1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập dạy các chủ điểm trong chương trình tiếng việt lớp 5

172 3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoạt động dạy - học ở trường Tiểu học đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh Với những lí do

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO

VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP DẠY CÁC CHỦ ĐIỂM

TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT LỚP 5

MSSV: 1110312

Cần Thơ, 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Trước tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Trịnh Thị Hương - người

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề

tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô giảng dạy trong bộ môn Toán,

trong khoa Sư phạm và các thầy cô giảng dạy trong trường Đại học Cần Thơ đã tận

tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong 4 năm học tập Với vốn kiến thức được tiếp

thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn

mà còn là hành trang quý báu để tôi bước vào đời một cách vững vàng và tự tin

Tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu và quý thầy cô trường Tiểu học

Ngô Quyền đã giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho đề tài này và đã tạo

điều kiện cho tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm trong đợt thực tập sư phạm vừa

qua

Dù đã rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi

những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng

góp quý báu của các thầy cô và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Cuối lời kính chúc quý thầy cô được dồi dào sức khỏe, thành công trong

công việc cũng như trong cuộc sống!

Nguyễn Thụy Thi Minh

Trang 3

QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH LỚP 5 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Một số nguyên tắc và quan điểm xây dựng chương trình Tiếng Việt 7

1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy – học Tiếng Việt ở Tiểu học 12

1.1.3 Tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học Tiếng Việt bằng hệ thống bài tập và trò chơi học tập 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 20

1.2.1 Tổng quan về chương trình Tiếng Việt lớp 5 20

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học 26

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM 29

2.1 Hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm 29

2.1.1 Các nguyên tắc lựa chọn bài tập 29

2.1.2 Quy trình thực hiện giải bài tập 29

2.1.3 Hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm chương trình Tiếng Việt lớp 5 30

2.2 Hệ thống trò chơi học tập theo chủ điểm 114

2.2.1 Các nguyên tắc lựa chọn và tổ chức trò chơi 114

2.2.2 Các yêu cầu và quy trình tổ chức trò chơi 115

2.2.3 Quy trình tổ chức trò chơi 117

Trang 5

2.2.4 Một số trò chơi theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 5 118

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 145

3.1 Mục đích thực nghiệm 145

3.2 Nội dung thực nghiệm 145

3.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 145

3.4 Quá trình thực nghiệm 145

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 146

3.6 Kết luận và đề xuất 147

PHỤ LỤC 151

Trang 6

tế, văn hoá, giáo dục , những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học nói chung đòi hỏi phải có sự đổi mới trong việc dạy - học Tiếng Việt trong nhà trường Việc đưa Tiếng Việt vào chương trình giáo dục đã được nhà nước ta chú trọng ngay

từ những ngày đầu độc lập Giữ gìn ngôn ngữ dân tộc cũng là một cách thể hiện lòng yêu nước của mỗi người

Ngày nay, trong chương trình học ở đất nước ta, Tiếng Việt đã trở thành một môn học quan trọng, đã khẳng định được vị trí cao và giá trị xã hội to lớn trong đời sống khoa học và văn hoá Việt Nam Việc dạy và học môn Tiếng Việt ở cấp tiểu học lại càng quan trọng hơn hết bởi lẽ đây là cấp học đầu tiên trong cuộc đời mỗi người Có học tốt môn này từ những lớp đầu thì mới mong có cơ sở để học tốt nó ở những cấp học sau và học tốt các môn học khác Bên cạnh sự thay đổi của các phương pháp dạy và học hiện đại, ít lý thuyết nhiều thực hành thì nhu cầu xây dựng

hệ thống bài tập càng cần thiết trong quá trình học ở các em Môn Tiếng Việt ở phổ thông (trong đó có môn Tiếng Việt lớp 5) trước đây là một môn học độc lập nhưng

từ năm 2004 - 2005 trở lại đây được dạy tích hợp cùng với các phân môn khác Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 có các phân môn: Tập đọc, kể chuyện, tập làm văn, chính tả, luyện từ và câu Yêu cầu dạy tích hợp như vậy ít nhiều gây khó khăn, bỡ ngỡ cho cả người dạy lẫn người học Thực tế này đòi hỏi ngoài bộ sách giáo khoa dùng trong nhà trường mang tính pháp lí, cần phải có thêm những cuốn sách tham khảo dưới nhiều hình thức cho giáo viên và học sinh để góp phần

Trang 7

nâng cao hiệu quả giờ dạy - học Đến nay đã có một số sách tham khảo dùng cho từng lớp nhưng chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào xây dựng được một hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm để học sinh có thể bổ sung cũng như nâng cao kiến thức của mình một cách toàn diện

Không dừng lại ở đó, đối với học sinh tiểu học, lứa tuổi vừa học vừa chơi, hiếu động, chóng chán, vấn đề tạo nên hứng thú học tập cho các em là rất quan trọng Trò chơi tác động toàn diện đến trẻ em vì nó dễ dàng thâm nhập vào xúc cảm, tình cảm thúc đẩy mọi hành động của trẻ Vì vậy, bên cạnh một hệ thống bài tập nâng cao toàn diện thì các em học sinh của chúng ta cũng cần một hệ thống trò chơi học tập thú vị để lôi cuốn các em, để các em cảm nhận được rằng mỗi ngày đến

trường là một niềm vui, cũng giống như Khổng Tử đã từng dạy học trò rằng: “Biết

mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui say mà học” Việc

vận dụng phương pháp trò chơi trong quá trình dạy học là rất cần thiết, làm sao cho mỗi ngày đến trường là một ngày vui Trò chơi xuất phát từ nội dung bài học là hoạt động góp phần làm cho học sinh hứng thú, ham thích học tập tạo không khí phấn khởi tạo tâm thế thoải mái trước giờ học hay củng cố nắm chắc kiến thức đã được học, kích thích tư duy sáng tạo và rèn kĩ năng Theo mục tiêu giáo dục hiện nay, giáo dục học sinh phát triển toàn diện cả đức, trí, thể, mĩ Các hoạt động dạy - học ở trường Tiểu học đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng: lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, sáng tạo, chủ động của học sinh

Với những lí do trên tôi chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao và

trò chơi học tập để dạy các chủ điểm trong chương trình Tiếng việt lớp 5” với

mong muốn giúp giáo viên và học sinh thuận lợi hơn trong việc dạy và học môn Tiếng Việt lớp 5

2 Lịch sử nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu thiết kế bài tập môn Tiếng Việt lớp 5 nhìn chung là thiết kế các bài tập theo các ngữ liệu quen thuộc ở SGK, bài tập chưa theo

hệ thống mà là từng bài tập riêng lẻ, theo từng phân môn, chẳng hạn như:

1 Đặng Thùy Dương – Nguyễn Khánh Hà – Nguyễn Mai Phương – Nguyễn

Tú Phương (2014), Bài tập bổ trợ và nâng cao Tiếng Việt lớp 5, NXB Dân trí (Tập

1 + Tập 2)

Trang 8

Nội dung cuốn sách đưa ra thêm một số bài tập mở rộng và nâng cao trên cơ

sở "chuẩn", giúp các em có thêm hứng thú làm bài, nâng cao trình độ Cuốn sách gồm hai phần: Phần I gồm các dạng bài tập tự luận và các bài trắc nghiệm, phần II

là những gợi ý, đáp án giúp các em có thể tham khảo sau khi đã hoàn thành các bài tập ở phần một Hạn chế của bài tập là ngữ liệu được lấy từ SGK cũng như xây dựng bài tập chưa theo hệ thống tích hợp, liền mạch mà xây dựng bài tập theo từng phân môn cũng như từng chủ điểm riêng lẻ

2 Lưu Đức Hạnh – Lê Phương Nga – Trịnh Vĩnh Long (đồng chủ biên)

(2009), Ôn tập – kiểm tra đánh giá Tiếng Việt 5 (Theo chuẩn kiến thức, kĩ năng),

NXB giáo dục Việt Nam (Tập 1 + Tập 2)

Trong quyển sách này, các tác giả đã đề cập các vấn đề thiết kế các bài tập tích hợp với nhiều hình thức trắc nghiệm và tự luận giữa các phân môn với nhau theo từng tuần học kèm theo cách giải và cách chấm điểm từng bài cụ thể Đóng góp của công trình này là bổ sung cho GV rất nhiều bài tập tham khảo, bên cạnh đó, phụ huynh và các em HS cũng có thể dùng sách để đo kiến thức của các em Tuy nhiên, ngữ liệu những bài tập đưa ra ở đây đều được lấy từ SGK Tiếng Việt 5 nên đều là những bài tập quen thuộc với cả GV và HS, hơn nữa, chúng chưa có tính hệ thống

