Thực hiện theo kiểu triển khai thứ nhất trong phạm vi 3 chương VI, VII, IX và theo kiểu triển khai thứ hai thì có 1 hoạt động được thiết kế với nội dung giáo dục môi trường được triển kh
Trang 1Mã số SV: 1110274 Lớp: TL1192A1 Khóa: 37
Cần Thơ, 2015
TẬP THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG VI, VII, IX VẬT LÝ 12
NÂNG CAO
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được quyển luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Cô Đặng Thị Bắc Lý đã hướng dẫn, truyền đạt những kiến thức quý giá, theo dõi và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô thuộc bộ môn Vật
lý – Khoa Sư phạm – Trường Đại học Cần Thơ, các Thầy, Cô đã truyền đạt kiến thức và và tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian
em học tập tại trường giúp em tự tin hơn trong quá trình học tập
Tôi cũng chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các anh chị đi trước và bạn bè, đặc biệt là các bạn làm chung nhóm đề tài đã giúp đỡ tôi rất nhiều
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và người thân đã luôn quan tâm, động viên và là chỗ dựa cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Lê Thị Thảo Sương
Trang 3liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Lê Thị Thảo Sương
Trang 4GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý i SVTH: Lê Thị Thảo Sương
MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 2
6 CÁC TỪ VIẾT TẮT CỦA ĐỀ TÀI 3
B PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 4
1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG 4
2 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 5
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 5
2.2 Các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường 7
3 SƠ LƯỢC VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 8
3.1 Khái niệm giáo dục môi trường 8
3.2 Các việc làm nhằm giáo dục môi trường 9
3.3 Nội dung giáo dục môi trường 9
3.4 Các nguyên tắc của giáo dục môi trường 10
4 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 11
4.1 Một số định hướng về nội dung giáo dục môi trường thông qua dạy học vật lý ở trường trung học phổ thông 11
4.2 Hai kiểu triển khai GDMT 12
4.2.1 Kiểu 1: GDMT thông qua dạy học môn học các môn học ở trường phổ thông 12
4.2.2.Kiểu 2: GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập 12 CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG VI, VII, IX VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 14
1 QUY TRÌNH LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG THÔNG QUA DẠY HỌC TỪNG BÀI VẬT LÝ 14
Trang 5GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý ii SVTH: Lê Thị Thảo Sương
2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ NỘI DUNG GDMT ĐƯỢC TRIỂN
KHAI QUA HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP 15
3 LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO CHƯƠNG VI: SÓNG ÁNH SÁNG 17
3.1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường 17
3.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “40 Tia hồng ngoại Tia tử ngoại” 17
3.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 17
3.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 19
3.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 20
4 LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO CHƯƠNG VII: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG 22
4.1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường 22
4.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “46 Hiện tượng quang điện trong Quang điện trở và pin quang điện” 22
4.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 22
4.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 24
4.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 24
4.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “48 Hấp thụ và phản xạ lọc lựa ánh sáng Màu sắc các vật” 25
4.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 25
4.3.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 28
4.3.3 Đề nghị cách lồng ghép 28
4.4 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “49 Sự phát quang Sơ lược về laze” 29
4.4.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 29
4.4.2.Xác định nhiệm vụ lồng ghép 32
4.4.3 Đề nghị cách lồng ghép 32
5 LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO CHƯƠNG IX: HẠT NHÂN NGUYÊN TỬ 35
5.1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường 35
5.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “53 Phóng xạ” 36
5.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép 36
5.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 38
5.2.3.Đề nghị cách lồng ghép 38
Trang 6GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý iii SVTH: Lê Thị Thảo Sương
6 THIẾT KẾ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC
TRIỂN KHAI QUA HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP CHO CHƯƠNG
VII VẬT LÝ 12 NÂNG CAO 40
6.1 Xác định chủ đề cần được giáo dục môi trường 40
6.2 Xác định hình thức hoạt động của chủ đề giáo dục môi trường 40
6.3 Thiết kế các hoạt động sẽ thực hiện 41
6.4 Thực hiện các hoạt động theo thiết kế 43
6.5 Kết thúc hoạt động 43
C PHẦN KẾT LUẬN 44
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 44
2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 47
3 NHỮNG DỰ ĐỊNH TRONG TƯƠNG LAI 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Trang 7GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 1 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Giáo dục môi trường ở trường học là quá trình thông qua các hoạt động giáo dục, nhằm giúp học sinh có được những hiểu biết cũng như hình thành ở các em ý thức bảo vệ môi trường Hoạt động giáo dục môi trường đã được các trường trung học tổ chức bằng các hoạt động giáo dục chính khóa, kết hợp với hoạt động ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp Ít nhiều, công tác giáo dục môi trường trong thời gian qua đã góp phần nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với môi trường Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mong muốn
Với mục đích nâng cao ý thức và hành động của thế hệ trẻ đối với môi trường hiện nay và trong tương lai Ngày 22/7, Bộ trưởng Bộ GD & ĐT đã ra chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” giai đoạn 2008 - 2013, yêu cầu các trường xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn, trong đó phải có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ Bộ GD & ĐT cũng yêu cầu các trường tập trung các nguồn lực để giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật chất, thiết bị trường học, tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an toàn, thân thiện, vui
vẻ Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo Bên cạnh đó, mỗi trường cũng phải rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh, tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh, tổ chức cho học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa ở địa phương Đối với cấp THPT các môn có thể giáo dục môi trường như Ngữ văn, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Hoá học, Sinh học, Công nghệ Trong đó, Vật lý là môn khoa học mang tính thực tiễn cao, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều kiến thức liên quan đến thế giới tự nhiên nói chung và môi trường xung quanh nói riêng Vì thế, môn học này rất kích thích sự tò mò, óc sáng tạo và hứng thú học tập của các em
Vì vậy, tôi chọn đề tài “Tập thiết kế các nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương VI, VII, IX Vật lý 12 nâng cao” Với mong muốn, hướng sự quan
Trang 8GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 2 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
tâm của các em đến với môi trường để từ đó có thái độ và hành vi đúng đắn về bảo
vệ môi trường
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài sẽ hướng tới 4 mục tiêu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về giáo dục môi trường
- Xây dựng được quy trình thiết kế nội dung lồng ghép giáo dục môi trường thông qua dạy học từng bài Vật lý
- Xây dựng được quy trình giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
- Vận dụng các quy trình để tập thiết kế nội dung giáo dục môi trường có liên quan đến chương VI, VII, IX Vật lý 12 nâng cao
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Do hạn chế về thời gian nên tôi chỉ thiết kế nội dung giáo dục môi trường cho các chương VI, VII, IX Vật lý 12 nâng cao Thực hiện theo kiểu triển khai thứ nhất trong phạm vi 3 chương VI, VII, IX và theo kiểu triển khai thứ hai thì có 1 hoạt động được thiết kế với nội dung giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
Đề tài chỉ dừng lại ở mức độ nghiên cứu lý thuyết, không tiến hành thực nghiệm
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN
ĐỀ TÀI
* Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết Cụ thể
là tìm đọc các tài liệu liên quan đến môi trường và giáo dục môi trường Sau đó phân tích, tổng hợp, xác định hình thức thiết kế nội dung giáo dục môi trường và tiến hành xây dựng quy trình theo hình thức thiết kế đã xác định trước đó
Vận dụng quy trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học Vật lý đối với các chương VI, VII, IX Vật lý 12 nâng cao và quy trình giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
* Phương tiện thực hiện
Phương tiện để thực hiện đề bao gồm sách giáo khoa, các tài liệu về môi trường, giáo dục môi trường và một số công cụ hỗ trợ trong quá trình tìm kiếm các thông tin có liên quan đến đề tài như máy vi tính, internet…
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
- Bước 1: Xác định mục tiêu của đề tài
Trang 9GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 3 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
- Bước 2: Tìm các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Bước 3: Nghiên cứu các tài liệu đã tìm được có liên quan đến đề tài
- Bước 4: Lập đề cương cho đề tài
- Bước 5: Xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
- Bước 6: Xây dựng quy trình lồng ghép GDMT vào chương VI, VII, IX Vật lý
12 nâng cao và quy trình giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
- Bước 7: Vận dụng quy trình để tiến hành thiết kế nội dung giáo dục môi
trường cho bài học
- Bước 8: Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề tài
- Bước 9: Báo cáo thử luận văn
- Bước 10: Báo cáo luận văn
6 CÁC TỪ VIẾT TẮT CỦA ĐỀ TÀI
GDMT: Giáo dục môi trường
GV: Giáo viên
HS: Học sinh
SGV: Sách giáo viên
SGK: Sách giáo khoa
Trang 10GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 4 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC
MÔI TRƯỜNG
1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG
Có nhiều cách định nghĩa về môi trường, trong đề tài này, tôi sử dụng định nghĩa theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên [12]
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại [13] + Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động - thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp
để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú
+ Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể, Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho
sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội
Môi trường theo nghĩa hẹp là không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định
Ngoài ra, người ta còn đưa ra khái niệm môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như: ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô thị, công viên nhân tạo
Trang 11GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 5 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống
và phát triển
Chức năng của môi trường sống
năng [14]:
Môi trường là không gian sống của con người và sinh vật Trong quá trình tồn tại và phát triển con người, cần có các nhu cầu tối thiểu về không khí, độ ẩm, nước, nhà ở cũng như các hoạt động vui chơi giải trí khác Tất cả các nhu cầu này đều do môi trường cung cấp Tuy nhiên, khả năng cung cấp các nhu cầu đó của con người là
có giới hạn và phụ thuộc vào trình độ phát triển của từng quốc gia và từng thời kì Môi trường là nơi cung cấp các nhu cầu về tài nguyên cho con người như đất,
đá, tre, nứa, tài nguyên sinh vật Giá trị của tài nguyên phụ thuộc vào mức độ khan hiếm của nó trong xã hội
Môi trường là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải của con người trong quá trình sử dụng các tài nguyên thải vào môi trường Các tài nguyên sau khi hết hạn sử dụng, chúng bị thải vào môi trường dưới dạng các chất thải Các chất thải này bị các quá trình vật lý, hóa học, sinh học phân hủy thành các chất vô cơ, vi sinh, quay trở lại phục vụ con người Tuy nhiên, chức năng là nơi chứa đựng chất thải của môi trường
là có giới hạn Nếu vượt quá giới hạn này thì sẽ gây ra mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường
2 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường
“Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần và đặc tính vật lý, hóa học, nhiệt độ, sinh học, chất hòa tan, chất phóng xạ… ở bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt quá mức cho phép đã được xác định” [15] Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó Chất gây ô nhiễm có thể là chất rắn (như rác, phế liệu) hay chất lỏng (các dung dịch hóa học, chất thải dệt nhuộm, rượu, chế
từ khói đun …), các kim loại nặng như chì, đồng … [8, tr.48] Có khi nó vừa ở thể hơi vừa ở thể rắn như thăng hoa hay ở dạng trung gian
Môi trường được tạo thành bởi nhiều yếu tố: không khí, đất, nước, ánh sáng, âm thanh, lòng đất, núi, rừng, sông hồ, biển, sinh vật, các hệ sinh thái, khu sản xuất, khu dân cư, các hệ động vật và thực vật có ý nghĩa đặc biệt và quan trọng hơn cả Những yếu tố này, hình thành và phát triển theo những qui luật vốn có và nằm ngoài khả năng quyết định của con người Con người chỉ có thể tác động tới chúng trong chừng
Trang 12GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 6 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
mực nhất định Bên cạnh những yếu tố tự nhiên, môi trường còn bao gồm cả những yếu tố nhân tạo Những yếu tố này do con người tạo ra, nhằm tác động tới yếu tố thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân của con người như: hệ thống đê điều, các công trình kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa mà con người từ thế hệ này sang thế hệ khác xây dựng và phát triển nên
Môi trường hiện tại đang có những biến đổi bất lợi cho con người đặc biệt là các biến đổi về: đất, nước, không khí, thực vật, động vật,… Tình trạng ô nhiễm các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng như: ô nhiễm đất,
ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm sóng do các thiết bị, ô nhiễm ánh sáng…
- Ô nhiễm đất: được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi trường đất
bởi các chất ô nhiễm Dựa vào các hoạt động chủ yếu của con người có thể chia ô nhiễm đất thành các loại: do các chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, nông nghiệp,… Ngoài ra do đặc thù của môi trường đất mà người ta còn có thể phân loại ô nhiễm đất theo tác nhân gây ô nhiễm: do tác nhân hóa học, thuốc trừ sâu, kim loại nặng, axit, kí sinh trùng, chất phóng xạ,…[16]
- Ô nhiễm nước: là sự biến đổi nói chung do con người gây ra đối với chất lượng
nước, làm thay đổi tính chất ban đầu của nước do chất thải con người (phân, nước, rác), chất thải nhà máy, khu chế xuất và việc khai thác các khoáng sản, mỏ dầu khí
Ngoài ra, chất thải khu chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản, chất thải khu giết
mổ, chế biến thực phẩm, họat động lưu thông với khí thải, các chất thải hóa chất, cặn sau sử dụng gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã [17]
- Ô nhiễm không khí: do sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, cháy
rừng… Ví dụ các nhà máy sản xuất hóa chất, sản xuất giấy, luyện kim loại, nhà máy nhiệt điện (sử dụng các nhiên liệu than, dầu …)
- Ô nhiễm phóng xạ: là do các tia phóng xạ gây nên
- Ô nhiễm tiếng ồn: do âm thanh của các phương tiện tham gia giao thông, các
khu công nghiệp, xây dựng,…
- Ô nhiễm sóng do các thiết bị: điện thoại di động, truyền hình, tồn tại với mật
độ lớn
- Ô nhiễm ánh sáng: hiện nay, con người đã sử dụng các thiết bị chiếu sáng một
cách lãng phí ảnh hưởng đến môi trường và quá trình phát triển của động thực vật Theo Lê Văn Trưởng, “ Ô nhiễm môi trường là làm thay đổi cả về tính chất vật
lý, hóa học, sinh học của môi trường, làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn của môi trường, không có lợi cho môi trường sống Gây nguy hại đến sức khỏe con người, đồng thời làm ảnh hưởng đến nhiều quá trình khác nhau của sản xuất, làm tổn hại tài sản văn hóa, gây tổn thất hoặc hủy hoại tài nguyên dự trữ của Trái Đất” [7, tr 71] Chất gây ô nhiễm chính là nhân tố làm môi trường trở nên độc hại, hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khỏe của con người và sinh vật trong môi
Trang 13GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 7 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
trường đó Thông thường, tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực giới hạn cho phép, được qui định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường
Trong phạm vi toàn cầu, sự thay đổi theo chiều hướng xấu của môi trường diễn
ra nhiều yếu tố của môi trường với nhiều cấp độ khác nhau:
- “Sự thay đổi của khí hậu toàn cầu dưới tác dụng của nhiều yếu tố khác nhau như: rừng bị tàn phá, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới ở Nam Mỹ và Châu Á, sự gia tăng khí thải: CO2, NO x, CFC….” [8, tr 48]
- Sự suy giảm tầng ozon Tầng ozon luôn được coi là vỏ bọc, là chiếc áo giáp của Trái Đất, “ là tầng khí quyển ngoài tầng biên hành tinh” [18] Nếu tầng ozon bị suy giảm, hoặc tạo những lỗ thủng ở tầng ozon sẽ tạo ra những biến đổi xấu của môi trường trên Trái Đất
- “Chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt là vấn đề mà môi trường thế giới đang phải đối mặt Sự gia tăng dân số, sự gia tăng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng dẫn tới
sự gia tăng chất thải” [8, tr 48] Mọi quốc gia đều có chất thải, nếu không có biện pháp hợp lý thì chỉ có thể thải vào môi trường mà môi trường thì không giãn nở thêm được Trong khi đó chất thải ngày càng tăng, thế nên một số quốc gia phát triển đã lợi dụng sự thiếu thốn của các quốc gia nghèo tìm cách xuất khẩu vào những nơi đó chất thải, đặc biệt là những chất thải rắn
“Sự suy giảm của nhiều loài thực vật, sự diệt vong của nhiều loài động vật cũng
là một vấn đề môi trường cấp bách” [8, tr 49] Lúc nào môi trường cũng là nơi tổng hợp các hệ sinh thái có mối liên hệ mật thiết với nhau Sự tồn tại của hệ sinh thái này
là điều kiện để duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái khác, sự tồn tại của loài động vật này chính là điều kiện cân bằng cho các loài động vật khác Vì vậy, sự suy giảm của
hệ sinh thái này, của loài động vật này cũng kéo theo sự suy thoái của hệ sinh thái, loài động vật kia
Tóm lại, suy giảm môi trường là một quá trình suy giảm mà kết quả của nó đã làm thay đổi cả về chất lượng và số lượng thành phần môi trường vật lý (như: suy thoái đất, nước, không khí, biển, hồ,….) và suy giảm đa dạng sinh học Qúa trình đó gây hại rất nhiều cho đời sống sinh vật, con người và thiên nhiên
2.2 Các tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường
Những thay đổi của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thức ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến con người do thay đổi của các điều kiện vật lý, hóa học và suy giảm môi trường tự nhiên Tuy nhiên, sự thay đổi ấy không đơn thuần hiển nhiên mà có, không đơn thuần tự bản thân môi trường bị suy thoái một cách nghiêm trọng như vậy Đó là, do các tác nhân gây ô nhiễm gây nên Vậy tác nhân gây ô nhiễm là gì?
“Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những nguyên tố hóa học có tác động vào môi trường làm cho môi trường từ trong sạch trở nên độc hại Những tác nhân này thường được gọi khái quát là “Chất gây ô nhiễm môi trường” Chất ô nhiễm là
Trang 14GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 8 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn, nó gây hại cho môi trường tự nhiên, con người, cũng như sinh vật sống Chất ô nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn…), chất lỏng (các dung dịch
từ núi lửa, CO2, NO2 trong khói thải của xe hơi, CO trong khói bếp, lò gạch…), các kim loại nặng như: chì, đồng, thủy ngân (Pb, Cu, Hg…)” [8, tr 48] Các chất ô nhiễm môi trường làm cho nhiệt độ Trái Đất tăng lên do chúng không cho các tia bức
xạ từ mặt đất thoát ra, gây nên hiệu ứng nhà kính nghiêm trọng Có nơi có ít chất ô nhiễm nhưng có nơi rất nhiều chất ô nhiễm Ví dụ như: “Môi trường đất phèn có thể
Al , Fe và các anion 3 2
4
SO , Cl cùng với các chất khí H2S, SO2… cùng tồn tại Các chất này đồng thời tác động vào cây trồng, vào động vật, làm suy giảm sự phát triển của mọi sinh vật Mạnh hơn nữa, có thể làm chết động thực vật Đối với con người, không khí đô thị thường chứa các thành phần như bụi đất, bụi xi
mức cho phép, gây tổn hại sức khỏe con người Thậm chí gây chết người” [19]
3 SƠ LƯỢC VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
3.1 Khái niệm giáo dục môi trường
Có nhiều định nghĩa về giáo dục môi trường Tuy nhiên, trong khuôn khổ của giáo dục môi trường thông qua các môn học ở trường phổ thông thì có thể hiểu giáo dục môi trường như sau: “Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước vấn đề môi trường bao gồm: kiến thức, thái
độ, hành vi, trách nhiệm và kỹ năng để tự mình cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường, trước mắt cũng như lâu dài” [10]
Việc giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu thực hiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học trong nhà trường Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường còn được thực hiện ngoài nhà trường dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn cộng đồng
Giáo dục là công cụ để thay đổi nhận thức và hành động của mỗi con người, để con người có cái nhìn thật đúng đắn về các vấn đề có liên qua đến môi trường hiện tại và tương lai để phát trển bền vững Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi giáo dục phải có nội dung giáo dục cụ thể mới đạt được kết quả như mong đợi Vì lý do đó, giáo dục môi trường có các nội dung giáo dục sau [6, tr 21, 22]:
- Thứ nhất, giáo dục môi trường phải xem xét môi trường như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần Thiên nhiên và các hệ sinh thái của nó: kinh tế, xã hội, dân số, công nghệ, văn hóa
- Thứ hai, giáo dục môi trường phải nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ, ứng xử và hành động trước vấn đề môi trường Có như vậy,
Trang 15GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 9 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
thì người được giáo dục mới có góc nhìn khả quan về môi trường và có ý thức nhiều hơn với môi trường
- Thứ ba, giáo dục môi trường cung cấp cho người học những kiến thức cụ thể,
kỹ năng thực hành, phương pháp phân tích, đánh giá chi phí - lợi ích để họ có thể hành động độc lập, ra những quyết định phù hợp, hoặc cùng cộng đồng phòng ngừa
xử lý các vấn đề môi trường một cách có hiệu quả
- Thứ tư, giáo dục môi trường phải đề cập đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, vùng, quốc gia và quốc tế
- Thứ năm, giáo dục môi trường phải xem xét các vấn đề môi trường hiện nay
và quan hệ với các vấn đề môi trường tương lai
Mục đích của GDMT là vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai GDMT cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa, GDMT bao hàm cả việc đạt được những kĩ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề nảy sinh
Vậy “Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước vấn đề môi trường, bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi trách nhiệm và kỹ năng để tự mình cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn
đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài” [11]
3.2 Các việc làm nhằm giáo dục môi trường
Để có thể GDMT thì các việc làm nhằm giáo dục môi trường là một phần không thể thiếu Dưới đây là một số việc làm nhằm GDMT [6, tr 22]
+ Các việc làm hình thành và phát triển kỹ năng môi trường
+ Các việc làm làm rõ giá trị môi trường đối với con người
+ Các việc làm nhằm đưa ra quyết định môi trường
+ Các việc làm hình thành và phát triển môi trường
Mặc dù, có nhiều việc làm nhằm GDMT nhưng trong số đó quan trọng là các việc làm nhằm đưa ra quyết định môi trường và các việc làm hình thành và phát triển môi trường vì các việc làm này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường
3.3 Nội dung giáo dục môi trường
GDMT bao gồm các nội dung sau [6, tr 21]:
- GDMT phải xem xét môi trường như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần là thiên nhiên và hệ sinh thái của nó (dân số, kinh tế, xã hội, công nghệ, văn hóa)
Trang 16GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 10 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
- GDMT nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức, trong thái độ, hành động và ứng xử trước vấn đề môi trường
- GDMT phải xem xét đến các vấn đề môi trường hiện nay và quan hệ với các vấn đề môi trường trong tương lai
- GDMT phải đề cập đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường ở địa phương, vùng, khu vực, quốc gia và quốc tế
- GDMT cung cấp cho người học không chỉ những kiến thức cụ thể, kỹ năng thực hành, phương pháp phân tích, đánh giá chi phí lợi ích để họ có thể hành động độc lập, đưa ra những quyết định phù hợp, hoặc cùng cộng đồng phòng ngừa xử lý các vấn đề môi trường một cách có hiệu quả
Đề ra các việc làm nhằm giáo dục môi trường: các việc làm hình thành và phát triển kỹ năng môi trường, các việc làm làm rõ giá trị môi trường đối với con người, các việc làm nhằm đưa ra quyết định môi trường, các việc làm hình thành và phát triển đạo đức môi trường
3.4 Các nguyên tắc của giáo dục môi trường
Nhà nước Việt Nam coi giáo dục môi trường như là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân nói chung Để thực hiện giáo dục môi trường, nhà trường có hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương và đến cơ sở giáo dục thông qua quản lý Nhà nước của Bộ GD và ĐT Người ta đưa ra 5 nguyên
về giáo dục môi trường cho mọi người, mọi bậc học từ dưới lên
Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên
quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường
Làm cho người học thấy được giá trị của môi trường đối với cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của con người, bất kể thuộc chủng tộc màu da hay tín ngưỡng nào, đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không
khí trong lành để thở
Triển khai giáo dục môi trường bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, bằng những thực hiện của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn Thầy là người tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường dựa trên chương trình, tìm cách vận dụng phù hợp với địa phương”
Trang 17GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 11 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
4 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
4.1 Một số định hướng về nội dung giáo dục môi trường thông qua dạy học Vật lý ở trường phổ thông
Theo định nghĩa về môi trường của Chương trình môi trường Liên Hiệp Quốc (United Nation Enviroment Program (UNEP)) [20]: “Môi trường là tập hợp các yếu
tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng” Việc phân tích cấu trúc môi trường theo khoa học môi trường cho thấy, các yếu tố vật lý có vai trò rất quan trọng Như vậy, môn Vật lý ở trường phổ thông có thể khai thác nhiều cơ hội để tích hợp các nội dung GDMT, có thể nêu ra một số trường hợp như [3]:
+ Khai thác từ nội dung môn Vật lý
+ Tích hợp các nội dung của các môn học khác như: Hóa học, Sinh học,… (vì nhiều quá trình hóa học, sinh học,… chịu tác động của yếu tố vật lý)
Để định hướng cho việc lựa chọn nội dung GDMT phù hợp, có thể nêu lên một
số vấn đề môi trường đang được quan tâm hiện nay có liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý [3]
1) Tài nguyên rừng bị suy giảm
Trước hết, phải làm rõ được vai trò của rừng đối với cuộc sống con người:
+ Rừng là nguồn gen quý giá (động, thực vật);
2) Ô nhiễm nước
Vai trò của nước đối với sự sống trên Trái Đất, các quá trình lý hóa khi nước bị
ô nhiễm,…các biện pháp bảo vệ nước, chu trình nước trong tự nhiên (liên quan tới các hiện tượng chuyển thể của nước…)
3) Suy thoái và ô nhiễm đất
4) Ô nhiễm không khí: khí quyển, quá trình suy giảm tầng ôzôn, chất phóng xạ, hóa chất
5) Ô nhiễm tiếng ồn: liên quan trực tiếp tới các quá trình vật lý như sóng âm
Ô nhiễm tiếng ồn: là ô nhiễm môi trường do tiếng ồn, tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kì khác nhau, nói cách khác, là những âm thanh chói tai, gây những tác động không mong muốn, có hại cho sức khỏe con người, cơ thể sống Các
Trang 18GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 12 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
nguồn ô nhiễm: tiếng máy bay, xe cộ, tiếng karaoke quá giới hạn cho phép,…, (âm thanh 80 dB)
6) Ô nhiễm ánh sáng: sự chiếu sáng gây tác hại đến con người và sinh vật
7) Sản xuất, truyền tải và sử dụng điện năng nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ môi trường
8) Ô nhiễm phóng xạ: các tia phóng xạ, an toàn hạt nhân,…
4.2 Hai kiểu triển khai GDMT
Thông qua những định hướng về nội dung GDMT thì GDMT được khai triển qua hai kiểu là GDMT thông qua dạy học ở các môn học và GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập [3]
4.2.1 Kiểu 1: Giáo dục môi trường thông qua dạy học ở các môn học ở trường phổ thông
Đối với kiểu triển khai này thì vấn đề GDMT là một yếu tố chính thức trong chương trình giảng dạy quốc gia Bởi vì GDMT là một quá trình không phải là môn học Nên có thể GDMT ở tất cả các môn học chứ không chỉ có riêng môn Vật lý Mọi người có quyền hiểu biết, phân tích và tỏ thái độ trước những tình huống, sự cố môi trường Chính vì vậy, kiểu triển khai này sẽ tăng cường GDMT cho học sinh thông qua các môn học ở trường trong những tiết học chính khóa
Giáo dục môi trường có thể được khai thác bởi các dạng bài học khác nhau như: dạng bài học mà một số nội dung của bài học có liên quan với nội dung GDMT nhưng không được nêu rõ trong SGK, dạng bài học mà nội dung chủ yếu của bài học
có phần nội dung trùng hợp với nội dung môi trường cần được giáo dục
4.2.2 Kiểu 2: Giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
Các vấn đề cần được GDMT rất đa dạng và phong phú nên việc giáo dục trong các giờ học chính khóa chưa đủ phong phú và nó còn mang tính lý thuyết Vì vậy, việc triển khai GDMT như một hoạt động độc lập là một cách giúp cho học sinh có
cơ hội thực tiễn để thực hành trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ môi trường Trong các hoạt động này, học sinh học cách vận dụng kiến thức môn học trong các tình huống gần gũi với cuộc sống hơn, huy động được kiến thức từ nhiều môn học hơn…
Đối với kiểu triển khai này thì không thể tiến hành GDMT trong giờ học chính khóa được mà cần phải được tiến hành qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp: tham quan, ngoại khóa, các câu lạc bộ…
Nội dung của các hoạt động này chủ yếu là các nội dung của môn học, các nội dung GDMT sẽ được tích hợp trong các hoạt động Nhưng do các vấn đề cần được GDMT rất đa dạng và phong phú Thực tế kế hoạch dạy học hiện nay là rất chặt chẽ nên GV phải nghiên cứu lựa chọn chủ đề và các hoạt động một cách hợp lý, phù hợp
Trang 19GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 13 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
với tình trạng môi trường thực tế và làm nổi bật được vấn đề cần được GDMT Mặt khác cần phải sớm có kế hoạch, thông báo với nhà trường để nhà trường tạo điều kiện thực hiện
* Nguyên tắc giáo dục môi trường ở trường THPT
GDMT trong dạy học Vật lý cần đảm bảo các nguyên tắc sau [3]:
- Không làm mất tính đặc trưng của môn học Vật lý Không biến bài học của môn học thành bài học môi trường
- Khai thác nội dung GDMT có tính chọn lọc, tập trung, tránh tràn lan tùy tiện
- Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, khai thác kinh nghiệm thực tế của học sinh, tận dụng cơ hội để học sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường
- Nội dung GDMT cần gần gũi với thực tế, gắn liền với hoạt động thực tiễn của địa phương, nhà trường
Trang 20GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 14 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG VI, VII,
Quy trình lồng ghép nội dung giáo dục môi trường thông qua dạy học từng bài Vật lý được thể hiện qua các bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
Bước 2: Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Bước 3: Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Bước 4: Đề nghị cách lồng ghép
Đối với từng bước cụ thể công việc như sau:
Bước 1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội
dung giáo dục môi trường:
Thông qua việc nghiên cứu chương trình, xác định các mục tiêu cần đạt được đối với một chương, từ đó GV sẽ có cái nhìn tổng thể về các đơn vị kiến thức, kỹ năng, thấy được mối liên hệ giữa chúng, phát hiện các cơ hội để lồng ghép GDMT vào từng đơn vị kiến thức một cách hợp lý Từ đó, có thể lập kế hoạch khai thác các nội dung giáo dục môi trường trong suốt quá trình dạy học, không làm cho bài học bị quá tải, bị trùng lặp hoặc không đưa ra được các nội dung GDMT có ý nghĩa thuyết phục
Mục tiêu của chương được xác định qua sách giáo viên Vật lý 12 nâng cao Phân tích sơ bộ các mục tiêu của bài mà SGV đề nghị Nếu chưa có mục tiêu về lồng ghép GDMT thì phân tích xem ở bài đó có thể lồng ghép mục tiêu nào về GDMT
Bước 2 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép GDMT
Khi đã xác định được các mục tiêu về giáo dục môi trường của bài (xác định bài
có nội dung GDMT) thì tìm nội dung thích hợp trong bài để lồng ghép GDMT
Bước 3 Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Từ môi trường và nội dung kiến thức đã được xác định ở bước 1 và 2, xác định vấn đề môi trường có liên quan đến kiến thức vật lý
Bước 4 Đề nghị cách lồng ghép
Trang 21GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 15 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Có nhiều cách lồng ghép GDMT khác nhau, tùy vào từng nội dung và vị trí của bài học, chọn ra cách lồng ghép để đạt được hiệu quả tốt nhất Đối với từng bài, ta có thể chọn một hoặc nhiều cách lồng ghép phối hợp với nhau Dưới đây là một số cách lồng ghép [3]:
+ Kể một câu chuyện mở đầu chứa đựng sự kiện mang tính tư tưởng có liên quan tới nội dung bài học Sau khi học xong nội dung bài học, GV liên hệ lại câu chuyện lúc mở đầu và yêu cầu học sinh rút ra bài học cho bản thân có liên quan đến việc bảo vệ môi trường
+ Đặt câu hỏi khi vừa kết thúc xong nội dung được chọn để lồng ghép (câu hỏi phải liên quan giữa kiến thức Vật lý và vấn đề môi trường trong thực tế), GV yêu cầu học sinh thảo luận nhóm Sau thời gian thảo luận, đại diện nhóm sẽ phát biểu ý kiến của nhóm về vấn đề thảo luận
+ Giao bài tập về nhà, tìm và sưu tầm một số tranh ảnh về môi trường có liên quan đến nội dung bài vừa học hoặc tìm các hiện tượng, giải thích các hiện tượng dựa vào những kiến thức Vật lý đã được học có liên quan đến nội dung cần lồng ghép GDMT Từ đó, mỗi cá nhân học sinh rút ra được bài học gì cho bản thân và bản thân có thể đề ra những biện pháp gì để có thể hạn chế được vấn đề ô nhiễm môi trường
+ Sau khi giảng dạy xong, GV sẽ phát phiếu câu hỏi yêu cầu học sinh điền vào phiếu nhằm khảo sát tác động của bài đến ý thức bảo vệ môi trường đối với mỗi cá nhân học sinh
+ Sau khi dạy xong nội dung được chọn lồng ghép, GV có thể trình chiếu một
số hình ảnh từ nội dung bài học có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Yêu cầu học sinh nhận dạng các dạng ô nhiễm (ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất )
+ Dành ra vài phút cuối của giờ học để củng cố kiến thức và hình thành ý thức
về việc bảo vệ môi trường của mỗi cá nhân học sinh
+ Đặt câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời Trong đó, nội dung câu hỏi phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức Vật lý của bài học với vấn đề ô nhiễm môi trường trong thực tế
2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG ĐƯỢC TRIỂN KHAI NHƯ MỘT HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP
Tương tự như kiểu triển khai thứ nhất, kiểu triển khai thứ hai, ngoài việc sớm
có kế hoạch, thông báo với nhà trường thì cũng cần phải có một quy trình cụ thể để
có thể thực hiện tốt nội dung GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập Quy trình nội dung GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập, theo Nguyễn Văn Khải, được thực hiện qua các bước sau [3]:
“Bước 1: Xác định chủ đề giáo dục môi trường
Bước 2: Xác định hình thức hoạt động của chủ đề giáo dục môi trường
Trang 22GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 16 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Bước 3: Thiết kế các hoạt động sẽ thực hiện
Bước 4: Thực hiện các hoạt động theo kế hoạch
Bước 5: Kết thúc hoạt động”
Đối với các bước thực hiện như trên, tôi sẽ cụ thể hóa từng bước như sau:
Bước 1: Xác định chủ đề giáo dục môi trường
Nội dung GDMT rất đa dạng và phong phú Chính vì vậy, trước tiên GV cần phải xác định được chủ đề GDMT được tiến hành triển khai ở đây là gì như là ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất, ô nhiễm không khí…
Bước 2: Xác định hình thức hoạt động của chủ đề giáo dục môi trường
Việc triển khai lồng ghép nội dung GDMT thực hiện trong tiết học chính khóa nên bị hạn chế về thời gian rất nhiều Ở đây, nội dung GDMT được triển khai như một hoạt động độc lập nên thời gian không bị hạn chế nhiều như kiểu triển khai thứ nhất Do đó, đối với mỗi chủ đề GDMT, có thể có nhiều hình thức hoạt động để thực hiện như cho học sinh đi tham quan, dã ngoại, lao động, thành lập câu lạc bộ để các
em tham gia Vì vậy, GV cần phải xác định được hình thức hoạt động cụ thể trong nhiều hình thức, để chủ đề GDMT phù hợp với tình hình môi trường thực tế của nhà trường hoặc là nơi được chọn để tham quan, dã ngoại…
Bước 3: Thiết kế các hoạt động sẽ thực hiện
Ở bước này, đối với mỗi hoạt động, GV cần có kế hoạch chi tiết cho các bước: cách thức thực hiện như thế nào, sự phân công về nhân sự ra sao, về cơ sở vật chất hay tài chính cần chuẩn bị như thế nào, xác định cụ thể về thời gian và địa điểm sẽ diễn ra hoạt động
Bước 4: Thực hiện các hoạt động theo kế hoạch
Trong bước này, học sinh sẽ là người thực hiện các hoạt động và GV sẽ là người giám sát, giúp đỡ hoặc có những điều chỉnh phù hợp hơn với tình hình thực tế
Bước 5: Kết thúc hoạt động
Sau khi đã thực hiện xong các hoạt động, GV sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá, nhận xét Ngoài ra, cũng có thể yêu cầu học sinh nộp báo cáo và rút ra các bài học kinh nghiệm thông qua các hoạt động
Ở bước này, đối với mỗi hoạt động GV cần có kế hoạch chi tiết cho các bước: cách thức thực hiện như thế nào, sự phân công về nhân sự ra sao, về cơ sở vật chất hay tài chính cần chuẩn bị như thế nào, xác định cụ thể về thời gian và địa điểm sẽ diễn ra hoạt động
Để tiện sử dụng thống nhất trong các phần sau, tôi sử dụng các kí hiệu:
Hoạt động của giáo viên, diễn giảng nội dung bài dạy
Hoạt động của giáo viên đặt câu hỏi cho học sinh
Hoạt động của học sinh, trả lời câu hỏi
Hoạt động của học sinh, trao đổi, làm việc theo nhóm và trả lời câu hỏi
?
Trang 23GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 17 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
3 LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO CHƯƠNG VI: SÓNG ÁNH SÁNG
3.1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
Xác định mục tiêu của chương
Mục tiêu của chương được xác định trong sách giáo viên Vật lý 12 NC [5, tr 186].1) Hiểu và giải thích được sự tán sắc ánh sáng
2) Hiểu hiện tượng nhiễu xạ ánh sáng
3) Hiểu sự giao thoa ánh sáng và điều kiện về sự giao thoa ánh sáng, thiết lập công thức tính khoảng vân và giải được các bài tập về giao thoa ánh sáng
4) Phân biệt được quang phổ liên tục và quang phổ vạch (phát xạ, hấp thụ)
5) Biết bản chất và tính chất tia tử ngoại, tia hồng ngoại, tia X
6) Hiểu thang sóng điện từ và thuyết điện tử ánh sáng
Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
Trong các mục tiêu trên thì mục tiêu 5 có thể lồng ghép giáo dục môi trường Sau khi tìm hiểu kĩ các nội dung của từng bài trong chương, tôi chọn bài “40 Tia hồng ngoại Tia tử ngoại” vì bài này có chứa các kiến thức vật lý liên quan đến đời sống Ngoài những tác dụng trên, các tia này có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường
3.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “40 Tia hồng ngoại Tia tử ngoại”
3.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Với nội dung là vai trò của tia hồng ngoại và tia tử ngoại, tôi có thể lồng ghép
giáo dục môi trường cho học sinh trong quá trình dạy học
Người ta đã làm thí nghiệm và chứng tỏ rằng, “Ở ngoài miền ánh sáng nhìn
đó, không nhìn thấy được nhưng cũng có tác dụng nhiệt giống như các bức xạ nhìn thấy” [4, tr 207] Trong bài 40, có đề cập đến hai tia không nhìn thấy là tia hồng ngoại và tia tử ngoại
“Mọi vật, dù ở nhiệt độ thấp, đều phát ra tia hồng ngoại Cơ thể người (nhiệt độ
bước sóng ở vùng 9 Ở nhiệt độ cao, ngoài tia hồng ngoại, vật còn phát ra các bức xạ nhìn thấy” [4, tr 207] Tia hồng ngoại là bức xạ điện từ có bước sóng dài hơn ánh sáng khả kiến nhưng ngắn hơn tia bức xạ vi ba Tên "hồng ngoại" có nghĩa
là "ngoài mức đỏ", màu đỏ là màu sắc có bước sóng dài nhất trong ánh sáng thường Tia hồng ngoại không thể nhìn thấy được như ánh sáng thường bởi mắt người thông thường [21]
Trang 24GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 18 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Tia hồng ngoại có ứng dụng rất nhiều đối với con người như: dùng để sấy khô, sưởi ấm; tia hồng ngoại sử dụng trong các bộ điều khiển hoạt động của tivi, thiết bị nghe nhìn; để chụp ảnh bề mặt của trái đất từ vệ tinh Đặc biệt tia hồng ngoại có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực quân sự như: tên lửa tự động tìm mục tiêu dựa vào tia hồng ngoại do mục tiêu phát ra; camera hồng ngoại để chụp ảnh, quay phim ban đêm; ống nhòm hồng ngoại để quan sát ban đêm…
Bên cạnh đó, bức xạ hồng ngoại có ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người Bức xạ hồng ngoại được phát ra từ nguồn thiên nhiên là mặt trời, núi lửa đang hoạt động; từ nguồn nhân tạo là lò luyện kim, đúc kim loại, lò rèn, lò nấu thuỷ tinh,
lò nung gạch ngói, đám cháy Bức xạ hồng ngoại có thể gây tác hại đến sức khoẻ như: ở mắt làm đục giác mạc, viêm giác mạc, đục nhân mắt, gây hỏng giác mạc, làm khô mắt; làm tổn thương da, tăng sắc tố, ban đỏ da… Ngoài ra, nó còn làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể, viêm mũi họng, viêm xoang Ở nam giới, tia hồng ngoại còn làm giảm lượng tinh trùng, bức xạ hồng ngoại phối hợp với điều kiện vi khí hậu không tốt gây stress nhiệt cho con người [22]
“Tia cực tím (hay tia tử ngoại, tia UV), (tiếng Anh là Ultraviolet) là sóng điện
từ có bước sóng ngắn hơn ánh sáng nhìn thấy nhưng dài hơn tia X Phổ tia cực tím có thể chia ra thành tử ngoại gần (có bước sóng từ 380 đến 200 nm) và tử ngoại xạ hay
tử ngoại chân không (có bước sóng từ 200 đến 10 nm)” [23] Những vật được nung
C) đều phát tia tử ngoại Nguồn tia tử ngoại phổ
tử ngoại mạnh hay được dùng trước đây (nhưng hiện nay không dùng) Tia tử ngoại cũng có nhiều ứng dụng quan trọng như: khử trùng nước, thực phẩm và dụng cụ y tế, dùng để chữa bệnh (như bệnh còi xương), tìm vết nứt trên kim loại… [24]
Có 3 loại tia cực tím [25]: “UVA, UVB và UVC Các tia cực tím A (UVA) có bước sóng nằm giữa 400 và 315nm, gần với tia sáng có thể nhìn thấy được Đó là những tia chứa năng lượng thấp nhất so với các tia không nhìn thấy như tia X, tia gamma nhưng nó vẫn đâm xuyên sâu hơn vào da chúng ta và tham gia một phần vào
sự làm sạm da Các tia cực tím B (UVB) có bước sóng nằm giữa 315 và 280nm, mạnh hơn các UVA, bị lọc bởi khí quyển Chúng là tác nhân chính của việc làm sạm
da cũng như gây ung thư da và các bệnh đục thuỷ tinh thể Các tia cực tím C (UVC)
có độ dài sóng nằm giữa 280 và 100nm, là tia cực tím mạnh nhất Tất cả chúng đều
bị lọc bởi tầng ozon và không đi đến trái đất được Mắt loài ong nhìn thấy các tia sáng nằm giữa 300-700nm nên chúng có thể nhìn thấy các UVA và một số UVB + Trong khí quyển trái đất, ở độ cao 15 - 30km có lớp ozon - một vành đai khí khá mỏng nhưng đủ sức bảo vệ sự sống Ozon hấp thụ tối đa các UV có bước sóng lân cận 280nm, ngăn chặn các UVC, lọc một phần các UVB và đi qua các UVA Ở
O2 → O + O; O + O2 → O3
Trang 25GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 19 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Một oxy nguyên tử được phóng thích liền kết hợp với một phân tử oxy trung
đất Năm 1992-1993, do lớp ozon bị mỏng đi, các nhà khoa học dự báo về một đại dịch ung thư nhưng may mắn thay tai hoạ đó đã không xảy ra Trên thực tế, các phân
tử freon hay CFC (chloro fuoro cacbon) có mặt ở tầng bình lưu có thể phá huỷ đến 100.000 phân tử ozon, nhất là tại hai cực Ở các cực, theo chiều đứng, gió đi lên vừa xoáy tròn đến một độ cao rất lớn, tạo thành một xoáy khí quan trọng nhất tại Nam Cực Về mùa đông, các chất phá huỷ ozon đó được tích tụ trong các đám mây lạnh,
bị cầm giữ trong các xoáy khí, các luồng không khí đó lên cao Đến mùa xuân, các luồng khí đó phóng thích các chất phá huỷ ozon với tốc độ nhanh, từ đó làm xuất hiện lỗ hổng ozon khổng lồ ở Nam Cực Lỗ hổng ozon có khi rộng hơn cả diện tích nước Mỹ hay toàn bộ diện tích Châu Âu Như vậy cần phải tránh sử dụng các chất như CFC chứa clo vì chúng phá huỷ lớp ozon, tạo cơ hội cho các tia UV độc hại xuyên qua tác động xấu tới sự sống của động thực vật và sức khoẻ của con người Quá nhiều UV thì nguy hiểm nhưng không có chúng sẽ không có sự sống trên trái đất Nhiều quá hay không đủ UV đều nguy hại nên rất cần có một sự cân bằng Song song những tác động có lợi, ở liều cao, các tia UV cũng gây nên những tác động có hại Chúng làm bùng phát sự ô nhiễm quang hoá và tấn công các tổ chức sống Các UVA và UVB gây ra bỏng nắng Về lâu dài, các vết bỏng đó làm suy yếu
hệ miễn dịch, giảm khả năng phòng vệ trước các virut, đồng thời là tác nhân chính dẫn tới nguy cơ gây ra các đột biến của tế bào da hay ung thư da” Có hai loại ung thư da: các ung thư biểu mô và các khối u ác tính hắc tố Loại ung thư thứ nhất thấy trên mặt và trên tay là do các UVA và UVB Loại ung thư thứ hai, nặng hơn nhiều, giết chết 25% những bệnh nhân mắc phải” Đây là những vấn đề mà học sinh có thể chưa từng quan tâm đến, chưa biết dến Sau khi dạy xong hết nội dung bài, tôi sẽ lồng ghép giáo dục môi trường để học sinh hiểu rõ hơn về vai trò cũng như ảnh hưởng của tia hồng ngoại và tia tử ngoại Có thể khái quát qua sơ đồ sau:
Hình 2.1 Sơ đồ nội dung GDMT bài 40 Tia hồng ngoại Tia tử ngoại
3.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Từ kiến thức vật lý là: ứng dụng của tia hồng ngoại và tia tử ngoại, tôi sẽ liên hệ cho các em thấy được ngoài những ứng dụng đó thì các tia này có ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể chúng ta Từ đó các em có thể rút ra một số biện pháp để hạn chế được ảnh hưởng của chúng
Các bức xạ không nhìn thấy:
- Tia hồng ngoại
- Tia tử ngoại
GDMT: ứng dụng của tia hồng ngoại và tia
tử ngoại → GDMT về tác hại của hai tia này
Trang 26GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 20 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Hoàn thành phiếu học tập trên (so sánh tia hồng ngoại và tia tử ngoại), mỗi nhóm 2 bạn làm trong 2 phút (phụ lục 1)
Các em đã biết được tia hồng ngoai và tia tử ngoại có ứng dụng như thế nào, bên cạnh những ứng dụng đó thì hai tia này ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe chúng ta
Một em hãy cho cô biết, tia hồng ngoại ảnh hưởng như thế nào đến chúng ta?
Đúng vậy, khi tiếp xúc nhiều với tia hồng ngoại:
- Nhẹ: có thể làm khô mắt, da bị tổn thương, nổi ban đỏ
- Nặng: có thể làm đục giác mạc dẫn đến đục nhân mắt Ngoài ra tia hồng ngoại làm giảm khả năng miễn dịch của cơ thể con người, viêm mũi họng, viêm xoang, stress nhiệt
Tia hồng ngoại ảnh hưởng rất nhiều đến cơ thể chúng ta, vậy tia tử ngoại có ảnh hưởng đến chúng ta không?
Học sinh thảo luận hoàn thành phiếu học tập
ngoại sẽ làm khô mắt, khô da, bị ban đỏ (có thể các em đã được biết qua sách, báo, tivi)
Có, tia tử ngoại còn gọi là tia cực tím Tia
tử ngoại có thể
?
?
?
Trang 27GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 21 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Bạn vừa kể được một số tác hại của tia tử ngoại đến cơ thể chúng ta Ngoài ra, nếu liều lượng cao sẽ làm suy yếu hệ miễn dịch, giảm khả năng phòng bệnh trước virut Đồng thời, tia
tử ngoại là các tác nhân chính của bệnh ung thư da dẫn đến tử vong
Chúng ta cần làm gì để hạn chế sự ảnh hưởng của tia hồng ngoại và tia tử ngoại lên cơ thể chúng ta?
Đó là một số biện pháp rất
dễ dàng làm được ở lứa tuổi các
em Ngoài ra, người ta hay dùng tấm ni lông nhẵn bóng để che nguồn bức xạ bảo vệ người làm việc, sử dụng hệ thống phun nước để che chắn và hạ nhiệt của bức xạ Những người lao động gần nguồn bức xạ phải có bảo hộ lao động như: mặc quần áo bằng sợi bông (cotton), đeo kính lọc khi hàn điện hay hàn bằng khí đất đèn, người quan sát lò nóng chảy dùng thêm kính hấp thụ nhiệt Đây là một số biện pháp người ta dùng để hạn chế sự ảnh hưởng của tia hồng ngoại và tia
làm sạm da dẫn đến ung thư da, đục thủy tinh thể
Chúng ta có thể hạn chế bằng cách: mọi người
ra nắng phải đội
mũ rộng vành, đeo kính râm, tránh ở lâu ngoài nắng
?
Trang 28GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 22 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
tử ngoại Ngoài ra còn có một biện pháp nữa đó là chúng ta nên hạn chế sử dụng các thiết bị có nhiều bức xạ hồng ngoại và tử ngoại…
4 LỒNG GHÉP NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO CHƯƠNG VII: LƯỢNG TỬ ÁNH SÁNG
4.1 Xác định mục tiêu của chương Chọn bài học có thể lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
Xác định mục tiêu của chương
Mục tiêu của chương được xác định trong sách giáo viên Vật lý 12 NC [5, tr 223]: 1) Hiểu được hiện tượng quang điện và các định luật quang điện
2) Hiểu nội dung thuyết lượng tử ánh sáng và giải thích được các định luật quang điện
3) Biết vận dụng công thức Anh-xtanh để giải các bài toán về hiện tượng quang điện 4) Hiểu các tiên đề Bo và giải thích được quang phổ vạch của nguyên tử hidro
5) Hiểu hiện tượng quang dẫn, hiện tượng quang điện trong
6) Biết sự hấp thụ lọc lựa, phản xạ lọc lựa và màu sắc các vật
7) Hiểu laze là gì, các tính chất của laze và ứng dụng của laze
8) Hiểu lưỡng tính sóng – hạt của sóng
Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường
Trong các mục tiêu trên thì mục tiêu 5, 6, 7 có thể lồng ghép giáo dục môi trường Sau khi tìm hiểu kĩ các nội dung của từng bài trong chương, tôi chọn bài “46 Hiện tượng quang điện trong Quang điện trở và pin quang điện”, bài “48 Hấp thụ và phản xạ lọc lựa ánh sáng Màu sắc các vật” và bài “49 Sự phát quang, sơ lược về laze” để lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh trong quá trình dạy học
4.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “46 Hiện tượng quang điện trong Quang điện trở và pin quang điện”
4.2.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Hiện nay, các nguồn năng lượng truyền thống như than đá, dầu mỏ, đang cạn kiệt, giá thành cao, nguồn cung không ổn định, nhiều nguồn năng lượng thay thế đang được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt là nguồn năng lượng mặt trời Việc tiếp cận để tận dụng nguồn năng lượng này không chỉ góp phần cung ứng kịp thời năng lượng cho nhu cầu của xã hội mà còn tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Năng lượng Mặt Trời, bức xạ ánh sáng và nhiệt từ Mặt trời, đã được khai thác bởi con người từ thời cổ đại bằng cách sử dụng một loạt các công nghệ phát triển hơn
Trang 29GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 23 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
bao giờ hết Bức xạ Mặt Trời, cùng với tài nguyên thứ cấp của năng lượng mặt trời như sức gió và sức sóng, sức nước và sinh khối, làm thành hầu hết năng lượng tái tạo có sẵn trên Trái Đất Năng lượng Mặt Trời là năng lượng sạch nhưng chỉ có một phần rất nhỏ của năng lượng mặt trời được sử dụng, do nó có cường độ yếu và không
ổn định Hiện nay, nguồn năng lượng này đang được sử dụng để chế tạo pin Mặt Trời (pin quang điện), pin quang điện dựa vào hiện tượng quang điện trong
Về kiến thức vật lý, hiện tượng quang điện trong là “hiện tượng tạo thành các electron dẫn và lỗ trống trong bán dẫn, do tác dụng của ánh sáng có bước sóng thích hợp” Và điều kiện để gây được hiện tượng quang điện trong là “ánh sáng kích thích
bán dẫn Dựa vào hiện tượng quang điện trong để giải thích nhiều hiện tượng trong vật lý như: hiện tượng quang dẫn được giải thích dựa vào hiện tượng quang điện trong, quang điện trở thì được chế tạo dựa trên hiệu ứng quang điện trong và hoạt động của pin quang điện dựa vào hiện tượng quang điện trong “Pin quang điện là nguồn điện, trong đó quang năng được biến đổi trực tiếp thành điện năng”
Về cấu tạo thì [4, tr 234]: “pin quang điện gồm một loại tấm bán dẫn loại n, bên trên có phủ một lớp mỏng bán dẫn loại p Mặt trên cùng là một lớp kim loại
mỏng trong suốt với ánh sáng, dưới cùng là một đế kim loại Các lớp kim loại này
đóng vai trò điện cực, lớp tiếp xúc p-n được hình thành giữa hai bán dẫn”
Hình 2.2 Cấu tạo pin Mặt Trời [29]
Về nguyên tắc hoạt động thì quang năng được biến đổi trực tiếp thành điện năng Suất điện động của pin quang điện thường có giá trị từ 0,5V đến 0,8V
Hiện nay, pin quang điện đã trở thành nguồn cung cấp điện năng cho các vùng sâu, vùng xa ở nước ta, hơn nữa là ở trên các vệ tinh nhân tạo Nguồn năng lượng mặt trời sản sinh từ các đợt nắng nóng là rất lớn Nếu tận dụng tốt, nguồn năng lượng này sẽ góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội, điển hình là vấn đề thiếu điện do lượng nước trên các sông Hồng, sông Đồng Nai đã xuống thấp đến mức chưa từng
Trang 30GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 24 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
có, có khả năng các nhà máy thủy điện sẽ không đảm bảo được đủ lượng điện cho nhu cầu của con người trong mùa khô
Như vậy, nội dung có thể lồng ghép ở đây: tôi sẽ lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh khi vừa dạy xong nội dung kiến thức vật lý của toàn bài, lúc đó học sinh
đã hiểu kiến thức trọng tâm và rất dễ dàng cho giáo viên lồng ghép giáo dục môi trường
4.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Pin mặt trời chưa được sử dụng rộng rãi nên học sinh chưa biết nhiều về cấu tạo cũng như cách sử dụng Tuy nhiên, từ kiến thức vật lý học sinh sẽ hiểu phần nào về nguồn điện này Vì vậy, nhiệm vụ lồng ghép trong bài này là: từ kiến thức vật lý về hiện tượng quang điện trong, cấu tạo của pin quang điện, hoạt động của pin quang điện, từ đó đưa ra cơ sở để học sinh nhận biết rằng pin Mặt Trời hoạt động dựa vào hiện tượng quang điện trong và nhận quang năng từ bức xạ mặt trời Tuy nhiên, nhược điểm rất lớn của loại năng lượng này là cường độ yếu và không ổn định, khó chuyển hóa thành năng lượng thương mại Từ đó hình thành cho học sinh về ý thức tiết kiệm điện (Đối với bản thân học sinh và sự tác động của học sinh với những người xung quanh)
Hình 2.3 Sơ đồ nội dung GDMT bài 46 Hiện tượng quang điện trong Quang
điện trở và pin quang điện
em đã biết thêm một dạng năng lượng mới, đó
là năng lượng có nguồn gốc tự nhiên “Mặt Trời”, đây là nguồn năng lượng
Hiện tượng quang điện
Trang 31GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 25 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
sạch chúng ta có thể tận dụng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
Đó là gì các em?
Đúng rồi các em, đó
là pin Mặt Trời, còn gọi
là pin quang điện, tức là
sử dụng năng lượng từ ánh sáng Sử dụng nguồn năng lượng này giúp ta tiết kiệm và hạn chế được một phần ô nhiễm môi trường Để hiểu rõ hơn, các em hoàn thành phiếu học tập (mỗi nhóm
2 bạn, thời gian 2 phút, xem phụ lục 2)
Pin Mặt Trời
Học sinh thảo luận để hoàn thành phiếu học tập
4.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “48 Hấp thụ và phản xạ lọc lựa ánh sáng Màu sắc các vật”
4.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép
Với bài này, từ nội dung kiến thức Vật lý tôi có thể giải thích được hiện tượng hiệu ứng nhà kính và tác hại của hiệu ứng nhà kính đối với môi trường, đó cũng đang là vấn đề đáng quan tâm, lo ngại của Việt Nam nói riêng và toàn cầu nói chung
Về nội dung kiến thức vật lý, “Thực nghiệm chứng tỏ rằng, khi một chùm ánh sáng đi qua một môi trường vật chất bất kì, thì cường độ chùm sáng bị giảm Một phần năng lượng của chùm sáng đã bị hấp thụ và biến thành nội năng của môi trường
Hấp thụ ánh sáng là hiện tượng môi trường vật chất làm giảm cường độ của chùm sáng truyền qua nó” Tuy nhiên, “Các ánh sáng có bước sóng khác nhau thì bị môi trường hấp thị nhiều, ít khác nhau Nói cách khác, sự hấp thụ ánh sáng của một môi trường có tính chọn lọc, hệ số hấp thụ của môi trường phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng
Mọi chất đều hấp thụ có chọn lọc ánh sáng Những chất hầu như không hấp thụ ánh sáng trong miền nào của quang phổ, được gọi là gần trong suốt với miền quang phổ đó
?
Trang 32GVHD: Ths: Đặng Thị Bắc Lý 26 SVTH: Lê Thị Thảo Sương
Những vật không hấp thụ ánh sáng trong miền nhìn thấy của quang phổ, được gọi là vật trong suốt không màu (chẳng hạn như nước nguyên chất, không khí, thủy tinh không màu…), những vật hấp thu hoàn toàn mọi ánh sáng nhìn thấy thì có màu đen
Những vật hấp thụ lọc lựa ánh sáng trong miền nhìn thấy thì được gọi là vật trong suốt có màu.”
Ngoài ra, “Ở một số vật, khả năng phản xạ (hoặc tán xạ) ánh sáng mạnh, yếu khác nhau phụ thuộc vào bước sóng ánh sáng tới Có những vật phản xạ (hoặc tán xạ) mạnh các ánh sáng có bước sóng dài, nhưng lại phản xạ (hoặc tán xạ) yếu các ánh sáng có bước sóng ngắn, chẳng hạn một tấm đồng có mặt đánh bóng Đó là sự phản xạ (hoặc tán xạ) lọc lựa” Một trong các nhân tố làm cho nhiệt độ Trái Đất có
sự sai khác, là do sự hấp thụ và phản xạ của các thành phần khí trong khí quyển, giữa một số phần năng lượng bức xạ Mặt Trời không thoát ra không trung được Như vậy dẫn đến một hiện tượng thực tế quan trọng đó là “Hiệu ứng nhà kính”
Hiệu ứng nhà kính dùng để chỉ hiệu ứng xảy ra khi năng lượng bức xạ của tia sáng Mặt Trời xuyên qua cửa sổ, hoặc mái nhà nhà bằng kính được hấp thụ và phân tán trở lại thành nhiệt lượng cho bầu không gian bên trong, dẫn đến việc sưởi ấm toàn bộ không gian bên trong chứ không phải chỉ ở chỗ được chiếu sáng [26]
Hình 2.4 Hiệu ứng nhà kính [30]
Hiệu ứng nhà kính nhìn từ hai góc độ [27]:
Hiệu ứng nhà kính cơ học là hiệu quả giữ nhiệt của lớp kính trong các nhà kính Ở vùng ôn đới, trong điều kiện lạnh giá của mùa đông, để bảo vệ cây trồng thì người châu Âu đã làm những nhà kính nhằm giữ nhiệt độ giúp cây chóng phát triển Tuy nhiên, nhà kính chỉ có khả năng ngăn cản sự khuếch tán của ánh sáng mà không