- Vận dụng quy trình để thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ một số kiến thức đã được chọn trong 10 bài trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao.. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài không trải qu
Trang 1Cần Thơ, năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô Đặng Thị Bắc Lý người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm quý báu để em hoàn thành tốt luận văn và luôn cho em những lời khuyên bổ ích trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong Bộ môn Sư phạm Vật lý – Trường Đại Học Cần Thơ đã tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin
Xin cảm ơn bạn bè và gia đình đã luôn bên cạnh, cổ vũ và động viên những lúc khó khăn để em có thể vượt qua và hoàn thành tốt luận văn này
Chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 20 tháng 04 năm 2015
Tác giả
Kiên Thị Thúy Vi
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Cần Thơ, ngày 20 tháng 04 năm 2015
Tác giả
Kiên Thị Thúy Vi
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 1
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 1
4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU 2
4.1 Phương Pháp 2
4.2 Phương tiện 2
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 2
6 MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI 2
PHẦN II: NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT 4
1.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 4
1.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 4
1.2.1 Khái niệm PPDH 4
1.2.2 Một số PPDH được sử dụng để giúp HS ghi nhớ kiến thức 5
1.3 VẬN DỤNG “ĐỊNH HƯỚNG 2: SỰ THU NHẬN VÀ TỔNG HỢP KIẾN THỨC” CỦA ROBERT MARZANO GIÖP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 11
1.4 CƠ SỞ CỦA VIỆC GHI NHỚ KIẾN THỨC 14
1.4.1 Khái niệm trí nhớ 14
1.4.2 Vai trò của trí nhớ 14
1.4.3 Những quá trình cơ bản của trí nhớ 14
1.4.4 Sự giữ gìn tri thức trong trí nhớ 15
1.5 SỰ KHÁC BIỆT CÁ NHÂN VỀ TRÍ NHỚ - TRÍ THÔNG MINH ĐA DẠNG 15
1.6 HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC GIÖP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC 17
1.7 XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC GIÖP HS GHI NHỚ KIẾN THỨC 18
CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CÁCH GHI NHỚ MỘT SỐ KIẾN THỨC TRONG 10 BÀI VẬT LÝ 11 NÂNG CAO 20
2.1 BÀI 6: VẬT DẪN VÀ ĐIỆN MÔI TRONG ĐIỆN TRƯỜNG 20
Trang 52.1.1 Xác định mục tiêu bài học 20
2.1.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 20
2.1.3 Xác định hình thức ghi nhớ 20
2.1.4 Xác định hình thức dạy học 21
2.2 BÀI 7: TỤ ĐIỆN 22
2.2.1 Xác định mục tiêu bài học 22
2.2.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 22
2.2.3 Xác định hình thức ghi nhớ 22
2.2.4 Xác định hình thức dạy học 24
2.3 BÀI 12: ĐIỆN NĂNG VÀ CÔNG SUẤT ĐIỆN ĐỊNH LUẬT JUN – LEN-XƠ 25 2.3.1 Xác định mục tiêu bài học 25
2.3.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 25
2.3.3 Xác định hình thức ghi nhớ 25
2.3.4 Xác định hình thức dạy học 26
2.4 BÀI 14: ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI CÁC LOẠI MẠCH ĐIỆN MẮC CÁC NGUỒN THÀNH BỘ 28
2.4.1 Xác định mục tiêu bài học 28
2.4.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 28
2.4.3 Xác định hình thức ghi nhớ 29
2.4.4 Xác định hình thức dạy học 31
2.5 BÀI 26: TỪ TRƯỜNG 32
2.5.1 Xác định mục tiêu bài học 32
2.5.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 32
2.5.3 Xác định hình thức ghi nhớ 32
2.5.4 Xác định hình thức tổ chức dạy học 35
2.6 BÀI 28: CẢM ỨNG TỪ ĐỊNH LUẬT AM - PE 35
2.6.1 Xác định mục tiêu bài học 35
2.6.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 35
2.6.3 Xác định hình thức ghi nhớ 36
2.6.4 Xác định hình thức dạy học 36
Trang 62.7 BÀI 29: TỪ TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ DÕNG ĐIỆN CÓ DẠNG ĐƠN GIẢN 37
2.7.1 Xác định mục tiêu bài học 37
2.7.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 37
2.7.3 Xác định hình thức ghi nhớ 37
2.7.4 Xác định hình thức dạy học 39
2.8 BÀI 32: LỰC LO-REN-XƠ 40
2.8.1 Xác định mục tiêu bài học 40
2.8.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 40
2.8.3 Xác định hình thức ghi nhớ 41
2.8.4 Xác định hình thức dạy học 41
2.9 BÀI 38: HIỆN TƯỢNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG 42
2.9.1 Xác định mục tiêu bài học 42
2.9.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 42
2.9.3 Xác định hình thức ghi nhớ 42
2.9.4 Xác định hình thức dạy học 43
2.10 BÀI 39: SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CẢM ỨNG TRONG MỘT ĐOẠN DÂY DẪN CHUYỂN ĐỘNG 44
2.10.1 Xác định mục tiêu bài học 44
2.10.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ 44
2.10.3 Xác định hình thức ghi nhớ kiến thức 44
2.10.4 Xác định hình thức dạy học 45
PHẦN III: KẾT LUẬN 48
1 KẾT QUẢ THU ĐƯỢC 48
2 HẠN CHẾ 48
3 ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Theo góc nhìn tâm lý học, trí nhớ là quá trình phản ánh những kinh nghiệm, tri thức của con người bằng cách ghi nhận, bảo tồn và tái hiện lại chúng dưới dạng biểu tượng, ý niệm và ý tưởng
Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của con người trong mọi lĩnh vực: nhận thức, tình cảm, hành vi, do đó trí nhớ có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người Nhờ có trí nhớ mà những sự vật, hiện tượng đã được tri giác trước đây tạo thành vốn kinh nghiệm Chính vì thế, nếu không có trí nhớ thì ta không thể nhận thức được thế giới khách quan, không thể đem tri thức (kinh nghiệm) vận dụng vào thực tiễn
Quá trình ghi nhớ là giai đoạn đầu tiên của một hoạt động trí nhớ cụ thể, nó có vai trò to lớn đối với quá trình học tập Sự ghi nhớ là quá trình hình thành dấu vết, “ấn tượng” của đối tượng đang tri giác (tức tài liệu phải ghi nhớ) trên võ não, đồng thời cũng
là quá trình hình thành mối liên hệ giữa tài liệu mới với tài liệu cũ đã có, cũng như mối liên hệ giữa các bộ phận của bản thân tài liệu với nhau
