Cụ thể là lồng ghép nội dung giáo dục môi trường ở một số bài trong chương IV, V, VI vật lí 10 nâng cao và chỉ thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập thông qua m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÍ
- -
Tên của đề tài:
TẬP THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG
IV, V, VI VẬT LÍ 10 NÂNG CAO
Luận văn tốt nghiệp Ngành : SƯ PHẠM VẬT LÍ
Chuyên ngành: SƯ PHẠM VẬT LÍ – CÔNG NGHỆ
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Ths- GVC: Đặng Thị Bắc Lý Châu Thị Phú Thủy
Lớp: TL1192A1
Mã số SV: 1110278
Cần Thơ, 2015
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Xác nhận đã chỉnh sửa Cần Thơ, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Châu Thị Phú Thủy
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 2
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU VÀ 2
4.1 Phương pháp nghiên cứu 2
4.2 Phương tiện nghiên cứu 2
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN 2
6 CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ TỰ ĐẶC BIỆT 3
B PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG 4
2 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 7
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 7
2.2 Các dạng ô nhiễm môi trường và tác nhân gây ô nhiễm 7
3 SƠ LƯỢC VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 9
3.1 Khái niệm giáo dục môi trường 9
3.2 Nội dung giáo dục môi trường 10
3.3 Nguyên tắc giáo dục môi trường 11
4 GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 12
4.1 Nguyên tắc giáo dục môi trường trong dạy học 12
4.2 Một số định hướng giáo dục môi trường 12
4.3 Hai kiểu triển khai giáo dục môi trường 14
4.3.1 Kiểu 1: giáo dục môi trường thông qua chương trình giảng dạy môn học trong nhà trường 14
4.3.2 Kiểu 2: giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập 14
CHƯƠNG 2 TẬP THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG IV, V, VI VẬT LÍ 10 NÂNG CAO 16
1 QUI TRÌNH LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG 16
Trang 42 QUY TRÌNH THIẾT KẾ NỘI DUNG GIÁO DỤC MỘI TRƯỜNG NHƯ MỘT
HOẠT ĐÔNG ĐỘC LẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ 17
3 THIẾT KẾ NỘI DUNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO “CHƯƠNG IV CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” 18
3.1 Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường 18
3.2 Tập lồng ghép giáo giáo dục môi trường cho bài “32 Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định lực bảo toàn động lượng” 18
3.2.1 Chọn nội dung bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường 18
3.2.2.Xác định nhiệm vụ lồng ghép 20
3.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 20
3.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “35 Thế năng Thế năng trọng trường” 21
3.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường 21
3.3.2 Xác định nhiệm vụ giáo dục 23
3.3.3 Thiết kế nội dung giáo dục môi trường 23
4 THIẾT KẾ NỘI DUNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO “CHƯƠNG V CƠ HỌC CHẤT LƯU” 25
4.1 Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường 25
4.2.Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “42 Sự chảy thành dòng của chất lỏng và chất khí Định luật Béc-nu-li” 25
4.2.1 Chọn nội dung bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường 25
4.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 27
4.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 27
4.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “43 Ứng dụng của định luật Béc-nu-li” 29
4.3.1 Chọn nội dung bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường 29
4.3.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 30
4.3.3 Đề nghị cách lồng ghép 31
5 THIẾT KẾ NỘI DUNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO “CHƯƠNG V CHẤT KHÍ” 32
5.2 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài bài “44 Thuyết động học phân tử chất khí Cấu tạo chất” 32
5.2.1 Chọn nội dung bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường 32
5.2.2 Xác định nhiệm vụ lồng ghép 35
Trang 55.2.3 Đề nghị cách lồng ghép 35
6 THIẾT KẾ NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG NHƯ MỘT HOẠT ĐỘNG ĐỘC LẬP 37
6.1 Xác định chủ đề 38
6.2 Xác định hình thức hoạt động: Thi trả lời câu hỏi, thuyết trình và thi tái chế 38
6.3 Thiết kế hoạt động 39
C PHẦN KẾT LUẬN 40
1 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI 40
2 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 40
3 NHỮNG DỰ ĐỊNH TRONG TƯƠNG LAI 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, môi trường tự nhiên mà chúng ta sinh sống đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và đang trở thành vấn đề của toàn cầu Bên cạnh việc đưa ra những giải pháp hữu hiệu làm giảm tình trạng ô nhiễm, cải thiện môi trường thì việc đưa các vấn đề môi trường vào giáo dục trong nhà trường góp phần nâng cao nhận thức, hình thành ý thức bảo vệ môi trường của học sinh là một biện pháp thiết thực và hiệu quả
Việc đưa giáo dục môi trường vào giảng dạy đang được xem là xu hướng của thời đại Để đạt được hiệu quả tối ưu thì việc giáo dục môi trường phải được thực hiện ở mọi lứa tuổi, mọi bậc học để tạo ra những người công dân có hiểu biết, có ý thức, tuyên truyền bảo vệ môi trường, sống thân thiện với môi trường, đồng thời người giáo viên cũng phải trang bị được những kiến thức cơ bản về môi trường và giáo dục môi trường để góp phần nâng cao hiệu quả trong việc giáo dục môi trường mà không ảnh hưởng đến môn học
Giáo dục môi trường có thể thông qua từng môn học với từng mảng kiến thức có liên quan Trong đó, Vật lí là một môn khoa học gần gũi và gắn liền với tự nhiên Nhiều nội dung kiến thức của môn học có thể lồng ghép vào giáo dục môi trường hoặc cũng có thể tổ chức thành một tiết ngoài giờ Nếu các thầy cô giảng dạy Vật lí được trang bị kiến thức, tiếp cận với các tài liệu giáo dục môi trường thì có thể trở thành những chiến sĩ xung phong đi đầu trong sự nghiệp giáo dục môi trường, tạo ra được những thế hệ trẻ biết
bảo vệ môi trường, sống vì môi trường, góp phần cho việc phát triển bền vững
Nhìn chung, giáo dục môi trường đang là xu hướng của ngành Giáo dục hiện nay, nên việc lồng ghép giáo dục môi trường vào môn học Vật lí ở trường phổ thông đã có không ít tác giả nghiên cứu và thiết kế nội dung lồng ghép Để tìm hiểu và góp phần làm
cho tài liệu lồng ghép giáo dục môi trường thêm đa dạng, tôi thực hiện đề tài “Tập thiết
kế các nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương IV, V, VI Vật lí 10 nâng cao” Không dừng lại ở việc lồng ghép giáo dục môi trường cho một số bài vật lí
10 nâng cao, đề tài còn nghiên cứu thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài hướng tới các mục tiêu sau:
- Hệ thống lại cơ sở lí thuyết về giáo dục môi trường
- Xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường và qui trình thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập trong dạy học Vật lí
- Tập thiết kế các nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương IV, V, VI Vật lí 10 nâng cao
Trang 73 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Tôi chỉ thiết kế các nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương IV, V, VI Vật lí 10 nâng cao mà không có làm thực nghiệm để kiểm chứng Cụ thể là lồng ghép nội dung giáo dục môi trường ở một số bài trong chương IV, V, VI vật lí 10 nâng cao và chỉ thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập thông qua một buổi sinh hoạt ngoại khóa
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU VÀ
4.1 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết: tìm đọc các tài liệu liên quan đến môi trường, tài liệu về giáo dục môi trường, sau đó phân tích, tổng hợp, xây dựng các qui trình
- Vận dụng qui trình để thiết kế các nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương IV, V, VI Vật lí 10 nâng cao
4.2 Phương tiện nghiên cứu
Để thực hiện đề tài tôi sử dụng một số phượng tiện như sách tham khảo, máy tính, internet,…
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN
- Xác định mục tiêu của đề tài
- Tìm các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu các tài liệu đã tìm được có liên quan đến đề tài
- Lập đề cương cho đề tài
- Hệ thống hóa cơ sở lí thuyết cho đề tài
- Trên những cơ sở lí thuyết đã nghiên cứu, xây dựng qui trình lồng ghép giáo dục môi trường cho từng bài và qui trình thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập
- Vận dụng qui trình để thiết kế nội dung giáo dục môi trường liên quan đến các chương IV, V, VI Vật lí 10 nâng cao
- Viết, chỉnh sửa và hoàn thành đề tài
- Báo cáo thử luận văn
- Báo cáo luận văn
Trang 86 CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÍ TỰ ĐẶC BIỆT
GDMT: giáo dục môi trường
: nội dung lời giảng của giáo viên
: nội dung câu hỏi của giáo viên
: học sinh quan sát, lắng nghe, trả lời câu hỏi
: học sinh trao đổi, thảo luận
?