3 Ngô Thị Yến – Cao Thị Hằng (2012), Tiếng việt nâng cao tiểu học lớp 5,

NXB Dân Trí

Quyển sách này chỉ đi sâu vào 2 phân môn là Luyện từ và câu và Tập làm văn Là sách chuyên dùng để các em tự đọc và tự học hằng ngày, nên các bài học và bài tập đều bám sát vào từng tiết, từng tuần theo SGK Tiếng Việt 5 Các em sẽ nhận diện một cách gián tiếp hình bóng và lời giảng dạy của thầy giáo, cô giáo qua từng bài học, bài tập Tiếng Việt cụ thể Kiến thức Tiếng Việt mà các em học tập được, rèn luyện được qua từng trang sách sẽ tạo nên hành trang cần thiết, bổ ích đối với các em, giúp các em học lên, học sâu hơn nữa môn Ngữ văn ở bậc Trung học cơ sở Bên cạnh đó, vẫn chưa có tài liệu chính thống nào cho việc tổ chức trò chơi, đặc biệt là trò chơi học tập trong môn Tiếng Việt lớp 5 Vì vậy, trong phần nghiên cứu của mình, mục tiêu của tôi là sẽ góp công sức vào việc xây dựng hệ thống bài tập và trò chơi theo chủ điểm cho học sinh với một ngữ liệu khác với ngữ liệu của

Trang 9

bài đọc trong SGK để giúp mở rộng vốn kiến thức của HS và giúp việc học của HS ngày một hiệu quả và hoàn thiện hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và thực tế dạy - học trong môn Tiếng Việt ở lớp 5 trong nhà trường tiểu học, tác giả luận văn thực hiện đề tài với mục đích xây dựng được một hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo chủ điểm một cách tương đối toàn diện về nội dung cũng như hình thức để làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh khi dạy - học môn Tiếng Việt trong chương trình lớp 5, góp phần nâng cao hiệu quả giờ dạy - học

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Tìm hiểu nội dung, chương trình dạy học môn Tiếng Việt lớp 5

- Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của học sinh tiểu học cũng như thực trạng dạy và học môn này ở một số trường trong vài năm gần đây

- Xây dựng hệ thống bài tập phong phú và trò chơi học tập đa dạng theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 5

4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Chương trình Tiếng Việt lớp 5, với có 10 chủ điểm được sắp xếp theo trình

tự sau:

Chủ điểm 1: Việt Nam – Tổ quốc em

Chủ điểm 2: Cánh chim hòa bình

Chủ điểm 3: Con người với thiên nhiên

Chủ điểm 4: Giữ lấy màu xanh

Chủ điểm 5: Vì hạnh phúc con người

Chủ điểm 6: Người công dân

Chủ điểm 7: Vì cuộc sống thanh bình

Trang 10

Chủ điểm 8: Nhớ nguồn

Chủ điểm 9: Nam và nữ

Chủ điểm 10: Những chủ nhân tương lai

Luận văn cũng chỉ dừng lại ở việc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo 10 chủ điểm trên

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo chủ điểm trong chương trình Tiếng Việt lớp 5

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây:

5.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Thông qua các giáo trình, tạp chí giáo dục và mạng internet chúng tôi tiến hành thu thập, nghiên cứu, phân tích các thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu

5.2 Phương pháp điều tra

Điều tra thực trạng sử dụng hệ thống bài tập và trò chơi học tập trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 ở trường tiểu học Sau mỗi tiết dạy, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến giáo viên có thể bằng phiếu trưng cầu ý kiến hoặc phỏng vấn trực tiếp nắm bắt số liệu

5.3 Phương pháp thống kê - phân loại

Phương pháp nghiên cứu này được dùng để khảo sát, phân loại các dạng bài tập, phân loại kết quả học tập của học sinh cũng như số liệu liên quan để chúng tôi tiến hành thống kê và xử lí các số liệu liên quan

5.4 Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước và kết quả điều tra thực tế Phương pháp nghiên cứu này còn được dùng để phân tích và tổng kết kết quả nghiên cứu mà

luận văn đã đạt được

Trang 11

5.5 Phương pháp so sánh - đối chiếu

Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng để nghiên cứu, đối chiếu chương trình Tiếng Việt theo chủ điểm trong sách giáo khoa, phương pháp nghiên cứu này còn được dùng để so sánh, đối chiếu kết quả giảng dạy và học tập của lớp thực

nghiệm và lớp đối chứng

5.6 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Soạn các giáo án và trực tiếp giảng dạy ứng dụng hệ thống bài tập và tổ chức trò chơi trong giờ dạy một số bài thuộc chủ điểm trong quá trình tổ chức thực nghiệm mà luận văn đề xuất

6 Đóng góp của luận văn

Góp phần xây dựng hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm với một ngữ liệu khác với ngữ liệu của bài đọc trong SGK và trò chơi với mục tiêu, nguyên tắc, luật chơi cụ thể cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 5 trong nhà trường

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo chủ điểm cho HS lớp 5

Chương 2 Thiết kế hệ thống bài tập nâng cao và trò chơi học tập theo chủ điểm Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM

Ví dụ: Ở phân môn tập làm văn lớp 4, học sinh được học viết đoạn văn miêu

tả và được mở rộng thành bài văn miêu tả ở phân môn tập làm văn lớp 5

- Xác định tư tưởng chủ đạo khuynh hướng mới của sự phát triển khoa học

và có thể dạy khoa học cho học sinh Tiểu học nên trong chương trình đưa vào nhiều bài như “ Tiếng đàn ba-lai-ca trên sông Đà”, “ Một chuyên gia máy xúc” Những bài này đề cập về quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, giúp các em thấy được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật trong cuộc sống hôm nay Đồng thời nuôi dưỡng ở HS niềm ham mê khoa học kỹ thuật

- Cấu trúc chương trình phù hợp với logic phát triển tâm lí và khả năng nhận thức của HS Tuy rằng nội dung và yêu cầu cao hơn thế nhưng trong lứa tuổi này

HS đã có thể đáp ứng được yêu cầu đó Và sự nâng cấp về kiến thức là một điều tất nhiên và hợp lí

- Yêu cầu về tính hệ thống đảm bảo chắc chắn cho việc kế thừa và phát triển tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và xác định rõ mối quan hệ khác nhau không chỉ đối với cái mới và còn đối với tri thức cũ như là yếu tố của một hệ thống trọn vẹn và thống

Trang 13

nhất, đồng thời thể hiện ở quan hệ đồng qui và đồng tâm, tiến đến mục tiêu giao tiếp

b) Nguyên tắc sư phạm

- Đầu tiên ta thấy chương trình môn học thống nhất với những mục tiêu giáo dục chung mà mục đích cuối cùng là hình thành cho HS những phẩm chất tốt đẹp của người lao động mới Nội dung những văn bản được chọn đều hướng đến giáo dục lí tưởng và phẩm chất đạo đức tốt đẹp cho học sinh thông qua các chủ điểm như người công dân, nhớ nguồn…Bồi dưỡng tâm hồn và tình yêu cho các em với những bài viết những câu chuyện chọn lọc đầy giá trị về cả nghệ thuật lẫn nội dung

- Thể hiện tính vừa sức như phân tích ở trên Nguyên tắc vừa sức thể hiện ở chỗ nội dung chương trình đã phù hợp với tâm lí nhận thức của học sinh tiểu học

Ví dụ các hiện tượng tiếng Việt đưa ra phân tích phải rõ ràng, tường minh, không có vấn đề quá khó không thể giải quyết

- Nội dung và kiến thức hướng đến cái đẹp là sự kết hợp hài hòa giữa dạy kiến thức và dạy làm người

c) Nguyên tắc thực tiễn

Thể hiện rõ ràng nhất ở dạng bài tập lựa chọn Thể hiện sự mềm dẻo của SGK, tùy điều kiện từng vùng miền mà lựa chọn sao cho phù hợp để HS đạt hiệu quả học tập cao nhất Và thay đổi một số nội dung trong trương trình SGK đã thể hiện được sự đáp ứng yêu cầu xã hội đặt ra Trong điều kiện xã hội đang phát triển nhanh chóng như hiện nay, HS có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, được chuẩn bị tốt về thể chất và tinh thần Vì vậy, nhu cầu và hứng thú học tập cũng thay đổi theo chương trình đổi mới hiện nay đã đáp ứng được yêu cầu đó

- Những kiến thức SGK đưa ra phù hợp với HS và giúp các em có thể áp dụng vào thực tiễn