Ghi nhớ là một kỹ năng, một khả năng quan trọng và cần thiết, nó giúp học sinh nhớ được kiến thức và hệ thống hóa kiến thức tốt hơn, giảm được thời gian học tập Bên cạnh
đó, các môn học ở trung học phổ thông nói chung có nhiều kiến thức khó nhớ, dễ nhầm lẫn và mau quên Học sinh ghi nhớ nhanh, ghi nhớ tốt thì sẽ học tập hiệu quả hơn, có nhiều thời gian để nghỉ ngơi và vui chơi giải trí
Chính vì thế, việc ghi nhớ kiến thức trong dạy học nói chung, trong dạy học Vật lý nói riêng là vô cùng quan trọng Là một giáo viên tương lai, tôi nhận thấy việc giúp học sinh ghi nhớ kiến thức có hiệu quả đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng dạy học sau này, do đó, tôi chọn đề tài “Tập thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức 10 bài Vật lý 11 nâng cao”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu đề tài luận văn hướng tới:
- Xây dựng quy trình thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức
- Vận dụng quy trình để thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ một số kiến thức đã
được chọn trong 10 bài trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao
3 GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài không trải qua thực nghiệm sư phạm mà chỉ tập trung nghiên cứu lý thuyết từ
đó xây dựng quy trình thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và vận dụng quy trình để thiết kế cách giúp học sinh ghi nhớ một số kiến thức đã được chọn trong 10 bài
trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao
Trang 84 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU
4.1 Phương Pháp
- Nghiên cứu lý thuyết: tìm các tài liệu có liên quan đến việc dạy học giúp học sinh ghi nhớ kiến thức để hệ thống hóa lý thuyết, sau đó xây dựng quy trình thiết kế cách giúp học ghi nhớ kiến thức
- Vận dụng lý thuyết và quy trình đã nghiên cứu thiết kế cách ghi nhớ các nội dung
đã được chọn trong 10 bài trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao
4.2 Phương tiện
Sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao, sách giáo viên Vật lý 11 nâng cao, tài liệu Tâm
lý học đại cương của tác giả Nguyễn Quang Uẩn, tài liệu Lý luận dạy học Vật lý của Lê Phước Lộc, tài liệu A Different Kind Of Classroom – Teaching with Dimensions of Learning của Robert Marzano cùng một số tài liệu khác (phần tài liệu tham khảo)
5 CÁC BƯỚC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Luận văn được thực hiện qua các bước sau:
- Xác định mục tiêu của đề tài nghiên cứu
- Sưu tầm tài liệu liên quan tới vấn đề cần nghiên cứu
- Lập đề cương nghiên cứu đề tài
- Phân tích và tổng hợp tài liệu, tinh lọc kiến thức, sau đó hệ thống lại cơ sở lý thuyết liên quan đến việc ghi nhớ kiến thức trong dạy học
- Xây dựng quy trình thiết kế cách ghi nhớ kiến thức trong dạy học
- Vận dụng lý thuyết và quy trình đã nghiên cứu thiết kế cách ghi nhớ các nội dung
đã được chọn trong 10 bài trong sách giáo khoa Vật lý 11 nâng cao
- Tổng hợp nội dung lại lần cuối sau khi đánh giá và so sánh với mục tiêu của đề tài
- Viết báo cáo, báo cáo thử
- Báo cáo luận văn, ghi nhận nhận xét của hội đồng, chỉnh sửa và nộp bản hoàn chỉnh theo quy định
6 MỘT SỐ CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Do trong quá trình viết bài luận có nhiều từ và cụm từ được lặp lại nhiều lần, để thuận tiện hơn khi viết bài tôi đã sử dụng cách viết tắt Sau đây là các từ và cụm từ được viết tắt trong đề tài:
GV: giáo viên
HS: học sinh
KTQT: kiến thức quy trình
Trang 9KTTB: kiến thức thông báo
Trang 10PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT
1.1 KHÁI NIỆM QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về QTDH Trong đề tài này tôi xin đề cập đến khái niệm QTDH theo quan niệm của tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quá trình dạy học là
sự phối hợp thống nhất các hoạt động chỉ đạo của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực, tự lực sáng tạo của trò nhằm đạt được mục đích dạy học” [7]
Quan niệm trên về QTDH đã phản ánh tính chất hai mặt của quá trình này: quá trình dạy của GV và quá trình học của HS Hai quá trình này không tách rời nhau mà là một quá trình hoạt động chung nhằm hình thành nhân cách của con người mới, đáp ứng được yêu cầu của thời đại Trong quá trình hoạt động chung đó, người GV đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giúp họ tự khám phá ra tri thức Tất nhiên người GV còn có chức năng cung cấp cho người học tri thức, nhưng chỉ khi nào thật cần thiết Song chức năng này không phải là chức năng chính yếu của toàn bộ quá trình dạy Người GV phải suy nghĩ để giúp HS sử dụng những tri thức, những kinh nghiệm mà họ thu thập được qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua cuộc sống, kết hợp với tri thức GV cung cấp cho để tạo nên sự hiểu biết của bản thân mình
Phối hợp với hoạt động đó của GV, HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình nhằm nắm vững tri thức, hình thành kỹ năng,
kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, hình thành cơ
sở thế giới quan khoa học và những phẩm chất đạo đức của con người mới Chính HS chứ không phải người nào khác phải tự mình làm ra sản phẩm giáo dục Tính chất hành động của họ có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng tri thức mà họ tiếp thu
1.2 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
1.2.1 Khái niệm PPDH
Trong QTDH, PPDH là một nhân tố cơ bản quan trọng Cùng với một nội dung mà người học có thể chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng kỹ xảo theo những PPDH khác nhau thì kết quả đạt được cũng không giống nhau Có rất nhiều định nghĩa về PPDH dựa trên quan niệm về quá trình dạy học Sau đây là một số định nghĩa về PPDH:
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, “PPDH là cách thức làm việc của thầy và trò dưới sự chỉ đạo của thầy làm cho trò nắm vững kỹ năng, kỹ xảo một cách tự giác, tích cực tự lực, phát triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành thế giới quan duy vật khoa học…” [12, Tr.47]
- Theo Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1965), “PPDH là cách thức làm việc của
GV và HS, nhờ đó mà HS nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giới quan duy vật khoa học…” [12, Tr.47]
Trang 11- Theo Iu - K.Babanxki, “PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong QTDH” [1, Tr.62]
- Theo I.Ia Lécne, “PPDH là hệ thống những hành động có mục đích của GV, nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn” [1, Tr.62]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu PPDH là những cách thức, là con đường, là phương hướng hành động để giải quyết vấn đề nhận thức của HS nhằm đạt mục tiêu dạy học
1.2.2 Một số PPDH được sử dụng để giúp HS ghi nhớ kiến thức
PPDH rất đa dạng vì hoạt động dạy và học chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, mục tiêu, nội dung Đề tài xin giới thiệu một số PPDH được sử dụng trong thiết kế cách giúp
HS ghi nhớ kiến thức trong dạy học
1.2.2.1 Phương pháp diễn giảng
* Khái niệm
Diễn giảng là PPDH thuộc nhóm phương pháp dùng lời nói, người GV thuyết trình
về một vấn đề hoàn chỉnh, có tính phức tạp, trừu tượng và khái quát hóa trong một thời gian tương đối dài [12, Tr.56]
* Cấu trúc phương pháp diễn giảng
Việc trình bày một bài diễn giảng được tiến hành theo 4 bước sau [6, Tr.102]:
Bước 1: Đặt vấn đề cho nội dung đoạn diễn giảng
Nội dung tài liệu mới được thông báo bằng lời giới thiệu một cách ngắn gọn nhằm hướng sự chú ý của HS vào trực tiếp nội dung diễn giảng
Bước 2: Phát biểu vấn đề
Mục đích bài diễn giảng được nêu ra Chúng ta sẽ tìm cái gì, phải đi đến đâu thì bài diễn giảng kết thúc
Bước 3: Trình bày tài liệu mới
Đây là phần chính và quan trọng nhất của phương pháp diễn giảng Ngoài nghệ thuật nói, viết của thầy thì vấn đề lập luận rõ ràng, khúc chiết sẽ mang đến sự thuyết phục
về nội dung bài giảng, đồng thời dạy cho HS các con đường tư duy như qui nạp, diễn dịch
Bước 4: Kết thúc bài diễn giảng
Cái đích của bài diễn giảng cần phải đạt tới là ở bước này Những kết luận đưa ra là những câu trả lời sắc bén, đầy đủ và thuyết phục cho những câu hỏi đã đặt ra ở bước 2
Trang 12- Phương pháp diễn giảng có những ưu điểm sau [12, Tr.54]:
+ Trong khoảng thời gian ngắn (chẳng hạn một tiết học), GV có thể cung cấp cho người học một khối lượng lớn thông tin được cấu trúc theo một logic chặt chẽ
+ Cung cấp cho người học những thông tin cập nhật, chưa kịp trình bày trong các tài liệu giáo khoa
+ Thái độ và sự nhiệt tình của GV trong khi diễn giảng có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt động học tập và nghiên cứu của người học, truyền cảm hứng và sáng tạo của họ
+ Các bài diễn giảng còn cung cấp cho người học khuôn mẫu và phương pháp nhận thức, phương pháp tổng hợp, cấu trúc tài liệu học tập
- Phương pháp diễn giảng có những hạn chế sau [12, Tr.55]:
+ Thu được rất ít thông tin phản hồi từ người học do dạy học chủ yếu là truyền thụ một chiều
+ Mức độ lưu giữ thông tin của người học rất ít do trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ làm việc của người nghe thường xuyên bị quá tải
+ Tính cá thể hóa trong dạy học thấp do GV phải dùng một số phương pháp chung cho cả nhóm, lớp HS
+ Ít có sự tham gia tích cực của HS HS gần như thụ động tiếp nhận thông tin từ phía GV, ít có cơ hội thể hiện và áp dụng các ý tưởng của mình đối với tài liệu học tập
+ Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương pháp khác
1.2.2.2 Phương pháp đàm thoại
* Khái niệm
Phương pháp đàm thoại là phương pháp hỏi đáp trong dạy học, trong đó GV đặt ra câu hỏi, khích lệ và gợi mở để HS dựa vào kiến thức đã học mà trả lời nhằm rút ra những kiến thức mới hay củng cố hoặc kiểm tra [12, Tr.65]
* Đặc điểm của phương pháp
Theo tác giả Nguyễn Văn Tuấn, phương pháp đàm thoại có những đặc điểm sau [12, Tr.65]:
- Phương tiện giao tiếp là lời nói, có sự đối đáp giữa GV và HS, đặt câu hỏi – trả lời
- Có tính khích lệ và vai trò chủ đạo của GV, giúp cho HS hoạt động có tính tự giác,
tự lực, tích cực tham gia vào quá trình đàm thoại
* Mục đích sư phạm của phương pháp
Trang 13Phương pháp đàm thoại đáp ứng những mục đích sau [12, Tr.65]:
- Tái hiện kiến thức và củng cố kiến thức
- Phát triển kiến thức mới
- Liên thông với kiến thức, kinh nghiệm của HS
- Phát triển năng lực diễn đạt
* Cách thức tổ chức hoạt động bằng phương pháp đàm thoại
Phương pháp đàm thoại có thể được tổ chức theo ba mô hình như sau [6, Tr.113]:
- Đối thoại thầy trò riêng biệt: thầy có một hệ thống nhiều câu hỏi dành cho một HS Thầy làm việc với HS đó cho đến câu hỏi cuối cùng Nguồn thông tin cho lớp là tổng hợp các câu trả lời tương ứng
Hình 1 Đối thoại thầy trò riêng biệt
- Đối thoại thầy – trò kết hợp: thầy dùng một câu hỏi ở mức độ tương đối khó cho một HS nào đó Khi em đó chưa biết trả lời ra sao thì thầy “tung” tiếp một vài câu gợi ý cho các HS khác Câu trả lời của các em này là sự gợi ý cho HS đầu tiên trả lời câu hỏi chính Có thể những câu gợi ý của thầy là những cái “bẫy” tập cho HS tránh những sai lầm trong quá trình tìm ra chân lí… Tất nhiên chân lí cuối cùng là thầy phát biểu hoặc thầy chỉ đạo cho HS tự điều chỉnh rồi chính xác hóa kết quả
Hình 2 Đối thoại thầy trò kết hợp
- Thảo luận: câu hỏi đặt ra là một vấn đề để HS thảo luận Các em thảo luận, tranh luận trong nhóm để sau đó một HS đại diện trả lời Thông thường thầy chia nhỏ lớp để có nhiều nhóm tranh luận
Thầy
Trò 1 Trò 2 Trò 3
Trang 14
Hình 3 Thảo luận
* Ưu điểm và hạn chế của phương pháp đàm thoại:
Phương pháp đàm thoại có những ưu và nhược điểm sau [12, Tr.66]:
Trang 15- Về nội dung: vấn đề học tập chứa đựng nội dung kiến thức là gì? Tại sao lựa chọn vấn đề này? Liệu khả năng của HS có thể tự khám phá được không?
- Về phát triển tư duy: hoạt động tư duy đặc trưng cần thiết ở HS trong quá trình giải quyết vấn đề này là gì?
Bước 2: Lựa chọn vấn đề học tập
Dạy học khám phá thường được vận dụng để HS giải quyết các vấn đề nhỏ, khi lựa chọn vấn đề học tập cần chú ý một số điều kiện sau:
- Vấn đề trọng tâm, chứa đựng thông tin mới
- Vấn đề thường đưa ra dưới dạng câu hỏi hoặc bài tập nhỏ
- Vấn đề học tập phải vừa sức với HS và tương ứng với thời gian làm việc
Bước 3: Lựa chọn phương tiện trực quan trong dạy học khám phá
Phương tiện trực quan sẽ kích thích sự quan sát, tìm tòi, tranh luận của HS, đó là một yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của dạy học khám phá
Bước 4: Phân nhóm HS
Bước 5: Kết quả khám phá
Dạy học khám phá phải đạt được mục đích là hình thành các tri thức khoa học cho
HS dưới dự chỉ đạo của GV [9]
* Ưu điểm của phương pháp
Theo tác giả Lê Phước Lộc, dạy học khám phá có những ưu điểm sau [6]:
- Phát huy nội lực của HS, tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo trong quá trình học tập
- Trong quá trình hợp tác với bạn học, HS tự đánh giá, tự điều chỉnh vốn tri thức của bản thân, đó là cơ sở hình thành phương pháp tự học
- Đối thoại trò – trò, thầy – trò tạo bầu không khí học tập sôi nổi, tích cực
1.2.2.4 Dạy học hợp tác (dạy học theo nhóm)
* Đặc trưng của dạy học hợp tác
Trang 16- HS hợp tác, cùng nhau “khám phá” lại tri thức của nhân loại đồng thời HS có cơ hội giao tiếp và chia sẻ những suy nghĩ băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân với bạn học
- Bằng cách nói ra những suy nghĩ, mỗi người có thể biết được trình độ của mình, của bạn, biết mình còn những hạn chế gì cũng như học hỏi được gì ở bạn (đánh giá và tự đánh giá)
- Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động kiến thức từ GV Nhờ đó, HS rèn luyện được tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập
* Các bước thực hiện của dạy học hợp tác
Dạy học hợp tác có thể được thực hiện như sau [16]:
+ Thảo luận chung
+ Kết luận tổng kết đưa ra kiến thức mới
* Những ưu việt của học theo nhóm hợp tác
Theo tác giả Lê Phước Lộc, học theo nhóm hợp tác có những ưu việt sau [6,Tr.132]:
- Làm việc hợp tác là tác phong làm việc đặc trưng của thời đại
- Nguyên tắc học bằng hành động
- Sự giúp đỡ lẫn nhau xen kẽ với sự lấp những “lỗ hổng” cho nhau
- Mọi HS đều làm việc thật sự và tích cực, đều có cơ hội làm việc như nhau
- Không khí học tập sinh động (thảo luận, thay đổi nhóm…)
- Giảm lượng nói của thầy
Trang 171.3 VẬN DỤNG “ĐỊNH HƯỚNG 2: SỰ THU NHẬN VÀ TỔNG HỢP KIẾN THỨC” CỦA ROBERT MARZANO GIÖP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Theo Robert Marzano [8, Tr.vii], mục đích của QTDH không chỉ là dạy kiến thức
mà còn là dạy kỹ năng, rèn luyện các thói quen tư duy sáng tạo, tích cực… để người học trở nên tích cực hơn, có trách nhiệm hơn và có kiến thức để tự đánh giá việc học của bản thân Mục tiêu cuối cùng là người học được hình thành năng lực để tiếp tục học hỏi trong suốt cuộc đời của họ Quan điểm dạy học tích cực này của Marzano được diễn đạt dưới hình thức năm định hướng trong dạy học giúp HS vừa nắm vững tri thức vừa phát triển tư duy thông qua các hoạt động dạy học Năm định hướng trong dạy học của Marzano được trình bày trong công trình A Different Kind Of Classroom – Teaching With Dimesions
Of Learning, thể hiện quan điểm dạy học hướng vào người học Theo Marzano, QTDH bắt đầu từ việc GV nghiên cứu nội dung cần dạy, xây dựng và nêu ra các tình huống thực tiễn xoay quanh nội dung bài học và đánh giá kết quả học tập HS vận dụng kinh nghiệm, vốn hiểu biết của mình kết hợp với sự sáng tạo, hợp tác tích cực với những HS khác để tìm ra câu trả lời hay giải pháp giải quyết tình huống mà GV đưa ra Qua đó, HS khám phá được nội dung bài học Năm định hướng đó là:
- Định hướng 1: Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
Theo Marzano, thái độ học tập, sự nhận thức về việc học của HS là những nhân tố góp phần tạo động lực thúc đẩy học tập HS sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu khi được sự quan tâm, tôn trọng của GV và bạn cùng lớp, khi ấy năng lực tư duy của HS sẽ được phát huy Do đó, GV phải tạo ra bầu không khí thoải mái trong lớp học bằng thái độ vui vẻ, hài hước, bằng ánh mắt và nụ cười thân thiện với HS GV phải tạo ra những nhiệm vụ học tập phù hợp, vừa sức, liên quan đến như cầu mục đích cá nhân của HS Có như vậy,
HS sẽ đến với bài học một cách tích cực và hăng say nhất
- Định hướng 2: Sự thu nhận và tổng hợp kiến thức
Mục đích chính của định hướng học tập 2 là cung cấp kiến thức cho HS và cách làm thế nào để giúp HS thu nhận và tổng hợp kiến thức một cách có hiệu quả Quá trình thu nhận và tổng hợp kiến thức là nền tảng của tiếng trình học tập
- Định hướng 4: Sử dụng kiến thức có hiệu quả
Trang 18Để kiến thức không bị lãng quên thì kiến thức phải được sử dụng có hiệu quả GV cần phải sử dụng các câu hỏi để hướng dẫn, tạo cơ hội cho HS khám phá những sở thích riêng và hướng những sở thích này vào việc học tập qua các hoạt động như ra quyết định, điều tra, thí nghiệm, giải quyết vấn đề, phát minh
- Định hướng 5: Sự hình thành thói quen tư duy tích cực
Thói quen tư duy bao gồm:
+ Tư duy tự điều chỉnh
+ Tư duy phê phán
+ Tư duy sáng tạo
Trong quá trình học tập, GV có nhiệm vụ phải rèn luyện thói quen tư duy cho HS để
HS có thể sử dụng thói quen tư duy trong cuộc sống hằng ngày
Tư duy bắt đầu từ những tình huống có vấn đề và nhiều thói quen tư duy, đặc biệt là thói quen tự điều chỉnh có thể phát triển mạnh mẽ khi HS cố gắng để đạt được mục đích
cá nhân Ngoài ra, quá trình giải quyết những bài tập khó, có tính lôi cuốn cao cũng là quá trình rèn luyên tư duy sáng tạo Do đó, GV phải thường xuyên đặt câu hỏi, kích thích
HS thực hiện những công việc thõa mãn nhu cầu mục đích cá nhân, kích thích óc tò mò khám phá của HS để có thể rèn thói quen tư duy cho HS trong quá trình học tập
Để thiết kế cách giúp HS ghi nhớ kiến thức trong dạy học, định hướng được quan tâm trong đề tài là “Định hướng 2: Sự thu nhận và tổng hợp kiến thức” Mục đích chính của định hướng học tập 2 là cung cấp kiến thức cho HS và cách làm thế nào để giúp HS thu nhận và tổng hợp kiến thức một cách có hiệu quả
Marazano phân nội dung kiến thức ra làm 2 kiểu: Kiến thức thông báo (KTTB) và Kiến thức quy trình (KTQT) [8, Tr.32]
- Kiến thức thông báo (declarative knowledge): bao gồm những thông tin mà HS cần biết và hiểu để vận dụng như các khái niệm, sự kiện, định luật… loại kiến thức này sẽ trả lời câu hỏi “nó là cái gì”
- Kiến thức quy trình (procedural knowledge): kiến thức này giúp HS hành động (trí tuệ hay tay chân), hình thành kỹ năng làm việc như giải bài tập, làm thí nghiệm, đọc biểu đồ… loại kiến thức này sẽ trả lời câu hỏi “làm cái đó như thế nào”
Quá trình thu nhận và tổng hợp KTTB và KTQT là nền tảng của tiến trình học tập
Để HS có thể học và ghi nhớ tốt 2 loại kiến thức này, GV cần có cách giúp HS học KTTB [8, Tr.37] và KTQT [8, Tr.56]
Trang 19KIẾN THỨC THÔNG BÁO KIẾN THỨC QUY TRÌNH
Gồm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Xây dựng ý nghĩa
(giúp HS hiểu được ý nghĩa của khái niệm
được gì trong bài mới)
+ Xây dựng khái niệm mới bằng
cách nêu những ví dụ về khái niệm và
những ví dụ trái ngược với khái niệm đó
- Giai đoạn 2: Sắp xếp ý
Hướng dẫn HS cách sắp xếp ý và ghi
chép nhằm hệ thống lại thông tin vừa nhận
bằng cách:
+ Cho HS trình bày kiến thức đã
học theo nhiều cách: viết, hình vẽ, sơ đồ
+ Ðưa ra một số câu hỏi trước khi
cho HS đọc tư liệu SGK để HS dễ tìm và
sắp xếp ý
- Giai đoạn 3: Ghi nhớ kiến thức
+ Nhắc lại, nhấn mạnh nội dung
- Giai đoạn 1: Xây dựng mô hình
(giúp HS hiểu cấu trúc các bước và ý nghĩa của từng bước)
+ GV hướng dẫn HS từng bước của tiến trình
+ Cho HS miêu tả tiến trình GV đã thực hiện (bằng sơ đồ, hình vẽ )
+ GV chỉnh sửa cho phù hợp
- Giai đoạn 2: Ðịnh hình KTQT
(giúp HS hình thành ý thức sử dụng mô hình)
GV nêu những tình huống có vấn
đề, những lỗi HS đã mắc trong khi giải quyết vấn đề, làm bài tập và sửa chữa lỗi cho HS
+ Lập kế hoạch cho HS thực hành ở nhà
Bảng 1 Cách giúp HS học KTTB và KTQT
Trang 201.4 CƠ SỞ CỦA VIỆC GHI NHỚ KIẾN THỨC
1.4.1 Khái niệm trí nhớ
Theo góc nhìn của tâm lý học, trí nhớ là quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm, tri thức của con người bằng cách ghi nhận, bảo tồn và tái hiện lại chúng dưới dạng biểu tượng, ý niệm và ý tưởng Như vậy, tri thức không phản ánh những cái đang tác động mà là những cái đã qua, đã trở thành kinh nghiệm, kiến thức của con người [14]
1.4.2 Vai trò của trí nhớ
Trí nhớ có vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm lý của con người: không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm thì không có bất kỳ một hoạt động nào, cũng như không thể hình thành nhân cách
Đối với nhận thức trí nhớ có vai trò đặc biệt to lớn Nó là công cụ lưu trữ kết quả của các quá trình cảm giác và tri giác Trí nhớ là một điều kiện quan trọng để diễn ra quá trình nhận thức lý tính và làm cho quá trình này đạt được kết quả hợp lý
Ngày nay, người ta xem trí nhớ không chỉ giới hạn trong hoạt động nhận thức mà còn là một phần tạo nên nhân cách con người, vì đặc trưng tâm lý nhân cách mỗi người được hình thành trên cơ sở vốn kinh nghiệm cá thể về mọi mặt của họ, mà kinh nghiệm
do trí nhớ đem lại [17]
1.4.3 Những quá trình cơ bản của trí nhớ
Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn, trí nhớ bao gồm các quá trình cơ bản sau [13]: 1.4.3.1 Sự ghi nhớ
Sự ghi nhớ là quá trình trí nhớ đưa tài liệu nào đó vào ý thức, gắn tài liệu đó với những kiến thức hiện có, làm cơ sở cho quá trình gìn giữ về sau đó, nói cách khác là tạo
ra dấu vết, ấn tượng của đối tượng mà ta đang tri giác
Sự ghi nhớ của con người được quyết định bởi hành động, nói cách khác, động cơ, mục đích và phương tiện đạt mục đích đó quy định chất lượng của sự ghi nhớ, sự ghi nhớ thường diễn ra theo hai hướng: ghi nhớ có chủ định và ghi nhớ không có chủ định
- Ghi nhớ không có chủ định: là loại ghi nhớ không có mục đích đặt ra từ trước, không đòi hỏi sự nổ lực nào đó mà dường như thực hiện một cách tự nhiên Loại ghi nhớ này được thực hiện trong trường hợp nội dung của tài liệu trở thành mục đích chính của hành động, hơn nữa hành động đã lặp đi lặp lại nhiều lần dưới hình thức nào đó
- Ghi nhớ có chủ định: là loại ghi nhớ đã định từ trước, nó đòi hỏi một sự nổ lực ý chí nhất định, cũng như những thủ thuật và phương pháp xác định
Hoạt động học tập và giảng dạy chủ yếu là ghi nhớ có chủ định nên việc sử dụng phương pháp hợp lý là rất quan trọng để đạt hiệu quả cao:
Trang 21- Dùng nhiều biện pháp để nhớ tài liệu trên cơ sở không hiểu nội dung tài liệu Tâm
lý học gọi là nhớ máy móc
- Dùng biện pháp để nắm lấy bản thân logic tài liệu, tức là nhớ tài liệu trên cơ sở hiểu nội dung tài liệu Gọi là biện pháp ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ logic (ghi nhớ có ý nghĩa)
1.4.3.2 Sự giữ gìn
Giữ gìn là quá trình củng cố vững chắc những dấu vết đã được hình thành trên não trong quá trình ghi nhớ Có hai hình thức giữ gìn: tích cực (bằng cách nhớ lại mà không cần tri giác lại) và giữ gìn tiêu cực (tái hiện lại tài liệu)
1.4.3.3 Sự tái hiện
Sự tái hiện là một quá trình trí nhớ làm sống lại những nội dung đã ghi lại trên đây Gồm ba loại: nhận lại, nhớ lại, hồi tưởng
1.4.3.4 Sự quên
Quên là không tái hiện lại được nội dung đã ghi nhớ trước đây vào thời điểm cần
thiết, nó diễn ra ở nhiều mức độ khác nhau: quên hoàn toàn, quên cục bộ, quên vĩnh viễn Nguyên nhân quên: do quá trình ghi nhớ, do quy luật ức chế của hoạt động thần kinh trong quá trình ghi nhớ và do không gắn được hoạt động hàng ngày
1.4.4 Sự giữ gìn tri thức trong trí nhớ
Gắn tài liệu cần ghi nhớ vào tài liệu học tập của HS, làm cho nội dung đó trở thành mục đích của hành động, hình thành được nhu cầu, hứng thú của HS đối với tài liệu đó như HS giải lao khi chuyển từ tài liệu này sang tài liệu khác, không nên dạy học kế tiếp nhau hai bộ môn có nội dung tương tự để tránh quy luật ức chế
Tổ chức cho HS tái hiện tài liệu học tập, làm bài tập ứng dụng ngay sau khi học tài liệu mới, sau đó việc ôn tập có thể thưa dần [17]
1.5 SỰ KHÁC BIỆT CÁ NHÂN VỀ TRÍ NHỚ - TRÍ THÔNG MINH ĐA DẠNG
Phụ huynh vốn quan tâm đến vấn đề giáo dục và phong cách học tập của con cái Các nhà giáo dục cũng không ngừng tìm kiếm cách thức để nâng cao chương trình giảng dạy của họ Dù là ở nhà hay trong lớp học thì cả cha mẹ và thầy cô đều muốn dạy dỗ trẻ
em hiệu quả nhất Để giảng dạy một cách hữu ích và hiệu quả hơn, chúng ta cần tìm hiểu
về trí thông minh đa dạng và phong cách học tập của HS
Học thuyết trí thông minh đa dạng (viết tắt là MI - multiple intelligences) được phát triển bởi nhà tâm lý học giáo dục nổi tiếng, tiến sĩ Howard Gardner, chỉ ra rằng trí thông mình có thể thấy ở nhiều dạng Những nghiên cứu của Howard Gardner giúp chúng ta
Trang 22nào nổi trội, chúng ta cũng hiểu rằng mỗi người đều có điểm mạnh và cách học tập, làm việc riêng Từ những hiểu biết này, chúng ta sẽ thấy tin tưởng hơn ở bản thân mình, học hỏi được nhiều điều ở những người xung quanh, tôn trọng và hòa hợp với mọi người tốt hơn
Học thuyết cho rằng có 8 loại hình thông minh - 8 cách để trở nên tài giỏi Dưới đây
là sự mô tả ngắn gọn mỗi dạng trí thông minh nói trên dựa vào học thuyết MI của Howard Gardner [15]:
- Thông minh về ngôn ngữ: Thông minh ngôn ngữ bao gồm sự khả năng nói và viết, khả năng học ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữ để đạt được mục tiêu
- Thông minh về âm nhạc: Các kỹ năng biểu diễn, sáng tác, và cảm nhận âm nhạc như thẩm âm, nghe nhạc, nhịp điệu (các dòng nhạc), cường độ, âm sắc
- Trí thông minh logic/ toán học: Khả năng phân tích các vấn đề một cách logic, thực hiện các hoạt động liên quan đến toán học tốt, xem xét các vấn đề rất khoa học
- Thông minh về hình ảnh/ không gian: Liên quan đến suy nghĩ bằng hình ảnh, hình tượng và khả năng cảm nhận, chuyển đổi và tái tạo lại những góc độ khác nhau của thế giới không gian trực quan
- Thông minh về vận động/ thể chất: Khả năng sử dụng cơ thể hoặc một phần cơ thể con người để giải quyết vấn đề, bao gồm cả khả năng của trí não điều khiển các hoạt động đó
- Trí thông minh nội tâm: Khả năng hiểu và xác định những cảm xúc bên trong Một người mạnh mẽ về loại trí tuệ này có thể dễ dàng tiếp cận và nhìn rõ được những cảm xúc của chính bản thân mình, phân biệt được giữa nhiều loại trạng thái tình cảm bên trong và
sử dụng chính những hiểu biết về bản thân mình để làm phong phú thêm và vạch ra con đường cho cuộc đời mình
- Thông minh về năng lực tương tác: Là năng lực hiểu và làm việc được với những người khác Đặc biệt là, điều này yêu cầu có khả năng cảm nhận và dễ chia sẻ với tâm trạng, tính cách, ý định và mong muốn của những người khác
- Thông minh về tự nhiên: Giúp cho con người nhận thức, phân loại và rút ra được những đặc điểm của môi trường Những người có trí thông minh về tự nhiên luôn hòa hợp với thiên nhiên và thích thú với sự nuôi trồng , khám phá thiên nhiên, tìm hiểu về các sinh vật
Mỗi người chúng ta đều có sẵn cả tám loại hình thông minh với mức độ khác nhau Không ai có thể giỏi cả tám loại hình thông minh này nhưng thực sự là trong mỗi lĩnh vực ta đều có ít nhiều khả năng Tám trí thông minh khác nhau nhưng chúng có giá tr ị như nhau, không có cái nào quan trọng hơn cả Một người đang sở hữu trí thông minh ở mức độ nào đi chăng nữa thì người đó cũng có thể khám phá, bồi dưỡng và phát triển nó
Trang 23Một người biết mình giỏi ở lĩnh vực nào nhưng không có nghĩa là người đó chỉ cần giới hạn giỏi ở lĩnh vực đó Tất cả các trí thông minh đều giúp chúng ta trong cuộc sống
vì vậy đừng bỏ qua trí thông minh nào, hãy phát huy những điểm mạnh của bản thân, hiểu được điểm yếu của bản thân để tìm ra con đường tốt nhất cho mình và có một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn
1.6 HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC GIÖP HỌC SINH GHI NHỚ KIẾN THỨC
Các môn học ở THPT có hệ thống kiến thức và công thức khá nhiều Trong đó, môn Vật lý là một môn khoa học tự nhiên khó với nhiều công thức Để giải được các bài tập Vật lý, HS phải thuộc công thức và phải nắm được các tính chất đặc trưng của hiện tượng HS gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhớ các công thức, tính chất, định luật, dẫn đến kết quả học tập không cao Vì thế, trong quá trình giảng dạy, GV thường sử dụng nhiều phương pháp để giúp HS khắc sâu và ghi nhớ tốt kiến thức
Lý thuyết “Trí thông minh đa dạng” của tác giả Howard Gardner cho thấy mỗi HS đều có sẵn cả 8 loại trí thông minh nhưng với mức độ khác nhau Do đó, nếu HS được quan tâm và hướng dẫn phương pháp học tập phù hợp với thế mạnh trí thông minh của mình thì việc học tập của các em sẽ đạt hiệu quả cao Chính vì thế, GV cần lưu ý đặc điểm này để có hình thức tổ chức dạy học giúp HS ghi nhớ kiến thức và rèn luyện trí thông minh ở nhiều dạng khác nhau
Vận dụng “Định hướng 2: Sự thu nhận và tổng hợp kiến thức” của tác giả Robert Marzano và tham khảo luận văn của tác giả Nguyễn Kim Thoa [10, Tr.14], tôi nhận thấy
có một số hình thức dạy học có thể áp dụng để thiết kế cách giúp HS ghi nhớ và khắc sâu kiến thức như sau:
- Sử dụng văn vần, thơ ca
Với những công thức, kiến thức dễ nhầm lẫn, cần phân biệt nhưng lại khó nhớ được
GV chuyển sang một câu có vần có điệu sẽ giúp HS dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu hơn Các đại lượng trong công thức được ký hiệu bởi các chữ cái Gắn mỗi chữ cái trong công thức với một từ trong một câu nói hay câu thơ dễ nhớ, dễ nghe, chỉ cần HS nhớ câu đó là có thể viết lại được công thức Trong quá trình dạy học, GV cần phải cho HS suy nghĩ thêm
để tìm thêm các câu khác dễ nhớ hơn, vì khi các em tự nghĩ ra thì sẽ không bao giờ quên
- Sử dụng hình thức so sánh
Các sự vật, hiện tượng tuy đa dạng và phong phú nhưng giữa chúng có mối quan hệ khách quan Hình thức so sánh giúp HS liên hệ những các đã biết, phát hiện những mối liên hệ giữa các hệ thống kiến thức khác nhau cũng như những dấu hiệu giống và khác nhau giữa chúng Khi HS phải nhớ lượng kiến thức tương đối nhiều mà giữa chúng lại có những điểm khác nhau hay tương đương nhau thì việc so sánh sẽ khắc sâu trọng tâm hơn,
Trang 24- Sử dụng hình thức liên tưởng, tưởng tượng
Các kiến thức khoa học đều xuất phát từ thực tiễn và phục vụ thực tiễn Vì vậy, để giúp HS ghi nhớ tốt kiến thức GV có thể yêu cầu người học nên cố gắng tìm ra mối liên
hệ giữa kiến thức đang học với hình ảnh, sự vật, hiện tượng quen thuộc với mình hoặc có trong thực tế
- Sử dụng biểu bảng, sơ đồ để tóm tắt, hệ thống, nhấn mạnh trọng tâm
Hình thức này thích hợp để hỗ trợ HS củng cố kiến thức sau mỗi tiết dạy, ôn tập, hệ thống kiến thức sau mỗi chương Trong quá trình giảng dạy, GV thiết kế theo kiểu bảng,
sơ đồ kết hợp với nhấn mạnh trọng tâm sẽ làm cho HS tập trung chú ý vào những kiến thức quan trọng tránh học lan man không đúng trọng tâm
- Sử dụng hệ thống bài tập
Bài tập đóng một vai trò hết sức quan trọng trong học tập, giải nhiều bài tập giúp
HS ôn tập, củng cố và mở rộng kiến thức, đây cũng là một phương pháp đơn giản để kiểm tra, hệ thống hóa kiến thức Thông qua các bài tập tạo điều kiện cho HS vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học, làm cho các kiến thức đó trở nên sâu sắc và trở thành vốn riêng của HS Khi giải các bài tập HS phải vận dụng các thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp… từ đó HS được rèn luyện các kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp…
Ngày nay, xã hội rất chú ý đến chất lượng và hiệu quả giáo dục nên việc tìm ra nhiều hình thức và phương pháp hiệu quả hơn luôn được quan tâm sáng tạo Vì vậy, không chỉ có một số cách giúp HS ghi nhớ kiến thức như nêu trên mà còn tùy vào từng trường hợp, tùy vào loại kiến thức và kinh nghiệm của GV mà có thể có nhiều hình thức hơn nữa
1.7 XÂY DỰNG QUY TRÌNH DẠY HỌC GIÖP HS GHI NHỚ KIẾN THỨC
Qua quá trình nghiên cứu đề tài, tôi nhận thấy rằng để thiết kế được cách giúp HS ghi nhớ kiến thức thì trước tiên cần phải xây dựng một quy trình làm việc Khi có được quy trình thiết kế thì công việc sẽ được kiểm soát tốt hơn Theo những lý thuyết đã nghiên cứu ở trên và tham khảo luận văn tốt nghiệp đại học của tác giả Nguyễn Kim Thoa [10, Tr.15], quy trình thiết kế cách giúp HS ghi nhớ tốt kiến thức gồm 4 bước sau:
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Mục tiêu của việc thiết kế cách giúp HS ghi nhớ kiến thức là nhằm giúp HS đạt được hiệu quả học tập tốt hơn và việc học trở nên nhẹ nhàng hơn, đồng thời giúp HS rèn luyện thêm về trí thông minh của bản thân Do đó, việc đầu tiên khi thiết kế là phải xác định mục tiêu của bài học để việc thiết kế đạt được hiệu quả mong muốn Thông thường, mục tiêu của bài học được xác định dựa vào SGV hoặc Chuẩn kiến thức kỹ năng
Trang 25Bước 2: Xác định nội dung cần lưu ý cách ghi nhớ
Trong một bài học có rất nhiều kiến thức cần truyền đạt cho HS Có những nội dung thì HS dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ, nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều kiến thức khó nhớ,
dễ hiểu sai và nhầm lẫn Vì thế, nên chọn những kiến thức này để tìm cách giúp HS ghi nhớ Tuy nhiên, nội dung được chọn để thiết kế phải đạt được mục tiêu của bài học
Bước 3: Xác định hình thức giúp HS ghi nhớ kiến thức
Sau khi đã xác định được nội dung cần lưu ý cách ghi nhớ thì GV phải lựa chọn hình thức ghi nhớ cho nội dung đã chọn và thiết kế thành cách ghi nhớ
Bước 4: Xác định hình thức tổ chức dạy học
Sau khi đã thiết kế xong cách ghi nhớ kiến thức thì công việc tiếp theo là người GV phải suy nghĩ, lựa chọn hình thức và phương pháp phù hợp để truyền đạt kiến thức đó cho HS
Trang 26CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CÁCH GHI NHỚ MỘT SỐ KIẾN THỨC
TRONG 10 BÀI VẬT LÝ 11 NÂNG CAO
2.1 BÀI 6: VẬT DẪN VÀ ĐIỆN MÔI TRONG ĐIỆN TRƯỜNG
2.1.1 Xác định mục tiêu bài học
Theo SGV Vật lý 11 nâng cao [4], mục tiêu của “Bài 6: Vật Dẫn Và Điện Môi Trong Điện Trường” được xác định như sau:
- Biết được khái niệm vật dẫn ở trạng thái tĩnh điện
- Biết được các tính chất phân bố điện trường
- Hiểu được khái niệm vật đẳng thế
- Hiểu được sự phân bố điện tích trên vật dẫn
- Hiểu được hiện tượng phân cực điện môi khi điện môi được đặt trong điện trường ngoài
2.1.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ
Theo mục tiêu bài học thì sự phân bố điện tích trên vật dẫn tích điện với những vật
có chỗ lồi, chỗ lõm là một phần nội dung quan trọng của bài 6 Phần nội dung này được ứng dụng rất nhiều trong đời sống và kỹ thuật Chính vì thế, khi HS hiểu sâu sắc về nội dung này thì các em có thể vận dụng để giải thích các hiện tượng trong đời sống và kỹ thuật Do đó, tôi chọn nội dung này để thiết kế cách giúp HS ghi nhớ kiến thức
Nếu HS chỉ học thuộc lòng máy móc mà không thấy được tầm quan trọng của những kiến thức này trong đời sống và kỹ thuật thì các em sẽ rất mơ hồ và không thể hiểu sâu sắc về những nội dung này
Chính vì thế, tôi sử dụng hình thức liên tưởng, tưởng tượng để thiết kế cách giúp
HS ghi nhớ kiến thức bằng cách gắn nội dung cần ghi nhớ với sự vật, hiện tượng quen thuộc trong cuộc sống là cột chống sét
Sét là một hiện tượng trong tự nhiên phát sinh do sự phóng điện giữa các đám mây tích điện trái dấu hoặc giữa một đám mây tích điện với mặt đất tạo thành tia lửa điện khổng lồ Sét thường đánh vào các mô đất cao, ngọn cây Để tránh tác hại của sét, người
ta làm các cột chống sét Đó là những cột nhọn bằng kim loại, đặt lên chỗ cao của nhà,
Trang 27các công trình xây dựng… và được nối bằng dây dẫn với một thanh kim loại chôn sâu xuống đất Điện tích của thanh kim loại tập trung nhiều nhất ở mũi nhọn của thanh Khi
có cơn dông, các hạt điện tích có sẵn trong không khí sẽ ở gần mũi nhọn sẽ được tăng tốc
và làm cho không khí ở đó bị ion hóa Các hạt mang điện trái dấu với điện tích của mũi nhọn sẽ bị hút vào mũi nhọn làm cho điện tích của mũi nhọn giảm nhanh Cứ như thế, điện tích từ đám mây sẽ qua cột chống sét xuống đất một cách từ từ, không gây ra hiện tượng sét
Hình 4 Hiện tượng mũi nhọn mất dần điện tích
2.1.4 Xác định hình thức dạy học
Khi dạy phần nội dung “Sự phân bố điện tích trên vật dẫn tích điện với những vật
có chỗ lồi, chỗ lõm”, để HS hiểu sâu sắc từ đó ghi nhớ tốt kiến thức GV có thể sử dụng phương pháp dạy học khám phá, GV yêu cầu HS vận dụng kiến thức vừa học để giải thích ứng dụng của cột chống sét
GV giao cho HS nhiệm vụ khám phá: Hãy vận dụng đặc điểm phân bố điện tích trên những vật có chỗ lồi, chỗ lõm để giải thích ứng dụng của cột chống sét
Đầu tiên, GV cho HS bằng kinh nghiệm sống của mình miêu tả cấu tạo, hình dạng của cột chống sét
Tiếp theo, GV chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm có từ 3-4 HS GV yêu cầu các nhóm thảo luận trong 5 phút để giải quyết nhiệm vụ học tập GV có thể sử dụng hình ảnh minh họa để kích thích HS quan sát, tìm tòi, khám phá
Cuối cùng, GV yêu cầu đại diện nhóm báo cáo kết quả thảo luận để GV cùng các nhóm khác bổ sung, chỉnh sửa GV có thể yêu cầu HS tìm thêm các ví dụ về ứng dụng của hiệu ứng mũi nhọn trong đời sống, kỹ thuật
Sau khi các em vận dụng những kiến thức vừa học giải thích được hiện tượng liên quan đến cột chống sét thì kiến thức này sẽ được gắn liền với hình ảnh cột chống sét, một vật rất quen thuộc với các em trong cuộc sống, do đó, các em sẽ ghi nhớ kiến thức tốt hơn
Trang 282.2.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ
Theo mục tiêu bài học thì định nghĩa điện dung, công thức tính điện dung của tụ điện phẳng và của bộ tụ điện là những nội dung chính trong bài học mà HS cần nắm vững Việc nắm vững các nội dung này sẽ giúp HS học tốt các kiến thức trong bài 8 Năng Lượng Điện Trường và vận dụng để giải các bài tập về tụ điện cũng như giải thích được các hiện tượng có liên quan trong đời sống, kỹ thuật Do đó, tôi chọn những nội dung này để thiết kế cách giúp HS ghi nhớ kiến thức
2.2.3 Xác định hình thức ghi nhớ
Qua kinh nghiệm học tập của bản thân, tôi nhận thấy để ghi nhớ được định nghĩa điện dung, các công thức tính điện dung của tụ điện phẳng, của bộ tụ điện, HS thường chỉ học thuộc lòng một cách máy móc, không hệ thống hóa kiến thức
- Định nghĩa điện dung: thương số đặc trưng cho khả năng tích điện của tụ điện
và được gọi là điện dung của tụ, kí hiệu là C
- Công thức tính điện dung của tụ điện phẳng:
Trong đó: là phần diện tích đối diện của hai bản
là khoảng cách giữa hai bản
Trang 29Điện dung của bộ tụ
+ Ghép nối tiếp:
Điện tích của bộ tụ
Điện thế của bộ tụ
Điện dung của bộ tụ
Nếu áp dụng phương pháp học máy móc thì những kiến thức này rất dễ bị HS quên, thường hay bị nhầm lẫn giữa các công thức hay nhớ không chính xác các công thức dẫn đến kết quả học tập không cao Để giúp HS ghi nhớ tốt các kiến thức trên, tôi đề nghị sử dụng các hình thức dạy học sau:
- Định nghĩa điện dung, công thức tính điện dung của tụ điện phẳng: sử dụng hình thức dùng câu có vần có điệu dễ nhớ để giúp HS khắc sâu công thức, tránh nhầm lẫn với các công thức khác
hoặc Quả = CỦ hoặc Quà = Của U
để giúp HS thấy được những tương đồng và khác nhau giữa hai trường hợp đó, từ đó HS ghi nhớ tốt những kiến thức mới về ghép tụ điện
Trang 302.2.4 Xác định hình thức dạy học
- Định nghĩa điện dung, công thức tính điện dung của tụ điện phẳng: Trước tiên, GV
sử dụng phương pháp diễn giảng để cung cấp câu có vần có điệu giúp HS ghi nhớ tốt kiến thức Sau đó, GV sử dụng phương pháp đàm thoại gợi mở yêu cầu HS tìm thêm các câu dẫn dễ nhớ khác, các câu dẫn do HS tự tìm ra thì các em sẽ dễ nhớ hơn
- Ghép tụ điện: Đầu tiên, GV sử dụng phương pháp diễn giảng cung cấp các công thức tính điện tích, hiệu điện thế, điện dung trong trường hợp ghép tụ điện Sau đó, GV yêu cầu HS nhớ lại công thức tính dòng điện, hiệu điện thế, điện trở trong trường hợp ghép điện trở đã được học ở THCS Cuối cùng, GV sử dụng phương pháp đàm thoại gợi
mở giúp HS thấy được sự tương đồng, khác nhau trong các công thức của hai trường hợp ghép điện trở và ghép tụ điện thành bộ Việc so sánh sự tương đồng và khác nhau giữa hai trường hợp giúp HS phát hiện mối liên hệ giữa các kiến thức đã được học với kiến thức mới, từ đó góp phần giúp HS khắc sâu những kiến thức đã được học và kiến thức vừa mới được học
Để giúp HS củng cố kiến thức, GV có thể cung cấp một số bài tập ví dụ [11] dưới dạng phiếu học tập như sau:
Ví dụ 1: Một tụ điện có điện dung 500pF được mắc vào hai cực của một máy phát
điện có hiệu điện thế 220V Tính điện tích của tụ điện
Ví dụ 2: Tụ điện phẳng có các bản tụ hình tròn bán kính 10 cm Khoảng cách và
hiệu điện thế giữa hai bản tụ là 1cm và 108V Giữa hai bản là không khí Tìm điện tích của tụ điện
Ví dụ 3: Cho 4 tụ điện giống nhau ghép theo hai cách như hình vẽ Cách mắc nào
có điện dung lớn hơn?
Ví dụ 4: Tính điện dung của bộ tụ, điện tích và hiệu điện thế của mỗi tụ Biết
Hình A
Hình B
Trang 312.3 BÀI 12: ĐIỆN NĂNG VÀ CÔNG SUẤT ĐIỆN ĐỊNH LUẬT JUN –
- Ôn lại định luật Jun - Len-xơ và vận dụng biểu thức của định luật để giải bài tập
- Phân biệt được 2 loại dụng cụ tiêu thụ điện Hiểu được suất phản điện của máy thu điện Hiểu và vận dụng được các công thức về điện năng tiêu thụ và công suất tiêu thụ, công suất có ích của máy thu điện
- Vận dụng được công thức tính hiệu suất của nguồn điện và máy thu điện
2.3.2 Xác định nội dung cần phải lưu ý cách ghi nhớ
Theo kinh nghiệm học tập của bản thân, tôi nhận thấy HS có thể bị nhầm lẫn các công thức tính điện năng và công suất điện giữa hai trường hợp dòng điện chạy qua một đoạn mạch và nguồn điện Bên cạnh đó HS cần phải ghi nhớ nội dung và công thức định luật Jun - Len-xơ
Vì vậy, HS phải ghi nhớ rất nhiều công thức, chính vì thế tôi chọn những nội dung trên để thiết kế cách giúp HS dễ dàng ghi nhớ hơn
2.3.3 Xác định hình thức ghi nhớ
Cách mà HS thường dùng để ghi nhớ những nội dung trên của bài học:
* Công và công suất của dòng điện chạy qua một đoạn mạch
- Công của dòng điện chạy qua một đoạn mạch là công của lực điện làm di chuyển các điện tích tự do trong đoạn mạch và bằng tích của hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn
mạch với cường độ dòng điện và thời gian dòng điện chạy qua đoạn mạch đó