Trang 9
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG
Albert Einstein định nghĩa “Môi trường là mọi thứ khác với tôi” [2]
Theo luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005): “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [2]
Theo chương trình môi trường Liên Hiệp quốc (United Nation Enviroment Program (UNEP)): “Môi trường là tổng hợp tất cả các nhân tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội có tác động tới một cá thể, một quần thể, hoặc một cộng đồng” [11]
Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng hơn Theo định nghĩa của UNESCO (1981): “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của con người” [5]
Như vậy,tuy các định nghĩa và cách gọi có khác nhau, người ta đều có sự thống nhất chung là: “Môi trường là tổng hợp những gì bên ngoài của một sinh vật và ảnh hưởng đến sự phát triển của cá thể hoặc quần thể sinh vật và con người” [2] Cụ thể, đối với con người, môi trường là khung cảnh sinh hoạt, lao động, vui chơi, học tập …ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của con người
Môi trường sống của con người thường được phân thành môi trường tự nhiên và môi trường xã hội
“Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên ở trên trái đất chúng ta, các yếu tố này không phụ thuộc vào con người Con người có thể tác động vào các yếu tố tự nhiên này, làm cho nó bị thay đổi, nhưng các yếu tố này vẫn phát triển theo quy luật riêng của nó” [2] Thành phần của môi trường tự nhiên bao gồm 4 quyển: thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển, giữa các quyển này có mối tác động qua lại
Thạch quyển: “là phần bao bên ngoài của trái đất, chứa các khoáng, đất, chất hữu cơ, không khí và nước nằm ở các lỗ rỗng của đất, đá” [2] “Độ dày của thạch quyển dao động từ khoảng 1,6 km (1 dặm) ở các sống lưng giữa đại dương tới khoảng 130 km (80 dặm) gần lớp vỏ đại dương cổ Độ dày của mảng thạch quyển lục địa là khoảng 150
km (93 dặm) Do lớp bề mặt đang nguội đi trong hệ thống đối lưu của Trái Đất, độ dày của thạch quyển tăng dần lên theo thời gian Nó bị chia cắt ra thành các mảng tương đối lớn, được gọi là các mảng kiến tạo và chúng chuyển động tương đối độc lập với nhau Chuyển động này của các mảng thạch quyển được miêu tả như là kiến tạo địa tầng Có hai dạng của thạch quyển là: Thạch quyển vỏ đại dương và thạch quyển vỏ lục địa” [12]
Trang 10Khí quyển: bao gồm các chất khí bao quanh Trái Đất chúng ta, có vai trò duy trì
sự sống trên trái đất “Khí quyển hấp thu hầu hết các tia vũ trụ và phần lớn các bức xạ điện từ trường từ mặt trời, nó chỉ truyền các tia cực tím, tia khả kiến, các tia gần vùng hồng ngoại (có bước sóng từ 300 – 2500 nm), nó giữ lại các tia tử ngoại có bước sóng dưới 300 nm (đây là các tia có khả năng gây tổn thương cho các mô cơ thể sống)” [2] Khí quyển có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự sống trên trái đất Nó vừa là màn chắn bảo vệ sinh vật khỏi những tia gây hại từ mặt trời, vừa cung cấp O2, CO2 cho hoạt động sống trên trái đất, cung cấp các khí cần thiết cho quá trình sinh trưởng của thực vât, trong các hoạt động sản xuất của con người… Ngoài ra, khí quyển còn tham gia vào quá trình tuần hoàn của nước
Thủy quyển: “bao gồm tất cả các dạng nước ở đại dương, biển hồ, sông rạch, băng hà, nước dưới đất, hơi nước trong khí quyển Theo các tính toán thì 97% lượng nước trên trái đất nằm ở các đại dương, 2% lượng nước là băng hà, chỉ có khoảng 1% nước nằm ở ao, hồ, sông, rạch, dưới đất và đây cũng là lượng nước mà con người có thể
sử dụng được” [2] Thủy quyển là một thành phần không thể thiếu được ở môi trường sinh thái toàn cầu, nó duy trì sự sống cho con người và sinh vật Ở đâu có sự sống thì ở
đó có không khí và nước, không có nước là không có sự sống Tuy phần lớn diện tích trái đất ta là đại dương, sông, hồ…nhưng lượng nước mà con người có thể sử dụng chỉ chiếm 1% Vì vậy, việc bảo vệ, giữ gìn nguồn nước này cũng chính là bảo vệ sự sống cho chúng
ta
Sinh quyển là: tập hợp các nhân tố môi trường vô sinh trên Trái Đất hoạt động như một hệ sinh thái lớn nhất” [9] Đặc trưng cho hoạt động sinh quyển là các chu trình trao đổi vật chất và trao đổi năng lượng Chính nhờ những chu trình và hoạt động này nên vật chất sống được ở trạng thái cân bằng gọi là cân bằng động Nhờ có sự cân bằng ấy mà
sự sống trên trái đất được ổn định và phát triển
“Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó
là luật lệ, thể chế, cam kết, quy định ở các cấp khác nhau.Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo những khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với những sinh vật khác” [5]
Ngoài ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường nhân tạo, môi trường nhân tạo: là kết quả lao động của con người, nó tồn tại hoàn toàn phụ thuộc vào con người Nếu không có bàn tay chăm sóc của con người, thì các thành phần của môi trường nhân tạo sẽ bị hủy hoại (các phương tiện giải trí, môi trường lao động, nhà ở, giao thông,….) Môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo và môi trường xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là cơ sở cho sự phát triển bền vững
Đối với sinh vật nói chung và con người nói riêng thì môi trường sống có những chức năng chủ yếu sau [5]:
Trang 11- “Môi trường là không gian sống của con người và thế giới sinh vật” Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người đều cần một không gian nhất định để phục vụ cho các hoạt động sống, như nhà ở, nơi nghỉ, đất để sản xuất… Các chức năng này đòi hỏi môi trường phải có một phạm vi không gian thích hợp cho con người Yêu cầu về không gian sống của con người thay đổi tuỳ theo trình độ khoa học và công nghệ Tuy nhiên, trong việc sử dụng không gian sống và quan hệ với thế giới tự nhiên, có hai tính chất mà con người cần chú ý là tính chất tự cân bằng, nghĩa là khả năng của các hệ sinh thái có thể gánh chịu trong điều kiện khó khăn nhất và tính bền vững của hệ sinh thái
-“Môi trường là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và hoạt động sản xuất của con người” Trong lịch sử phát triển, loài người đã trải qua từng giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn con người đã lấy từ thiên nhiên những tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho đời sống, sản xuất ở những mức khác nhau Theo trình độ phát triển của xã hội, nhu cầu của con người về các nguồn tài nguyên không ngừng tăng lên cả về
số lượng và chất lượng Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng tự nhiên, động – thực vật, các loại quặng, dầu mỏ…còn đủ để khai thác trong bao lâu, khi mà con người cứ khai thác một cách cạn kiệt, khiến môi trường không thể tự phục hồi
- “Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình” Trong quá trình sản xuất và tiêu dùng của cải vật chất, con người luôn thải ra chất thải vào tự nhiên và chúng quay trở lại môi trường Tại đây, dưới tác động của các sinh vật và các yếu tố môi trường khác, chất thải sẽ bị phân hủy, biến đổi trở lại trạng thái nguyên liệu của tự nhiên Tuy nhiên, sự gia tăng dân số nhanh chóng, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa làm số lượng chất thải tăng lên không ngừng dẫn đến tình trạng quá tải Các thành phần chất thải khó phân hủy, độc hại gây khó khăn cho quá trình phân hủy làm giảm chất lượng môi trường và môi trường có thể bị ô nhiễm
- “Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người” Môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, tiến hóa của vật chất sinh vật, quá trình phát triển loài người, lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các cảnh quan có giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hóa khác Ngoài tra, môi trường còn cung cấp các chỉ thị không gian, tạm thời mang tính chất tính hiệu và báo động sớm các hiểm họa môi trường như bão, động đất, núi lửa…
Trang 12Hình 1: Các chức năng chủ yếu của môi trường [5]
2 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường
“Thuật ngữ “ô nhiễm” nghĩa là làm cho không còn tinh khiết, không còn sạch và không chấp nhận được Các chất làm cho môi trường mất tính trong lành vốn có của nó được gọi là chất gây ô nhiễm” [2]
Theo luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam (2005): “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [2]
Theo định nghĩa của WHO: “Ô nhiễm môi trường là việc đưa vào môi trường các tác nhân lí học, hóa học, sinh học và nhiệt không đặc trưng về thành phần hoặc hàm lượng đối với môi trường ban đầu đến mức có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bình thường của một loại sinh vật nào đó hoặc thay đổi tính chất trong lành của môi trường ban đầu” [2]
Mỗi lĩnh vực đều có những khái niệm khác nhau về ô nhiễm môi trường, tuy nhiên đều có những điểm chung cơ bản: ô nhiễm môi trường là những tác động làm thay đổi các thành phần tự nhiên (vật lí, hóa học, sinh học) mà môi trường không tự phục hồi được dẫn đến sự suy thoái môi trường, ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
2.2 Các dạng ô nhiễm môi trường và tác nhân gây ô nhiễm
Môi trường được tạo thành bởi vô số các yếu tố vật chất Trong đó vừa có các yếu
tố tự nhiên như đất, nước, không khí, ánh sáng, âm thanh, hệ động – thực vật,…, vừa có các yếu tố nhân tạo do con người tạo ra như các công trình kiến trúc, văn hóa, các khu
Trang 13công nghiệp… Do ảnh hưởng của các yếu tố nhân tạo, môi trường tự nhiên hiện nay đang có những thay đổi bất lợi cho con người, đặc biệt là các yếu tố đất, nước, không khí,
hệ động - thực vật Tình trạng môi trường đang thay đổi xấu và bị ô nhiễm đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu và vẫn đang là vấn đề đau đầu của nhân loại Ô nhiễm môi trường gồm các dạng phổ biến sau: ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và một số dạng khác như ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm phóng xạ, ô nhiễm sóng [8]
- Ô nhiễm (suy thoái) đất là sự suy giảm chất lượng đất đai, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nông nghiêp và hoạt động sống của một số sinh vật sống trong đất
- Ô nhiễm nước là nồng độ chất gây ô nhiễm vượt quá mức an toàn cho phép làm nước nhiễm bẩn, đổi màu, có mùi hôi khó chịu
- Ô nhiễm không khí là sự gia tăng nồng độ một số chất khí có hại (CO2, CH4, SOx,…) một cách bất thường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và đe dọa sự sinh tồn của một số loài sinh vật
- Ô nhiễm tiếng ồn: tiếng ồn to, kéo dài ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khỏe con người như tiếng xe cộ, tiếng máy móc làm việc,…
- Ô nhiễm ánh sáng: do lạm dụng các thiết bị chiếu sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của một số loài sinh vật
- Ô nhiễm phóng xạ: hàm lượng chất phóng xạ trong môi trường vượt mức cho phép gây hại đến sinh vật và con người
- Ô nhiễm sóng, do các loại sóng như sóng điện thoại, truyền hình tồn tại với mật
độ lớn
Những thay đổi của môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thức
ăn, nước uống, không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến con người do thay đổi các điều kiện vật lí, hóa học và suy giảm môi trường tự nhiên Tuy nhiên sự thay đổi ấy không đơn thuần hiển nhiên mà do các tác nhân gây ô nhiễm (hay chất ô nhiễm) gây nên Vậy tác nhân gây ô nhiễm là gì?
“Tác nhân gây ô nhiễm là những chất, những nguyên tố hóa học có tác động vào môi trường làm cho môi trường từ trong sạch trở nên độc hại Những tác nhân này thường được gọi khái quát là “Chất gây ô nhiễm môi trường” Chất ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong tự nhiên nhưng có hàm lượng lớn hơn, nó gây tác động có hại cho môi trường tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống Chất
ô nhiễm có thể là chất rắn (rác, phế thải rắn ), chất lỏng (các dung dịch hóa chất, chất thải của công nghiệp dệt nhuộm, chế biến thực phẩm ), chất khí (SO2 từ núi lửa, CO2,
NO2 trong khói thải của xe hơi, có trong khói bếp, lò gạch ), các kim loại nặng như: chì, đồng, thủy ngân (Pb, Cu, Hg, )” [7] Chúng làm cho nhiệt độ trái đất tăng lên do chúng không cho các tia bức xạ từ mặt đất thoát ra, gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính rất nghiêm trọng
Tác nhân gây ô nhiễm hay chất gây ô nhiễm được sinh ra từ hai nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động của con người gọi là ô nhiễm do con người, và một số hiên tượng tự
Trang 14nhiên gọi là ô nhiễm tự nhiên
- Ô nhiễm tự nhiên: do quá trình phát triển và chết đi của các loài thực vật, động vật, hoạt động của núi lửa, động đất, cháy rừng…sinh ra khói, bụi và các khí độc hại khác
- Ô nhiễm do con người: chất thải trong sinh hoạt và đời sống sản xuất Dân số đông khiến lượng chất thải gia tăng đáng kể cùng với các hoạt động khai thác tài nguyên quá mức, không đúng cách, hoạt động nông nghiệp lạm dụng nhiều hóa chất gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng Các nhà máy, xí nghiệp đua nhau thải ra môi trường hàng loạt các chất thải rắn, nước thải chưa qua xử lí, lượng lớn khí độc từ ống khói nhà máy, khí thải phương tiện giao thông,…làm ô nhiễm môi trường trầm trọng Hiện nay con người đang gánh chịu một phần hậu quả nào đó do mình gây ra
3 SƠ LƯỢC VỀ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
3.1 Khái niệm giáo dục môi trường
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục môi trường được thực hiện bằng cách kết hợp giữa giáo dục và thực tế, giữa nhà trường và các hoạt động xã hội Trong trường học, giáo dục môi trường được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường của đất nước hiện nay Vậy, trước hết phải hiểu giáo dục môi trường là gì?
“Giáo dục môi trường là một quá trình nhằm phát triển ở người học sự hiểu biết và quan tâm trước vấn đề môi trường, bao gồm: kiến thức, thái độ, hành vi, trách nhiệm và
kỹ năng để tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết vấn đề môi trường, trước mắt cũng như lâu dài” (Bộ GD – ĐT/ Chương trình phát triển Liên hợp quốc 1998) [1]
Mục đích của “Giáo dục môi trường” là vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm hoạ môi trường, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực và cam kết hành động, dù với tư cách cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môi trường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh
Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: giáo dục thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, qua hoạt động tổ chức quần chúng, qua nội dung giảng dạy trong nhà trường Dù giáo dục môi trường bằng hình thức nào cũng hướng đến các mục tiêu sau [2]:
“- Nâng cao nhận thức rõ ràng về mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị và sinh thái ở các khu vực thành thị và nông thôn
- Cung cấp cho mọi người kiến thức, thái độ, động cơ, sự tận tâm, tham gia tích cực
và kỹ năng cần thiết để bảo vệ và cải thiện môi trường
Trang 15- Tạo ra những thái độ mới về hợp tác của các cá nhân, tổ chức và xã hội về các vấn
đề môi trường.”
Bùi Cách Tuyến (2010) đã khái quát hóa các mục tiêu và mối quan hệ của các mục tiêu này bằng sơ đồ sau [2]
Hình 2.Các mục tiêu của giáo dục môi trường và mối quan hệ của chúng
3.2 Nội dung giáo dục môi trường
Giáo dục là công cụ để thay đổi nhận thức của mỗi con người, để con người có cái nhìn thật đúng đắn về vấn đề nào có liên quan đến môi trường Muốn làm được điều đó thì đòi hỏi giáo dục phải có nội dung giáo dục cụ thể mới đạt được kết quả như mong muốn Vì lí do đó mà giáo dục môi trường có các nội dung giáo dục sau [6]:
“- Giáo dục môi trường phải xem xét môi trường như một tổng thể hợp thành bởi nhiều thành phần Thiên nhiên và các hệ sinh thái của nó: kinh tế, dân số, xã hội, công nghệ, văn hóa
- Giáo dục môi trường nhấn mạnh nhận thức về giá trị nhân cách, đạo đức trong thái
độ ứng xử và hành động trước vấn đề môi trường
- Giáo dục môi trường cung cấp cho người học không chỉ những kiến thức cụ thể,
kỹ năng thực hành, phương pháp phân tích, đánh giá chi phí – lợi ích để họ có thể hành động độc lập, ra những quyết định phù hợp hoặc cùng cộng đồng phòng ngừa, xử lí các vấn đề môi trường một cách có hiệu quả
- Giáo dục môi trường phải đề cập đến vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường của địa phương, vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế
- Giáo dục môi trường phải xem xét các vấn đề môi trường hiện nay và quan hệ với các vấn đề môi trường tương lai
- Các việc làm nhằm giáo dục môi trường là:
+ Các việc làm hình thành và phát triển kỹ năng môi trường
+ Các việc làm làm rõ giá trị môi trường đối với con người
+ Các việc làm nhằm đưa ra quyết định môi trường
+ Các việc làm hình thành và phát triển đạo đức môi trường.”
Hiểu biết về môi
- Nhận thức
- Thái độ
- Ứng xử
Khả năng hành động hiệu quả vào bảo vệ môi trường
- Kiến thức
- Kỹ năng
- Dự báo các tác động
- Tổ chức hành động
Trang 16Giáo dục môi trường có thể được thực hiện bằng 3 phương thức: tiến hành như một môn học mới hoặc một chuyên đề mới đưa vào chương trình học, lồng ghép với các môn học khác, giáo dục môi trường thông qua các hoạt động ngoại khóa Trong đề tài này em xin tập trung vào các phương thức sau: lồng ghép với môn học và thông qua các hoạt động ngoại khóa
3.3 Nguyên tắc giáo dục môi trường
Theo tuyên bố Tbilisi (1978), các nguyên tắc chung của giáo dục môi trường là [2]:
“- Giáo dục môi trường phải xem xét môi trường theo mối quan hệ tổng thể của nó
về môi trường tự nhiên, nhân tạo, môi trường công nghệ và xã hội
- Giáo dục môi trường phải là một tiến trình liên tục, suốt đời bắt đầu từ mẫu giáo đến khi trưởng thành và được tiến hành bởi các dạng chính thức và phi chính thức
- Giáo dục môi trường nên xem xét các vấn đề môi trường chính trên quan điểm điạ phương, quốc gia, khu vực và quốc tế làm cho người học biết được các điều kiện môi trường ở các khu vực địa lí khác nhau
- Giáo dục môi trường nên tập trung vào các vấn đề môi trường hiện tại và có khả năng xảy ra trong tương lai có quan tâm đến những vấn đề trong lịch sử
- Giáo dục môi trường nên thúc đẩy giá trị và sự cần thiết của sự hợp tác giữa địa phương, quốc gia và quốc tế để ngăn ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường
- Giáo dục môi trường cần giúp đỡ việc xem xét các mối quan tâm về môi trường trong việc qui hoạch và phát triển
- Giáo dục môi trường phải khuyến khích người học tự hoạch định kinh nghiệm của mình và tạo cơ hội cho họ tham gia và chịu trách nhiệm trong quá trình ra quyết định
- Giáo dục môi trường phải nâng cao sự nhạy cảm, kiến thức, kỹ năng giải quyết vấn đề và thiết lập các giá trị
- Giáo dục môi trường nên giúp người học xác định được dấu hiệu, nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường
- Giáo dục môi trường nên nhấn mạnh đến tính phức tạp của các vấn đề môi trường,
từ đó phát triển các kỹ năng phân tích, phán xét và giải quyết vấn đề
- Giáo dục môi trường nên sử dụng các phương pháp giáo dục đa dạng trong dạy và học về môi trường, trong môi trường và nhấn mạnh đến các hoạt động ứng dụng và kinh nghiệm thực tiễn.”
Các biện pháp chủ yếu thực hiện giáo dục môi trường [6]:
“- Đưa giáo dục môi trường vào tất cả các bậc học: mầm non, tiểu học, THCS, THPT và các bậc học khác
- Kết hợp giáo dục môi trường vào tất cả các môn của các cấp, các bậc học
- Thực hiện giáo dục môi trường bằng phương pháp hiện đại đặt trọng tâm ở người học và cách tiếp cận học bằng việc làm thực tế
- Cung cấp kiến thức về môi trường và rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường Các trường tổ chức, tích cực tham gia cùng cộng đồng các hoạt động bảo vệ môi trường trong
Trang 174.1 Nguyên tắc giáo dục môi trường trong dạy học
Nhà nước Việt Nam coi giáo dục môi trường như là một bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân nói chung Để thực hiện giáo dục môi trường trong nhà trường, cần đảm bảo các nguyên tắc sau [6]:
“- Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường, trong đó hiệu quả cao nhất sẽ đạt được thái độ và tình cảm vì môi trường
- Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình GĐ-ĐT và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học - giáo dục hiện hành Tạo ra cơ hội bình đẳng về giáo dục môi trường cho mọi người, mọi bậc học từ dưới lên
- Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải liên quan trực tiếp đến môi trường của địa bàn nhà trường
- Làm cho người học thấy được giá trị của môi trường đối với giá trị cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc của con người, bất kể thuộc chủng tộc màu da hay tín ngưỡng nào, đều có quyền sống trong môi trường lành mạnh, có nước sạch để dùng và không khí trong lành để thở
- Triển khai giáo dục môi trường bằng các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, học sinh bằng những việc làm của chính mình mà thu được hiệu quả thực tiễn Thầy giáo là người tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường dựa trên chương trình qui định
và tìm cách vận dụng phù hợp với địa phương”
4.2 Một số định hướng giáo dục môi trường
Để định hướng cho việc lựa chọn nội dung giáo dục môi trường phù hợp, ta có thể dựa vào một số vấn đề về môi trường đang được quan tâm hiện nay có liên quan trực tiếp đến quá trình vật lí:
- Tài nguyên rừng bị suy giảm: vai trò của rừng đối với đời sống của con người + Điều hòa lượng nước trên mặt đất: quá trình vật lí liên quan là hiện tượng mao dẫn của đất
+ Rừng chống xói mòn đất: liên quan đến động năng dòng chảy của nước
- Ô nhiễm nước: liên quan đến hiện tượng chuyển thể của nước, sự chảy thành dòng của chất lỏng
- Ô nhiễm không khí: liên quan đến khí quyển, quá trình suy giảm tầng ozon, chất
Trang 18phóng xạ, hóa chất, sự khuếch tán
- Ô nhiễm tiếng ồn: là tập hợp những âm thanh tạp loạn có tần số và chu kỳ khác nhau (những âm thanh chói tai gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người) Liên quan đến quá trình vật lí là sóng âm
- Ô nhiễm ánh sáng: sự chiếu sáng gây tác hại đến con người và sinh vật
- Sản xuất, truyền tải và sử dụng điện năng: nhìn nhận dưới góc độ bảo vệ môi trường
“tâm” với môi trường thì sẽ không khó khăn khi thực hiện mối liên hệ này Đây là một vài mối liên hệ đặc trưng:
- Liên hệ các khái niệm vật lí liên quan đến môi trường như: hiệu suất, năng lượng, phân loại năng lượng, phân loại nguồn gốc năng lượng, năng lượng tái sinh và không tái sinh, phân loại quá trình chuyển hóa năng lượng, ma sát, hiệu năng, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm âm thanh, tạp âm, hạ âm, khả năng hấp thụ nhiệt và bức xạ của bầu khí quyển, độ thẩm thấu của nước, tốc độ bay hơi,…
- Liên hệ kiến thức vật lí liên quan đến các yếu tố tác động đến sự suy thoái và ô nhiễm môi trường: hiện tượng bào mòn đất đai, ô nhiễm phóng xạ, hiện tượng sa mạc hóa, hạn hán, ô nhiễm và các hệ lụy do đốt rừng, quá trình suy giảm tầng ôzôn …
- Liên hệ kiến thức vật lí đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu: hiệu ứng nhà kính, hiện tượng băng tan, các hệ lụy của hiện tượng nước dâng cao, tần suất và cường độ của các cơn bão nhiệt đới, ảnh hưởng của sự gia tăng nhiệt độ đến cường độ bão…
- Liên hệ các kiến thức vật lí đến các hành động bảo vệ môi trường như: các biện pháp chống ô nhiễm tiếng ồn (phần sóng âm), các biện pháp tiết kiệm năng lượng, các biện pháp chống thất thoát nhiệt lượng, năng lượng; các biện pháp tiết kiệm vật dụng, tăng hiệu suất và tuổi thọ của các thiết bị, đổi mới công nghệ nâng cao hiệu suất máy móc, thu hồi nguyên liệu thải từ các quá trình sản xuất, khai thác và sử dụng các nguồn năng lượng mới…
Khai thác cơ hội giáo dục môi trường dù theo hình thức nào cũng phải đảm bảo các yêu cầu sau [5]:
“- Chuyển tiếp từ nội dung khoa học sang nội dung giáo dục phải khéo léo
Trang 19- Không làm mất tính đặc trưng của môn học Không biến bài học bộ môn thành bài học môi trường
- Khai thác nội dung có chọn lọc, tập trung, tránh tràn lan tùy tiện
- Phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, khai thác kinh nghiệm thực tế của học sinh, tận dụng cơ hội để học sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường
- Tăng cường cập nhật sự phát triển khoa học và công nghệ ở Việt Nam, đồng thời tham khảo nhiều tài liệu về đất nước và con người Việt Nam.”
4.3 Hai kiểu triển khai giáo dục môi trường
4.3.1 Kiểu 1: giáo dục môi trường thông qua chương trình giảng dạy môn học trong nhà trường
Cơ hội giáo dục môi trường trong chương trình dạy học ở nhà trường thể hiện ở chỗ trong chương trình có chứa đựng những nội dung của giáo dục môi trường dưới hai dạng chủ yếu [4]:
- Dạng I: Nội dung chủ yếu của bài học, hay một số phần nội dung môn học có sự trùng hợp với nội dung giáo dục môi trường
- Dạng II: Một số nội dung của bài học hay một số phần nhất định của môn học có liên quan trực tiếp với nội dung giáo dục môi trường
Ngoài ra, ở một số phần nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ, bài tập, bài làm… được xem như là một dạng vật liệu dùng để khai thác các vấn đề môi trường Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường ở trên lớp thông qua môn học [4]:
- Phân tích những vấn đề môi trường ở trong môn học
- Khai thác thực trạng môi trường đất nước, làm nguyên liệu để xây dựng bài học giáo dục môi trường
- Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học, nhưng gắn liền với thực tế địa phương
- Sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được “vật chất hóa” như là điểm tựa, cơ sở để học sinh phân tích, tìm tòi, khám phá những kiến thức cần thiết về môi trường
- Sử dụng các tài liệu tham khảo (các bài báo cáo, các đoạn trích trong các sách phổ biến khoa học, các tư liệu, số liệu mới điều tra công bố, các ảnh chụp mới nhất…) để làm
rõ thêm các vấn đề môi trường
- Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với môi trường ở ngay chính trong một địa điểm thích hợp của môi trường như sân trường, vườn trường, đồng ruộng, điểm dân
cư tập trung…
4.3.2 Kiểu 2: giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường ở ngoài lớp [4]:
- Báo cáo các chuyên đề về bảo vệ môi trường do các nhà khoa học, các kỹ thuật
Trang 20viên hay giáo viên chuyên về môi trường trình bày
- Thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương
- Tham gia tuyên truyền, vận động thực hiện bảo vệ môi trường (chiến dịch truyền thông)
- Tham gia các chiến dịch xanh hóa trong nhà trường: thực hiện việc trồng cây, quản lý và phân loại rác thải
- Theo dõi diễn biến của môi trường tại địa phương (xử lý nước thải, rác thải, vệ sinh công cộng, bảo vệ thắng cảnh…)
- Tổ chức các câu lạc bộ, thành lập các nhóm hoạt động môi trường
- Tổ chức cuộc thi kể chuyện, ngâm thơ, hát, làm bích báo cáo có nội dung giáo dục môi trường, thi làm các bài tìm hiểu thiên nhiên, môi trường
- Tổ chức thi tái chế, tái sử dụng
- Tổ chức triển lãm, biểu diễn văn nghệ
- Xây dựng dự án và thực hiện
- Hoạt động phối hợp với gia đình, cộng đồng và Hội cha mẹ học sinh
Các phương pháp dạy học giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lâp [4]:
- Nghiên cứu (tìm tòi, khám phá hay giải quyết vấn đề): hướng các em làm quen với quá trình tìm tòi, sáng tạo dưới dạng các bài tập
- Làm việc nhóm: đây là phương pháp dạy học có nhiều khả năng tốt trong giáo dục môi trường vì nó đề cao sự hợp tác trên cơ sở hoạt động tích cực của từng cá nhân
- Đóng vai: là phương pháp đặc trưng bởi một hoạt động với các nhân vật giả định,
mà trong đó, các tình thế trong thực tiễn cuộc sống được thể hiện tức thời thành những hành động có tính kịch
- Quan sát, phỏng vấn: là phương pháp thường dùng, có mục đích thu thập các thông tin về một vấn đề nào đó
- Tranh biện: hai nhóm cùng tranh luận về cùng một vấn đề nhưng với hai quan điểm trái ngược nhau, cần có trọng tài để cuộc tranh biện công bằng, đúng luật
- Thuyết trình: là phương pháp học sinh tự thu thập tư liệu qua báo chí, truyền thông, xây dựng thành một bài báo cáo và trình bày trước tập thể
- Tham quan, cắm trại, trò chơi: là phương pháp rất thuận lợi để phối hợp nhiều hoạt động giáo dục môi trường có quan hệ liên kết với nhau, tuy nhiên, chỉ nên chọn hai hoặc
ba chủ đề thiết kế cho toàn bộ chương trình hoạt động
- Lập dự án: là phương pháp trong đó cá nhân hay nhóm học sinh thử thiết lập một
dự án có nội dung môi trường và thực hiện nó Phương pháp này tạo cho học sinh thói quen đặt mình vào vị trí của những người luôn quan tâm và có hành động hợp lí với môi trường, mang lại sự thay đổi trong môi trường tự nhiên hay trường học
Trang 21CHƯƠNG 2 TẬP THIẾT KẾ CÁC NỘI DUNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CHƯƠNG IV, V, VI VẬT LÍ 10 NÂNG CAO
1 QUI TRÌNH LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
Để đưa giáo dục môi trường vào bài vật lí, giáo viên cần phải cân nhắc kỹ, lựa chọn nội dung giáo dục môi trường phù hợp với nội dung bài học Giáo viên phải khéo léo sao cho giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường mà không mất quá nhiều thời gian làm ảnh hưởng đến kiến thức trọng tâm của bài học Nội dung giáo dục môi trường không quá khô khan, mơ hồ mà phải đi sát với thực tiễn, tuy nhiên cũng không được lạm dụng, tránh việc biến một bài học vật lí thành bài giáo dục môi trường.Để thực hiên được điều đó, thì trước hết cần xây dựng một qui trình lồng ghép
Qui trình lồng ghép giáo dục môi trường trong dạy học Vật lí (hay các bước thực hiện lồng ghép) [8]:
“Bước 1: Chọn bài và nội dung của bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường:
Phân tích sơ bộ các mục tiêu mà sách giáo khoa đề nghị Nếu chưa có mục tiêu về lồng ghép giáo dục môi trường thì phân tích xem có thể lồng ghép thêm mục tiêu nào về giáo dục môi trường Khi đã xác định được các mục tiêu về giáo dục môi trường, tìm nội dung thích hợp để lồng ghép
- Kể một câu chuyện mở đầu chứa đựng sự kiện mang tính tư tưởng (những gợi ý
ở trên) có liên quan tới nội dung bài học Sau khi học xong nội dung bài học, giáo viên liên hệ lại câu chuyện đã kể lúc mở đầu và yêu cầu học sinh rút ra bài học cho bản thân
có liên quan đến việc bảo vệ môi trường
- Sau khi giảng dạy xong, phát phiếu câu hỏi yêu cầu học sinh điền vào phiếu nhằm khảo sát tác động của bài dạy đến ý thức bảo vệ môi trường đối với mỗi cá nhân
- Giao bài tập về nhà, tìm và sưu tập một số tranh ảnh về môi trường có liên quan đến nội dung bài vừa học Từ đó, mỗi cá nhân học sinh rút ra bài học gì cho bản thân và với bản thân có thể đề ra những biện pháp như thế nào để hạn chế vấn đề ô nhiễm môi trường đó
- Đặt câu hỏi sau khi vừa kết thúc xong nội dung được chọn lồng ghép (câu hỏi phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí trong bài học đến vấn đề môi trường
Trang 22trong thực tế), giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm Sau thời gian thảo luận, một học sinh đại diện nhóm phát biểu ý kiến của nhóm đã thảo luận và đề ra được những giải pháp của nhóm mình
- Sau khi dạy xong nội dung được chọn lồng ghép thì giáo viên có thể trình chiếu một số hình ảnh từ nội dung bài học có liên quan đến vấn đề ô nhiễm môi trường Yêu cầu học sinh nhận diện các dạng ô nhiễm (ô nhiễm không khí, ô nhiễm nhiệt, ô nhiễm tiếng ồn, hay là ô nhiễm nước, đất ), từ các hình ảnh miêu tả vừa nhận diện, học sinh có thể rút ra bài học gì cho bản thân về cách bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường sống của con người
- Dành vài phút cuối trong tiết học cho mục đố vui có thưởng, để củng cố kiến thức và hình thành ý thức bản thân của mỗi cá nhân về bảo vệ môi trường
- Chuẩn bị sẵn một số tranh ảnh về ô nhiễm môi trường thường gặp trong thực tế cuộc sống có liên quan đến nội dung kiến thức vật lí vừa học Bên dưới hình, có vài dòng trống để học sinh viết câu trả lời của mình khi giáo viên đưa ra yêu cầu phải thực hiện Giáo viên có thể yêu cầu học sinh nhìn hình và cho biết nguyên nhân bị ô nhiễm từ đâu, biện pháp khắc phục, hoặc đề ra một vài biện pháp hạn chế một phần tác hại do bị ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường trên
- Đặt câu hỏi và học sinh trả lời câu hỏi do giáo viên đặt ra Trong đó, những câu hỏi mà người giáo viên đặt ra, phải có mối liên hệ từ nội dung kiến thức vật lí bài học đến vấn đề trong thực tế, cụ thể là vấn đề về môi trường.”
2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ NỘI DUNG GIÁO DỤC MỘI TRƯỜNG NHƯ MỘT HOẠT ĐÔNG ĐỘC LẬP TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ
Để triển khai nội dung giáo dục môi trường trong môn Vật lí thành một hoạt động độc lập, giáo viên cần cân nhắc, chọn lựa thật kỹ về nội dung cũng như các hình thức hoạt động Nội dung giáo dục môi trường phải mang tính phổ biến, sát với thực tiễn, nếu
đó là các vấn đề môi trường thực tế ở địa phương thì càng tốt Ngoài ra, những hoạt động được thiết kế phải hướng từ biết, hình thành ý thức cho đến hành động, chứ không dừng lại ở lí thuyết xuôn Để thiết kế một hoạt động giáo dục môi trường hiệu quả và thuận lợi, trước hết cần đưa ra qui trình thiết kế
Qui trình thiết kế nội dung giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập trong dạy học vật lí (hay các bước thực hiện) [4]:
Bước 1: Xác đinh chủ đề
Phân tích sơ bộ các mục tiêu mà sách giáo khoa đề nghị Sau đó phân tích xem nội dung kiến thức nào của chương có liên quan đến vấn đề môi trường và có thể tố chức thành một buổi ngoại khóa, có thể kết hợp nhiều chương nếu các nội dung giáo dục môi trường giữa các chương có sự liên quan Khi đã xác định được nội dung thích hợp thì đưa
ra chủ đề cho hoạt động
Trang 23Bước 2: Xác định hình thức hoạt động
Từ nội dung giáo dục môi trường, xác định các hình thức hoạt động Có thể thiết
kế nhiều hơn một hình thức nhưng không quá ba hình thức hoạt động, nếu lạm dụng thì các hoạt động sẽ không có chất lượng
Bước 3: Thiết kế hoạt động
Có nhiều cách để thiết kế một hoạt động giáo dục môi trường như một hoạt động độc lập tùy theo nội dung giáo dục, điều kiện và hoàn cảnh thực tế Nhưng dù thiết kế bằng cách nào cũng phải đưa ra được kế hoạch và các bước thực hiện
- Kế hoạch thực hiện: xác định thời gian, địa điểm, đối tượng tham gia và nội dung hoạt động
- Các bước thực hiện:
+ Xác định rõ mục tiêu của hoạt động
+ Xác định nhiệm vụ đối với từng đối tượng (giáo viên, học sinh)
+ Đưa ra chương trình hoạt động cụ thể
+ Tiến hành hoạt động
+ Kết thúc hoạt động
3 THIẾT KẾ NỘI DUNG LỒNG GHÉP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO
“CHƯƠNG IV CÁC ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN”
3.1 Chọn bài học có thể lồng ghép giáo dục môi trường
Chương này có 10 bài (tổng số tiết là 13, có 10 tiết lí thuyết, có 3 tiết bài tập và ôn tập), sau khi tìm hiểu mục tiêu các bài trong chương tôi nhận thấy rằng có thể thiết kế nội dung giáo dục môi trường cho một số bài trong chương dưới hình thức lồng ghép, đưa nội dung giáo dục môi trường vào từng tiết học Để làm được điều đó thì phải lựa chọn bài học có nội dung sao cho học sinh dễ hình dung, liên hệ thực tiễn, gần gũi với cuộc sống, có nội dung giáo dục môi trường rõ ràng, không làm học sinh khó hiểu, nhầm lẫn
Vì vậy ở chương này tôi chọn hai bài để thiết kế lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
là bài “32 Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định lực bảo toàn động lượng” và bài
“35 Thế năng Thế năng trọng trường”
3.2 Tập lồng ghép giáo giáo dục môi trường cho bài “32 Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định lực bảo toàn động lượng”
3.2.1 Chọn nội dung bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường
Về kiến thức vật lí, trong một hệ kín đứng yên, nếu có một phần của hệ chuyển động theo một hướng, thì theo định luật bảo toàn động lượng, phần còn lại của hệ phải chuyển động theo hướng ngược lại Chuyển động theo nguyên tắc như thế gọi là chuyển động bằng phản lực Một trong những ứng dụng tiêu biểu của nguyên tắc chuyển động bằng phản lực là chế tạo ra tên lửa Giáo viên có thể dựa vào nguyên tắc hoạt động của tên lửa để hướng dẫn học sinh chế tạo tên lửa nước bằng cách sử dụng các vật liệu tái chế
Trang 24Tên lửa nước hoạt động khá giống tên lửa thật là đều dựa vào nguyên tắc phản lực, theo đó không khí được bơm vào khoang chứa nước (nước không đầy khoang) và được nén với áp suất cao Do chênh lệch áp suất, nước và khí nén sẽ phụt ra sau đuôi tên lửa và đẩy tên lửa lên phía trước theo định luật bảo toàn động lượng Cấu tạo của tên lửa nước gồm 2 bộ phận chính: tên lửa và giàn phóng Tên lửa bao gồm đầu và thân được làm từ chai nhựa, cánh được làm từ nhựa hoặc giấy cứng; giàn phóng tên lửa được làm bằng các ống nước nối lại với nhau; nếu tên lửa có dù thì có thể dùng vải dù hoặc ni lông để làm
dù cho tên lửa [14] Toàn bộ tên lửa đều được làm từ các vật liệu như chai nhựa, ống nước, ni lông…, những vật liệu này rất dễ thấy, chúng có ở khắp nơi, đôi khi còn bị vứt
ra đường một cách bừa bãi Nếu không được tái chế sử dụng một cách hợp lí thì những loại rác thải này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe con người
Các loại chai nhựa, ni lông là những chất thải rất khó phân hủy Vì vậy nếu các chất này bị vứt bừa bãi xuống sông sẽ cản trở đời sống sinh vật ở nước, làm chết các sinh vật khi chúng nuốt phải, làm tắt nghẽn các đường ống dẫn chất thải, gây ô nhiễm nguồn nước Nếu nằm lẫn ở lòng đất sẽ gây cản trở sự sinh trưởng của các loài động - thực vật ở đất Nguy hiểm nhất là khi đốt, các khí thải ra, đặc biệt là khí đi-ô-xin có thể gây ngộ độc, gây ngất, khó thở, ho ra máu, ảnh hưởng đến các tuyến nội tiết, giảm khả năng miễn dịch, gây rối loạn các chức năng, gây ung thư và các dị tật bẩm sinh cho trẻ sơ sinh Sự lạm dụng các sản phẩm ni lông, chai nhựa cùng với sự vô ý thức của con người, khiến cho nó trở thành thứ rác bị vứt bừa bãi, không chỉ làm mất mỹ quan đường phố mà còn là tác nhân chứa vi khuẩn gây bệnh, làm tắc nghẽn cống rãnh, gây ứ đọng nước thải, hôi thối, ô nhiễm môi trường Chính vì vậy nếu có thể thu gom tái chế, sử dụng lại các vật liệu này sẽ góp phần lớn vào bảo vệ môi trường và sức khỏe của mỗi chúng ta
Qua những phân tích trên, có thể lồng ghép giáo dục môi trường vào bài 32 theo sơ
đồ sau sẽ giúp học sinh thấy được tác hại của rác thải nhựa và tầm quan trọng của việc tái chế, đồng thời tạo được sự hứng thú của các em đối với môn học
Hình 3 Sơ đồ nội dung giáo dục môi trường trong bài “32 Chuyển động bằng phản lực.Bài tập về định luật bảo toàn động lượng”
Nguyên tắc chuyển động
bằng phản lực
Động cơ phản lực Tên lửa
Bài tập về định luật bảo toàn
động lượng
GDMT: Ứng dụng chuyển động bằng phản lực chế tạo tên lửa nước bằng các vật liệu tái chế tác hại của rác thải nhựa và tầm quan trọng của việc tái chế
Trang 253.2.2.Xác định nhiệm vụ lồng ghép
Từ nguyên tắc hoạt động bằng phản lực của tên lửa, giáo viên cho học sinh quan sát hình ảnh về tên lửa nước được chế tạo bằng các vật liệu tái chế như chai nhựa, ni lông, ống nhựa… để giúp các em thấy được lợi ích của việc tái chế và tác hại của rác thải nhựa đối với môi trường Đồng thời qua đó, tạo được sự hứng thú và đam mê của các em đối với môn học
Những tên lửa nước được làm bằng vật liệu gì?
Những vật liệu này các em thường thấy ở đâu?
Nếu không được thu gom và
xử lí hợp lí thì những loại chất thải này gây ảnh hưởng như thế nào đến môi trường?
Tên lửa nước được làm từ các chai nước ngọt, nước suối, ống nước, ni lông…
Bất cứ ở đâu, trong những thùng rác công cộng hoặc gia đình, có khi bị vứt bừa bãi trên đường, đặc biệt là ở sông, cống rãnh… Gây cản trở sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật, nhất là các loài động vật ở dưới nước Nếu vứt bừa bãi xuống sông hồ
sẽ làm tắc nghẽn các ống cống, tăng khả năng ngập lụt ở các đô thị vào mùa mưa, ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Nguy hiểm nhất
là khi đốt, các khí thải ra, đặc biệt là khí đi-ô-xin có
?
?
?
Trang 26Thay vì vứt chúng bừa bãi, gây
ô nhiễm môi trường, đầu độc sức khỏe con người thì các em hãy biến chúng thành những thứ có lợi, phục
vụ cho việc học tập và giải trí Tên lửa nước là một trò chơi thú vị và
dễ làm, nó còn giúp các em củng
cố kiến thức bằng thực tế, rèn luyện tính sáng tạo, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường
thể gây ngộ độc
Kết quả có thể đạt được
Học sinh biết được lợi ích của việc tái chế, hành động góp phần bảo vệ môi trường Đồng thời, tạo được sân chơi lành mạnh, bổ ích, có được sự hứng thú và đam mê trong học tập
3.3 Tập lồng ghép giáo dục môi trường cho bài “35 Thế năng Thế năng trọng trường”
3.3.1 Chọn nội dung của bài có thể lồng ghép giáo dục môi trường
Về kiến thức vật lí, một vật ở độ cao h trong trọng trường có khả năng sinh công chứng tỏ vật có mang năng lượng Dạng năng lượng này gọi là thế năng trọng trường Con người đã biết tận dụng nguồn năng lượng tự nhiên này để phục vụ cho đời sống, sản xuất, chẳng hạn như lợi dụng năng lượng của nước chảy từ nơi có địa hình cao xuống thấp để làm cối giã gạo, bơm nước lên vùng cao để tiết kiệm nhiên liệu, đặc biệt là xây dựng các nhà máy thủy điện với công suất khác nhau… Nhà máy thủy điện ra đời đã thể hiện nhiều ưu điểm so với nhà máy nhiệt điện và nhà máy hạt nhân
Đối với nhà máy nhiệt điện thì lượng khí thải khổng lồ do đốt nhiên liệu hóa thạch
là nguyên nhân gây hiệu ứng nhà kính và nguy cơ thủng tần ôzôn, bên cạnh đó, lượng nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt và không thể tái sinh Các vụ nổ lò hạt nhân và chất phóng xạ đang là vấn đề khó cho nhân loại khi sử dụng nhà máy điện hạt nhân Còn với nhà máy thủy điện thì chi phí đầu tư không cao, tuổi thọ nhà máy dài, nước là nguồn nguyên liệu tái sinh nhanh và nguyên lý hoạt động là dùng sức nước làm cho tuabin quay biến thế năng thành động năng để tạo ra điện nên không thải ra các chất thải gây ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, thủy điện được đánh giá là phương thức sản xuất điện an toàn
và tương đối ổn định
Tuy nhiên, qua thời gian xây dựng và đi vào sản xuất, các nhà máy thủy điện đã bộc
lộ những ảnh hưởng không nhỏ đối với môi trường Thủy điện không tiêu thụ nhiên liệu, không xả ra khí thải độc hại với môi trường, nhưng nó cũng tàn phá nặng nề môi trường sinh thái ở một số phương diện khác