Ví dụ: Trong phân môn Tập làm văn có bài: “Lập biên bản cuộc họp”

- Có những nội dung bài cung cấp kiến thức lịch sử, phong tục, tập quán, có thể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của các em

Trang 14

Ví dụ: Bài “Luật tục xưa của người Ê-đê” (SGK trang 56-Tập 2)

Bài “Phong cảnh đền Hùng” (SGK trang 68-Tập 2)

1.1.1.2 Quan điểm xây dựng chương trình

Chương trình Tiếng Việt được xây dựng dựa trên các quan điểm sau: Quan điểm giao tiếp, quan điểm tích hợp, quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh

a) Quan điểm giao tiếp

Quan điểm giao tiếp được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung và phương pháp dạy học

- Về nội dung, thông qua các phân môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập làm văn, môn Tiếng Việt tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc để học sinh MRVT theo định hướng, trang bị những tri thức nền và phát triển những kĩ năng sử dụng tiếng Việt trong giao tiếp

- Về phương pháp dạy học, các kĩ năng nói trên được hình thành thông qua nhiều bài tập mang tính tình huống, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên

Việc dạy Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp được thể hiện về cả phương

pháp và nội dụng dạy học:

- Về nội dung dạy học:

+ Để tổ chức hoạt động giao tiếp, SGK tạo ra những môi trường giao tiếp có chọn lọc thông qua các phân môn đặc biệt là phân môn Kể chuyện Các bài tập rèn luyện kĩ năng có tính tình huống, hấp dẫn, sinh động, phù hợp với những tình huống giao tiếp tự nhiên, kích thích HS hào hứng tham gia, bộc lộ bản thân, phát triển các

kĩ năng giao tiếp Ta nhận thấy mỗi phân môn HS điều có cơ hội rèn luyện khả năng giao tiếp của mình

+ Để HS có những kĩ năng giao tiếp cần thiết của con người trong xã hội hiện đại, SGK xây dựng hệ thống bài tập dạy học sinh các kĩ năng làm việc và giao tiếp cộng đồng như: thay đổi ngôi trong giao tiếp, làm đơn, điền vào giấy tờ in sẵn, phát biểu và điều khiển cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tập thể, làm báo cáo, viết

Trang 15

biên bản, lập chương trình hoạt động, tự kể lại câu chuyện đã chứng kiến, nhận xét

ý kiến của bạn và nêu quan điểm của mình

b) Quan điểm tích hợp

Tích hợp (intergraytion) có thể hiểu là sự liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một hay vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học

Tích hợp chương trình (progam intergraytion) được hiểu là sự liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi với nhau nhằm làm giảm bớt được những phần kiến thức trùng nhau, tạo điều kiện nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo

Thuật ngữ tích hợp có nội hàm chỉ hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một (hoặc một số) văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn Trong SGK Tiếng Việt lớp 5 ta thấy quan điểm tích hợp thể hiện rõ hầu hết trong các tiết học Mỗi tiết học không chỉ cung cấp cho HS kiến thức mà thông qua đó còn giáo dục cho trẻ nhiều mảng kiến thức khác nhau, là sự kết hợp lồng ghép nhiều nội dung, học đi đôi với hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục đào tạo nguồn nhân lực đầy đủ Đức – Trí – Thể - Mĩ – Lao động Tích hợp có 2 dạng là tích hợp ngang (đồng quy) và tích hợp dọc (đồng tâm)

Trang 16

- Xét về mặt tích hợp ngang:

+ Được thể hiện thông qua hệ thống các chủ điểm học tập có liên hệ chặt chẽ với nhau, tích hợp kiến thức Tiếng Việt với các mảng kiến thức về văn học (trích đoạn những tác phẩm văn học lớn như: Hạt gạo làng ta, Ê-mi-li, con…, Đất nước, Bầm ơi, ), những bài viết về vẻ đẹp thiên nhiên và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường (Sắc màu em yêu, Bài ca về trái đất, Kì diệu rừng xanh…), con người và xã hội theo hướng đồng qui với mười chủ điểm: Việt Nam – Tổ quốc tôi, Cánh chim hòa bình, Con người với thiên nhiên, Giữ lấy màu xanh, Vì hạnh phúc con người, Người công dân, Vì cuộc sống hòa bình, Nhớ nguồn, Nam và nữ, Những chủ nhân tương lai

+ Các kiến thức tích hợp với kĩ năng, các kĩ năng nghe, nói, đọc và viết kết hợp với nhau Các phân môn tuy cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ khác nhau nhưng cũng tập trung lại quanh trục chủ điểm và các bài học để thể hiện nội dung chủ điểm đó

Ví dụ: Chủ điểm “Nam và Nữ”

+ Trong phân môn Tập đọc: “Một vụ đắm tàu”, “Con gái”, “Tà áo dài Việt Nam”

+ Trong phân môn Luyện từ và câu: MRVT nam và nữ

+ Trong phân môn Chính tả: “Cô gái tương lai”

+ Trong phân môn Kể chuyện: “Lớp trưởng lớp tôi”; kể chuyện đã nghe, đã đọc về phụ nữ; kể về việc làm tốt của một bạn trong lớp

- Bên cạnh tích hợp ngang SGK Tiếng Việt 5 còn thể hiện tích hợp dọc (đồng tâm) Nội dung Tiếng Việt lớp 5 bao hàm kiến thức kĩ năng của lớp dưới nhưng cao hơn, sâu hơn Trong phân môn tập đọc ta thấy ngoài yêu cầu là học sinh đọc thông viết thạo thì ở đây còn yêu cầu khả năng hiểu, cảm nhận, ý kiến cá nhân của học sinh với một tác phẩm, đọc diễn cảm và thể hiện vai diễn trong một số trích đoạn kịch Yêu cầu đưa ra cũng cao hơn (đọc đúng và lưu loát các văn bản nghệ thuật, hành chính, khoa học, báo chí… có độ dài khoảng 250- 300 chữ với tốc độ 100-200

Trang 17

chữ/ 1 phút) Các phân môn còn lại cũng có sự đồng tâm (cũng cố lại kiến thức lớp

cũ đồng thời có mức yêu cầu và kiến thức cao hơn)

Ví dụ:

+ Trong phân môn Tập đọc lớp 4, HS được học về các chủ điểm “Người ta là hoa đất”, “Những người quả cảm” thì đến phân môn Tập đọc lớp 5, học sinh được học đến các chủ điểm “Người công dân”, “Nhớ nguồn”, “Những chủ nhân tương lai”

+ Trong phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, học sinh được học các kiến thức

về từ ghép, đến lớp 5 tuần 19 học sinh được học câu ghép và tuần 20 học sinh được

học nối các vế câu ghép bằng quan hệ từ

c) Quan điểm tích cực hóa hoạt động của học sinh

Cũng như các môn học khác thì Tiếng Việt lớp 5 cũng đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học của Bộ giáo dục với chủ trương GV chủ đạo, HS chủ động nhằm tích cực hóa hoạt động của học sinh SGK không trình bày những kiến thức như là những kết quả có sẵn mà đòi hỏi HS phải đầu tư tìm tòi, suy nghĩ

để chiếm lĩnh kiến thức thông qua những câu hỏi gợi mở bắt đầu là tại sao, vì sao, theo em… Bắt buộc HS phải trải qua quá trình động não mới có được kiến thức Nhìn chung, ta thấy SGK Tiếng Việt lớp 5 trình bày tranh ảnh đẹp nội dung phong phú, câu hỏi mềm dẻo linh hoạt đầy sức hút gây nhu cầu học tập cho học sinh Chương trình Tiếng Việt lớp 5 xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập nhằm hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động tự tìm ra kiến thức và phát triển các kĩ năng cũng như khả năng tư duy

Quan điểm tích cực hóa hoạt động của HS thể hiện qua các hoạt động nhóm,

tự phân vai và đóng kịch, diễn lại đoạn đối thoại, làm bài tập cá nhân, khai thác vốn

từ, kể chuyện bằng lời của học sinh …

1.1.2 Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy – học Tiếng Việt ở Tiểu học 1.1.2.1 Khái niệm phương pháp dạy - học

Trang 18

Như GS.TS Lê A đã khẳng định: "Trong khoa học giáo dục và lí luận dạy học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất về thuật ngữ phương pháp dạy học"

Có nhiều quan niệm về phương pháp dạy học, có thể dẫn ra một vài định nghĩa phương pháp dạy học như sau:

"Phương pháp dạy học là tổ hợp các cách thức hoạt động của giáo viên và của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên sự hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh, nhằm thực hiện tốt những nhiệm vụ dạy học theo hướng mục tiêu"

- Kai - ro VLA lại quan niệm: "Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kỹ năng

và kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực"

- Hai tác giả: Ki - rin - Xki D.M và Pôloxin V.X định nghĩa phương pháp dạy học ngắn gọn hơn, đơn giản hơn các định nghĩa đã dẫn Hai tác giả này định nghĩa:

"Phương pháp dạy học là những hình thức kết hợp hoạt động của giáo viên và học sinh hướng vào việc đạt mục đích nào”

Như vậy, có thể thấy rằng các định nghĩa dẫn trên tuy có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy và trò, với vai trò chủ đạo của thầy và hoạt động tích cực, tự giác của trò nhằm hướng vào việc đạt mục đích nào đó

1.1.2.2 Những phương pháp dạy học thường được sử dụng và các hình thức thể hiện của phương pháp

a) Về những phương pháp dạy học thường được sử dụng

Có nhiều phương pháp dạy học được sử dụng trong giờ dạy học song có thể qui chúng vào ba nhóm chính theo ba tiêu chí phân loại:

- Những phương pháp dạy học được phân loại theo các chức năng điều hành quá trình dạy học, gồm: Phương pháp vào bài, phương pháp dạy học bài mới, phương pháp củng cố bài học, phương pháp hướng dẫn học sinh học bài ở nhà,…

- Những phương pháp dạy học được phân loại theo con đường nhận thức và hoạt động tư duy, gồm: Phương pháp diễn dịch - quy nạp, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp

Trang 19

- Những phương pháp dạy học được phân loại theo phương thức đặc thù tiếp nhận các nội dung tri thức, gồm: Phương pháp thông báo - giải thích, phương pháp tái hiện, phương pháp rèn luyện theo mẫu,

b) Về các hình thức thể hiện của phương pháp

Phương pháp phải thể hiện thông qua các hình thức của nó Một hình thức có thể được dùng cho nhiều phương pháp khác nhau Một số hình thức thể hiện của phương pháp thường gặp trong quá trình dạy - học là: Hình thức diễn giảng, hình thức đàm thoại, hình thức đọc SGK và hình thức làm bài tập

1.1.2.3 Một số phương pháp dạy - học Tiếng Việt ở tiểu học

a) Phương pháp rèn luyện theo mẫu

Phương pháp dạy học này thường được dùng để hướng dẫn HS làm các bài tập về rèn luyện kỹ năng MRVT và cấu tạo câu Phương pháp rèn luyện theo mẫu là phương pháp mà thầy giáo chọn giới thiệu các mẫu hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng rồi bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình

Khái niệm: Là phương pháp GV sử dụng mẫu cụ thể về lời nói (mô hình lời nói) để hướng dẫn HS tìm hiểu đặc điểm của mẫu, qua đó HS biết cách tạo ra những lời nói theo định hướng của mẫu

Cơ sở khoa học: Cơ sở của phương pháp chính là vấn đề về quy luật nhận thức trong triết học: Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng; từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn và đặc biệt là phù hợp với tâm lí và khả năng tiếp nhận của học sinh

Sự thể hiện của phương pháp: HS tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nói bằng việc mô phỏng các đơn vị ngôn ngữ, lời nói được giới thiệu thông qua mẫu (M) Quy trình vận dụng: Gồm 4 bước:

- Bước 1: Cung cấp mẫu

Vì đây là phương pháp luyện theo mẫu nên mẫu cần đạt đến sự chuẩn mực và ngắn gọn

- Bước 2: Phân tích đặc điểm, cấu tạo của mẫu

Đây là bước quan trọng và khó nhất, quyết định kết quả tạo lập sản phẩm ngôn ngữ cuả HS; đồng thời có thể giúp các em tránh được tình trạng rập khuôn,

Trang 20

máy móc theo mẫu Vì vậy, GV cần nắm rõ đặc điểm của mẫu để tổ chức cho HS phát hiện được các đặc điểm đó một cách chủ động, sáng tạo

- Bước 3: Học sinh tạo ra lời nói theo định hướng của mẫu

Giáo viên tổ chức cho HS dựa vào đặc điểm của mẫu để tạo ra những sản phẩm riêng dưới nhiều hình thức thích hợp

- Bước 4: Đánh giá chất lượng lời nói trong sự đối chiếu với mẫu

Dựa vào đặc điểm của mẫu, GV sẽ đánh giá kết quả luyện tập của HS

b) Phương pháp phân tích ngôn ngữ

- Khái niệm: Phương pháp phân tích ngôn ngữ là phương pháp trong đó GV hướng dẫn HS tìm hiểu các hiện tượng ngôn ngữ, trên cơ sở đó rút ra những nội dung lí thuyết hoặc thực hành cần ghi nhớ

- Cơ sở khoa học: Dựa trên đặc điểm, quy luật hoạt động của Tiếng Việt để

tổ chức cho HS nhận thức về các hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu

- Sự thể hiện của phương pháp: Sự thể hiện của phương pháp nằm ở chính quá trình phân ngữ liệu ra thành từng bộ phận theo nguyên tắc cấp bậc để phân tích

- Quy trình vận dụng: Gồm 4 bước:

+ Bước 1: Cung cấp ngữ liệu hoặc cung cấp hiện tượng ngôn ngữ cần phân tích Ngữ liệu phải đảm bảo tính đặc trưng, chuẩn mực của ngôn ngữ, được mọi người thừa nhận không gây tranh cãi; ngắn gọn, phù hợp với tâm lí tiếp nhận của học sinh

+ Bước 2: Giáo viên hướng dẫn HS quan sát, phân tích ngữ liệu theo định hướng của nội dung bài học thông qua một hệ thống câu hỏi gợi ý có tính định hướng cho các em

+ Bước 3: Khái quát những điều đã phân tích thành lí thuyết để cung cấp cho

HS Từ kết quả của việc phân tích trên một ngữ liệu cụ thể, GV khái quát nâng lên thành nội dung lí thuyết cần ghi nhớ

+ Bước 4: Củng cố và vận dụng lí thuyết đã học vào việc luyện tập phân tích một số hiện tượng ngôn ngữ

* Lưu ý: Để giúp HS hiểu sâu và củng cố nội dung lí thuyết vừa học, GV cần

cho HS luyện tập thông qua hệ thống bài tập nhận diện và bài tập vận dụng

c) Phương pháp giao tiếp

Trang 21

- Khái niệm: Là phương pháp sắp xếp các hiện tượng và ngữ liệu ngôn ngữ sao cho các tài liệu ấy vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ của hệ thống ngôn ngữ, vừa phản ánh được đặc điểm chức năng của chúng trong hoạt động giao tiếp Mục đích của phương pháp giao tiếp là phát triển lời nói cho học sinh

- Cơ sở khoa học: Cơ sở của việc đề xuất phương pháp này chính là dựa vào chức năng giao tiếp của ngôn ngữ và mục đích của việc dạy tiếng trong nhà trường

- Sự thể hiện của phương pháp: Sự thể hiện phương pháp trong dạy học Tiếng Việt rất đa dạng:

+ Tổ chức, sắp xếp, trình bày các yếu tố ngôn ngữ theo quan điểm chức năng

+ Nâng cao tính thực hành trong dạy tiếng Việt

+ Khi giảng dạy các đơn vị ngôn ngữ cần đặt đơn vị bậc thấp trong lòng đơn

vị bậc cao

+ Lựa chọn kiến thức, tài liệu dạy học sao cho phù hợp với thực tiễn

+ Chú ý rèn luyện cả bốn dạng hoạt động ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết cho học sinh

- Quy trình vận dụng: Gồm 4 bước:

+ Bước 1: Miêu tả tình huống giao tiếp giả định

Sự miêu tả này cần tập trung làm rõ những nhân tố để lại dấu ấn trong lời nói, ví dụ như: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp…

+ Bước 2: Phân tích tình huống giao tiếp giả định để lựa chọn đưa ra những lời nói phù hợp với tình huống được nêu ở bước 1

+ Bước 3: Giáo viên hướng dẫn HS nhận xét mức độ phù hợp giữa lời nói và hoàn cảnh giao tiếp

+ Bước 4: Điều chỉnh, sửa chữa những lời nói chưa phù hợp, rút ra những kết luận cần thiết để HS ghi nhớ

d) Phương pháp sử dụng trò chơi

Trò chơi là một hoạt động của con nguời nhằm mục đích trước tiên là vui chơi nhưng qua trò chơi, người chơi có thể được rèn luyện thể lực, rèn luyện các giác quan, rèn luyện trí tuệ, tạo cơ hội giao lưu với mọi người

e) Phương pháp thực hành

Trang 22

Hình thức cốt lõi để thực hiện phương pháp thực hành là ra bài tập và làm bài tập Phương pháp luyện tập thực hành giúp cho học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm hơn

Ngoài ba phương pháp dạy học vừa trình bày, dạy Tiếng Việt ở cấp Tiểu học còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại

Tóm lại, nói đến dạy - học ta không thể không bàn đến phương pháp dạy học

Có nhiều quan niệm về phương pháp dạy học cũng như có nhiều phương pháp dạy học khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu thế riêng nhưng cũng có những hạn chế nhất định khi vận dụng trong dạy học tiếng Hạn chế của phương pháp phân tích ngôn ngữ là sự trừu tượng, phức tạp; Phương pháp giao tiếp là sự tiêu tốn một lượng thời gian khá lớn; Phương pháp luyện theo mẫu là sự nhận thức nhiều khi mang tính chất cảm tính ở học sinh Vì vậy, chúng ta cần biết phối hợp các phương pháp này khi sử dụng trong dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học sao cho phù hợp với từng nội dung bài học

Các bước trong mỗi quy trình cần được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo Tuỳ thuộc vào từng tình huống, nội dung dạy học và đối tượng dạy học cụ thể,

GV linh hoạt rút gọn hoặc mở rộng triển khai các bước theo quy trình trên cơ sở đảm bảo mục tiêu của bài học

1.1.3 Tổ chức thực hiện các phương pháp dạy học Tiếng Việt bằng hệ thống bài tập và trò chơi học tập

1.1.3.1 Tầm quan trọng của hệ thống bài tập và trò chơi học tập trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học

Bài tập có vai trò vô cùng quan trọng trong dạy học nói chung và dạy học tiếng Việt nói riêng Nó là phương tiện hiệu quả không thể thay thế được trong việc giúp HS hình thành và phát triển năng lực ngôn ngữ Thông qua bài tập có thể phát huy tính tích cực, chủ động, hứng thú của HS trong tiếp nhận kiến thức, kĩ năng nhằm tối ưu hóa sự đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường

Bên cạnh đó, bài tập vừa là định hướng, vừa là công cụ giúp HS tự tìm hiểu, khám phá vận dụng kiến thức, kĩ năng vào đúng hướng, đúng cách Tạo ra những

Trang 23

tình huống học tập để HS phát triển tư duy, năng lực tự học Đối với HS, có thể xem việc giải bài tập Tiếng Việt là hình thức chủ yếu của hoạt động Tiếng Việt

Cuối cùng, hệ thống bài tập giúp GV tối ưu hoá quá trình dạy học, nâng cao chất lượng dạy học Mỗi bài tập là một nhiệm vụ nhận thức trong đó có hoạt động của thầy và hoạt động của trò

Bên cạnh đó, vui chơi là hoạt động cần thiết, góp phần phát triển nhân cách con người ở mọi lứa tuổi, nhất là đối với học sinh mẫu giáo và tiểu học Đối với HS mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo, bước sang lứa tuổi Tiểu học hoạt động học

là chính Khoảng cách giữa hai lứa tuổi này là không lớn nhưng hoạt động chủ đạo

có sự thay đổi lớn Vì vậy, GV phải tạo cho các em sân chơi học tập: chơi mà học, học mà chơi

Học sinh Tiểu học là lứa tuổi mà ghi nhớ máy móc được phát triển tương đối

tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ có ý nghĩa, chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng ghi nhớ chưa cao Đối tượng cảm xúc của các em là những sự vật hiện tượng cụ thể, sinh động [2, tr36] mà theo quan điểm dạy học, quá trình dạy học

là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tế cuộc sống Học sinh Tiểu học tư duy cụ thể còn chiếm ưu thế, phương pháp dạy học truyền thống theo hướng một chiều: Giáo viên truyền thụ HS tiếp nhận làm cho HS dễ mệt mỏi chán nản trong giờ học, khó tiếp thu bài học Giờ học diễn ra nặng nề, không duy trì được khả năng chú ý của học sinh Học là một hoạt động trong đó HS là chủ thể, tổ chức dạy học sao cho HS phải luôn được vận động vừa sức, tiếp thu những kiến thức cần đạt Trò chơi là nhu cầu không thể thiếu đối với trẻ và là một trong những hình thức đáp ứng yêu cầu đó

Vì vậy, việc sử dụng trò chơi học tập là rất cần thiết, đa dạng hình thức dạy học thay đổi không khí lớp học, GV vẫn cho HS nắm bắt mọi nội dung bài học trong tâm thế thoải mái, tự giác cao Trò chơi góp phần đổi mới phương pháp dạy học Hoạt động vui chơi là điều kiện, là môi trường, là giải pháp, là cơ hội thuận lợi nhất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, tạo điều kiện để trẻ phát triển tâm lực, thể lực, trí lực một cách tổng hợp [4, tr14] Trò chơi giúp cho HS phát triển thêm những điều mới mà các em đã tiếp cận trong SGK, luyện tập những kĩ năng thao tác

Trang 24

mà các em được học tập Qua vui chơi các em sẽ được rèn luyện các tình huống khác nhau buộc mình phải có sự lựa chọn hợp lí, tự mình phát hiện được những điểm mạnh, điểm yếu, những khả năng hứng thú cũng như nhược điểm của bản thân Tổ chức trò chơi khoa học hợp lí giúp học sinh phát triển về mặt thể chất một cách tự nhiên rèn tính nhanh nhẹn, hoạt bát tự tin hơn trước đám đông Đặc biệt sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thao tác vận động và sự phát triển tư duy khả năng điều khiển của thần kinh trung ương sẽ càng phát triển chuẩn xác Ngoài ra, sân chơi trò chơi rèn cho học sinh rất nhiều kĩ năng sống cần thiết: Kĩ năng tổ chức, kĩ năng giao tiếp, ứng xử, hợp tác, kiểm tra đánh giá

Việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học đem lại lợi ích thiết thực, góp phần tạo không khí hào hứng thoả tâm sinh lí trẻ, thúc đẩy tính tích cực hoạt động sáng tạo, giờ học diễn ra nhẹ nhàng, thoải mái

1.1.3.2 Mục tiêu của bài tập

Mục tiêu là cái đích mà thầy trò cần hướng tới trong quá trình dạy học nói chung và quá trình thực hiện bài tập Tiếng Việt nói riêng Mục tiêu dạy học chi phối

cả quá trình dạy học, từ nội dung chương trình, phương pháp dạy học đến cách đánh giá kết quả học tập

Trong thực tế, giáo viên chưa chú trọng đúng mức việc xác định mục tiêu dạy học trên từng tiết học, từng bài tập nên đã bỏ sót nội dung dạy học hoặc triển khai bài dạy không đúng hướng dẫn đến không xử lí linh hoạt quá trình dạy học, nhầm lẫn phương tiện và mục đích dạy học… Vì vậy, trước khi tổ chức cho HS thực hiện bài tập, giáo viên cần xác định rõ mục đích của bài tập đó là nhằm hình thành kiến thức, kĩ năng nào cho học sinh Trên cơ sở đó định hướng cách giải bài tập

1.1.3.3 Cơ sở ngôn ngữ của bài tập

Để dạy tốt chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung, tổ chức thiết kế và thực hiện các bài tập Tiếng Việt cụ thể, giáo viên cần nắm được một số vấn đề lí thuyết có liên quan đến nội dung dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Cụ thể:

a) Đặc điểm của Tiếng Việt

Trang 25

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập Đặc điểm này được thể hiện ở tất cả các mặt: Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Các nhà nghiên cứu đã nêu lên một số đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ đơn lập như sau:

- Hệ thống âm vị có nhiều nguyên âm

- Không có sự biến hoá ngữ âm

- Không có sự biến hoá hình thái của từ

- Đặc điểm của từ loại được thể hiện không rõ ràng

- Trật tự từ chặt chẽ trong cấu trúc ngữ pháp

- Sự biểu hiện của từ với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ không thật rõ rệt (ranh giới giữa từ và ngữ khó phân biệt)

b) Lí thuyết hoạt động ngôn ngữ

- Mục tiêu của việc dạy Tiếng Việt là giúp HS có khả năng sử dụng hiệu quả tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp Vì vậy, lí thuyết hoạt động ngôn ngữ là một lí thuyết quan trọng của việc dạy tiếng

- Tư tưởng cơ bản của lí thuyết hoạt động ngôn ngữ là:

+ Việc giao tiếp bằng ngôn ngữ không chỉ nhằm mục đích thông tin mà còn nhằm tác động tới người nhận về tình cảm, nhận thức và hành động

+ Các phương tiện ngôn ngữ trong hoạt động hành chức của mình luôn có sự vận động biến đổi

+ Luôn coi trọng các yếu tố ngoài ngôn ngữ nhưng lại để dấu ấn trong sử dụng ngôn ngữ như: đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp…

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan về chương trình Tiếng Việt lớp 5

1.2.1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của phương pháp dạy học Tiếng Việt

a) Đối tượng

Trang 26

Đối tượng của phương pháp dạy học Tiếng Việt là hoạt động dạy học Tiếng Việt Những gì tạo nên nội dung của khái niệm dạy - học cũng chính là các yếu tố cấu thành đối tượng nghiên cứu của phương pháp dạy học Tiếng Việt Cụ thể là:

- Môn học (hay là cụ thể hóa nội dung trí thức) bao gồm hai bộ phận:

+ Kiến thức về Tiếng Việt, kiến thức về hệ thống và chuẩn Tiếng Việt văn hóa

+ Nội dung thực hành của môn học, các kĩ năng hoạt động lời nói; tiếp nhận lời nói (nghe, đọc) và sản sinh lời nói (nói, viết) Chính nội dung này làm nên đặc thù của môn học

- Hoạt động dạy học của giáo viên

Giáo viên – chủ thể của quá trình dạy học – lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với từng nội dung dạy học để tổ chức hoạt động học cho học sinh

- Hoạt động học tập của học sinh

Hoạt động học tập của HS là hoạt động với đối tượng, trong đó HS phát huy tính tích cực, tự giác chiếm lĩnh các nội dung dạy học để hình thành và phát triển nhân cách dưới sự định hướng của giáo viên

Trong ba nhân tố trên, học sinh được xem là nhân tố quan trọng nhất vì mục đích của việc dạy học chính là sự phát triển của học sinh

b) Nhiệm vụ

- Cung cấp những kiến thức cơ bản về dạy học môn Tiếng Việt

- Rèn luyện các kĩ năng cơ bản để dạy học môn Tiếng Việt

- Bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp, đạo đức, phẩm chất của người GV dạy Tiếng Việt

- Phát triển năng lực tự đào tạo, tự nghiên cứu về phương pháp dạy học Tiếng Việt cho người học

Trang 27

1.2.1.2 Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt Tiểu học

Mục tiêu của chương trình Tiếng Việt tiểu học được xác định như sau:

- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (bao gồm cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác tư duy cho các em

- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt; Về tự nhiên, xã hội và con người; Về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài

- Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, hình thành ở các em thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa

1.2.1.3 Cấu trúc chương trình Tiếng Việt lớp 5

Nhìn chung cấu trúc tổng thể SGK Tiếng Việt 2, 3, 4 và 5 là giống nhau, chỉ khác nhau ở phân môn, thời lượng học, mức độ và cách thức rèn luyện kĩ năng của từng phân môn Cụ thể như sau:

* Các đơn vị học

SGK Tiếng Việt 5 (hai tập) gồm 10 đơn vị học, mỗi đơn vị ứng với một chủ

điểm, học trong 3 tuần (trừ chủ điểm Vì hạnh phúc con người học trong 4 tuần)

Tập một gồm 5 chủ điểm, học trong 18 tuần:

- Tuần 1, 2, 3: Việt Nam – Tổ quốc em

- Tuần 4, 5, 6: Cánh chim hoà bình

- Tuần 7, 8, 9: Con người với thiên nhiên

- Tuần 10: Ôn tập giữa kì I

- Tuần 11, 12, 13: Giữ lấy màu xanh

- Tuần 14, 15, 16, 17: Vì hạnh phúc con người

- Tuần 18: Ôn tập cuối học kì I

Trang 28

Tập hai gồm 5 chủ điểm, học trong 17 tuần:

- Tuần 19, 20, 21: Người công dân

- Tuần 22, 23, 24: Vì cuộc sống thanh bình

- Tuần 25, 26, 27: Nhớ nguồn

- Tuần 28: Ôn tập giữa kì II

- Tuần 29, 30, 31: Nam và nữ

- Tuần 32, 33, 34: Những chủ nhân tương lai

- Tuần 35: Ôn tập cuối học kì II

Ở lớp 5 chương trình Tiếng Việt gồm 280 tiết được học trong 35 tuần, có các phân môn Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn với thứ với thứ tự sắp xếp và thời lượng học tập trong tuần như sau:

Nội dung các bài tập đọc trong SGK Tiếng Việt 5 được mở rộng và phong phú hơn so với các bài tập đọc ở lớp dưới Các bài đọc mở rộng vốn hiểu biết về thiên nhiên, về cuộc sống của con người, bồi dưỡng tình cảm và nhân cách của

Trang 29

HS, Từ đó hình thành thái độ ứng xử có văn hoá và phù hợp với chuẩn mực đạo đức của dân tộc

Nội dung phân môn Tập đọc:

Kiến thức

- Đọc giúp HS hiểu biết, tiếp thu được nền văn minh của loài người Phần lớn nội dung các bài tập đọc SGK Tiếng Việt lớp 5 mới là các bài đọc thấm đượm tình yêu hoà bình, quê hương đất nước, ý thức bảo vệ môi trường công bằng xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo quốc tế

- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hoá văn học Việt Nam và nước ngoài

- Giúp học sinh phát triển ngôn ngữ và tư duy, giáo dục tư tưởng, tình cảm, thị hiếu, thẩm mĩ cho các em

- Hình thành năng lực đọc, đọc hiểu cho học sinh

- Nhận biết được đề tài, cấu trúc của bài; biết cách tóm tắt bài, làm quen với thao tác đọc lướt để nắm ý; phát hiện giá trị của một số biện pháp nghệ thuật trong các văn bản văn chương

Kỹ năng

Nghe:

- Nghe biết được thái độ, tình cảm, chủ đích của người nói trong giao tiếp

- Nghe và nắm được nội dung và chủ đích của các bài viết về khoa học thường thức, về đạo đức, thẩm mĩ, về tình bạn… phù hợp với lứa tuổi; bước đầu biết nhận xét Đánh giá được một số thông tin đã nghe

- Nghe và nắm được đại ý, đề tài của các tác phẩm (hoặc trích đoạn) văn xuôi, thơ, kịch; bước đầu biết nhận xét về nhân vật và những chi tiết có giá trị nghệ thuật trong tác phẩm; nhớ và kể lại được nội dung tác phẩm

- Ghi được ý chính của bài đã nghe, biết đầu biết tóm tắt văn bản

Nói:

Trang 30

- Nói trong hội thoại:

+ Biết dùng lời nói phù hợp với quy tắc giao tiếp trong gia đình, trong nhà trường và ở nơi công cộng

+ Biết giải thích rõ thêm vấn đề đang trao đổi; tán thành hay bác bỏ một ý kiến

- Nói thành bài:

+ Biết phát triển một chủ đề trước lớp

+ Biết cách giới thiệu về lịch sử văn hóa, về các nhân vật tiêu biểu, của địa phương với khách

+ Thuật lại được câu chuyện đã đọc hoặc một sự kiện đã biết; bước đầu có

kĩ năng thay đổi ngôi kể

+ Biết đọc diễn cảm một bài thơ đã thuộc hoặc một đoạn văn đã học

+ Đọc thầm với tốc độ nhanh hơn lớp 4

- Đọc hiểu:

+ Biết tìm đại ý, tóm tắt bài văn, chia đoạn, rút ra dàn ý của bài

+ Nhận ra các mối quan hệ giữa các nhân vật, sự kiện trong bài

+ Bước đầu biết đánh giá nhân vật, chi tiết và ngôn ngữ trong các bài tập đọc có giá trị văn chương

+ Hiểu các kí hiệu, các dạng viết tắt, các số liệu trên sơ đồ, biểu đồ, bảng hiệu,…

Trang 31

- Biết sử dụng từ điển

Thái độ

- Có thái độ ham đọc sách, yêu thích tiếng Việt

- Hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp

phần hình thành nhân cách con người Việt Nam

1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh Tiểu học

1.2.2.1 Đặc điểm về hoạt động

Ở lứa tuổi Tiểu học, hoạt động vui chơi của trẻ đã lùi lại nhường chỗ cho hoạt động học tập làm chủ đạo Tuy nhiên, song song với hoạt động học tập thì ở trẻ dần hình thành các hoạt động khác Chẳng hạn:

- Hoạt động vui chơi vẫn còn tồn đọng trong tâm thức của trẻ Ngay bản thân người lớn cũng không thể nào bác bỏ hoạt động vui chơi vẫn tồn tại trong bản thân

họ Trẻ rất thích được chơi, thậm chí ngay cả giờ học trẻ cũng có thể chơi nếu môn học đó không thu hút được trẻ

- Hoạt động lao động: Ở lứa tuổi này, trẻ thích làm việc nhà để phụ giúp bố

mẹ như là tự tắm giặt, nhặt rau, quét nhà, rửa chén, trông em… để khẳng định vai trò và vị trí của mình trong gia đình Ngoài ra, các em còn hăng say trong các hoạt động của trường lớp

1.2.2.2 Đặc điểm về nhận thức

a) Nhận thức cảm tính

Năm cơ quan cảm giác (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) của trẻ ở giai đoạn này đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện Về tri giác, do chưa hay khả năng phân tích còn kém nên HS thường tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết Tri giác của HS Tiểu học mang tính không ổn định, sự chú ý dễ bị phân tán Ở đầu tuổi tiểu học tri giác thường gắn với hành động trực quan, đến cuối tuổi tiểu học tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát các sự vật hiện tượng, hiếu kỳ với bất kì sự vật lạ nào Các sự vật hiện tượng càng có màu sắc sặc sỡ càng thu hút và hấp dẫn trẻ Vì thế cần chú trọng đến nguyên tắc trực quan trong dạy học,

Trang 32

các đồ dùng học tập phải phát huy đúng tác dụng của chúng Càng về sau các hoạt động tri giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên nó chính xác dần

b) Nhận thức lý tính

Về tư duy, giai đoạn phát triển mới của tư duy lứa tuổi Tiểu học thường được gọi là giai đoạn tư duy cụ thể Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và trực quan hành động Các thao tác tư duy của trẻ còn dựa trực tiếp trên các đồ vật, hiện tượng thực tại mà chưa tác động lên lời nói và giả thiết bằng lời Khả năng tư duy trừu tượng, khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi Tuy nhiên, khả năng phân tích, tổng hợp kiến thức còn hạn chế ở phần lớn HS tiểu học Một hạn chế của thao tác tư duy cụ thể là do việc tổ chức các thao tác mới được thực hiện dần với từng bộ phận

mà chưa hình dung được cùng một lúc toàn bộ các tổ hợp có thể có nên việc mò mẫm, thử sai vẫn còn giữ vai trò quan trọng trong nhận thức của trẻ Chẳng hạn, khi cho sắp xếp một tập hợp số theo thứ tự tăng dần, thì các em HS lớp 1 so sánh từng cặp số mà chưa biết xếp các số đó thành dãy theo yêu cầu Còn ở các lớp trên, nhiều

em đã biết chọn số bé nhất trong dãy số làm số thứ nhất và tiếp tục chọn số bé thứ hai, cứ như vậy cho đến hết

Về tưởng tượng, HS tiểu học phát triển trí tưởng tượng phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ bộ não đang trong quá trình phát triển đồng thời có những kinh nghiệm hiểu biết ngày càng dày dạn hơn Tuy nhiên, những hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững và dễ thay đổi Trí tưởng tượng tuy có phát triển nhưng còn tản mạn, ít có tổ chức và chịu tác động nhiều của hứng thú, các hình mẫu

đã biết… Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Bên cạnh đó, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này còn bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự vật hiện tượng… đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em

Vì thế, cần phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của HS bằng những hoạt động biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra

Trang 33

cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện

1.2.2.3 Đặc điểm về cơ thể

Lứa tuổi Tiểu học, nói chung hệ xương còn nhiều mô sụn, các xương ống, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển Chúng còn non nớt nên dễ bị cong vẹo, gãy dập… Vì vậy, GV cần chú ý quan tâm và tổ chức các hoạt động vui chơi học tập lành mạnh, an toàn Bên cạnh đó, hệ cơ của các trẻ trong giai đoạn này đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên trẻ rất thích các trò chơi vận động, thích chạy nhảy, nô đùa,… rất hiếu động Do vậy, cần tổ chức các hoạt động vui chơi hợp

lý đảm bảo an toàn cho trẻ

Hệ thần kinh của trẻ ở lứa tuổi Tiểu học cũng đang dần hoàn thiện về mặt chức năng Cho nên tư duy của trẻ chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy trừu tượng

* Kết luận

Ở lứa tuổi Tiểu học, cơ thể của trẻ đang trong thời kỳ phát triển, các cơ quan đang trong giai đoạn hoàn thiện Sức dẻo dai cũng như khả năng chú ý của trẻ còn thấp Trẻ không thể tự hay không thích thực hiện các công việc đơn điệu có tính chu

kỳ, trái lại các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ

Học sinh Tiểu học dễ hiểu bài nhưng cũng chóng quên nếu chúng không được tập trung cao độ và luyện tập thường xuyên Vì thế, GV cần tạo hứng thú và kích thích học sinh tích cực học tập, đồng thời thường xuyên tổ chức cho HS luyện tập thực hành Bên cạnh đó, các em rất hiếu động, thích khám phá, thích học làm người lớn… Do vậy, giáo viên cần sử dụng kết hợp nhiều biện pháp để giúp các em thỏa mãn nhu cầu hoạt động và lôi cuốn các em tham gia học tập tích cực, tự giác Chẳng hạn, tổ chức cho học sinh đi tham quan, dã ngoại, thực tế ngoài trường; tổ chức cho các em thực hành, thí nghiệm; tổ chức các trò chơi học tập

Trang 34

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO

VÀ TRÒ CHƠI HỌC TẬP THEO CHỦ ĐIỂM

2.1 Hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm

2.1.1 Các nguyên tắc thiết kế bài tập

Hệ thống bài tập mà GV lựa chọn phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

- Bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản tới phức tạp

- Mỗi bài tập phải là một mắc xích trong hệ thống bài tập, góp phần củng cố, hoàn thiện và mở rộng kiến thức

- Hệ thống bài tập phải bao gồm nhiều thể loại bài tập: bài tập luyện tập, bài tập sáng tạo,…

2.1.2 Quy trình thực hiện giải bài tập

Quy trình thực hiện bài tập có thể được tiến hành qua bốn bước sau:

- Xác định lệnh và dữ kiện bài tập:

Một bài tập bao giờ cũng có hai phần: lệnh và dữ kiện Các yếu tố này là cơ

sở cho quá trình phân tích định hướng để học sinh thực hiện bài tập Trong bước này, GV hướng dẫn HS phân tích, nêu yêu cầu (lệnh) và dữ kiện (hay ngữ liệu) của bài tập

- Phân tích định hướng thực hiện bài tập:

Phân tích định hướng được xem là bước quan trọng quyết định hiệu quả thực hiện bài tập Việc sử dụng các hệ thống câu hỏi gợi ý hay làm mẫu, phân tích mẫu

sẽ giúp HS xác định hướng thực hiện bài tập

- Tổ chức cho HS thực hiện bài tập:

Để tổ chức cho HS thực hiện bài tập, GV cần lựa chọn các phương pháp (luyện theo mẫu, phương pháp giao tiếp, phương pháp phân tích ngôn ngữ, phương pháp trò chơi, trực quan… và các hình thức tổ chức bài tập (cá nhân, nhóm, lớp,…) phù hợp, sao cho tất cả HS đều được tham gia thực hiện

- Đánh giá, sửa chữa, khái quát kiến thức và kĩ năng cho học sinh:

Trang 35

Khâu đánh giá kết quả bài tập của HS có thể chia làm ba bước:

+ Tổ chức cho HS tự kiểm tra, đánh giá

+ Giáo viên nhận xét, đánh giá kết quả kết hợp với sửa lỗi

+ Giáo viên khái quát hóa kiến thức và kĩ năng thực hiện bài tập

* Lưu ý: Ngoài căn cứ vào đáp án đã soạn sẵn, GV cần linh hoạt trong khi xem xét cách giải quyết bài tập của học sinh; biết chấp nhận những cách giải không hoàn toàn theo đúng đáp án nhưng thuyết phục Có như vậy mới giúp học sinh chủ động, sáng tạo trong quá trình luyện tập Sau mỗi bài tập nên có phần tiểu kết để học sinh củng cố, ghi nhớ kiến thức và kĩ năng cần đạt

2.1.3 Hệ thống bài tập nâng cao theo chủ điểm chương trình Tiếng Việt lớp 5 2.1.3.1 Bài tập liên quan đến chủ điểm 1: VIỆT NAM – TỔ QUỐC EM

Bài tập 1: CON RỒNG CHÁU TIÊN

Ngày xửa ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, có một vị thần tên là Lạc Long Quân Thần mình rồng, sức khỏe vô địch, lại có nhiều phép lạ Bấy giờ, ở vùng núi cao có nàng Âu Cơ xinh đẹp tuyệt trần, nghe vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ bèn tìm đến thăm Hai người gặp nhau, kết thành vợ chồng Đến kì sinh nở, Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng Kì lạ thay, trăm trứng, nở ra một trăm người con đẹp

đẽ, hồng hào và lớn nhanh như thổi Sống với nhau được ít lâu, Lạc Long Quân bảo vợ:

- Ta vốn nòi Rồng ở vùng nước thẳm, nàng là dòng Tiên ở chốn non cao Kẻ trên cạn, người dưới nước, tập quán khác nhau, khó mà ở cùng nhau lâu dài được Nay

ta đem năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương, khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn

Một trăm người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ say này trở thành tổ tiên của người Việt Nam ta Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam thường tự hào xưng là con Rồng cháu Tiên và thân mật gọi nhau là đồng bào

(Theo Nguyễn Đổng Chi)

Trang 36

Nội dung bài tập

Tìm hiểu nghĩa từ khó

1 Em hiểu từ “vô địch” có nghĩa là gì?

……….…

(Đáp án: không đối thủ nào địch nổi)

2 Em hiểu “tập quán” có nghĩa là gì?

……….…

(Đáp án: thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống xã hội)

3 Em hiểu “đồng bào” có nghĩa là gì?

……….…

(Đáp án: những người cùng một giống nòi, một dân tộc, một tổ quốc với mình) Đọc – Hiểu

Em hãy khoanh tròn vào chữ cái trước câu trả lời đúng nhất

4 Lạc Long Quân là ai?

A Lạc Long Quân là một vị tiên trên núi cao

B Lạc Long Quân là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú

C Lạc Long Quân là thần ở dưới nước, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ

D Lạc Long Quân là một vị quan lớn trong triều đình

(Đáp án: C Lạc Long Quân là thần ở dưới nước, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ)

5 Tại sao nàng Âu Cơ đến thăm vùng đất Lạc Việt?

A Vì Âu Cơ muốn đến gặp Lạc Long Quân

B Vì Âu Cơ nghe vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ

C Vì nàng muốn đi thăm họ hàng

Trang 37

D Vì nàng nghe vùng đất Lạc Việt có vị thần mình rồng, sức khỏe vô địch

(Đáp án: B Vì Âu Cơ nghe vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ)

6 Lạc Long Quân và Âu Cơ kết thành vợ chồng đã tạo nên điều gì kì lạ?

A Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con gái xinh đẹp

B Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai khỏe mạnh

C Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con đẹp đẽ, hồng hào

D Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con đẹp đẽ, hồng hào

và lớn nhanh như thổi

(Đáp án: D Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con đẹp đẽ, hồng hào và lớn nhanh như thổi)

7 Tại sao Lạc Long Quân và Âu Cơ lại phải chia tay nhau để người ở núi cao, người về biển thẳm?

A Vì Lạc Long Quân nhớ nhà ở vùng biển thẳm

B Vì Âu Cơ nhớ quê hương ở miền non cao

C Vì Lạc Long Quân và Âu Cơ người dưới nước, kẻ trên cạn, tập quán khác nhau

D Vì Lạc Long Quân muốn các con chia nhau cai quản các vùng đất

(Đáp án: C Vì Lạc Long Quân và Âu Cơ người dưới nước, kẻ trên cạn, tập quán khác nhau)

8 Người Việt Nam tự hào xưng là gì?

A Con Rồng cháu Tiên B Con của thần Rồng

C Cháu của Tiên nữ D Con cháu của Long Quân và Âu Cơ

(Đáp án: A Con Rồng cháu Tiên)

9 Tại sao người dân Việt Nam thân mật gọi nhau là đồng bào?

A Vì mỗi người đều là người Lạc Việt

Trang 38

B Vì tất cả mọi người đều sinh ra từ một bọc trứng và là người một nhà

C Vì tất cả mọi người đều chung nòi giống tiên rồng

D Vì tất cả mọi người đều chung một nhà

(Đáp án: B Vì tất cả mọi người đều sinh ra từ một bọc trứng và là người một nhà) Điền từ thích hợp vào chỗ chấm

10 Tìm từ ghép chỉ các tầng lớp nhân dân, chỉ phẩm chất của người dân, có chứa các tiếng sau:

a) Tìm 2 từ có chứa tiếng giả (có nghĩa là người)……….…………

(Đáp án: Tác giả, khán giả, độc giả, dịch giả…)

b) Tìm 2 từ có chứa tiếng viên (có nghĩa là thành viên)………….………

(Đáp án: Giáo viên, sinh viên, giảng viên, học viên…)

c) Tìm 2 từ có chứa tiếng cần (có nghĩa là siêng năng, chăm chỉ)…… ………

đá mềm sôi nước mắt đồng lòng

Trang 39

Đáp án:

B dám làm cuốc bẫm

đá mềm sôi nước mắt đồng lòng

12 Sắp xếp các từ ngữ sau thành ba nhóm từ đồng nghĩa:

Kiên nhẫn, chăm chỉ, kiên trung, can trường, chịu khó, siêng năng, bất khuất, kiên trì, nhẫn nại, anh hùng

(Đáp án: Nhóm 1: chăm chỉ, chịu khó, siêng năng

Nhóm 2: kiên trung, can trường, bất khuất, anh hùng

Nhóm 3: kiên nhẫn, kiên trì, nhẫn nại.)

13 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

Buổi sớm nắng sáng Những cánh buồm nâu trên biển được nắng chiếu vào, hồng rực lên như đàn bướm múa lượn giữa trời xanh

Có buổi sớm nắng mờ, biển bốc hơi nước, không nom thấy đảo xa, chỉ một màu trắng đục Không có thuyền, không có sóng, không có mây, không có sắc biếc của

Trang 40

- Sử dụng biện pháp lặp từ:

……….… b) Theo em, đoạn văn trên miêu tả cảnh gì?

b) Miêu tả cảnh biển cả vào buổi sáng sớm.)

Bài tập 2: MŨI CÀ MAU

(Trích)

Mũi Cà Mau: Mầm đất tươi non Tổ quốc tôi như một con tàu

Mấy năm trời lấn luôn ra biển Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau

Phù sa vạn dặm tới đây tuôn

Lắng lại; và chân người bước đến Lạ thay tình với đất quê hương

Chưa thấy chưa thăm mà đã nhớ

Tổ quốc tôi như một con tàu Ai hay mầm đất mấy năm trường

Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau Đêm ngủ hồn tôi bay tới đó

Những dòng sông rộng hơn ngàn thước

Trùng điệp một màu xanh lá đước Đầu sao cháy bỏng, ruột sao đau

Vết thương lòng - ở mũi Cà Mau Đước thân cao vút, rễ ngang mình Nơi xa nhất là nơi gần nhất

Trổ xuống nghìn tay, ôm đất nước! Mũi Cà Mau, mũi Cà Mau trước mắt!

Ngày đăng: 22/12/2015, 00:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ sách Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2006), Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học
Tác giả: Bộ sách Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển giáo viên Tiểu học (2006), Sinh lý học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học trẻ em
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo – Dự án phát triển giáo viên Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm – NXB Giáo dục
Năm: 2006
3. Xuân Diệu (1962), Tập thơ “Cầm tay”, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập thơ “Cầm tay”
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1962
4. Bùi Văn Duệ (1994), Tâm lý học tiểu học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tiểu học
Tác giả: Bùi Văn Duệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1994
5. Lê Văn Hồng – Lê Thị Ngọc Lan – Nguyễn Văn Thà (1998), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng – Lê Thị Ngọc Lan – Nguyễn Văn Thà
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
6. Lê Phước Lộc (2004), Giáo trình Lí luận dạy học, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận dạy học
Tác giả: Lê Phước Lộc
Nhà XB: Đại học Cần Thơ
Năm: 2004
7. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Tác giả: Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
8. Hoàng Thị Tuyết (2012), Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (Tập 1+ Tập 2), NXB Thời Đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học (Tập 1+ Tập 2)
Tác giả: Hoàng Thị Tuyết
Nhà XB: NXB Thời Đại
Năm: 2012
9. Nguyễn Trí (2005), Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chương trình mới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
10. Hà Nhật Thăng, Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức hoạt động vui chơi ở Tiểu học nhằm phát triển tâm lực, trí tuệ, thể lực cho học sinh
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nhiều tác giả (2006), Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
12. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (Tập 1+ Tập 2). Website Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w