1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LATS Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam

13 419 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 291,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu tổng thể: - Kiểm định 2 nội dung của lý thuyết người đại diện gồm: i mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành, ii vai trò kiểm soát

Trang 1

1

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu luận án

Luận án gồm 5 chương chính, với 109 trang, 18 bảng biểu, sơ đồ, 5 hình vẽ và 12 phụ lục:

Chương 1 Tổng quan về lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng

Chương 2 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Chương 3 Kết quả phân tích lý thuyết người đại diện trong hệ thống ngân hàng Việt

Nam theo phương pháp định tính

Chương 4.Kết quả kiểm định lý thuyết người đại diện trong ngân hàng Việt Nam theo

phương pháp định lượng

Chương 5 Kết luận và khuyến nghị

2 Lý do chọn đề tài

Quản trị công ty là vấn đề được quan tâm trên thế giới trong nhiều năm qua do

quản trị công ty đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các

doanh nghiệp Lý thuyết về quản trị công ty đã được hình thành từ những năm đầu của

thế kỷ 20 Có 3 lý thuyết chính về quản trị công ty: lý thuyết người đại diện, lý thuyết

người quản lý (stewardship theory) và lý thuyết các bên liên quan (stakeholder theory)

Trong đó, lý thuyết người đại diện là lý thuyết nền tảng trong khung lý thuyết về quản trị

công ty và là một trong những cơ sở chính để các quốc gia ban hành các chuẩn mực,

hướng dẫn về quản trị công ty Nguyên tắc quản trị công ty của OECD được áp dụng khá

rộng rãi trên thế giới được xây dựng dựa trên lý thuyết người đại diện trong đó nhấn

mạnh vai trò kiểm soát của hội đồng quản trị Một vấn đề đặt ra đối với Việt Nam là liệu

các nguyên tắc dựa trên lý thuyết này có thực sự phát huy tác dụng tại các nước đang

phát triển ở Châu Á với nền tảng rất khác so với các nước phương tây về văn hóa, xã

hội, kinh tế và mức độ phát triển

Tại Việt Nam, quản trị công ty là vấn đề mà các cơ quan quản lý, cổ đông và các

bên liên quan đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng rất quan tâm vì nhiều lý do:

Thứ nhất, quản trị công ty yếu kém tại các ngân hàng là một trong những nguyên

nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tại Châu Á năm 1997 và cuộc khủng hoảng tài

chính tại Mỹ năm 2008 Cụ thể, thành viên hội đồng quản trị và tổng giám đốc đã hành

động vì lợi ích trước mắt, chấp nhận quá nhiều rủi ro mà quên mất lợi ích dài hạn của

ngân hàng, cổ đông khác

Thứ hai, hệ thống ngân hàng Việt Nam mặc dù hoạt động có lãi trong những năm

gần đây nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong đó có quản trị ngân hàng Quản trị ngân

hàng còn nhiều bất cập: (i) Sự yếu kém trong quản trị ngân hàng và trách nhiệm không

rõ ràng giữa chủ sở hữu và tổng giám đốc dưới chế độ sở hữu nhà nước chưa được giải

quyết triệt để, (ii) quản trị ngân hàng chủ yếu dừng ở mức tuân thủ các quy định pháp

luật Các thông lệ, nguyên tắc về quản trị tốt trên thế giới chưa được áp dụng đầy đủ

trong các quy định về hoạt động ngân hàng (iii) trong giai đoạn ngân hàng phát triển

mạnh về quy mô và vốn, công tác quản trị ngân hàng hiện nay là chưa tương xứng (iv)

Đề án tái cơ cấu hệ thống ngân hàng Việt Nam (QĐ 254/QÐ-Ttg, ngày 1/3/2012) đặt ra

8 mục tiêu chính, trong đó có mục tiêu cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị

Trong bối cảnh đó, nhằm đưa ra luận cứ khoa học cho việc nâng cao hiệu quả

quản trị ngân hàng, luận án lựa chọn kiểm định lý thuyết người đại diện trong quản trị

2

ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam Luận án đi sâu nghiên cứu về lý thuyết người đại diện với 2 nội dung: (i) mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành và (ii) vai trò của HĐQT trong việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích này

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng thể:

- Kiểm định 2 nội dung của lý thuyết người đại diện gồm: (i) mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành, (ii) vai trò kiểm soát của hội đồng quản trị (HĐQT) trong việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích

- Từ kết quả kiểm định, luận án đưa ra các bằng chứng thực nghiệm làm rõ thêm lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng tại Việt Nam,đề xuất các khuyến nghị chính sách để nâng cao chất lượng quản trị NHTM Việt Nam

Mục tiêu cụ thể của luận án:

- Làm rõ mối quan hệ về lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành trong các NHTM Việt Nam

- Xác định mối quan hệ giữa sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành trong ngân hàng với chi phí và hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng

- Đánh giá vai trò của HĐQT trong hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt nam hiện nay

- Đo lường tác động của vai trò của HĐQT đối với chi phí và hiệu quả sử dụng tài

sản của ngân hàng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Hai nội dung của lý thuyết người đại diện: (i) mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành, (ii) vai trò của HĐQT trong việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích này tại

các ngân hàng Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn

2010 – 2012

5 Khung lý thuyết nền tảng

Lý thuyết người đại diện cho rằng khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người điều hành Người điều hành không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông Khi mâu thuẫn xảy ra thì chi phí giám sát và hiệu quả sử dụng tài sản của công ty giảm Để giải quyết mâu thuẫn này, có nhiều biện pháp được áp dụng, trong đó có vai trò kiểm soát của HĐQT (Jensen & Meckling, 1976)

6 Giả thuyết nghiên cứu

Đối với phương pháp định tính

- Làm rõ bản chất về mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người điều hành và vai trò của HĐQT trong ngân hàng Việt Nam

Đối với phương pháp định lượng

- Giả thuyết 1: Khi quyền sở hữu và quyền điều hành càng tách biệt, hiệu quả sử

Trang 2

3

dụng tài sản của NHTM Việt Nam giảm

- Giả thuyết 2: Khi quyền sở hữu và quyền điều hành càng tách biệt, chi phí giám

sát, chi phí hoạt động khác của NHTM Việt Nam tăng

- Giả thuyết 3: Khi vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị tăng, hiệu quả sử dụng

tài sản của NHTM Việt Nam tăng

Giả thuyết 4: Khi vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị tăng, chi phí giám sát và

chi phí hoạt động khác của NHTM Việt Nam giảm

7 Những đóng góp mới của đề tài

Những đóng góp mới về mặt lý luận, học thuật

Nghiên cứu về lý thuyết người đại diện trong NHTM Việt Nam cung cấp bằng

chứng thực nghiệm làm rõ và bổ sung lý thuyết người đại diện trong NHTM về những

vấn đề sau:

- Trong hoạt động ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2010 - 2012, mâu thuẫn lợi

ích giữa chủ sở hữu và người điều hành tồn tại ở mức độ khác nhau đối với nhóm chủ sở

hữu khác nhau HĐQT đại diện trực tiếp cho lợi ích của cổ đông lớn Lợi ích giữa

HĐQT/cổ đông lớn và ban điều hành được gắn kết khá chặt chẽ với nhau Tuy nhiên, sự

gắn kết chặt chẽ này không đem lại lợi ích dài hạn cho ngân hàng mà chỉ vì lợi ích của

cổ đông lớn, HĐQT và ban điều hành Trong bối cảnh này, mâu thuẫn lợi ích giữa cổ

đông nhỏ và HĐQT/cổ đông lớn/ban điều hành là rất rõ và quyền lợi của cổ đông nhỏ

chưa được đảm bảo

- Về cách thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích, mối quan hệ xã hội, tỷ lệ sở hữu của

HĐQT lớn có thể gắn kết lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành Tuy nhiên, sự gắn

kết này lại làm giảm hiệu quả hoạt động, tăng rủi ro của ngân hàng và ảnh hưởng tới

quyền lợi của cổ đông nhỏ vì HĐQT và ban điều hành cùng hành động vì lợi ích ngắn

hạn cho cá nhân mình

- Vai trò kiểm soát của HĐQT giải quyết được mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu

và người điều hành và có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng

Những khuyến nghị chính sách rút ra từ kết quả nghiên cứu

Đối với cơ quan quản lý

Cần xây dựng khung pháp lý để bảo vệ lợi ích của cổ đông nhỏ Rà soát, điều chỉnh

và ban hành mới văn bản về hoạt động và quản trị ngân hàng để phù hợp điều kiện phát

triển hệ thống ngân hàng

Tăng cường tính độc lập của Hội đồng quản trị, ban kiểm soát HĐQT và tăng

cường hiệu lực thực thi của các quy định hiện hành

Tăng cường minh bạch thông tin để thị trường đặc biệt là cổ đông nhỏ có thể tiếp

cận thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và chính xác

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Việt nam và các trường cần tổ

chức các khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực quản trị ngân hàng

Tăng tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản có để đảm bảo an toàn cho hệ thống ngân

4

hàng hoặc không nên quá theo đuổi mục tiêu tăng trưởng tín dụng nếu khả năng chịu đựng rủi ro hoặc quản lý của ngân hàng chưa tương xứng với quy mô hoạt động Nên xem xét xây dựng và công bố chỉ số quản trị (CGI) trong NHTM Việt Nam làm căn cứ đánh giá quản trị công khai của ngân hàng, thúc đẩy thị trường tài chính minh bạch và hiệu quả

Đối với NHTM Việt Nam

- Rà soát hệ thống văn bản quản trị như điều lệ, quy chế quản trị, kiểm soát v.v liên quan đến quản trị công ty đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của luật pháp và phù hợp với nguyên tắc quốc tế

- Nên công khai cho công chúng, cổ đông biết các quy chế, điều lệ và các văn bản liên quan để giúp người gửi tiền và cổ đông nhỏ theo dõi được hoạt động của ngân hàng

- Bản thân đội ngũ lãnh đạo tại các ngân hàng thương mại gồm thành viên Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm soát, Kế toán trưởng, giám đốc các chi nhánh…cần tự nỗ lực, tăng cường tìm hiểu, nâng cao nhận thức về các nội dung của quản trị công ty như quyền lợi của cổ đông và các chức năng sở hữu, sự đối xử bình đẳng với cổ đông, sự minh bạch trong điều hành và công bố thông tin

Trang 3

5

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT NGƯỜI ĐẠI DIỆN

TRONG QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 1.1 Lý thuyết người đại diện

1.1.1 Khái niệm quản trị công ty

Theo La Porta et al (2000), quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế để bảo vệ

nhà đầu tư bên ngoài tránh được những vấn đề phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa cổ

đông và người điều hành

Theo Pei Sai Fan (2004), quản trị công ty liên quan tới việc đưa ra các cơ cấu, quy

trình và cơ chế để định hướng và quản lý công ty nhằm tăng giá trị cho cổ đông về dài

hạn thông qua việc nâng cao trách nhiệm của người điều hành

Theo Tổ chức OECD, quản trị công ty là một hệ thống để định hướng và kiểm soát

hoạt động của công ty

Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa về quản trị công ty, tựu chung lại quản trị công

ty là hệ thống hay các cơ chế để định hướng và kiểm soát công ty nhằm tối đa hóa giá trị

của cổ đông và công ty về dài hạn và giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người

điều hành Xét từ góc độ thực tiễn, ở mức cơ bản nhất, vấn đề về quản trị công ty phát sinh

khi cổ đông hoặc các nhà đầu tư bên ngoài mong muốn kiểm soát, điều hành công ty theo

cách khác với người điều hành mà đại diện là tổng giám đốc Nói cách khác, lợi ích và quan

điểm của chủ sở hữu khác với người điều hành Mâu thuẫn về lợi ích giữa chủ sở hữu và

người điều hành là nội dung cốt lõi của lý thuyết người đại diện Như vậy, một trong những

cơ sở hình thành của quản trị công ty là lý thuyết người đại diện

Trong phạm vi luận án này, khái niệm “quản trị ngân hàng thương mại” được hiểu

là quản trị công ty trong ngân hàng thương mại

1.1.2 Lý thuyết người đại diện

Lý thuyết người đại diện xuất phát từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều

hành Theo Jensen & Meckling (1976), lý thuyết người đại diện cho rằng khi có sự tách

biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu

và người điều hành Người điều hành không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích tốt

nhất của cổ đông Có thể xảy ra những trường hợp như sau:

- Ban điều hành sử dụng tiền để mở rộng hoạt động kinh doanh, khiến vị trí của họ

ổn định hơn, lương và quyền lực lớn hơn

- Chế độ đãi ngộ, lương thưởng và những khoản trợ cấp rất lớn của người điều hành

được tính vào chi phí kinh doanh mà cổ đông phải gánh chịu

- Cán bộ điều hành có thể tham gia những khoản đầu tư mạo hiểm nhằm thu lợi

ngắn hạn

Lý thuyết người đại diện được xây dựng từ góc độ kinh tế học, dựa trên giả định

rằng hành vi của con người là cá nhân, cơ hội và tư lợi Do vậy, để giải quyết xung đột

6

về lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành, lý thuyết này cho rằng cần có cơ chế để giảm mâu thuẫn về lợi ích

Mặc dù vậy, lý thuyết này cũng bị phê phán trong những năm qua Hoskisson et al.(2000) và Blair (1995) cho rằng lý thuyết này chưa lý giải được yếu tố xã hội, tâm lý trong mối quan hệ chủ sở hữu và người điều hành Theo quan điểm của lý thuyết nhà quản lý (Stewardship theory), các yếu tố tâm lý, xã hội tốt ảnh hưởng tích cực tới người điều hành

1.2 Tổng quan nghiên cứu về lý thuyết người đại diện

Theo lý thuyết người đại diện, mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành tồn tại khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành Mâu thuẫn này sẽ làm gia tăng rủi ro và chi phí cho công ty Để giải quyết mâu thuẫn lợi ích và giảm thiểu rủi ro xuất phát từ mâu thuẫn này, thường có 5 cách giải quyết: (i) sử dụng mô hình thôn tính, (ii) sử dụng cơ cấu vốn thích hợp, (iii) Vai trò của HĐQT, (iv) Chế độ đãi ngộ, lương, (v) Ủy ban kiểm soát và chủ nợ lớn Trong các cách giải quyết này, việc sử dụng HĐQT thay mặt cổ đông để giám sát ban điều hành được áp dụng phổ biến nhất Các nghiên cứu về lý thuyết người đại diện được thực hiện tập trung vào (i) bản chất mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành và các loại rủi ro, (ii) cách thức giải quyết mâu thuẫn

Bản chất mâu thuẫn lợi ích và các loại rủi ro

Các nghiên cứu về lý thuyết và thực tế đề cập tới 4 vấn đề chính Đó là rủi ro đạo đức, lợi nhuận giữ lại, mức độ chấp nhận rủi ro và thời gian Đa số các nghiên cứu chỉ ra rằng khi mâu thuẫn lợi ích lớn, rủi ro xuất phát từ rủi ro đạo đức, lợi nhuận giữ lại, mức độ chấp nhận rủi ro và thời gian sẽ gia tăng (Shleifer và Vishny, 1989, Jensen, 1993, Dechow và Sloan,1991, Denis, 2000) Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa mâu thuẫn lợi ích và chi phí đại lý (agency cost) cho thấy khi mâu thuẫn lợi ích tăng thì chi phí đại lý (gồm chi phí giám sát và tổn thất) tăng

Grant Fleming và cộng sự (2005) sử dụng số liệu khảo sát của 3800 doanh nghiệp vừa và nhỏ của Úc từ năm 1996 đến 1998 để xem xét chi phí người đại diện thay đổi như thế nào khi quyền sở hữu và quyền quản lý tách biệt Kết quả cho thấy có mối quan

hệ thuận chiều giữa chi phí quản lý với mức độ tách biệt quyền sở hữu và quyền điều hành Trong mô hình nghiên cứu, các tác giả sử dụng các biến gồm chi phí quản lý được

đo lường bởi tỷ lệ chi phí hoạt động/ doanh số bán hàng, tỷ lệ sử dụng tài sản là tỷ lệ doanh thu hoặc doanh số bán hàng/tổng tài sản có Chi phí này đại diện cho tổn thất trên

1 USD đầu tư do sử dụng tài sản không hiệu quả Sự tách biệt quyền sở hữu và quyền điều hành được đo bằng tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ của người chủ sở hữu tham gia điều hành Bên cạnh đó, một số nghiên cứu chỉ ra rằng, ngoài mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông

và người điều hành, còn có mâu thuẫn lợi ích của các bên liên quan khác Các nghiên cứu trên đều được thực hiện trong một phạm vi hẹp như trong một quốc gia hoặc đối với một đối tượng nhất định như doanh nghiệp vừa nhỏ

Cách thức giải quyết mâu thuẫn

Một trong những cơ chế mạnh để tăng cường kỷ luật và thay thế giám đốc kém hiệu quả là “thôn tính toàn bộ” Cơ chế này rất mạnh, gây xáo trộn lớn và làm tăng chi phí cho công ty Ngay cả ở Mỹ và Anh, trường hợp này rất hiếm khi xảy ra

Phương pháp khác để giải quyết vấn đề của cổ đông là sử dụng cơ cấu vốn chủ sở hữu

Trang 4

7

thích hợp Chi phí đại lý phát sinh từ khoảng cách giữa lợi ích của chủ sở hữu và người điều

hành sẽ tỷ lệ nghịch với mức độ đóng góp cổ phần của người điều hành Sử dụng cơ cấu vốn

phù hợp sẽ rút ngắn khoảng cách lợi ích trên (Zechkhauser and Pound, 1990; Grant Fleming

và cộng sự,2005; Shileifer, Vishny, 1986)

Về vai trò giám sát của HĐQT, các kết quả nghiên cứu chưa rõ ràng và chưa khẳng

định được hiệu quả thực sự của hội đồng quản trị trong việc kiểm soát và định hướng

công ty: một mặt, các phát hiện từ thực tế ủng hộ giả thuyết rằng thành viên độc lập làm

tăng hiệu quả của hội đồng quản trị như hội đồng quản trị có tính độc lập cao hơn có thể

thay thế tổng giám đốc yếu kém dễ dàng hơn (Byrd & Hickman, 1992) Mặt khác, các

nghiên cứu khác cho rằng không có bằng chứng để kết luận về ảnh hưởng của tính độc

lập hội đồng quản trị hay khả năng kiểm soát của hội đồng quản trị tới kết quả kinh

doanh (Lex Donaldson, James H Davis,1991; Warther (1998)

1.3 Tổng quan nghiên cứu về lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng

Đặc trưng của hoạt động ngân hàng và việc quản lý hoạt động ngân hàng được coi

là những yếu tố chính khiến quản trị ngân hàng thương mại khác với quản trị công ty của

doanh nghiệp nói chung

Bản chất mâu thuẫn lợi ích và các loại rủi ro

- Ngân hàng là tổ chức tài chính lớn chuyên kinh doanh tiền tệ, có dòng tiền tự do

rất lớn và di chuyển liên tục Đây là điều kiện để HĐQT hoặc ban điều hành có thể thực

hiện những khoản đầu tư rủi ro hơn nhằm thu lợi nhuận ngắn hạn mà có thể ảnh hưởng

tới lợi ích lâu dài của tổ chức và của các chủ sở hữu khác

- Vì ngân hàng là ngành có mức đòn bẩy rất cao và có chính sách bảo hiểm tiền

gửinên ngân hàng rất dễ chuyển rủi ro sang chủ nợ khác Trong điều kiện thị trường cạnh

tranh, nếu ngân hàng đổ vỡ, tổn thất xảy ra, người gửi tiền và tổ chức bảo hiểm tiền gửi

gánh chịu tổn thất

- Theo Smith và Watts (1992), đối với giám đốc của ngân hàng có nhiều sự lựa

chọn trong đầu tư, thì việc kiểm soát họ sẽ khó hơn

- Trong ngành ngân hàng, do bị quản lý chặt, và không có nhiều lựa chọn trong

việc đầu tư, nên tỷ lệ đãi ngộ bằng cổ phiếu và quyền mua cổ phiếu sẽ thấp hơn các

ngành khác Do vậy tổng giám đốc sẽ có ít động lực chấp nhận rủi ro hơn

- Hoạt động ngân hàng luôn được quản lý chặt chẽ thông qua các quy định pháp lý

hơn các ngành khác Do vậy, những biện pháp để giải quyết mâu thuẫn lợi ích như có thể

sẽ phát huy tác dụng ít hơn so với doanh nghiệp thông thường

Dựa trên những đặc điểm riêng của ngân hàng, một số nghiên cứu về quản trị ngân

hàng cho rằng vấn đề mâu thuẫn lợi ích trong hoạt động ngân hàng khác với lý thuyết

người đại diện Ciancanelli và Reyes-Gonzalez (2000) đưa ra những hạn chế trong lý

thuyết người đại diện Để làm rõ sự khác biệt giữa mô hình lý thuyết người đại diện

chuẩn với quản trị ngân hàng thương mại, cần xem lại các giả định và so sánh với đặc

điểm hoạt động trong ngân hàng

Mặc dù có nhiều bên có lợi ích liên quan, HĐQT vẫn đại diện cho quan điểm của

cổ đông và phụ thuộc vào những ràng buộc của các quy định Lợi ích cổ đông có thể

khác đáng kể so với lợi ích của các bên liên quan khác, đặc biệt về rủi ro Chủ nợ và cơ

quan quản lý mong muốn rủi ro ít và quan tâm đến lợi ích lâu dài hơn cổ đông

Cách thức giải quyết mâu thuẫn trong hoạt động ngân hàng

8

Trong lĩnh vực ngân hàng, nghiên cứu về cơ cấu vốn không nhiều Theo Allen và Emilia (2006), khi tỷ lệ đòn bẩy tăng thì kết quả kinh doanh tốt hơn, tức chi phí đại lý thấp hơn

Theo Levine (2004), Macey và O’Hara (2003), HĐQT đóng vai trò đặc biệt quan trọng, mối quan hệ giữa hội đồng quản trị và ban điều hành Các nghiên cứu về hoạt động của hội đồng quản trị trong ngân hàng cũng xoay quanh thành phần và tính độc lập của hội đồng quản trị Pablo de Andres, Eleuterio Vallelado (2008) cho rằng đối với các ngân hàng quốc tế lớn, có mối quan hệ giữa thành phần và quy mô hội đồng quản trị với kết quả kinh doanh của ngân hàng Hội đồng quản trị có nhiều thành viên hơn thì khả

năng giám sát của hội đồng quản trị và kết quả kinh doanh của ngân hàng tốt hơn Tuy

nhiên, các thành viên độc lập quá nhiều có thể ảnh hưởng xấu tới hiệu quả hoạt động của hội đồng quản trị do việc ra quyết định chậm hơn Đối với các ngân hàng Châu Á, theo quan điểm của Christopher Anderson, Terry L.Campbell, (2004), J William và Ng Nghĩa (2005), việc cổ phần hóa giúp ngân hàng đạt được kết quả kinh doanh tốt hơn Như vậy, việc tách bạch trách nhiệm giữa người sở hữu (đại diện là hội đồng quản trị) và người điều hành (đại diện là tổng giám đốc), tăng cường hoạt động kiểm soát của hội đồng quản trị và tính chịu trách nhiệm của tổng giám đốc thông qua cổ phần hóa sẽ giúp cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng

1.4 Nghiên cứu về lý thuyết người đại diện trong ngân hàng Việt Nam

Nghiên cứu về quản trị trong ngành ngân hàng tại Việt Nam chủ yếu được thực hiện dưới góc độ đánh giá công tác quản lý một ngân hàng thương mại như quản lý xây dựng chiến lược, quản lý chi phí, kế toán, quản lý nguồn nhân lực, quản lý các loại rủi ro (rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động …) và trong phạm vi một ngân hàng hoặc một chi nhánh ngân hàng cụ thể Chưa có nhiều nghiên cứu riêng về nội dung của lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam Theo T.T Huyền (2009) và Hoàng Quốc Hùng (2002)1, có thể thấy rằng mâu thuẫn về lợi ích được nêu trong lý thuyết người đại diện và ảnh hưởng của yếu tố xã hội, tâm lý, văn hóa trong quản trị đều có thể tồn tại ở các ngân hàng Việt Nam Nghiên cứu của Tú và Khánh (2010) phân tích vai trò của HĐQT của NHTM Việt Nam theo thông lệ quốc tế cho thấy tính độc lập của HĐQT rất hạn chế Theo Bình và Giang (2012), quy mô HĐQT và tỷ lệ an toàn vốn tác động đáng kể tới kết quả kinh doanh

Theo báo cáo đánh giá của IFC (2012) cho rằng quản trị trong ngành ngân hàng tài chính trong năm 2011 được đánh giá là tốt hơn so với ngành kinh doanh khác, đạt 45 điểm so với mặt bằng chung là 42,5 điểm Theo IDG (2013), năm 2012, ngành ngân hàng bộc lộ nhiều yếu kém trong quản lý rủi ro và quản trị ngân hàng Đây được coi là nguyên nhân dẫn đến thực trạng ngân hàng Việt Nam đang phải đương đầu với tỷ lệ nợ xấu cao nhất trong khu vực, chiếm 8,82% tổng dư nợ (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Tháng 9, 2012)

Các nghiên cứu trên về lý thuyết người đại diện được thực hiện trong một phạm vi nhất định như trong một quốc gia hoặc đối với một đối tượng nhất định như doanh nghiệp nhỏ Các nghiên cứu tập trung tại Mỹ và các nước phát triển Như vậy, lý thuyết người đại diện mà cụ thể là mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người điều hành và vai trò kiểm soát, tính độc lập của HĐQT trong ngân hàng Việt Nam như thế nào là vấn đề để ngỏ, cần được nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, luận án dự kiến nghiên cứu hai nội dung: (i) mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và người điều hành và (ii)

1 Những giải pháp đẩy mạnh công tác quản trị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Vĩnh Phúc, Hoàng Quốc Hùng, 2002

Trang 5

9

vai trò kiểm soát của hội đồng quản trị trong việc giải quyết mâu thuẫn lợi ích

10

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Giả thuyết nghiên cứu

Để thực hiện 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, căn cứ vào khung lý thuyết nêu tại chương 1 và kết quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước, luận án sẽ:

- Phân tích làm rõ bản chất mâu thuẫn lợi giữa chủ sở hữu và người điều hành và trách nhiệm của HĐQT thông qua phân tích tình huống (Case study) tại 2 NHTM Việt Nam

- Xây dựng bốn giả thuyết nghiên cứu theo phương pháp định lượng:

Giả thuyết 1: Khi quyền sở hữu và quyền điều hành càng tách biệt, hiệu quả sử dụng tài sản của các NHTM giảm

Giả thuyết 2: Khi quyền sở hữu và quyền điều hành càng tách biệt, chi phí giám sát, chi phí hoạt động khác của các NHTM tăng

Giả thuyết 3: Khi vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị tăng, hiệu quả sử dụng tài sản của các NHTM tăng

Giả thuyết 4: Khi vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị tăng, chi phí giám sát và chi phí hoạt động khác của các NHTM giảm

2.2 Phương pháp nghiên cứu định tính

Phương pháp phân tích tình huống (case study) được áp dụng đối với 2 ngân hàng thương mại Việt Nam đại diện cho 2 loại hình sở hữu (ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa, ngân hàng thương mại cổ phần hoạt động lâu năm trên thị trường) để phân tích mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành và đánh giá vai trò của HĐQT trong việc giải quyết mâu thuẫn đó

Khung lý thuyết được sử dụng để phân tích là nguyên tắc về trách nhiệm HĐQT trong bộ nguyên tắc quản trị công ty của OECD và Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng Nguồn thông tin chủ yếu là thứ cấp bao gồm báo cáo tài chính, v.v Bên cạnh đó, các cuộc phỏng vấn không chính thức với lãnh đạo ngân hàng, cổ đông cũng được thực hiện

để làm sáng tỏ thêm thực tiễn về quản trị

2.3 Phương pháp nghiên cứu định lượng

2.3.1 Mô hình nghiên cứu, các biến và thang đo

2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu

Căn cứ vào giả thuyết và nghiên cứu của Grant Fleming và cộng sự (2005) và đặc điểm của ngành ngân hàng, mô hình nghiên cứu được xây dựng như sau:

Trang 6

11

2.3.1.2 Xác định biến và thang đo

Dựa trên lý thuyết người đại diện và nghiên cứu của Grant Fleming, 2005 và điều kiện

về số liệu, các biến được xây dựng như sau:

• Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành được thể hiện qua biến Tỷ lệ sở

hữu cổ phần của người điều hành Khi người điều hành có tỷ lệ sở hữu cổ phần lớn càng

lớn thì khoảng cách giữa quyền sở hữu và quyền điều hành càng được thu hẹp và ngược

lại Người điều hành bao gồm tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, kế toán trưởng

Tại một số ngân hàng, hội đồng quản trị tham gia điều hành Do vậy, luận án xem

xét thêm mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng tài sản và hiệu quả quản lý chi phí với tỷ lệ

sở hữu của HĐQT và tỷ lệ sở hữu của HĐQT và người điều hành

• Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản: tỷ lệ phần trăm giữa vốn chủ sở hữu và tổng

tài sản của từng ngân hàng

Quy mô tài sản: Tổng tài sản của ngân hàng vào cuối năm

• Chi phí giám sát và hiệu quả sử dụng tài sản

- Chi phí giám sát được thể hiện bởi tỷ lệ chi phí/thu nhập

- Hiệu quả sử dụng tài sản được thể hiện bởi tỷ lệ thu nhập sau thuế/tổng tài sản

(ROA) Tỷ lệ này đại diện cho lợi nhuận thu được trên 1 đồng vốn đầu tư

• Vai trò kiểm soát của Hội đồng quản trị: Được đánh giá qua chỉ số Hội đồng

quản trị Chỉ số về vai trò Hội đồng quản trị (CGI HĐQT) là một trong 4 chỉ số thành

phần của chỉ số quản trị công ty (CGI – Corporate Governance Index) được xây dựng

trong đề tài cấp Đại học quốc gia về xây dựng chỉ số quản trị công ty cho ngân hàng

thương mại Việt nam và đã được nghiệm thu năm 20142 Chỉ số CGI HĐQT phản ánh

tính độc lập, khả năng kiểm soát, minh bạch thông tin về năng lực của thành viên Hội

