ dầu gồm bản mã L200 với động
cơ dầu 2,4L mới công suất 181 mã lực, mo-men xoắn 430 Nm và hai bản động
cơ dầu 2,5L mã 4D56 công suất 128 mã lực, mô-men xoắn 240 Nm và bản 178
mã lực, mô-men xoắn 400 Nm Hộp số dạng tùy chọn số sàn 6 cấp và tự động 5 cấp
Hình 1.7 Dòng xe Triton
1.2.4 Xe Mitsubishi Zinger
Trang 22Zinger là mẫu xe đa dụng MPV được thiết kế và sản xuất bởi Mitsubishi
Motor liên kết với China Motor Corporation, phiên bản đầu tiên của dòng xe này được giới thiệu vào năm 2005 Mitsubishi Zinger được sản xuất từ 2005 đến nay với hình mẫu 5-cửa MPV Các phiên bản Zinger sử dụng động cơ I4 dung tích 2.4L cùng hộp số sàn 5-cấp hoặc số tự động 4-cấp Mivec-4G69 trên các model sản xuất từ năm 2008 Zinger được liên doanh Vinastar giới thiệu tại thị trường Việt Nam lần đầu tiên vào 2008 với 4 phiên bản Zinger GL, GLS AT và GLS
MT Mặc dù là mẫu xe 7 chỗ tương tự Toyota Innova nhưng doanh số bán của Zinger khá thấp và thường xuyên bị lỗi, đây cũng là một trong những mẫu xe đa dụng không thành công tại thị trường Việt Nam Tháng 11/2011, Vinastar tung ra phiên bản Mitsubishi Zinger Limited thay đổi một số chi tiết ngoại thất và thêm 3 lựa chọn màu sơn: trắng ngọc, nâu và xám đậm Mitsubishi Zinger Limited vẫn được trang bị động cơ 2.4L công suất cực đại 137 mã lực (SAE), mô-men xoắn cực đại 21.1 kg.m và hai loại hộp số: hộp số tay 5 cấp và hộp số tự động 4 cấp Một số thay đổi ở thiết kế ngoại thất đáng chú ý: lưới tản nhiệt lớn hơn với viền
mạ crôm, đèn pha được phun màu, cản trước sơn hai tông màu, ốp cản sau màu bạc, đèn sau hai màu vàng/đỏ, cánh hướng gió lớn hơn Ngoài ra, phiên bản này không có gì thay đổi so với phiên bản cũ Do sản lượng bán hàng èo uột đã khiến Vinastar Motor quyết định ngừng phân phối mẫu xe này từ năm 2014
Hình 1.8 Dòng xe Zinger
Trang 23Hình 1.9 Nội thất xe Zinger
1.2.5 Xe Mitsubishi Pajero Sport
Pajero Sport mẫu xe mở ra một phân khúc riêng trong danh mục sản phẩm của Mitsubishi nó có nhiều đặc điểm thiết kế, ứng dụng công nghệ từ đàn anh Parejo và các mẫu xe đua địa hình Repsol, Ralliart hay Rally Dakar Pajero Sport
là mẫu xe SUV thứ 4 của hãng Mitsubishi Thế hệ đầu tiên của Pajero Sport được sản xuất dựa trên chiều dài cơ sở của xe Pajero thế hệ thứ hai Xe có hệ thống treo trước là loại độc lập dùng thanh xoắn và cầu sau là loại cầu cứng giống bậc đàn anh của mình Thế hệ Pajero Sport thứ hai (2008-nay) lại được Mitsubishi phát triển dựa trên khung xe hình thang của mẫu xe địa hình Mitsubishi Triton và được giới thiệu lần đầu tiên tại triển lãm Auto Matxcova 2008 Pajero Sport thế
hệ thứ 2 có hai mình mẫu là SUV 5 chỗ hoặc 7 chỗ, động cơ diesel Common Rail 2.5L hoặc 3.2L và máy xăng V6 3.0L hoặc 3.5L Pajero Sport chính thức được Vinastar giới thiệu tại thị trường Việt Nam tại triển lãm Vietnam Motor Show
2010 và phân phối vào 8/2011, mẫu xe này được sản xuất và lắp ráp trong nước tại Bình Dương Mitsubishi Pajero Sport phiên bản mới nhất 2014 đã chính thức được Mitsubishi giới thiệu vào đầu tháng 09/2014 Đặc điểm nổi bật nhất của Pajero Sport 2014 chính là dải sản phẩm mới (3 phiên bản) cùng sự xuất hiện của phiên bản máy xăng MIVEC V6 3.0L, kết hợp cùng hệ thống dẫn động 2 cầu Super Select và hộp số tự động 5 cấp INVECS-II
Trang 24Hình 1.10 Nội thất xe Pajero Sport
Hình 1.11 Dòng xe Pajero Sport
1.2.6 Xe Mitsubishi Mirage
Mirage là mẫu xe hatchback cỡ nhỏ của hãng Mitsubishi được sản xuất
vào 1978, ngừng sản xuất vào 2003 Mãi đến 2012, Mitsubishi mang tên Mirage trở lại thị trường xe hơi cỡ nhỏ phân khúc B cùng với các đối thủ nặng ký như
Trang 25hệ Mirage đầu tiên là một mẫu hatchback 5-cửa, sau đó Mitsubishi mới phát triển thêm phiên bản sedan và station wagon Mẫu xe này ngừng sản xuất sau mười năm phát triển (2002-2012) và thay vào đó là chiếc Mitsubishi Colt Từ 1978-
2003, có đến 5 thế hệ Mirage được ra đời Mirage thế hệ thứ nhất được trang bị động cơ xăng I4 1.2L, 1.4L và 1.6L với công suất tối đa 88 mã lực trên phiên bản
GT 1600 Phiên bản nâng cấp Sport vào 1982 sử dụng động cơ 1.4L tăng áp công suất 105 mã lực trên Mirage GT 1400 Turbo Thế hệ Mirage thứ 6 được Mitsubishi mang trở lại tại triển lãm Geneva Motor Show 2011 và Tokyo Motor Show 2011, mẫu xe này có tên gọi khác là Mitsubishi Space Star tại thị trường châu Âu Thế hệ Mirage mới có thiết kế khá bắt mắt với nhiều tùy chọn màu sắc, đường nét đơn giản và tiện nghi vừa tầm so với giá bán Mẫu xe Mirage 2013 được Mitsubishi chính thức ra mắt người tiêu dùng Việt Nam tại triển lãm Vietnam Motor Show 2013 Phiên bản mới Mirage 2014 được lắp thêm bộ phụ kiện thể thao bao gồm: Bộ ốp thân xe, đèn sương mù, cánh gió thể thao, bệ cửa mới đi cùng bộ tem Ralliart đặc trưng ở ngoại thất Tay nắm cần số Ralliart, viền trang trí bảng đồng hồ và tấm lót sàn cho khoang hành lý ở nội thất
Hình 1.12 Dòng xe Mirage
1.2.7 Xe Mitsubishi Jolie
Xe được thiết kế với nội thất rộng rãi, không cầu kỳ Ra mắt vào năm
1998, cùng với Toyota Zace, Mitsubishi Jolie đã tạo nên bộ đôi xe đa dụng 7 chỗ
Trang 26làm mưa làm gió thị trường thời điểm đó Trong suốt thời gian được phân phối tại Việt Nam, đã có hơn 12.000 chiếc Jolie được bán ra Mitsubishi Jolie được người tiêu dùng ưu chuộng bởi thiết kế bắt mắt, khung gầm chắc chắn, khả năng vận hành bền bỉ cùng nội thất rộng rãi cho 8 người, phù hợp cho gia đình Việt., khi cần thiết có thể gập hai hàng ghế phía sau để tạo ra không gian xếp hành lý rất lớn phía sau Vô-lăng 4 chấu bọc da thiết kế nhìn khá bắt mắt Xe sử dụng động cơ 2 lít, hệ thống phun xăng đa điểm Những cải tiến trên Jolie đời mới chủ yếu tập trung vào các thay đổi bề ngoài Phần trước xe hoàn toàn khác so với đời trước Mặt nạ két nước mạ crôm, với logo hình 3 viên kim cương nổi bật Hai đèn pha được cách điệu, chạy vát theo đường gân mui xe, tạo dáng mạnh mẽ Ngoài ra, các chi tiết như ốp nhựa bên hông, bọc bánh xe dự phòng (đều là trang
bị tiêu chuẩn của xe Jolie SS) và bộ đèn sau dạng đứng cùng nhằm nhấn mạnh vào những nét thể thao của xe Vinastar cho biết chiếc Jolie cuối cùng rời khỏi nhà máy vào tháng 1/2007, kết thúc khoảng thời gian 8 năm có mặt trên thị trường Việt Nam Mitsubishi Jolie bán chủ yếu ở châu Á và mang nhiều tên khác nhau Tại Philippines, nó được gọi là Adventure, ở Indonesia là Kuda, ở Trung Quốc và Đài Loan là Freeca
Hình 1.13 Dòng xe Jolie
Trang 27CHƯƠNG 2
TỔNG QUÁT VỀ HỆ THỐNG TRUYỀN LỰC TRÊN CÁC DÒNG XE MITSUBISHI
2.1 Công dụng và phân loại
2.1.1 Công dụng
Hệ thống truyền lực có chức năng truyền và phân phối momen quay và công suất từ động cơ đến các bánh xe chủ động, làm thay đổi momen và chiều quay của bánh xe theo yêu cầu
Hệ thống truyền lực bao gồm các cụm chi tiết cơ bản sau: ly hợp, hộp số, hộp phân phối, trục các đăng, truyền lực chính, vi sai và các bán trục
- Truyền lực hỗn hợp: cơ khí – thủy lực cơ khí – thủy lực – điện từ
Hiện nay có hai loại hệ thống truyền lực được sử dụng phổ biến là: truyền lực cơ khí, truyền lực thủy lực – cơ khí
2.2 Cấu tạo chung của hệ thống truyền lực
Trang 28Hình 2.1 Sơ đồ bố trí chung trên xe ô tô cầu sau chủ động
1 Động cơ 2.Ly hợp 3 Hộp số 4 Các đăng 5 Cầu chủ động
Hình 2.2 Sơ đồ bố trí chung trên ô tô cầu trước chủ động
1 Động cơ 2 Ly hợp 3 Hộp số 4 Cầu chủ động
Hệ thống truyền lực cơ khí có cấu tạo gồm: ly hợp, hộp số chính, hộp phân phối (nếu có), trục các đăng, cầu chủ động, bán trục, khớp nối (nếu có), bánh xe chủ động
Hệ thống truyền lực thủy cơ có cấu tạo gồm: hộp số thủy cơ, hộp phân phối (nếu có), trục các đăng, cầu chủ động, bán trục, bánh xe chủ động
Cấu tạo của từng bộ phận trong hệ thống truyền lực:
2.2.1 Ly hợp
a Nhiệm vụ
Trang 29• Ly hợp là một cụm của hệ thống truyền lực nằm giữa động cơ và hộp số có nhiệm vụ:
+ Tách động cơ ra khỏi hệ thống truyền lực một cách dứt khoát
+ Nối động cơ với hệ thống truyền lực một cách êm dịu và phải truyền hết được + Truyền toàn bộ mô men xoắn từ động cơ sang hệ thống truyền lực
+ Bảo vệ an toàn cho các cụm khác của hệ thống truyền lực và động cơ khi bị quá tải
+ Dập tắt các dao động cộng hưởng nâng cao chất lượng của hệ thống truyền lực
b Phân loại
• Ly hợp được phân loại theo các phương pháp sau:
Tuỳ theo tính chất truyền mômen, đặc điểm kết cấu v.v có thể phân loại ly hợp
+Theo đặc điểm làm việc, có thể chia ra : loại thường đóng và không thường đóng
c Yêu cầu
• Có 5 yêu chính cầu lớn đối với ly hợp là :
- Đảm bảo truyền được mômen quay lớn nhất của động cơ mà không bị trượt ở bất cứ điều kiện sử dụng nào
- Đóng êm dịu để tăng từ từ momen quay lên trục của hệ thống truyền lực, không gây ra va đập ở các bánh răng Ngoài ra khi ly hợp đóng êm dịu thì ôtô khởi hành hoặc tăng tốc từ từ không giật,làm cho người lái và hành khách đỡ mệt
- Mở dứt khoát và nhanh chóng nghĩa là cắt hoàn toàn truyền động từ động cơ đến hệ thống truyền lực trong thời gian rất ngắn
- Mômen quán tính của các chi tiết phần bị động của ly hợp phải nhỏ để giảm các lực va đập lên bánh răng khi sang số ,dễ gài số và giảm mài mòn các bề mặt ma sát của đồng tốc
Trang 30- Phải làm được nhiệm vụ của bộ phận an toàn để tránh tác dụng lên hệ thống truyền lực những mômen quá lớn khi gặp quá tải.Vì vậy mômen ma sát phải không được lớn quá
Ngoài ra còn các yêu cầu khác như:
+ Điều khiển dễ dàng,lực tác dụng lên bàn đạp nhỏ
+ Hệ số ma sát cao và ổn định
+ Thoát nhiệt tốt
+ Làm việc bền vững tin cậy
+ Hiệu suất cao
+ Giá thành rẻ, kết cấu ,sửa chữa, bảo dưỡng đơn giản
+ Kích thước nhỏ gọn
Ly hợp được sử dụng phổ biến ở hầu hết các loại ôtô và máy kéo là ly hợp
ma sát cơ khí loại một đĩa ma sát nhờ kết cấu đơn giản ,gọn nhẹ ,việc mở ly hợp
dễ dứt khoát và mômen quán tính của phần bị động nhỏ ít ảnh hưởng đến việc gài
số
Hệ thống ly hợp bao gồm loại ma sát cung cấp công suất một cách cơ khí bằng cách sử dụng đĩa ly hợp và loại khớp thủy lực cung cấp công suất thông qua dầu hộp số
Loại khớp thủy lực chủ yếu được dùng trong xe hộp số tự động và thường
sử dụng bộ biến mô bao gồm 1 bộ khuếch đại mô men động cơ (stator) được lắp bên trong khớp thủy lực Hệ thống ly hợp này bao gồm một đĩa ly hợp, một đĩa
ép, một màng lò xo và một nắp đậy ly hợp Và loại ly hợp “khô” này có bề mặt đĩa ly hợp khô ráo Loại ly hợp ma sát là cơ cấu cung cấp công suất động cơ bằng lực ma sát sinh ra giữa đĩa ly hợp và bánh đà động cơ Do vậy, các chi tiết ly hợp
bị mòn khi sử dụng nên chúng phải được kiểm tra và thay thế định kỳ
Trang 31Hình 2.3 Cấu tạo chung bộ ly hợp
d Cấu tạo và hoạt động bộ ly hợp:
Công suất động cơ được truyền đến hộp số thông qua hệ thống ly hợp Vai trò của ly hợp là đóng, ngắt sự kết nối giữa trục đầu ra của động cơ (trục khuỷu) với trục sơ cấp của hộp số (trục chính), làm cho động cơ có thể hoạt động cầm chừng khi xe không chuyển động Đồng thời nó cũng ngắt lực dẫn động từ động cơ khi chuyển số, giảm ma sát trong hộp số, làm êm dịu thao tác sang số và ngăn ngừa hư hỏng hộp số
Trang 32Hình 2.4 Sơ đồ chung của hệ thống truyền lực
Hoạt động ly hợp:
- Đóng ly hợp: Hệ thống ly hợp bao gồm bánh đà, đĩa ly hợp và nắp đậy ly hợp Mâm ép ly hợp là một cụm chi tiết bao gồm một đĩa ép, hai chốt hình trụ và một màng lò xo Khi hệ thống ly hợp đóng (nhả bàn đạp ly hợp) thì đĩa ly hợp được ăn khớp với bánh đà do lực ép của màng lò xo Nhờ đó, công suất động
cơ được truyền đến hộp số
Trang 33Hình 2.5 Ly hợp đang đóng
- Ngắt ly hợp: Khi đạp bàn đạp ly hợp thì hệ thống ly hợp hoạt động như sau: + Càng nhả ly hợp trượt về bên trái
+ Càng nhả ly hợp ép lên màng lò xo thông qua ổ bi mở ly hợp
+ Màng lò xo di chuyển với điểm tựa là chốt hình trụ và nhấc đĩa ép về bên phải + Lực ép lên đĩa ly hợp giảm làm cho đĩa quay tự do
Trang 34Hình 2.6 Sơ đồ ngắt ly hợp
• Cấu tạo:
- Đĩa ly hợp (xương đĩa):
Trang 35Hình 2.7 Sơ đồ đĩa ly hợp (xương đĩa)
Như hình minh họa, tấm ma sát được tán đinh lên cả hai phía của đĩa ly hợp Moay ơ của ly hợp được lắp ở trung tâm và liên kết với trục dơ cấp của hộp
số Đồng thời lò xo giảm chấn được dùng để đảm bảo ly hợp đóng nhẹ nhàng, ngăn ngừa sự biến dạng của đĩa ly hợp
- Nắp đậy ly hợp:
Hình 2.8 Nắp đậy ly hợp
Trang 36Nắp đậy ly hợp có một màng lò xo hai chốt trụ, một đĩa ép và một mâm
ép Khi đạp bàn đạp ly hợp, ổ bi mở ly hợp ép lên màng lo xo Lúc này màng lò
xo dùng chốt hình trụ làm điểm tựa, biến dạng theo nguyên lý đòn bẩy và nhấc đĩa ép Màng lò xo có hình dạng như một cái đĩa với nhiều phiến hình niêm hướng tâm Nó là một tấm lò xo thép được dập và nhiệt luyện Với thiết kế đơn giản, nó tạo áp lực theo chu vi ngoại biên và không làm biến dạng đĩa ép Hơn nữa, nó đảm bảo sự đóng, ngắt êm dịu và không mất khả năng đàn hồi ngay cả khi bề mặt ly hợp bị món hết
+ Thay đổi chiều chuyển động của xe (đi số tiến hoặc đi số lùi)
+ Trích công suất cho các bộ phận công tác khác: xe có tờ kéo, xe có thùng tự chút hàng…
b. Yêu cầu:
+ Có tỷ số truyền thích hợp để đảm bảo chất lượng động học và tính kinh tế nhiên liệu của ô tô
+ Có khả năng trích công suất ra ngoài để dẫn động các thiết bị phụ
+ Điều khiển sang số đơn giản, nhẹ nhàng
+ Hiệu suất truyền động cao
+ Kết cấu đơn giản để dễ chăm sóc bảo dưỡng
c Phân loại:
Hộp số sàn có thể phân thành 2 loại được mô tả như sau:
- Loại hộp số sàn thông thường được dùng trên xe RWD (FR) và xe 4WD bố trí RWD (FR) (PAJERO, )
Trang 37suất động cơ cấp đến hộp số thông qua ly hợp Lực dẫn động được giảm tốc trong hộp số và cấp đến vi sai thông qua trục truyền động Bộ chuyển cầu được lắp phía sau hộp số trên xe 4WD, phân phối lực dẫn động đến các bánh trước và sau
Hình 2.9 Sơ đồ dẫn động ở hộp số sàn thông thường
- Loại hộp số sau được sử dụng trên xe FWD (FF) và xe 4WD bố trí FWD (FF) (LANCER, )
Đặc điểm của loại này là hộp số và vi sai được lắp trên xe như một chi tiết đơn nhất Chi tiết này được lắp vào động cơ đặt ngang trong khoang động cơ Với bố trí bánh trước dẫn động, công suất động cơ được cấp cho hộp số thông qua ly hợp Lực dẫn động được giảm tốc trong hộp số và cấp đến vi sai và đến các bánh trước thông qua trục dẫn động Trên xe 4WD loại hộp số này không chỉ bao gồm vi sai của bánh trước mà còn có vi sai trung tâm, phân phối lực dẫn động đến các bánh trước và sau
Trang 38Hình 2.10 Sơ đồ dẫn động hộp số sàn sau
d Cấu tạo:
Hình 2.11 Sơ đồ cấu tạo hộp số sàn
Cấu tạo cơ bản:
Trang 39Hình 2.12 Sơ đồ cấu tạo cơ bản của hộp số sàn
Hộp số có nhiều cặp bánh răng tương ứng với số tốc độ Ví dụ, hộp số có
5 tốc độ sẽ có 5 cụm bánh răng (số tiến) và 1 cụm bánh răng số lùi
Cơ cấu ăn khớp liên tục: hiện nay phương pháp này được dùng cho tất cả các bộ bánh răng số tiến Theo đó cơ cấu ăn khớp liên tục được sử dụng Công suất động cơ ( số vòng quay trục khuỷu) truyền đến trục chính thông qua trục trung gian Các bánh răng lắp trên trục trung gian luôn luôn ăn khớp với các bánh răng quay tự do trên trục chính
Cơ cấu đồng tốc:
Trang 40Hình 2.13 Sơ đồ cơ cấu đồng tốc
Khi hai bánh răng có số răng khác nhau ăn khớp với nhau thì chúng sẽ không vào khớp nhẹ nhàng do có chu vi khác nhau Để việc vào khớp nhẹ nhàng thì cơ cấu đồng tốc đưa hai bánh răng về cùng tốc độ bằng các chi tiết vòng đồng tốc, moay ơ đồng tốc và vòng trượt
2.2.2.2 Hộp số tự động
Hộp số tự động là một cơ cấu tự động chọn tỷ số truyền phù hợp với các điều kiện vận hành xe Đối với hộp số tự động điều khiển điện tử thì thiết bị điều khiển không chỉ nhận biết tốc độ xe, tốc độ động cơ và những thông tin cơ bản khác mà còn nhận biết những thông tin như nhiệt độ dầu và lượng nhấn bàn đạp
ga Sau đó nó quyết định vị trí số tùy thuộc vào bản đồ chương trình trong bộ nhớ Hộp số tự động cũng được trang bị một bộ biến mô đóng vai trò tương tự như ly hợp trong hộp số sàn Biến mô được điền đầy dầu hộp số tự động Công suất động cơ được truyền đến hộp số thông qua dầu này
Các bộ phận chính của hộp số tự động:
a Biến mô: