Qua thực tế thực tập ở trường THPT, trong quá trình tìm hiểu, trò chuyện với một số GV, dự giờ các tiết dạy tôi nhận thấy rằng nhiều GV chưa chú ý nhiều đến việc mở đầu bài giảng để tạo
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Cần Thơ, 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt thời gian học tập vừa qua từ khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè
Với lòng biết ơn sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Sư phạm - Trường Đại Học Cần Thơ đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường
Em xin chân thành cảm ơn Ths.Đặng Thị Bắc Lý đã tận tâm hướng dẫn chúng em qua từng buổi học trên lớp cũng như những buổi nói chuyện, thảo luận về việc làm luận văn Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì em nghĩ bài luận văn này của
em rất khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn cô
Kiến thức của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn để kiến thức của em trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Sinh viên thực hiện
Mai Thị Lệ Thu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Mai Thị Lệ Thu
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 1
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 1
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2
6 THUẬT NGỮ TRONG ĐỀ TÀI 2
PHẦN 2 NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG 3
1.1 Quá trình dạy học 3
1.1.1 Định nghĩa quá trình dạy học 3
1.1.2 Mục tiêu của quá trình dạy học 3
1.2 Hứng thú và biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý 4
1.2.1 Khái niệm hứng thú 4
1.2.2 Biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý 4
1.3 Các định hướng trong dạy học của MARZANO 5
1.4 Lý thuyết chung về mở đầu bài giảng 7
1.4.1 Vị trí và vai trò của mở đầu bài giảng 7
1.4.2 Yêu cầu chung để việc mở đầu bài giảng đạt hiệu quả 7
1.4.3 Các cách mở đầu bài giảng 7
1.4.4 Quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng 12
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ ĐOẠN MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG CHO 10 BÀI VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 14
2.1 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng” 14
2.2 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “16 Giao thoa sóng” 17
2.3 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “17 Sóng âm” 19
2.4 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “32 Máy biến áp – Truyền tải điện năng” 22
2.5 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “35 Tán sắc ánh sáng” 24
2.6 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “40: Tia hồng ngoại Tia tử ngoại” 27
Trang 52.7 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “41 Tia X Thuyết điện từ ánh sáng
Thang sóng điện từ” 29
2.8 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “49 Sự phát quang Sơ lược về Laze”
31
2.9 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “53 Phóng xạ” 34
2.10 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “56 Phản ứng phân hạch” 37
PHẦN 3 KẾT LUẬN 41
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 41
2 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 41
3 NHỮNG DỰ ĐỊNH TRONG TƯƠNG LAI 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN 1 MỞ ĐẦU - -
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bất kì hoạt động nào cũng cần có sự mở đầu, đối với GV khi bắt đầu một tiết dạy mới đều phải có phần mở đầu bài giảng Vật lý là môn khoa học nó rất có ích cho cuộc sống, nó có thể giải thích được một số hiện tượng xảy ra trong cuộc sống Nếu HS quan tâm đến môn Vật lý, có hứng thú học nó thì sẽ thấy đây là một môn thú vị, bổ ích Do vậy, yêu cầu của người GV là phải làm sao tạo hứng thú cho HS trong môn học này, một trong những cách tạo hứng thú học tập là mở đầu bài giảng Mở đầu bài giảng tuy ngắn nhưng quyết định hiệu quả của cả giờ học Có nhiều GV xem nhẹ việc mở đầu bài giảng
và cho rằng khi mình giảng thì tự khắc HS sẽ chú ý học bài Qua thực tế thực tập ở trường THPT, trong quá trình tìm hiểu, trò chuyện với một số GV, dự giờ các tiết dạy tôi nhận thấy rằng nhiều GV chưa chú ý nhiều đến việc mở đầu bài giảng để tạo cho HS cảm thấy hứng thú với môn học Nhưng thực tế mở đầu bài giảng giúp rất nhiều trong việc cuốn hút HS tham gia học tập, làm HS chủ động và tích cực hơn trong việc tiếp thu kiến thức
Một tiết học có phần mở đầu bài giảng thú vị, gây được sự chú ý và hứng thú cho
HS từ những phút đầu tiên của tiết học và sẽ góp phần làm cho quá trình dạy học được hiệu quả hơn Nhận thức được tầm quan trọng của việc mở đầu bài giảng, tôi đã lựa chọn
nghiên cứu đề tài “Tập thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho 10 bài Vật lý 12 nâng cao” Với mong muốn đạt được hiệu quả cao trong quá trình dạy học và thực hiện tốt
mục tiêu dạy học, trong luận văn này tôi xin đưa ra một số cách mở đầu bài giảng tạo hứng thú cho HS trong một số tiết học cụ thể môn Vật lý (cụ thể “Vật lý 12 nâng cao”)
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Dựa trên cơ sở của việc mở đầu bài giảng, đề tài đề xuất một số mục tiêu để mở đầu bài giảng hiệu quả nhằm tạo hứng thú học tập môn Vật lý cho học sinh như sau:
- Hệ thống hóa lý thuyết liên quan đến mở đầu bài giảng
- Xây dựng quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng
- Vận dụng các quy trình này để thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho 10 bài Vật lý
12 nâng cao
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Hệ thống hóa các vấn đề sau: Lý thuyết về việc mở đầu bài giảng (MĐBG), xây dựng quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng và vận dụng các quy trình này để thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho 10 bài trong sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao (NC)
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi thực hiện các phương pháp và phương tiện nghiên cứu như sau:
Trang 7Bước 1: Xác định mục tiêu của đề tài
Bước 2: Thu thập và nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài
Bước 3: Lập đề cương nghiên cứu đề tài
Bước 4: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
Bước 5: Chọn 10 bài trong sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao để thiết kế đoạn mở đầu bài giảng
Bước 6: Vận dụng quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng để thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho 10 bài đã chọn trong sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao
Bước 7: Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề tài
Bước 8: Báo cáo thử luận văn
Bước 9: Báo cáo luận văn
6 THUẬT NGỮ TRONG ĐỀ TÀI
Trang 8PHẦN 2 NỘI DUNG - -
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG
Trong chương 1 của đề tài, tôi tập trung làm sáng tỏ các vấn đề như sau: khái niệm quá trình dạy học, hứng thú và biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý, các định hướng của Mazano trong quá trình dạy học và lý thuyết chung về mở đầu bài giảng
1.1 Quá trình dạy học
Phần đầu tiên của chương tôi tìm hiểu định nghĩa quá trình dạy học và mục tiêu của quá trình dạy học
1.1.1.Định nghĩa quá trình dạy học
Theo quan điểm tương tác hoạt động của Vưgotxky L X (1896 – 1934) và nhiều nhà giáo dục đương thời lúc này, dạy học có thể hiểu là quá trình hoạt động phối hợp giữa
GV và HS Trong đó hoạt động của giáo viên đóng vai trò chủ đạo, hoạt động của học sinh đóng vai trò chủ động nhằm thực hiện mục đích dạy học [5]
Trong QTDH, GV thực hiện hoạt động dạy HS thực hiện hoạt động học Hai hoạt động này được tiến hành phối hợp, tương tác với nhau để tiến đến mục đích cuối cùng bồi dưỡng cho HS hệ thống tri thức, hiểu biết về vấn đề diễn ra trong cuộc sống, hệ thống
kĩ năng hoạt động trí và lực Bên cạnh đó, ngoài việc phối hợp hoạt động cung cấp tri thức cho HS thì GV còn cần phải suy nghĩ để giúp HS sử dụng tri thức, những kinh nghiệm mà GV thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức GV cung cấp tạo sự hiểu biết cho HS để thông qua đó hình thành cho
HS kĩ năng, kĩ xảo, phát triển năng lực nhận thức, quan điểm và thái độ đúng đắn đối với bản thân, đối với cuộc sống
Như vậy, quá trình dạy học được định nghĩa như sau: Quá trình dạy học là quá trình mà dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học [3]
1.1.2 Mục tiêu của quá trình dạy học
Mục tiêu của quá trình dạy học là sự mô tả tương đối cụ thể, chi tiết những điều học sinh nên biết và có thể làm sau một tiết học
Mục đích là sự mô tả rất chung chung những gì học sinh hiểu biết và có khả năng làm được Mục đích dạy học được viết ra để thể hiện trong khoảng thời gian dài như một năm, một học kỳ Mục đích dạy học cũng là khởi điểm của các mục tiêu dạy học cụ thể hơn [5]
Trang 9Giữa MĐ – ND – PP có mối quan hệ mật thiết với nhau, người GV sẽ ý thức được và suy ngẫm cho từng hoạt động của mình được ghi trong giáo án, bài giảng, tài liệu học tập, cho việc chuẩn bị phương tiện dạy học… Mọi thứ phải mang ý nghĩa nhất quán: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Dạy nhằm mục đích gì?
Trong quá trình dạy học, cần phải dạy những nội dung nhằm đạt được mục tiêu đã đưa ra Giữa nội dung và mục tiêu có mối liên hệ mật thiết với nhau, trong một bài học giữa nội dung và mục tiêu được thể hiện thông qua sơ đồ sau [6]:
Nội dung có nhiệm vụ thực thiện mục tiêu của bài, mục tiêu của bài sẽ được thực hiện bằng những phương pháp dạy học của giáo viên, phương pháp dạy học đó phải đáp ứng được mục tiêu của bài Trong quá trình dạy học cần phải trả lời được các câu hỏi như sau: Dạy cái gì? Dạy như thế nào? Dạy nhằm mục tiêu gì? Yếu tố mục tiêu là yếu tố chủ đạo
1.2 Hứng thú và biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý
Phần thứ 2 của chương này tôi tìm hiểu khái niệm hứng thú và biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý Từ đó, làm cơ sở đưa ra các kĩ thuật tạo hứng thú học tập cho học sinh
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc.Vì thế cùng với nhu cầu, hứng thú là một trong hệ thống động lực của nhân cách
1.2.2 Biểu hiện của hứng thú trong học tập môn Vật lý
Trong bất cứ công việc gì, nếu có hứng thú làm việc thì con người sẽ có cảm giác dễ chịu với hoạt động, nó là động cơ thúc đẩy con người tham gia tích cực và sáng tạo hơn vào hoạt động đó Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hoạt động gì cũng sẽ không đem lại kết quả cao Đối với các hoạt động nhận thức, sáng tạo, hoạt động học tập, khi
ND
MT
PP
Trang 10không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực
Hứng thú học tập môn vật lý biểu hiện cả ở trong và ngoài giờ học:
+ Ở trong giờ học: Biểu hiện của hứng thú là chăm chỉ nghe giảng, xây dựng bài, hăng hái phát biểu ý kiến
+ Ngoài giờ học: Các em tìm đọc thêm các sách tham khảo môn vật lý, tìm hiểu các hiện tượng vật lý ngoài đời sống, tìm cách giải thích theo kiến thức đã học Việc tổ chức những buổi tham quan du lịch, các hình ảnh sự vật, hiện tượng tự nhiên cũng tạo hứng thú học tập cho học sinh Những biểu hiện của hứng thú học tập của mỗi học sinh về môn Vật lý, ở mỗi lớp, mỗi lứa tuổi là khác nhau Tuy nhiên, nếu chịu khó quan sát thì ta
có thể nhận biết đuợc, bởi các em thường bộc lộ cảm xúc, tình cảm ra bên ngoài nên rất
dễ nhận biết
Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, tăng sức làm việc, sự sáng tạo Hứng thú là một trong những nhân tố quan trọng: có thể khẳng định rằng tạo một hứng thú trong một tiết học, giờ học vật lý là đã tạo được
sự thành công của giờ học Có hứng thú học thì khả năng tiếp thu bài của học sinh được tăng lên; chất lượng học tập được nâng lên rõ rệt; hứng thú học tập chi phối sự thành công hay thất bại của bài giảng
Người giáo viên gây đuợc hứng thú với học sinh thì đó là một thuận lợi cho môn dạy của mình Chất luợng dạy học tăng lên rõ rệt Nó tích cực đối với tất cả các môn học
1.3 Các định hướng trong dạy học của MARZANO
Theo quan điểm dạy học hiện đại “lấy HS làm trung tâm” thì mối quan hệ giữa quá trình dạy học và phát triển trí tuệ thể hiện rất rõ ràng trong quá trình dạy học Đó là nguyên nhân tại sao các nhà lý luận dạy học luôn tìm cách thức, đường đi, phương tiện dạy học mới hay nói khác đi họ luôn tìm kiếm các phương pháp dạy học tích cực để phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Trong QTDH phải hướng đến hai cái đích quan trọng nhất là: chất lượng tri thức và phát triển trí tuệ của HS Trong quá trình này, phải định hướng rõ ràng bằng những lý thuyết khái quát trước khi đi đến những PPDH cụ thể Một trong những lí thuyết được các nhà giáo dục trên thế giới sử dụng nhiều là lý thuyết của Robert Mazano về các định hướng trong QTDH [3], tác giả đã đúc kết và đưa ra 5 định hướng làm thế nào để HS vừa nắm vững tri thức đồng thời phát triển tư duy thông qua các hoạt động dạy học Năm định hướng đó là:
- Định hướng 1: Tạo bầu không khí học tập tích cực
- Định hướng 2: Tổ chức việc tiếp thu kiến thức và kết nối các kiến thức đã có
- Định hướng 3: Mở rộng và tinh lọc kiến thức
- Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có ý nghĩa
- Định hướng 5: Tạo thói quen tư duy
Trang 11Trong 5 định hướng đã nêu ở trên, ở các định hướng 2, 3, 4 ẩn chứa các câu hỏi như:
“dạy cái gì?”, “dạy như thế nào”, “làm như vậy để làm gì?” Định hướng 5 cũng đã nói cho chúng ta rõ: “ dạy học phải đạt kết quả cuối cùng là biết tư duy và tư duy có hiệu quả” Các định hướng 2, 3 và 4 vạch ra cho ra người giáo viên chiến lược làm việc về nội dung bài giảng đối với học sinh và những định hướng này thể hiện những việc làm cụ thể của thầy và trò trong một chiến lược dạy học mới, định hướng 5 là hướng đến hiệu quả của chiến lược ấy Định hướng 1 là mở đầu cho chiến lược dạy học mà ta đang nói tới Một chiến lược hoạt động tư duy sẽ thành công nếu như thầy giáo tạo được cho HS cảm nhận tốt khi bắt đầu chiến lược ấy
Theo quan điểm của Mazano thì bầu không khí tích cực ảnh hưởng rất lớn trong quá trình học tập hiệu quả Bầu không khí tích cực ở đây được hiểu là bầu không khí vật lý (ánh sáng, âm thanh, nhiệt độ…), bầu không khí tâm lí: bình đẳng, an tâm, hợp tác, quan tâm lẫn nhau và tâm thế sẵn sàng để bắt đầu tiết học [3] Bầu không khí học tập tích cực này diễn ra trong suốt quá trình học và ngay sau khi mở đầu bài giảng Muốn HS có thái
độ tích cực và sẵn sàng hợp tác ngay thì khi bắt đầu tiết học người GV nên tạo cho học sinh thấy thích thú với chủ đề học, nhận thấy giờ học có tác dụng với bản thân học sinh, thấy mình có thể cùng thầy và bạn cùng nhau giải quyết tốt bài học Bầu không khí học tập thoải mái, vui tươi cùng với việc cung cấp các kiến thức có ích, thú vị sẽ hấp dẫn các
em tham gia một cách tích cực hơn
Để tạo được bầu không khí tích cực, rõ ràng vai trò của thầy cực kì quan trọng GV bước vào lớp với nét mặt vui vẻ, hỏi thăm trò chuyện vài lời với một vài HS, giọng nói tự nhiên, ấm áp, những câu chuyện mở đầu bài giảng của GV làm cho bài giảng bắt đầu một cách tự nhiên, tìm cho lớp học một môi trường học thích hợp sẽ quyết định một giờ giảng
có triển vọng thu được kết quả tốt Thực chất đây là bước chuẩn bị về mặt tâm lý cho học sinh, sao cho các em thấy được mình đang ở trong một không gian mà trong đó mọi người đang có cái đích chung là chuẩn bị kiếm cái gì đó mới mẻ, thú vị, có tác dụng với bản thân Đó chình là GV đã làm cho HS nhận thức tích cực về việc học của mình Có thể vận dụng các cách mở đầu bài giảng sau đây nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện định hướng
1 [3]:
1 Mở đầu trực tiếp
2 Mở đầu bằng một câu chuyện
3 Mở đầu bằng nối tiếp công việc kiểm tra đầu giờ
4 Mở đầu bằng một vướng mắc khi giải một bài tập
5 Mở đầu bằng khêu gợi trí tò mò
6 Mở đầu bằng một câu hỏi có vấn đề
Trang 1212 Mở đầu bằng một thái độ thân thiện với học sinh
13 Mở đầu bằng một thực tế xã hội, ở địa phương, trong kĩ thuật
14 Mở đầu bằng một thí nghiệm đơn giảng
Từ những điều trên, tôi thấy người GV nên áp dụng định hướng 1 này vào thực tiễn giảng dạy, đặc biệt là vào việc mở đầu bài giảng để tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần làm cho việc học của HS đạt hiệu quả hơn
1.4 Lý thuyết chung về mở đầu bài giảng
1.4.1 Vị trí và vai trò của mở đầu bài giảng
Mở đầu bài giảng là công đoạn khởi đầu cho tiết học, thường diễn ra khoảng vài phút.Mở đầu bài giảng phải đảm bảo thực hiện được 2 nhiệm vụ [6]:
+ Định hướng học tập cho HS (nghĩa là bài học này nhằm mục đích gì? Để trả lời câu hỏi gì? HS thu được gì sau tiết học này?…)
+ Thu hút sự chú ý của học sinh vào bài học, qua đó quản lý và kiểm soát lớp học thông qua các hình thức triển khai dạy học
Việc mở đầu bài giảng một cách tự nhiên sẽ tạo bầu không khí vui tươi, thoải mái, làm cho học sinh bước vào bài mới một cách tự tin
1.4.2 Yêu cầu chung để việc mở đầu bài giảng đạt hiệu quả
- Mở đầu bài giảng phải luôn phù hợp với nội dung chính và mục tiêu cần đạt của bài Có như vậy, sự thống nhất của bài giảng mới đạt được
- Mở đầu bài giảng phải ngắn gọn, xúc tích, rõ ràng và mang tính chất tình huống tạo ấn tượng đầu tiên trong đầu học sinh
- Mở đầu phải phù hợp với đối tượng HS nghĩa là những mẩu chuyện, những sự việc đưa ra cần được tất cả học sinh hiểu ngay để nổi bật tình huống cần nổi bật từ đó mới gây được hứng thú và khiến học sinh chủ động lĩnh hội được kiến thức [4]
1.4.3 Các cách mở đầu bài giảng
Để tạo bầu không khí học tập tích cực và tùy theo mục tiêu của tiết học, nội dung bài học và đối tượng học sinh mà có thể xây dựng các hình thức tổ chức bài giảng khác nhau
Có thể phân loại các cách MĐBG như sau [4]:
Cách 1: Mở đầu bài giảng trực tiếp
Đây là cách mở đầu phổ biến, ở cách mở đầu này, GV có thể truyền tải thông tin đến HS một cách nhanh chóng và trực tiếp mà không cần tốn nhiều thời gian Kiểu mở đầu này gần giống như kể chuyện, nhưng nội dung không cấu trúc như một câu chuyện
GV trình bày ngay một sự kiện, nội dung liên quan trực tiếp đến nội dung để vào bài giảng
Ví dụ [4]:
Bài “Định luật khúc xạ”: Hiện tượng thấy vũng nước trên đường nhựa khi đi xe giữa trưa, trời nắng nóng
Bài “Định luật quán tính”: Hiện tượng ngồi trên xe khi thắng gấp
Bài “Máy quang phổ - Quang phổ liên tục”: Hiện tượng cầu vồng
Cách 2: Mở đầu bằng một câu chuyện
Trang 13Đây là cách mở đầu đơn giản nhất HS rất thích nghe kể chuyện, khi GV kể chuyện thì HS sẽ dễ dàng thu hút và dễ dàng lắng nghe hơn HS rất thích nghe những câu chuyện dù là những câu chuyện rất ngắn
Tuy nhiên, ngoài việc gắn liền với nội dung, câu chuyện còn có yêu cầu là phải thực tế và đặc biệt là không phản giáo dục Ngoài ra cần phải chú ý tính đến thời gian
Thông thường nhất vẫn là câu chuyện lịch sử khoa học, chuyện về các nhà bác học
có liên quan đến nội dung dạy học và mang tính giáo dục Kết quả hoặc ý nghĩa của câu chuyện cần được giải thích rõ ở cuối bài giảng
Ví dụ [4]:
Bài “Lực đẩy Archimede”: kể chuyện Archimede khám phá lực đẩy của chất lỏng
Bài “ Sự rơi tự do”: kể chuyện tháp nghiêng Piza
Bài “ Dao động tắt dần và dao động cưỡng bức”: kể chuyện đoàn quân đi đều qua cầu thì cầu sập
Bài “Định luật khúc xạ” kể chuyện ảnh ảo trên sa mạc
Cách 3: Mở đầu bằng nối tiếp công việc kiểm tra đầu giờ
Việc kiểm tra đầu giờ không những nhằm đánh giá việc học của HS ở nhà mà còn công việc chuẩn bị tri thức cho HS (cả lớp) bước vào bài mới một cách đồng đều giúp HS
ôn lại kiến thức cũ làm cơ sở cho việc học kiến thức mới
Ví dụ [4]:
Trước khi dạy định luật III Newton:
kiểm tra những vấn đề xung quang định luật I, II
Newton
Trước khi dạy bài “ Qui tắc hợp lực
song song”: kiểm tra thí nghiệm kiểm chứng hệ 3
lực cân bằng Sau khi học sinh trình bày, vẽ hình,
giáo viên đề nghị HS tưởng tượng dịch chuyển
điểm A và B lại gần nhau (hình 1.1)
Hình 1.1 Quy tắc hợp lực
Cách 4: Mở đầu bằng một vướng mắc khi giải một bài tập
Kiểu này cũng giống như kiểu trên nhưng là giải một bài tập có liên quan đến kiến thức bài trước Sau đó, đặt thêm điều kiện hoặc giả định để HS không giải được Muốn giải được phải học bài mới
Cách 5: Mở đầu bằng khêu gợi trí tò mò
Trí tò mò là bản tính của con người, đặc biệt là lứa tuổi HS Các em sẽ rất quan tâm đến những gì ta sẽ giảng nếu ta khêu gợi được trí tò mò của các em Vấn đề là làm thế nào để khêu gợi trí tò mò của HS Một câu chuyện, một hiện tượng vật lý mà các em chưa giải thích được cũng có thể gợi tò mò, song ở đây có yêu cầu cao hơn về nghệ thuật trình bày của giáo viên Một vấn đề, một hiện tượng có vẻ rất đơn giản song ít người để ý
Trang 14tới Khi ta đưa hiện tượng, sự việc ấy ra và chỉ đúng “ ở chỗ” mà học sinh không hề chú
ý, tạo cho các em một cảm giác hơi lạ nhưng thú vị [4]
Ví dụ:
Bài “Sự phản xạ ánh sáng”: Các pha mặt trăng là rất thường tình với con người Nếu đặt vấn đề là bóng Trái Đất là cho Mặt Trăng có hình lưỡi liềm (có lẽ học sinh tin như vậy) rồi phủ nhận điều đó HS sẽ tự vấn: Đúng hay sai?
Bài “Hiện tượng căng mặt ngoài”: Cũng đặt vấn đề như trên nhưng dùng thí nghiệm cho học sinh quan sát kĩ mặt nước trong ống thủy tinh nhỏ Lúc này học sinh lại thấy mặt nước hình như là mặt lõm (hình 2)
Hình 1.2 Hình ảnh mặt nước trong ống thủy tinh
Cách 6: Mở đầu bằng một câu hỏi có vấn đề
Về bản chất, cách mở đầu này cũng giống như cách mở đầu trực tiếp và gây trí tò
mò Song về cấu trúc, cần đưa HS vào vấn đề ( giả định tự các em chứng kiến sự việc) và đặt câu hỏi ngay
Ví dụ[4]:
Có bao giờ các em tự hỏi, tại sao lúc thì trăng tròn , lúc thì trăng lưỡi liềm chưa?
Có bao giờ các em cho rằng mặt nước là mặt lõm hay không?
Cách 7: Mở đầu bằng một sự kiện cập nhật nội dung (thời sự):
Ví dụ[4]:
Bài “ Sự phụ thuộc của điện trở vào nhiệt độ Hiện tượng siêu dẫn”: Đọc một tin tức mới nhất về việc nghiên cứu tìm ra chất siêu dẫn ở nhiệt độ cao
Bài “Năng lượng”: Báo tin một nhà máy thủy điện ở nước ta mới hoàn thành
Những bài có liên quan tới môi trường như âm học, khí quyển, phóng xạ,… có thể cập nhật bằng những bài viết về bảo vệ môi trường…
Cách 8: Mở đầu bằng một trích dẫn
Trang 15Dùng trực tiếp các câu danh ngôn, câu nói của những người nổi tiếng (có liên quan đến nội dung) hoặc bài biết… là một cách mở đầu trục tiếp
Ví dụ [4]:
Bài “Đòn bẩy”: Archimede nói: “Hãy cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ bẩy trái đất đi”
Mở đầu chương “ Lượng tử ánh sáng”: Kari Marx có lần đã khẳng định rằng:
“Các chân lí khoa học bao giờ cũng ngược đời”
Cách 9: Mở đầu bằng một bức tranh có liên quan đến nội dung sắp học
Cách mở đầu bằng một bức tranh GV sẽ dẫn cho học sinh có được hình ảnh trực tiếp đến từ mắt làm cho HS ấn tượng hơn GV có thể dùng hình ảnh thật hoặc hình ảnh tượng trưng
Lời mở đầu đưa HS vào thẳng bài học và bằng một điều có vẻ như nghịch lý (do
sự nhận thức chưa chính xác hoặc chưa đúng)
Ví dụ [4]:
Bài “ Đoạn mạch nối tiếp và song song”: Con người to lớn nhưng dòng điện (dù chỉ trên dưới 100V) có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, song dòng điện không thể đánh chết con chim nhỏ xíu
Trang 16 Bài “ Ma sát có lợi hay có hại”: Ma sát là sự cản trở sự vận động! Ước gì trên đời này không có ma sát Ta hãy xem xem điều ước đó có tác dụng gì và có thực hiện được không?
Cách 11: Mở đầu bằng một sự thấu hiểu người học
Mở đầu hấp dẫn là kiểu tỏ ra thông cảm với việc thiếu kiến thức hoặc những sai lầm của HS Dạng mở đầu này sẽ khích lệ sự cố gắng học, chú ý lắng nghe giảng của HS trong giờ học, “nếu không chú ý sẽ không biết”
Ví dụ [4]:
Bài “Chuyển động tròn đều”: Ngày trước thầy không bao giờ nghĩ rằng mặt trăng chuyển động tròn quanh trái đất lại là do lực hút của trái đất tác dụng lên mặt trăng Chắc bây giờ các em cũng vậy Sau khi học bài ngày hôm nay…
Bài “Sự rơi tự do”: Nếu thầy thả từ độ cao như nhau một hòn bi sắt và một cái lông chim thì các em sẽ thấy rằng hòn bi rơi xuống đất trước Có lẽ không làm thí nghiệm thì các em cũng phán đoán như vậy Điều đó là đúng Nếu xem thí nghiệm sau đây thì có
lẽ các em sẽ có thể khám phá ra một điều mới rất có ý nghĩa
Cách 12: Mở đầu bằng một thái độ thân thiện với học sinh
Sự thu hút học sinh vào bài giảng đôi khi rất hiệu quả nếu như các em cảm thấy không khoảng cách về giao tiếp giữa thầy và trò
Ví dụ [4] :
Bài “Định luật Gay-Luytxac”: GV vào lớp thấy học sinh bị đánh gió ở trán và ở
cổ Thầy hỏi thăm sức khỏe và hỏi em giác hơi chưa…Thầy mô tả lại hiện tượng để dẫn vào bài
Cách 13 : Mở đầu bằng một thực tế xã hội, ở địa phương, trong kĩ thuật
Cách mở đầu này sẽ rất phong phú đối với những địa phương nhiều xí nghiệp, nhà máy Tuy nhiên, các hiện tượng vật lý trong tự nhiên cũng như trong đời sống ở đâu cũng
có Nếu chọn được những hiện tượng mang tính đặc thù của địa phương, ngoài ý nghĩa thực tế của bài học, đôi khi góp phần tư tưởng rất hữu hiệu
Ví dụ [4] :
Bài “Định luật Bernuli” : Hình dáng chiếc “vỏ lãi” trên sông rạch đồng bằng sông Cửu Long
Bài “Tổng hợp và phân tích lực” : Hình ảnh chèo ghe bằng mái chèo
Cách 14 : Mở đầu bằng một thí nghiệm đơn giản
Vì thời lượng dùng để mở đầu bài giảng không nhiều nên chỉ dùng một thí nghiệm đơn giản mới không tốn thời gian Đây là cách mở đầu rất thú vị, hình ảnh thật sẽ tạo trực quan tạo sự hấp dẫn, thu hút nhiều sự chú ý của học sinh
Ví dụ [4] :
Bài “ Momen lực” : Gọi HS đẩy cánh cửa ở nhiều vị trí khác nhau từ ngoài vào đến trục quay của cánh cửa Cho HS nhận xét, đẩy chỗ nào dễ mở cửa nhất
Trang 17 Để dạy bài các dạng cân bằng, gọi HS lên đứng thẳng, ép vai phải vào tường Yêu cầu HS co chân trái lên (không thể được) Yêu cầu đứng thẳng, lưng áp vào tường rồi cúi gập người lại (không làm được) Tại sao vậy ?
1.4.4 Quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng
Mọi cách diễn giảng đã được trình bày ở trên hoặc các phương pháp dùng lời khác nhau sẽ thành công nhiều hay ít còn tùy thuộc vào sự thu hút học sinh vào nội dung bài giảng, sự thu hút ấy chính là do việc đặt vấn đề để mở đầu bài giảng Do vậy, ngay từ khi bắt đầu tiết học cần tạo sự hứng thú, thái độ tích cực cho HS Thông qua đoạn mở đầu bài giảng sẽ định hướng được mục tiêu của bài học, để làm được điều này thì cần phải thay đổi cách mở đầu cho từng tiết học để các em không bị nhàm chán, có hứng thú hơn với tiết học Qua phân tích ở trên và tham khảo luận văn của chị Huỳnh Lê Tuyết Mai, quy trình thiết kế đoạn mở đầu bài giảng gồm 4 bước sau [6] :
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài
Trong quá trình dạy học phải dựa vào mục tiêu của bài để thực hiện mục tiêu đó
Để có một đoạn mở đầu bài giảng thú vị, vui tươi, hướng HS không đi sai đường thì yêu cầu trước tiên là đoạn mở đầu bài giảng phải phù hợp với mục tiêu của bài học và mục tiêu này sẽ được xác định dựa vào sách giáo viên
Bước 2: Xác định nội dung của bài và nội dung được chọn để mở đầu bài giảng
Trên cở sở dựa trên nội dung các mục tiêu đã nêu ở bước 1, tiếp theo sẽ tiến hành xác định nội dung bài học và đối chiếu nội dung với mục tiêu tương úng ở bước 1 Sau khi đối chiếu sẽ tiến hành xác định nội dung để mở đầu bài giảng Nội dung được chọn
có thể là nội dung lên quan đến :
- Hiện tượng thường gặp trong cuộc sống
- Một sự kiện thời sự
- Một sự việc hay một hiện tượng thực tế ở địa phương nơi các em sinh sống
- Câu nói hay danh ngôn của một người nổi tiếng
Bước 3: Lựa chọn cách mở đầu bài giảng phù hợp với nội dung được chọn
Sau khi xác định nội dung được chọn để mở đầu bài giảng thì GV có thể chọn cách mở đầu bài giảng tùy theo sự sáng tạo của mình hoặc tham khảo 14 cách mở đầu bài giảng đã nêu ở trên
Trong luận văn này, tôi sẽ sử dụng các cách MĐBG trong số 14 cách đã được trình bày ở trên
Bước 4 : Tiến hành thiết kế đoạn mở đầu bài giảng
Sau khi xác định được mục tiêu của bài, lựa chọn các cách để MĐBG gây hứng thú cho HS xong, lúc này GV bắt đầu đề ra cách đặt câu, cách dùng từ để trình bày đoạn
mở đầu và diễn đạt từng cách mở đầu sao cho HS thấy thú vị, không nhàm chán Một bài học có thể mở đầu bằng nhiều cách khác nhau, đoạn mở đầu phải cho HS thấy được sự cần thiết của bài học hôm đó, bài học có thể đáp ứng được vấn đề gì? Phần mở đầu không nên quá dài hoặc quá ngắn cách đặt vấn đề phải rõ ràng, xúc tích, dễ hiểu, phù hợp với
Trang 18từng đối tượng học sinh và quan trọng nhất là đoạn mở đầu phải thấy được mục tiêu của bài
Trang 19CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ ĐOẠN MỞ ĐẦU BÀI GIẢNG CHO 10
BÀI VẬT LÝ 12 NÂNG CAO
2.1 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng”
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài
Theo sách giáo viên vật lý 12 nâng cao [2, tr72], mục tiêu của bài được xác định như sau:
Biết thế nào là dao động cưỡng bức, dao động cưỡng bức có tần số bằng tần số ngoại lực, có biên độ phụ thuộc tần số ngoại lực
Biết được rằng khi tần số ngoại lực bằng tần số riêng của hệ thì biên độ dao động cưỡng bức là cực đại Hiện tượng biên độ dao động cưỡng bức cực đại gọi là cộng hưởng Cộng hưởng rõ khi ma sát nhỏ
Biết được rằng hiện tượng cộng hưởng có nhiều ứng dụng trong thực tế và kể ra được một vài ứng dụng
Bước 2: Xác định nội dung của bài và nội dung được chọn để mở đầu bài giảng
Theo sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao [1,tr52], nội dung của bài gồm các mục sau đây:
1 Dao động cưỡng bức
2 Cộng hưởng
3 Ảnh hưởng của ma sát
4 Phân biệt dao động cưỡng bức với dao động duy trì
5 Ứng dụng hiện tượng cộng hưởng
Để thực hiện được mục tiêu của bài, cần phải đối chiếu nội dung của bài với các mục tiêu đã nêu ở bước 1 Kết quả đối chiếu như sau:
MỤC TIÊU CỦA BÀI
riêng của hệ thì biên độ dao
1 Dao động cưỡng bức Biết thế nào là dao động
cưỡng bức, dao động cưỡng bức có tần số bằng tần số ngoại lực, có biên độ phụ thuộc tần số ngoại lực
2 Cộng hưởng Biết được rằng khi tần số
ngoại lực bằng tần số riêng của hệ thì biên độ dao động
3 Ảnh hưởng của ma sát
4 Phân biệt dao động
Trang 20động cưỡng bức là cực đại
Hiện tượng biên độ dao
động cưỡng bức cực đại gọi
là cộng hưởng Cộng hưởng
rõ khi ma sát nhỏ
Biết được rằng hiện
tượng cộng hưởng có nhiều
5 Ứng dụng hiện tượng cộng hưởng
Biết được rằng hiện tượng cộng hưởng có nhiều ứng dụng trong thực tế và
kể ra được một vài ứng dụng
Bảng 1 Bảng đối chiếu mục tiêu tương ứng nội dung của bài “11 Dao động cưỡng
bức Cộng hưởng”
Có thể sử dụng nội dung ở mục “1 Dao động cưỡng bức” để mở đầu bài giảng vì nội dung này có liên quan đến một số hiện tượng trong cuộc sống như: hiện tượng đưa võng, khi vận động viên đứng ở ván cầu nếu càng nhún nhảy thì thấy ván cầu càng dao động mạnh hơn,…
Có thể sử dụng nội dung “2 Cộng hưởng” để MĐBG vì nội dung này có liên quan đến nhiều hiện tượng đời sống của chúng ta: Trò chơi dân gian “chơi đu”, qua cầu đi đều bước dẫn đến sập cầu, hộp cộng hưởng giúp âm của đàn ghita nghe to hơn…
Trong luận văn này, tôi chọn nội dung ở mục “2 Cộng hưởng” để xây dựng đoạn MĐBG
Bước 3: Lựa chọn cách MĐBG phù hợp với nội dung vừa được chọn
Với nội dung đã chọn ở trên, tôi sẽ chọn các cách sau để mở đầu bài giảng: mở đầu bằng một câu chuyện, bằng hình ảnh
Mở đầu bằng một câu chuyện: Tôi sẽ kể một câu chuyện hành quân của đội
quân khi đi đều qua cầu của một đội quân của nước Nga làm sập cầu Sau đó đưa ra nhu cầu giải thích hiện tượng Muốn giải thích được thì học bài hôm nay và chuyển vào bài giảng
Mở đầu bằng hình ảnh: Tôi sẽ giới thiệu cho các em một hình ảnh chơi “đánh
đu” của các dân tộc miền núi vào các dịp tết, lễ hội lớn Mô tả lại hiện tượng chiếc đu di chuyển khi hai người đứng lên chiếc đu và nhún nhảy Sau đó đưa ra nhu cầu phải giải thích hiện tượng đó và chuyển vào bài giảng bài “11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng”
Bước 4: Tiến hành viết đoạn mở đầu bài giảng
Mở đầu bằng một câu chuyện
Có một sự kiện xảy ra ở thành phố Saint Peterburg của Nga Khi đội quân đi qua một cây cầu treo bắt qua sông vào thành phố, viên chỉ huy đã dõng dạc hô 1, 2 và toàn bộ
Trang 21binh lính đã bước đều răm rắp theo khẩu lệnh Khi họ sắp tới đầu cầu bên kia thì đột nhiên nghe thấy tiếng ầm ầm nổi lên Một đầu cầu bung ra và rơi xuống dòng sông Cây cầu khá bền vững, trọng lượng của đoàn quân không quá nặng để đến nổi gãy cầu Thế nguyên nhân nào làm cho cây cầu bị gãy? Đó là do hiện tượng cộng hưởng gây nên Vậy, hiện tượng cộng hưởng là hiện tượng như thế nào? Bài hôm nay sẽ giúp chúng ta giải thích hiện tượng đó bài “11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng”
Mở đầu bằng hình ảnh
Hình 2.1 Trò chơi dân gian “đánh đu”
GV dán hình lên bảng và giới thiệu đây là hình ảnh của một trò chơi dân gian trò này là “đánh đu” Thường thì vào các dịp Tết hay lễ lớn ở các tỉnh miền núi có tổ chức rất nhiều trò chơi dân gian như là ném còn, kéo co, đẩy gậy, cờ người, giao lưu đối đáp dân ca,…trong đó còn có trò chơi rất độc đáo đó là chơi “đánh đu” (như hình 4) Trong trò chơi đu thì một đôi nam nữ đứng quay mặt vào nhau sau đó nhún, đẩy “ăn nhịp” với nhau Người nhún, người đẩy cho cần đu vút lên cao ngang ngọn đu hay thậm chí quay thành một vòng tròn Tại sao cái đu và hai người trên cái đu lại có thể được quăng lên cao
Trang 22như thế? Phải chăng có nội lực bên trong? Để giải thích hiện tượng này, chúng ta cùng tìm hiểu bài hôm nay bài “11 Dao động cưỡng bức Cộng hưởng”
2.2 Thiết kế đoạn mở đầu bài giảng cho bài “16 Giao thoa sóng”
Bước 1: Xác định mục tiêu của bài
Theo sách giáo viên vật lý 12 nâng cao [2,tr97], mục tiêu của bài được xác định như sau:
Nêu được hiện tượng giao thoa của hai sóng là gì
Áp dụng tính chất sóng và kết quả của việc tìm sóng tổng hợp của hai sóng ngang cùng tần số, cùng pha để dự đoán sự tạo thành vân giao thoa trên mặt nước, hình dạng vâng giao thoa trên mặt nước, hình dạng vân giao thoa
Thiết lập công thức xác định vị trí các điểm có biên độ dao động cực đại và các điểm có biên độ dao động cực tiểu trong miền giao thoa của hai sóng
Bố trí thí nghiệm kiểm tra cới giao thoa sóng nước
Xác định điều kiện để có vân giao thoa
Bước 2: Xác định nội dung của bài và nội dung được chọn để mở đầu bài giảng
Theo sách giáo khoa vật lý 12 nâng cao [1,tr84], nội dung của bài gồm các mục sau:
1 Sự giao thoa của hai sóng mặt nước
2 Điều kiện để có hiện tượng giao thoa
Nêu được hiện tượng giao
thoa của hai sóng là gì
Áp dụng tính chất sóng và
kết quả của việc tìm sóng tổng
hợp của hai sóng ngang cùng
tần số, cùng pha để dự đoán sự
tạo thành vân giao thoa trên mặt
nước, hình dạng vân giao thoa
trên mặt nước, hình dạng vân
Áp dụng tính chất sóng
và kết quả của việc tìm sóng tổng hợp của hai sóng ngang cùng tần số, cùng pha để dự đoán sự tạo thành vân giao thoa trên mặt nước, hình dạng vân giao thoa trên mặt nước, hình dạng vân giao thoa Thiết lập công thức xác định
vị trí các điểm có biên độ dao
3 Ứng dụng
4 Sự nhiễu xạ của sóng
Trang 23dao động cực đại và các điểm
có biên độ dao động cực tiểu
trong miền giao thoa của hai
sóng
Bố trí thí nghiệm kiểm tra
với giao thoa sóng nước
Xác định điều kiện để có
vân giao thoa
động cực đại và các điểm có biên độ dao động cực tiểu trong miền giao thoa của hai sóng Bố trí thí nghiệm kiểm tra với giao thoa sóng nước
Bảng 2 Đối chiếu mục tiêu của bài tương ứng nội dung của bài “16 Giao thoa
sóng”
Trong các nội dung trên, có thể sử dụng nội dung ở mục “1 Sự giao thoa của hai sóng mặt nước” để mở đầu bài giảng vì nội dung này có liên quan đến một số hiện tượng thường gặp trong cuộc sống: hai người đi câu nếu buông cần gần nhau cùng một lúc sẽ thấy được hiện tượng giao thoa sóng mặt nước
Bước 3: Lựa chọn cách mở đầu bài giảng phù hợp với nội dung lựa chọn
Với nội dung đã chọn ở trên, tôi sẽ chọn các cách sau để mở đầu bài giảng: mở đầu bằng một thực tế, mở đầu bằng hình ảnh
Mở đầu bằng một thực tế: Tôi sẽ nhắc đến hiện tượng ta thường thấy trong cuộc
sống đó là đi câu cá, mô tả lại hiện tượng khi buông hai cần câu gần nhau cùng một lúc thì thấy mặt nước có hiện tượng gì, đề nghị HS tưởng tượng (hoặc nhớ lại đối với các em
đã từng đi câu và thấy hiện tượng đó rồi) Sau đó đặt vấn đề vào bắt đầu vào bài giảng bài
“16 Giao thoa sóng”
Mở đầu bằng hình ảnh: Tôi sẽ đưa ra hình ảnh thí nghiệm hai sóng nước gặp
nhau cho các em quan sát, mô tả lại cách làm thí nghiệm này một cách ngắn gọn, chỉ cho
HS thấy hình ảnh này là kết quả thí nghiệm hai sóng nước gặp nhau Yêu cầu học sinh quan sát và nói lên hai sóng nước này gặp nhau thì có đặc điểm gì đáng chú ý Sau đó đưa ra nhu cầu giải quyết và bắt đầu vào bài giảng bài “16 Giao thoa sóng”
Bước 4: Tiến hành viết đoạn mở đầu bài giảng
Mở đầu bằng một thực tế trong xã hội
Vào những lúc rảnh rỗi, các em có thường đi câu cá với người thân trong gia đình hoặc với bạn bè của mình không? Khi đi câu các em có để ý khi hai người buông hai cần câu gần nhau và cùng một lúc thì ta sẽ thấy được hiện tượng gì? Lúc đó ta thấy ngay chỗ rơi xuống của cục mồi xuất hiện những gợn sóng nước và lan truyền đi, đến một lúc sau những gợn sóng này sẽ gặp nhau thì lúc này ta thấy trên mặt nước có những gợn sóng lồi lõm xen kẽ nhau Vậy, hiện tượng đó được gọi là gì? Để biết được hiện tượng đó chúng
ta sang bài “16 Giao thoa sóng”
Mở đầu bằng hình ảnh