đồng quản trị

2 Đây là đề tài cấp Đại học quốc gia đã được nghiệm thu năm 2014 do TS Trần Thị Thanh Tú làm chủ nhiệm đề tài và

nghiên cứu sinh là thành viên

Chi phí giám sát và tổn thất hay hiệu quả sử dụng tài sản

Quy mô tài sản

Sự tách biệt giữa quyền sở hữu – quyền điều hành

Tỷ lệ vốn

CSH/Tổng tài

Vai trò kiểm soát của HĐQT

12

2.3.2 Phương pháp hồi quy

Ký hiệu các biến:

Tỷ lệ thu nhập sau thuế/tổng tài sản: ROA

Tỷ lệ sở hữu cổ phần của người điều hành: X1DH

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản: Capital Tổng tài sản (log tự nhiên): Asset

Tỷ lệ sở hữu cổ phần của HĐQT: X1HDQT

Tỷ lệ sở hữu cổ phần của HĐQT và người điều hành: X1TONG

Tỷ lệ chi phí/thu nhập: COI Chỉ số HĐQT: CGIBOD

Phương pháp nghiên cứu đối với giả thuyết 1: Sử dụng 3 mô hình hồi quy (OLS) Giả thuyết H1A: ROA = ß0 + ß1(X1DH) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű

Giả thuyết H1B: ROA = ß0 + ß1(X1HDQT) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű Giả thuyết H1C: ROA = ß0 + ß1(X1TONG) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű

Phương pháp nghiên cứu đối với giả thuyết 2

Giả thuyết H2A: COI = ß0 + ß1(X1DH) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű Giả thuyết H2B: COI = ß0 + ß1(X1HDQT) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű Giả thuyết H2C: COI = ß0 + ß1(X1TONG) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű

Phương pháp nghiên cứu đối với giả thuyết 3

ROA = ß0 + ß1(CGIBOD) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű

Phương pháp nghiên cứu đối với giả thuyết 4

COI = ß0 + ß1(CGIBOD) 1 + ß2 (Capital)+ ß3(Asset)3 + Ű

2.4 Dữ liệu nghiên cứu

2.4.1 Nguồn dữ liệu

Dữ liệu gồm thông tin về quản trị và số liệu tài chính lấy từ nguồn sơ cấp và thứ cấp

Dữ liệu về quản trị công ty

- Nguồn sơ cấp: Chỉ số CGI HĐQT được tính trên cơ sở bảng hỏi được gửi tới các ngân hàng Một số bảng hỏi được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu với một vài ngân hàng

- Nguồn thứ cấp: các báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên, báo cáo tình hình hoạt động của ngân hàng, HĐQT, tài liệu họp đại hội cổ đông, điều lệ và các báo cáo hoạt động khác

- Phạm vi thời gian: 2010, 2011, 2012

- Đối với biến tỷ lệ sở hữu của người điều hành, các ngân hàng công bố tỷ lệ này không đầy đủ

- Chỉ số CGI tính được cho các ngân hàng Việt Nam cho năm 2010, 2011, 2012

Số liệu tài chính

- Nguồn thứ cấp: các báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên, tài liệu họp đại hội cổ đông

- Phạm vi thời gian: 2010, 2011, 2012

- Số liệu tài chính được tính cho các ngân hàng có chỉ số CGI HĐQT

Trang 7

13

2.4.2 Mô tả dữ liệu

Chỉ số CGI BOD được tính cho 39/41 ngân hàng thương mại Việt Nam trong 3

năm 2010, 2011, 2012, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Tú và Khánh (2014)

Số liệu về tài chính, tỷ lệ sở hữu được tính cho 39/41 ngân hàng thương mại Việt

Nam trong 3 năm 2010, 2011, 2012

Số liệu trên thiếu 2 ngân hàng là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Việt Nam (do không có thông tin công bố), Ngân hàng Đệ nhất (do sáp nhập và có rất ít

thông tin công bố) Quy mô tài sản của 39 ngân hàng trong nghiên cứu này chiếm

khoảng 80% tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam

Sau khi thu thập và tính số liệu, các số liệu trên đã được rà soát, làm sạch như sau:

- Loại bỏ các giá trị 0 đối với tỷ lệ sở hữu người điều hành, HĐQT và tỷ lệ sở hữu

người điều hành và HĐQT

- Loại bỏ giá trị đột biến: Loại bỏ giá trị ROA âm và COI lớn hơn 100 Loại bỏ CGI

HĐQT là 0

- Loại bỏ tỷ lệ sở hữu người điều hành, tỷ lệ sở hữu của HĐQT của ngân hàng Phương

Nam 2010, số liệu NH Nhà Hà nội 2012 do thiếu ROA và COI

Kết quả số liệu như sau:

Số liệu tài chính

ROA được tính cho 39 ngân hàng Có 33 ngân hàng có số liệu ROA đủ trong 3 năm

(2010, 2011, 2012), có 5 ngân hàng có số liệu ROA trong 2 năm và có 1 ngân hàng có số

liệu ROA trong 1 năm Như vậy, có 110 quan sát đối với ROA

COI được tính cho 39 ngân hàng Có 33 ngân hàng có số liệu COI đủ trong 3 năm

(2010, 2011, 2012), có 5 ngân hàng có số liệu COI trong 2 năm và có 1 ngân hàng có số liệu

COI trong 1 năm Như vậy, có 110 quan sát đối với COI

CAPITAL được tính cho 39 ngân hàng Có 37 ngân hàng có số liệu CAPITAL đủ

trong 3 năm (2010, 2011, 2012), có 2 ngân hàng có số liệu CAPITAL trong 2 năm Như

vậy, có 115 quan sát đối với CAPITAL

ASSET được tính cho 39 ngân hàng Có 37 ngân hàng có số liệu ASSET đủ trong 3

năm (2010, 2011, 2012), có 2 ngân hàng có số liệu ASSET trong 2 năm Như vậy, có 115

quan sát đối với ASSET

Số liệu về quản trị

X1DH được tính cho 38 ngân hàng Có 8 ngân hàng có số liệu X1DH đủ trong 3 năm

(2010, 2011, 2012), có 8 ngân hàng có số liệu X1DH trong 2 năm và có 14 ngân hàng có số

liệu X1DH trong 1 năm Như vậy, có 54 quan sát đối với X1DH

X1HDQT được tính cho 75 ngân hàng Có 11 ngân hàng có số liệu X1HDQT đủ trong

3 năm (2010, 2011, 2012), có 9 ngân hàng có số liệu X1HDQT trong 2 năm và có 12 ngân

hàng có số liệu X1HDQT trong 1 năm Như vậy, có 63 quan sát đối với X1HDQT

X1TONG được tính cho 47 ngân hàng Có 8 ngân hàng có số liệu X1TONG đủ trong

3 năm (2010, 2011, 2012), có 8 ngân hàng có số liệu X1TONG trong 2 năm và có 14 ngân

hàng có số liệu X1TONG trong 1 năm Như vậy, có 54 quan sát đối với X1TONG

CGIBOD được tính cho 39 ngân hàng Có 34 ngân hàng có số liệu CGIBOD đủ trong

3 năm (2010, 2011, 2012), có 3 ngân hàng có số liệu CGIBOD trong 2 năm, có 2 ngân hàng

14

có số liệu CGIBOD trong 1 năm Như vậy, có 110 quan sát đối với CGIBOD

Bảng 2.1 Kết quả chỉ số CGIBOD 2010 – 2012 (Điểm số tối đa: 34)

Kết quả chỉ số CGIBOD được tính trên bảng hỏi trong 3 năm cho thấy vai trò và tính độc lập của HĐQT trong các ngân hàng Việt Nam thấp, dưới mức trung bình so với điểm tối

đa Tuy nhiên, vai trò kiểm soát và tính độc lập của HĐQT tăng dần qua các năm mặc dù mức

độ tăng không đáng kể

Bảng 2.2.Thống kê mô tả số liệu

Giá trị tối thiểu 0.020000 71.11000 5.90E-06 1.41E-05 2.00E-05 4.390000 8225404 1.000000

Trang 8

15

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ PHÂN TÍCH LÝ THUYẾT NGƯỜI ĐẠI DIỆN

TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO

PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH TÍNH

Với dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu định tính tại chương 2, luận án

phân tích mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành và vai trò HĐQT của 2

ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 -2012 và cho kết quả như sau:

3.1 Kết quả đánh giá về mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều

hành trong Ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa

3.1.1 Mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành

Mối quan hệ giữa HĐQT/cổ đông lớn và ban điều hành

Cổ đông lớn là nhà nước và cổ đông tổ chức gồm NHNN, tổ chức tài chính quốc tế,

ngân hàng nước ngoài Ban điều hành gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, kế toán

trưởng và các vị trí tương đương

Cổ đông được trả cổ tức theo tỷ lệ từ 10% đến 20% từ năm 2010 đến 2013 và có xu

hướng tăng Tỷ lệ này là khá cao trên thị trường trong khi đó P/E và lợi nhuận của ngân

hàng khá thấp so với mức trung bình trên thị trường Tỷ lệ sở hữu của cá nhân người

điều hành rất ít, có thành viên trong ban điều hành không nắm giữ cổ phiếu Như vậy, cổ

đông và ban điều hành khá thống nhất trong hoạt động và mâu thuẫn lợi ích giữa cổ

đông và ban điều hành là không lớn

Phần lớn thành viên HĐQT đại diện cho các cổ đông lớn Theo nghị quyết của

ngân hàng, thù lao của HĐQT do cổ đông quyết định, dựa trên kết quả tại báo cáo tài

chính của ngân hàng Trong khi đó, báo cáo tài chính của ngân hàng do tổng giám đốc

xây dựng, HĐQT và Ban kiểm soát phê duyệt Tuy nhiên, tính độc lập của ban kiểm soát

của ngân hàng kém do trưởng ban kiểm soát không phải là thành viên độc lập Cơ chế

này dễ tạo ra tình trạng HĐQT và ban điều hành hợp tác chặt chẽ với nhau báo cáo kết

quả kinh doanh tốt, đề xuất mức thù lao cao và bảo vệ nhau trước những chỉ trích, phê

bình từ bên ngoài và các cổ đông nhỏ

Chế độ thù lao của ban điều hành phải được các bên phê duyệt Tuy nhiên, NHNN

và cổ đông lớn có vai trò trong việc quyết định lương cho cả HĐQT và ban điều hành

Do vậy, Ban điều hành có xu hướng hợp tác chặt chẽ với HĐQT và cổ đông lớn để lợi

ích của họ được đảm bảo

Mối quan hệ giữa cổ đông nhỏ và HĐQT/cổ đông lớn/ ban điều hành

Cổ đông nhỏ là công chúng và nhân viên ngân hàng chỉ nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu rất

thấp, (dưới 10% vào năm 2012) và không có tiếng nói quyết định trong hoạt động ngân

hàng Xét về quyền bỏ phiếu, quyền lợi của cổ đông nhỏ được đảm bảo

Tỷ lệ vắng mặt tại Đại hội cổ đông thấp nhưng tăng từ năm 2011 đến 2013 Năm

2013, ngân hàng tổ chức Đại hội cổ đông ở ngoại ô Hà Nội Việc thay đổi địa điểm tổ

chức như vậy có thể là nguyên nhân khiến tỷ lệ vắng mặt tăng do cổ đông nhỏ ngại đi

16

họp do tăng chi phí và mất thời gian Xét từ góc độ này, quyền lợi của cổ đông nhỏ chưa được thực sự quan tâm

Tại Đại hội cổ đông, các báo cáo được chuẩn bị bởi Tổng giám đốc và phê duyệt bởi chủ tịch HĐQT, Ban kiểm soát HĐQT đại diện cho cổ đông lớn và HĐQT đồng ý với nội dung báo cáo, thì chắc chắn các báo cáo sẽ được thông qua tại đại hội Cổ đông nhỏ với tỷ lệ cổ phiếu thấp sẽ không thể ảnh hưởng tới các quyết định hay báo cáo được HĐQT thống nhất từ trước Đối với việc đề cử hay bổ nhiệm thành viên HĐQT, cổ đông nhỏ không đóng vai trò gì vì việc bổ nhiệm thành viên HĐQT và ban điều hành do NHNN (cổ đông lớn nhất) đóng vai trò quyết định

Mối quan hệ giữa người gửi tiền với HĐQT/cổ đông lớn/ban điều hành

Người gửi tiền cung cấp phần lớn nguồn vốn cho ngân hàng và được bảo hiểm bởi chính sách bảo hiểm tiền gửi Nếu ngân hàng đổ vỡ, người gửi tiền được Bảo hiểm tiền gửi chi trả theo hạn mức là 50 triệu đồng Đây là NHTM có chủ sở hữu lớn là nhà nước nên

hiện nay không có khả năng xảy ra đổ vỡ Do vậy, quyền lợi người gửi tiền được đảm bảo

3.1.2 Kết quả đánh giá vai trò của HĐQT trong Ngân hàng thương mại nhà nước được cổ phần hóa

Phân tích trách nhiệm của HĐQT của một ngân hàng thương mại nhà nước lớn mới

cổ phần hóa cho phép rút ra một số nhận xét và quan sát sau:

Thứ nhất, có nhiều thay đổi tích cực trong quản trị, điều hành nhất là việc tăng vai trò kiểm soát của HĐQT và tính chịu trách nhiệm của ban điều hành so với trước khi cổ phần hóa

Thứ hai, xét quy mô tài sản, mạng lưới và đội ngũ nhân viên, đây là ngân hàng lớn Tình trạng phân định trách nhiệm không rõ ràng giữa HĐQT và ban điều hành là đặc trưng trong ngân hàng thương mại nhà nước Do vậy, ngân hàng còn nhiều hạn chế trong quản trị điều hành mà để thay đổi, cần nhiều thời gian:

- Trách nhiệm của HĐQT, ban kiểm soát và ban điều hành không rõ ràng, đặc biệt trong việc kiểm soát báo cáo tài chính, kiểm soát nội bộ và bổ nhiệm giám đốc chi nhánh

- Nhiệm vụ quan trọng của HĐQT theo khuyến nghị của OECD và Ủy ban Basel chưa được mô tả rõ ràng trong ngân hàng Phê duyệt chiến lược dài hạn và kế hoạch kinh doanh là một ví dụ Một số nhiệm vụ HĐQT không nên tham gia như bổ nhiệm và thay thế giám đốc chi nhánh, trưởng phòng ban

- Ngân hàng quy định trách nhiệm của HĐQT chủ yếu để tuân thủ quy định chứ không phải quản trị theo hướng chủ động và hướng tới dài hạn

- Tính độc lập của HĐQT và Ban kiểm soát HĐQT hạn chế Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng đưa ra quyết định khách quan, do đó ảnh hưởng tới lợi ích của cổ đông nhỏ Hạn chế này cần nhiều thời gian để khắc phục do (i) ngân hàng có quy

mô khá lớn nên khó có thể thay đổi nhanh, (ii) ngân hàng chịu ảnh hưởng từ cách thức quản trị dưới cơ chế sở hữu nhà nước, (iii) mối quan hệ công tác lâu dài đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn thành viên HĐQT, ban kiểm soát và ban điều hành

- Các văn bản và chính sách của ngân hàng chưa đầy đủ và hiệu quả

Trang 9

17

3.2 Kết quả đánh giá về mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành

trong Ngân hàng thương mại cổ phần

3.2.1 Mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành

Mối quan hệ giữa HĐQT/cổ đông lớn và ban điều hành

Cổ đông lớn được đại diện bởi HĐQT Ban điều hành gồm Tổng giám đốc, kế toán

trưởng, trưởng bộ phận kinh doanh, giám đốc khối tại trụ sở chính và giám đốc chi

nhánh Tỷ lệ sở hữu của Ban điều hành rất thấp, khoảng 1% vốn chủ sở hữu vào năm

2011 Năm 2011, ngân hàng trả cổ tức bằng cổ phiếu Năm 2012 và 2013, ngân hàng

không trả cổ tức dưới hình thức tiền mặt hay cổ phiếu Việc không chia cổ tức mà dùng

lợi nhuận để tăng vốn thông thường theo lý thuyết người đại diện sẽ không được ủng hộ

bởi cổ đông, nhưng có thể được ban điều hành ủng hộ nhất là khi họ sở hữu ít cổ phiếu

Bởi vì khi vốn tăng, ban điều hành có nhiều tiền mặt hơn và có thể mở rộng hoạt động,

củng cố địa vị cho mình Trong trường hợp NHTM cổ phần, việc không chia cổ tức được

cả HĐQT và ban điều hành ủng hộ Điều này cho thấy lợi ích giữa cổ đông lớn mà đại

diện là HĐQT và lợi ích của Ban điều hành được gắn kết khá chặt chẽ với nhau

HĐQT có trách nhiệm tham gia vào quá trình ra quyết định về tổ chức, quản trị,

hoạt động và xây dựng các kế hoạch của ngân hàng Như vậy, thành viên HĐQT có xu

hướng tham gia quản lý Khi HĐQT có xu hướng tham gia quản lý, các quyết định

thường được thống nhất giữa HĐQT và Ban điều hành

Mối quan hệ giữa cổ đông nhỏ và HĐQT/cổ đông lớn/ban điều hành

Cổ đông nhỏ chủ yếu là công chúng, chiếm tỷ lệ gần 40% vốn chủ sở hữu, cao hơn

nhiều so với NHTM nhà nước được cổ phần hóa Xét về tỷ lệ sở hữu, cổ đông nhỏ tại

NHTM cổ phần đóng vai trò quan trọng hơn so với NHTM nhà nước được cổ phần hóa

Xét về quy định bỏ phiếu, quyền lợi của cổ đông nhỏ được đảm bảo

Tuy nhiên, thực tế cho thấy vai trò của cổ đông nhỏ trong việc quyết định các vấn

đề lớn là không đáng kể HĐQT và ban điều hành có vai trò quyết định trong việc sử

dụng thông tin và đối với những vấn đề lớn ngay cả khi vấn đề đó liền quan tới quyền lợi

của tất cả cổ đông như việc chỉ trả cổ tức bằng cổ phiếu trong nhiều năm trong trường

hợp này, lợi ích của cổ đông nhỏ không được quan tâm

Mối quan hệ giữa người gửi tiền với HĐQT/cổ đông lớn/ban điều hành

Nếu ngân hàng đổ vỡ, người gửi tiền được Bảo hiểm tiền gửi chi trả theo hạn mức

là 50 triệu đồng Quan điểm chung của Chính phủ hiện nay là mặc dù tái cấu trúc, nhưng

theo phương pháp sáp nhập, không để đổ vỡ Khả năng xảy ra đổ vỡ, dẫn tới phải chi trả

bảo hiểm tiền gửi và người gửi tiền gánh chịu tổn thất do ngân hàng đổ vỡ là ít Như

vậy, trong bối cảnh có sự bảo lãnh của Chính phủ, về cơ bản, quyền lợi người gửi tiền

được đảm bảo Nếu chính phủ giảm dần việc bảo lãnh này, quyền lợi của người gửi tiền

sẽ ảnh hưởng lớn khi ngân hàng đổ vỡ, dẫn đến phải chi trả

3.2.2 Kết quả đánh giá vai trò của HĐQT trong Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTM cổ phần là ngân hàng có khả năng ứng phó nhanh với những thay đổi

bên ngoài và khởi xướng thay đổi để tự cải thiện mình Ngân hàng có nhiều thay đổi về

chính sách, quy trình, công nghệ thông tin, cơ cấu tổ chức

18

Các chính sách và quy định của ngân hàng rõ ràng về nội dung và phù hợp với yêu cầu thực tiễn Mặc dù trên thực tế, ngân hàng đã chỉnh sửa và thay đổi chính sách, quy định, nhưng về mặt pháp lý, chưa có quy định nào yêu cầu HĐQT có trách nhiệm giám sát, đánh giá hiệu quả của các chính sách và thay đổi khi cần thiết Ngân hàng nên xem xét đưa quy định này trong điều lệ

Vai trò của nhóm các thành viên HĐQT có quan hệ chặt chẽ với nhau rất lớn và ban kiểm soát ở vị thế kém hơn HĐQT gợi ý rằng mối quan hệ xã hội và sự quen biết trong công việc từ trước đóng vai trò nhất định trong quản trị ngân hàng Việc đối xử công bằng đối với tất cả cổ đông khó có thể thực hiện được Do đó, cổ đông thiểu số không được bảo vệ tốt

Tóm lại, phân tích tình huống tại 2 ngân hàng thương mại Việt Nam cho thấy mâu thuẫn lợi ích giữa HĐQT/ cổ đông lớn và ban điều hành là nhỏ HĐQT đại diện cho lợi ích của cổ đông lớn Lợi ích giữa cổ đông lớn/HĐQT và ban điều hành được gắn kết khá chặt chẽ với nhau Ngược lại, mâu thuẫn lợi ích giữa HĐQT/cổ đông lớn và cổ đông nhỏ là khá

rõ rệt Khung pháp lý chưa đủ để bảo đảm rằng cổ đông nhỏ được đối xử công bằng Khả năng của HĐQT và ban kiểm soát trong việc có thể đánh giá độc lập các vấn

đề là hạn chế Việc thiếu thành viên HĐQT độc lập theo đúng nghĩa và vai trò của mối quan hệ xã hội giữa thành viên HĐQT với ban kiểm soát và ban điều hành hoặc sự kiểm soát của cổ đông lớn là những lý do giải thích cho những hạn chế trong khả năng đánh giá độc lập

Do mối quan hệ xã hội giữa thành viên HĐQT, ban kiểm soát, ban điều hành trong ngân hàng khá chặt chẽ như có quan hệ gia đình hoặc cùng làm việc đồng thời cho công

ty khác, vấn đề quản trị công ty trở nên khó khăn, phức tạp hơn Tính độc lập và khả năng đánh giá khách quan của HĐQT, ban kiểm soát bị hạn chế Sự minh bạch trong hoạt động có thể bị hạn chế hơn khi các ngân hàng có xu hướng sẽ ưu ái hơn cho các khách hàng có quan hệ liên quan (cùng chủ sở hữu, doanh nghiệp có người thân ban lãnh đạo kiểm soát hay điều hành) Nhiều thành viên ban điều hành khác, do nắm giữ cổ phần

ít hơn hoặc không có cổ phần, đơn thuần là người được thuê điều hành, phần nào sẽ bị

vô hiệu hóa trong hoạt động hoặc hạn chế trong việc ra quyết định

Tại Việt Nam, bên cạnh những cơ chế chính thức như quy định pháp lý hay chế độ đãi ngộ, mối quan hệ xã hội đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người điều hành Mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành viên trong một nhóm các thành viên HĐQT và sự kiểm soát/thống trị của một nhóm cổ đông liên quan đều tìm thấy ở 2 ngân hàng Mối quan hệ này khiến lợi ích của cổ đông lớn/HĐQT và ban điều hành gắn kết với nhau Họ dễ kết hợp với nhau để thực hiện các quyết định lớn mà có lợi cho họ trong khi đó các quyết định này có thể không có lợi cho cổ đông nhỏ hoặc vì chỉ mục tiêu lợi nhuận trước mắt bất chấp rủi ro lớn

Do vai trò của HĐQT còn bao gồm việc tham gia các quyết định điều hành, mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành chủ yếu là mâu thuẫn lợi ích giữa một bên là cổ đông lớn và người điều hành với một bên là cổ đông nhỏ Nếu vai trò kiểm soát và khả năng đánh giá khách quan của HĐQT còn hạn chế, thì lợi ích của cổ đông nhỏ sẽ bị ảnh hưởng

Trang 10

19

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH LÝ THUYẾT NGƯỜI ĐẠI DIỆN TRONG

HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM THEO PHƯƠNG PHÁP

ĐỊNH LƯỢNG

Với dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu định tính tại chương 2, luận án

kiểm định mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành và vai trò HĐQT của

các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010 -2012 và cho kết quả như sau:

4.1 Mâu thuẫn lợi ích theo lý thuyết người đại diện trong hệ thống ngân hàng

Việt Nam

4.1.1 Kết quả giả thuyết 1

Kết quả giả thuyết H1A

ROA = ß0 + ß1 (X1DH) + ß2 (CAPITAL) + ß3 (LogASSET) + Ű

Mô hình hồi quy không có ý nghĩa Tỷ lệ sở hữu của người điều hành không có ảnh

hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản trong giai đoạn 2010 – 2012 Nói cách khác, việc

người điều hành tham gia sở hữu tại các NHTM Việt Nam nhiều hay ít không tác động

tới hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng

Kết quả giả thuyết H1B

ROA = -0,930859 – 0,067145 (logX1HDQT) + 0,303221 (logCAPITAL) (Với mức

ý nghĩa 5%, Prob.: 0,03477, R-square: 0,174630)

Kết quả trên cho thấy ngược với lý thuyết người đại diện, tại các ngân hàng Việt

Nam, tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng cao, thì hiệu quả sử dụng tài sản càng giảm Khi tỷ lệ

vốn chủ sở hữu/tổng tài sản tăng, hiệu quả sử dụng tài sản tăng

Kết quả giả thuyết H1C

ROA = -0,988515 - 0,072887 (logX1TONG) + 0,325474 (logCAPITAL) (Với mức

ý nghĩa 5%, Prob 0,008986, R-square: 0,168721)

Kết quả trên cho thấy ngược với lý thuyết người đại diện, tại các ngân hàng Việt

Nam, tỷ lệ sở hữu của HĐQT và người điều hành càng cao, thì hiệu quả sử dụng tài sản

càng giảm Khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản tăng, hiệu quả sử dụng tài sản tăng Kết

quả giả thuyết H1A, H1B và H1C cho thấy vai trò của HĐQT có ảnh hưởng đặc biệt đối

với hoạt động ngân hàng Khi HĐQT sở hữu tỷ lệ cổ phần lớn, thì hiệu quả sử dụng tài

sản giảm Trong khi đó, tỷ lệ sở hữu của người điều hành không có ảnh hưởng tới hiệu

quả sử dụng tài sản

4.2.2 Kết quả giả thuyết 2

Kết quả giả thuyết 2 H2A

COI = ß0 + ß1 (X1DH) + ß2 (CAPITAL) + ß3 (ASSET) + Ű

Kết quả chạy hồi quy trên Eview cho thấy mô hình hồi quy không có ý nghĩa Điều

này gợi ý rằng tỷ lệ sở hữu của người điều hành không có ảnh hưởng tới chi phí của

ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2012 Nói cách khác, sự tách biệt giữa

20

quyền sở hữu và quyền điều hành nhiều hay ít (thể hiện tỷ lệ sở hữu của người điều hành) không tác động tới chi phí của ngân hàng

Kết quả giả thuyết H2B

Log COI = 4,145218 + 0,007948 Log (X1HDQT) + 0,023129 Ln(ASSET) (Với mức ý nghĩa 5%, Prob 0,001649, R-square: 0,195229)

Kết quả trên cho thấy tỷ lệ sở hữu của HĐQT càng cao, thì chi phí của ngân hàng càng tăng Và khi quy mô tài sản tăng, chi phí tăng

Kết quả giả thuyết H2C

Log (COI) = 4.131793 + 0.008969 Log(X1TONG) +0.024048 Ln(ASSET) (Với mức ý nghĩa 5%, Prob 0,003029, R-square: 0,203423)

Kết quả trên cho thấy tỷ lệ sở hữu của HĐQT và người điều hành càng cao, thì chi phí càng tăng Và khi quy mô tài sản tăng, chi phí tăng Kết quả giả thuyết, H2A, H2B

và H2C cho thấy vai trò của HĐQT có ảnh hưởng đặc biệt đối với hoạt động ngân hàng Khi HĐQT sở hữu tỷ lệ cổ phần lớn, thì chi phí ngân hàng tăng

4.2.3 Phân tích kết quả giả thuyết 1 và giả thuyết 2

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của giả thuyết 1 và giả thuyết 2 cho thấy trong

hệ thống ngân hàng Việt Nam, không tồn tại mâu thuẫn giữa chủ sở hữu lớn và người điều hành Nói cách khác, tỷ lệ sở hữu của người điều hành không có ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản và chi phí của ngân hàng Trong khi đó, khi thành viên HĐQT có tỷ lệ sở hữu lớn, thì hiệu quả sử dụng tài sản giảm và chi phí ngân hàng tăng Điều này gợi ý rằng khi thành viên HĐQT càng sở hữu nhiều cổ phần thì khả năng kiểm soát, thâu tóm hoạt động ngân hàng của những cổ đông lớn thông qua HĐQT càng lớn Khi đó, nhóm cổ đông lớn tham gia HĐQT trong ngân hàng Việt Nam chưa thực hiện chức năng định hướng và giám sát hoạt động ngân hàng vì mục tiêu lâu dài của ngân hàng mà chỉ vì lợi ích của nhóm trong ngắn hạn làm gia tăng rủi ro cho ngân hàng Kết quả nghiên cứu này ngược với kết quả nghiên cứu của Grant Fleming

và cộng sự (2005) đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Úc Sự khác nhau về kết quả nghiên cứu có thể xuất phát từ nhiều yếu tố trong đó có thể là sự khác biệt giữa hoạt động ngân hàng và doanh nghiệp thông thường

Như vậy, vấn đề mà lý thuyết người đại diện nêu về mối quan hệ giữa sự tách biệt quyền sở hữu và quyền điều hành với hiệu quả sử dụng tài sản trong hoạt động ngân hàng không phải lúc nào cũng đúng Trong điều kiện Việt Nam giai đoạn 2010 - 2012, hiệu quả sử dụng tài sản phụ thuộc vào định hướng và ý chí của nhóm cổ đông lớn tham gia HĐQT và có quyền kiểm soát ngân hàng thông qua HĐQT chứ không phải từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành Từ kết luận này, vấn đề đặt ra đối với quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam không phải là xây dựng một cơ cấu sở hữu mà thành viên HĐQT và ban điều hành sở hữu phần lớn ngân hàng để rút ngắn sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền điều hành Ngược lại, vấn đề là cần có biện pháp để hướng HĐQT và cổ đông lớn định hướng hoạt động vì lợi ích lâu dài của ngân hàng và các cổ đông nhỏ, người gửi tiền Trong trường hợp này, cần tăng tính độc lập của HĐQT hoặc ban điều hành trong việc ra các quyết định để đảm bảo lợi ích của cổ đông nhỏ

Ngày đăng: 22/12/2015, 11:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.Thống kê mô tả số liệu - LATS Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2.2. Thống kê mô tả số liệu (Trang 7)
Bảng 2.1. Kết quả chỉ số CGIBOD 2010 – 2012 (Điểm số tối đa: 34) - LATS Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2.1. Kết quả chỉ số CGIBOD 2010 – 2012 (Điểm số tối đa: 34) (Trang 7)
Hình 5.1 Lý thuyết người đại diện trong ngân hàng Việt Nam - LATS Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết người đại diện trong quản trị ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 5.1 Lý thuyết người đại diện trong ngân hàng Việt Nam (Trang 12)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm