1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và 5

105 2,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với HS lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn như: miêu tả đồ vật, c

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Th.S Trần Nguyên Hương Thảo Trần Thị Hằng

MSSV: 1110294

Lớp: SP Tiểu học k37

Cần Thơ, tháng 05 năm- 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Những lời đầu tiên này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô

T h S Trần Nguyên Hương Thảo, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này Nhân dịp này, em cũng xin được gửi đến gia đình, thầy cô giáo trong Khoa Sư Phạm nói chung và trong Bộ môn Toán, ngành Giáo dục tiểu học nói riêng lời cảm ơn chân thành vì đã thương yêu động viên, tạo mọi điểu kiện cho

em trong thời gian học tập và hoàn thành luận văn

Qua đây, em cũng xin được cảm ơn các thầy cô giáo, các em học sinh trường Tiểu học Ngô Quyền Thành phố Cần Thơ đã góp ý, động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các thầy cô và các bạn góp ý

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2015

Người thực hiện

Trần Thị Hằng

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG

Bảng 1-1: Hhệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4 14

Bbảng 1-2: Hhệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 5 15

Bbảng 1-3: Tthực trạng giảng dạy văn miêu tả ở trường tiểu học ngô quyền 25

Bbảng 1-4: Tthực trạng học văn miêu ở trường tiểu học ngô quyền 25

Trang 4

(MẤY CÁI DANH MỤC NÀY EM DI CHUYỂN NÊN BỊ ĐỔI SỐ TRANG RỒI ANH CHẠY LẠI CHO EM NHA)

Trang 5

MỞ ĐẦU 2

1 Lí do chọn đề tài 2

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Bố cục đề tài 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Văn miêu tả 7

1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả 8

1.1.3 Văn miêu tả trong trường Tiểu học 13

1.1.4 Kỹ năng làm văn 19

1.1.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4 và 5 với việc dạy học văn miêu tả 20

1.2 Thực trạng về việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở Trường Tiểu học Ngô Quyền 23

1.2.1 Mục đích khảo sát 23

1.2.2 Nội dung khảo sát 23

1.2.3 Phương pháp khảo sát 23

1.2.4 Thời gian và địa bàn khảo sát 24

1.2.5 Kết quả khảo sát 24

1.2.6 Kết Luận 26

1.2.7 Thực trạng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 Trường Tiểu học Ngô Quyền 30

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 34

2.1 Hướng dẫn học sinh xác định rõ đối tượng của văn miêu tả 34

2.1.1 Rèn kĩ năng tìm hiểu yêu cầu đề bài 34

2.1.2 Các đối tượng trong văn miêu tả lớp 4, 5 35

2.2 Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát đối tượng và sự vật 37

Trang 6

2.2.1 Quan sát 37

2.2.2 Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát 39

2.2.3 Hướng dẫn và khích lệ HS sử dụng nhiều giác quan để quan sát 41

2.2.4 Quan sát phải gắn liền với liên tưởng, tưởng tượng 44

2.2.5 Quan sát phải gắn liền với ghi chép 46

2.3 Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn bài 47

2.3.1 Hướng dẫn học sinh tìm ý 47

2.3.2 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý 47

2.4 Rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh 56

2.4.1 Rèn kỹ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, lời văn phù hợp với yêu cầu nội dung, thể loại và kiểu bài 58

2.4.2 Kỹ năng dùng từ biểu cảm và các thủ pháp nghệ thuật 59

2.5 Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho học sinh 60

2.6 Ra đề bài văn miêu tả 64

KẾT LUẬN 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1 2

PHỤ LỤC 2 9

PHỤ LỤC 3 14

- MẤY CÁU ERROR LÀ MẤY CÁI TRONG BÀI EM XÓA BỎ THEO YÊU CẦU CỦA CÔ VÀ CÓ DI CHUYỂN 1.2.1 => 1.1.3; …….1.2.2 =>1.2 - MỤC LỤC CỦA EM CHỈ LẤY 3 SỐ TRỞ LẠI, KHÔNG LẤY TIÊU ĐỀ 4 SỐ NHA MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

Trang 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu Error! Bookmark not defined 6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Bố cục đề tài 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Cơ sở lí luận 6

1.1.1 Văn miêu tả 6

1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả 7

1.1.3 Kỹ năng làm văn 19

1.1.4 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4-5 với việc dạy học văn miêu tả 19

1.2 Cơ sở thực tiễn Error! Bookmark not defined 1.2.1 Văn miêu tả trong trường Tiểu học 12

1.2.2 Thực trạng về việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở trường Tiểu học Ngô Quyền 23

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LÀM VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4, 5 33

2.1 Hướng dẫn học sinh xác định rõ đối tượng của văn miêu tả 33

2.1.1 Rèn kĩ năng tìm hiểu yêu cầu đề bài 33

2.1.2 Các đối tượng trong văn miêu tả lớp 4, 5 34

2.2 Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát đối tượng và sự vật 36

2.2.1 Quan sát 36

2.2.2 Hướng dẫn học sinh trình tự quan sát 37

2.2.3 Hướng dẫn và khích lệ HS sử dụng nhiều giác quan để quan sát 40

2.2.4 Quan sát phải gắn liền với liên tưởng, tưởng tượng 42

2.2.5 Quan sát phải gắn liền với ghi chép 45

2.3 Hướng dẫn học sinh tìm ý và lập dàn bài 46

2.3.1 Hướng dẫn học sinh tìm ý 46

2.3.2 Hướng dẫn học sinh lập dàn ý 46

2.4 Rèn luyện kỹ năng viết câu, đoạn trong bài tập làm văn cho học sinh 54

Trang 8

2.4.1 Rèn kỹ năng viết bài văn có bố cục chặt chẽ, lời văn phù hợp với yêu cầu nội

dung, thể loại và kiểu bài 57

2.4.2 Kỹ năng dùng từ biểu cảm và các thủ pháp nghệ thuật 57

2.5 Bổ sung vốn hiểu biết và kỹ năng sống cho học sinh 59

2.6 Ra đề bài văn miêu tả 64

CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED 3.1 Giới thiệu khái quát quá trình thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.1 Mục đích thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.2 Đối tượng, địa bàn, thời gian thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.3 Phương pháp thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.4 Nội dung thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.5 Tiến hành thử nghiệm Error! Bookmark not defined 3.1.6 Tiêu chí đánh giá Error! Bookmark not defined 3.2 Kết quả thực nghiệm Error! Bookmark not defined 3.3 Kết luận sau thử nghiệm Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 71

Trang 12

để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy, tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội Khi đó trẻ sẽ bộc lộ được cảm xúc cá nhân, mở rộng tâm hồn, phát triển nhân cách của một con người có ích cho xã hội

Văn miêu tả trong chương trình TLV tiểu học lớp 4 và lớp 5 là một trong những kiểu văn bản có vị trí quan trọng góp phần hình thành và phát triển tư duy cho HS Học văn miêu tả, HS được rèn kĩ năng viết văn gắn liền với quá trình tạo lập văn bản như : tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý; diễn đạt thành bài văn hoàn chỉnh Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, quan sát đối tượng, tìm lí lẽ, dẫn chứng trình bày, tranh luận,… góp phần phát triển năng lực phân tích tổng hợp của học sinh Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá, Vì vậy, chương trình Tập làm văn lớp 4 và lớp 5 dành hơn 50% thời lượng để dạy văn miêu tả Đây là phân môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân

Trang 13

3

Tập làm văn, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học môn Tiếng Việt Đối với HS tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó Để nói, viết hay, sáng tạo, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều Cái khó ấy cũng chính là mục đích của phân môn TLV đòi hỏi người học cần đạt được

Từ đó, các em được mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm mỹ, hình thành nhân cách Đối với HS lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào

là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn như: miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, tả người, tả cảnh - những đối tượng gần gũi và thân thiết của các em Vì vậy để hoàn thành bài văn miêu tả, HS lớp 4, 5 thường gặp rất nhiều khó khăn Dẫn đến xảy ra rất nhiều tình trạng học sinh ít tâm huyết hoặc thậm chí không còn hứng thú với môn học, chán học, học mang tính đối phó, cảm giác sợ môn Tập làm văn làm học sinh thấy

bị áp lực với môn học này Về nguyên nhân, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như do đặc điểm tâm lý chưa ổn định, hơn nữa các em còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý quan sát chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt, sự hiểu biết thực tế của học sinh tiểu học còn nhiều lỗ hổng, vốn từ vựng ít

ỏi khiến các em thiếu kiến thức để viết về đối tượng miêu tả hoặc không biết cách diễn đạt điều muốn tả Bên cạnh đó là việc giáo viên không gợi được niềm say mê trong việc cảm thụ văn học ở học sinh Tuy nhiên, có một nguyên nhân cơ bản và ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh đó là phương pháp dạy, cụ thể: phương pháp chưa thực sự phù hợp với tâm lý của học sinh trong thời kì hội nhập ngày nay, còn nặng

nề thiếu tính thực tiễn, còn cứng nhắc trong việc kiểm tra, dạy và đánh giá theo lối mòn cũ, còn nặng tính hàn lâm

Từ những lí do trên tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “Rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho HS lớp 4, 5”

Trang 14

Hai tác giả là Lê Phương Nga và Đặng Kim Nga [18] viết cuốn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Phần đầu cuốn sách bàn về những vấn đề chung của

việc dạy tiếng Việt ở Tiểu học và sau đó đi sâu vào các phương pháp dạy học các phân môn cụ thể Công trình này cũng bàn nhiều về phương pháp dạy văn miêu tả,

đề cập đến những tồn tại và đưa ra những kiến nghị trong dạy học các kiểu bài văn miêu tả Tuy nhiên, những kiến nghị và giải pháp mà công trình đưa ra còn ở góc độ khái quát, chưa vận dụng được vào thực tiễn dạy và học văn miêu tả ở nhà trường tiểu học hiện nay [18]

Cuốn Hướng dẫn dạy Tập Làm Văn 5 phù hợp với trình độ học sinh các tác

giả Trần Mạnh Hưởng, Phan Phương Dung, Nguyễn Văn Điệp, Phạm Thu Hà, Trần Hoàng Túy đã đề cập đến các kĩ năng dạy văn miêu tả cho HS lớp 5, hướng dẫn học sinh cách lập dàn ý và có nhiều bài tập phù hợp với cấp lớp 5 Tuy nhiên vẫn chưa dẫn dắt HS cảm thụ những cái hay cái đẹp của văn học [14]

Sách giáo khoa Tiếng Việt 4, 5 (chương trình Cải cách giáo dục) [1], [2]

ngoài việc chú trọng đến kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, sách còn chú trọng đến kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho HS Tuy nhiên chương trình chưa chú ý đến kĩ năng viết văn hay và sáng tạo cho HS [1] [2]

Cuốn Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, tác giả Hoàng Thị Tuyết [19] đã cho thấy sự vận dụng những thành tựu lí luận dạy học trên thế giới đồng thời kế thừa các quan điểm dạy học đã được thừa nhận trong nước Phương pháp dạy học

và các kĩ năng kiến thức Tiếng Việt trong sách được triển khai theo hướng tiếp cận tích hợp, cách tiếp cận giao tiếp, kết hợp với một số lý thuyết học tập tiếng khác trên thế giới Điểm mới trong sách là tác giả đã đưa ra được quá trình làm văn viết cho học sinh nhưng tác giả lại không đề cập đến một quy trình rèn kĩ năng viết đoạn văn cho HS Tiểu học [20]

Trang 15

5

Như vậy những công trình nghiên cứu trên đây chỉ mới đề cập đến phương pháp, cách thức hướng dẫn HS xây dựng một bài văn miêu tả Chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung vào việc rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho HS lớp

4,5 Do đó đề tài “Rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 , - 5” là một đề

tài mới mẻ, mang tính khoa học phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS lớp 4 và lớp - 5, góp phần nâng cao kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho các em, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy học văn miêu tả

3 Mục đích nghiên cứu

Phân môn TLV là phân môn đặc biệt quan trọng trong chương trình tiểu học, tuy nhiên chất lượng dạy - học chưa cao, biểu hiện cụ thể là tình trạng HS viết văn khô khan, kém hấp dẫn và viết theo lối mòn thiếu sự sáng tạo mới mẻ Từ việc thực hiện đề tài này, chúng tôi mong đề xuất được những biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh Tiểu học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy và học văn miêu tả ở lớp 4, 5

- Đối tượng nghiên cứu: một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được khảo sát ở Trường Tiểu học Ngô Quyền thuộc địa bàn quận Ninh Kiều, Thành Phố Cần Thơ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu cơ sở lí luận: Thu thập, đọc và xử lí các tài liệu liên quan đến việc dạy làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5 Phân tích tổng quan chương trình ở phân môn Tập làm văn

- Phương pháp quan sát hoạt động dạy và học trên lớp bằng cách dự giờ, lắng nghe, ghi chép biên bản,.…

- Phương pháp khảo sát: Khảo sát mức độ hài lòng và tìm ra phương hướng phát triển thông qua phiếu khảo sát dành cho học sinh và giáo viên Tiểu học

Trang 16

6

- Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê kết quả phiếu khảo sát, từ

đó tổng kết kinh nghiệm được thực hiện thông qua việc phân tích quá trình dạy học của giáo viên và học sinh, tổng kết những kinh nghiệm học được

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu một số bài văn miêu tả của học sinh

- Thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết lLuận, Tài liệu tham khảo và Phụ Llục, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn đề tài

Chương 2: Một số phương pháp rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5

Trang 17

Đó là sự kết tinh của các nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết thu lượm được khi quan sát cuộc sống

Dưới những tán tre xanh mướt, chúng ta hãy cũng nhìn lại vẻ đẹp thanh bình nhưng cuồn cuộn sức sống của đất nước qua ngòi bút của nhà văn Bùi Ngọc Sơn

(bài đọc thêm Cây Tre, SGK lớp 4 tập hai, trang 42): “Thân tre vừa tròn lại vừa gai góc Trên thân cây tua tủa những vòi xanh ngỡ như những cánh tay vươn dài Dưới gốc chi ch ítit những búp măng non Búp thì mới nhô khỏi mặt đất, búp thì cao ngang ngực em, búp vượt quá đầu em , … Em cứ nghĩ những búp măng ấy chính là những đứa con thân yêu của tre năm năm tháng tháng được mẹ chăm chút, ngày một lớn lên, ngày một trưởng thành trong bóng mát yêu thương ”

Với cách miêu tả linh hoạt, sáng tạo tránh sự đơn điệu tác giả đã tả những cây tre vốn chỉ là vật vô tri như những con người có cảm xúc, có yêu thương như con người Dùng những hình ảnh búp măng lớn nhỏ thi nhau mọc lên từ những bụi

Trang 18

8

tre, tác giả làm cho người đọc liên tưởng đến những thế hệ con người trẻ tuổi nối bước cha ông, luôn luôn sinh tồn mạnh mẽ cứ hết đời này lại đến đời khác và không chịu khuất phục khó khăn giống như con người Việt Nam

Tóm lại “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra trước mắt người đọc hay người nghe hình ảnh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, loài vật, con người,…) đã làm cho ta ấn tượng sâu sắc”

1.1.2 Đặc điểm của văn miêu tả

1.1.2.1 Văn miêu tả là một loại văn mang tính thông báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của người viết

Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu

tả Trong văn miêu tả, sự vật và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu “chụpảnh” hay sao chép một cách máy móc, khô cứng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú Nó thể hiện cái nhìn, cái quan sát, cách cảm nhận mới mẻ của người viết với đối tượng miêu tả Cái mới, cái riêng bắt đầu

có thể chỉ là ở những quan sát và kết quả của sự quan sát, sau đó tiến lên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư tưởng, tình cảm đối với đối tượng miêu tả Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa hai người sẽ có cái nhìn, cách cảm nhận, ý nghĩ, cảm xúc khác nhau Vì vậy mà văn miêu tả bao giờ cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết Đây chính là điểm khác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học - thường mang tính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn

Ví dụ: Cùng miêu tả về cây sầu riêng nhưng có sự khác biệt rõ giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học

Đoạn thứ 1:

Sầu riêng là loại cây ăn quả thuộc chi Durio (chi sầu riêng) được biết đến rộng rãi tại Đông Nam Á Tên chi Durio (chi sầu riêng) có nguồn gốc từ ngữ hệ Nam Á: người Việt gọi là sầu riêng, người Khmer gọi là turen và người Mã Lai - Nam Dương gọi là Djoerian (về sau viết là Doerian) Sầu riêng là một cây to cao 15-20-25m Quả to, hình đầy hay hình trứng dài, vỏ cứng Trên mặt vỏ rất nhiều gai ngắn, nhọn Quả có 5 ngăn, mỗi ngăn chứa 3-5 hạt có chất cơm (áo hạt) mềm, màu

Trang 19

9

trắng vàng, có mùi đặc biệt, chưa quen thì không thích, nhưng đã quen rồi thì rất ngon, vị ngọt, bùi Hạt có lá mầm dày Cây Sầu riêng nở hoa tháng 3-4, có quả tháng 5-9 …

(Trích từ Trung tâm nghiên cứu Khoa học Nông vận) Cây sầu riêng được nêu ở đoạn thứ nhất được miêu tả theo cách nhìn khách quan của các nhà khoa học Các chi tiết về cây sầu riêng được nêu ra một cách chính xác nhưng cũng rất lạnh lùng và khô cứng

Đoạn thứ 2:

Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam Hương vị nó hết s ứư c đặc biệt, mùi thơm đậm, bay rất xa, lâu tan trong không khí Còn hàng chục mét mới tới nơi để sầu riêng, hương đã ngào ngạt xông vào cánh mũi Sầu riêng thơm mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn Hương vị quyến rũ đến kì lạ Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm Gió đưa hương thơm ngát như hương cau, hương bưởi tỏa khắp khu vườn Hoa đậu từng chùm màu trắng ngà Cánh hoa nhỏ như vảy cá, hao hao giống cánh sen con, lác đác vài nhụy li ti giữa những cánh hoa Mỗi cuống hoa là một trái Nhìn trái sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông giống những tổ kiến Mùa trái rộ vào dạo tháng tư tháng năm ta Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì lạ này Thân nó khẳng khiu cao vút, cành ngang thẳng đuột, thiếu cái dáng cong, dáng nghiêng, chiều quằn, chiều lượn của cây xoài, cây nhãn Lá nhỏ xanh vàng, hơi khép lại, tưởng như lá héo Vậy mà khi trái chín, hương tỏa ngạt ngào, vị ngọt đến đam mê

(SGK TV lớp 4 tập 2, Ttr.34) Tác giả Mai Văn Tạo bắt đầu nói về cây sầu riêng bằng điều đặc trưng nhất

đó là hương thơm, sử dụng khứu giác và vị giác của mình ông đã tả hương sầu riêng như “mùi thơm của mít chín quyện với hương bưởi, béo cái béo của trứng gà, ngọt cái vị của mật ong già hạn” mà đi xa hàng chục mét còn nghe thấy mùi Cách tác giả dùng để nói thật sinh động và hấp dẫn làm người đọc dù chưa từng thưởng thức sầu riêng đều cảm thấy nôn nao muốn được ăn một lần trong đời Tiếp sau đó, tác giả đã mang đến cho người đọc hiểu rõ hơn về hình dạng cây sầu riêng gần gũi, thân

Trang 20

1.1.2.2 Văn miêu tả mang tính sinh động, tạo hình và sáng tạo

Đây là đặc điểm quan trọng của văn miêu tả Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, hiện tượng, con người hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực, tưởng như ta có thể cầm, nắm, nhìn, ngắm, hoặc “sờ mó” được chúng Sự sinh động, tạo hình của văn miêu tả chính là những chi tiết sống động gây ấn tượng Những chi tiết này có được từ sự quan sát cuộc sống xung quanh, từ kinh nghiệm sống của bản thân Có cái bắt nguồn từ thực tế, có cái lấy từ kinh nghiệm sống Nếu bỏ chúng đi thì bài văn sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị, mất đi sự linh hoạt của nó Bằng ngòi bút sống động Trần Văn đã khắc họa nhân vật

Thắng có ngoại hình ấn tượng, mang đậm chất vùng biển: “Nó cởi trần, phơi nước

da rám đỏ khỏe mạnh của những đứa trẻ lớn lên với nắng, nước mặn và gió biển Thân hình nó rắn chắc, nở nang: cổ mập, vai rộng, ngực nở căng, bụng thon hằn rõ những múi, hai cái tay gân guốc như hai cái bơi chèo, cặp đùi dế to, chắc nình nịch ”

(SGK TV lớp 5 tập 1, Ttr.130) Văn miêu tả thể hiện sự sáng tạo mang dấu ấn cá nhân của người viết Cùng một sự việc, sự vật nhưng đối với mỗi người sẽ có cách nhìn khác nhau Việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt lại cũng thể hiện cái mới, cái riêng và sự khác biệt trong cách nhìn, cách cảm nhận của từng người viết Sự sinh động, sáng tạo trong văn miêu tả bao giờ cũng bắt nguồn từ cảm xúc chân thành của người viết Trong Quan niệm của nhà thơ Tố Hữu về thơ (trang Tr.425) ông đã từng viết: “Văn chương là

sự sáng tạo, là tưởng tượng nhưng đừng có nói dối, đừng có bịa đặt những điều mình không nghĩ, không cảm thấy chân thật” Văn miêu tả không hạn chế trí tưởng

Trang 21

11

tượng, không ngăn cản sự sáng tạo cái mới của người viết Nhưng như vậy không

có nghĩa là văn miêu tả cho phép người viết “bịa đặt” hay miêu tả một cách tuỳ tiện, miêu tả thế nào cũng được Muốn miêu tả đúng, miêu tả hay, trước hết cần phải miêu tả chân thật Tính chân thật ở đây không chỉ được hiểu trong quan sát và sự thể hiện những điều quan sát ấy mà còn được hiểu là sự chân thật trong cách cảm, cách nghĩ của người viết Đoạn trích trong bài “Hoa sầu đâu” của tác giả Vũ Bằng thể hiện khá rõ tính chân thật trong cách quan sát, cách suy nghĩ, cảm xúc của tác giả với cây sầu đâu, loại cây ở vùng quê Bắc Bộ:

Vào khoảng cuối tháng ba, các cây sầu đâu ở vùng quê Bắc Bộ đâm hoa và người ta thấy hoa sầu đâu nở như cười Hoa nhỏ bé, lấm tấm mấy chấm đen nở từng chùm, đu đưa như đưa võng mỗi khi có gió Cứ đến tháng ba, nhớ đến sầu đâu

là tôi cảm thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương cau, mà dịu dàng có khi hơn cả mùi thơm hoa mộc Mùi thơm huyền diệu đó hoà với đất ruộng cày vỡ ra, mùi đậu đã già mà người nông phu hái về phơi nắng, mùi mạ non lên sớm xanh màu hoa lí, mùi khoai sắn, mùi rau cần ở các ruộng sâm sấp nước đưa lên, … Bao nhiêu thứ đó, bấy nhiêu yêu thương, khiến người ta cảm thấy như ngây ngất, như say say một thứ men gì

(SGK TV lớp 4 tập 1, Ttr.50 )

Vũ Bằng đã dùng các từ ngữ: “thoang thoảng”, “mát mẻ”, “dịu dàng” để đặc

tả hương hoa sầu đâu Ông còn so sánh giữa hoa cau, hoa mộc với hoa sầu đâu để ca ngợi mùi thơm mát mẻ, dịu dàng của hoa - mùi thơm huyền diệu mà bình dị, dân dã, thân thuộc với người dân quê Mùi sầu đâu hòa với mùi của đất ruộng, mùi đậu già, mùi mạ non, mùi khoai sắn, mùi rau cần, những mùi vị của hương đồng quê đậm

đà của vùng quê Bắc Bộ mà không đâu có được Sự chân thật trong cách miêu tả hương hoa sầu đâu khiến ta “yêu thương”, “ngất ngây”, “như say say một thứ men

gì đó” Đó chính là thứ men của tình yêu quê hương đất nước, của sự rung cảm trước vẻ đẹp của một cây hoa bình dị, dân dã

1.1.2.3 Ngôn ngữ trong văn miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Miêu tả chỉ trở thành miêu tả văn học khi mà ngôn ngữ miêu tả diễn đạt được cảm xúc của người viết, vẽ được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả Do đó, ngôn

Trang 22

12

ngữ miêu tả bao giờ cũng là sự phong phú đa dạng của các từ gợi tả, gợi cảm, các tính từ, động từ, các phép nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, Nhờ có sự phối hợp giữa các tính từ, các động từ, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ láy và các biện pháp tu từ hoặc đan xen vào những những đoạn văn tường thuật, kể chuyện,… mà ngôn ngữ trong văn miêu tả luôn gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn tượng mạnh về sự vật được miêu tả Trong SGK Tiếng Việt ở Tiểu học, các đoạn văn trong chương trình cũng như những đoạn văn làm ngữ liệu trong giờ dạy văn miêu tả đều sử dụng ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Chẳng hạn như bài Quả cà chua của nhà văn Ngô Văn Phú:

Đêm huyền diệu đã rủ hoa cà chua lặn theo vòng thời gian chuyển vần Hoa biến đi để tạo ra những chùm quả nõn chung quanh màu với cây, với lá

Cà chua ra quả, xum xuê, chi chít, quả lớn quả bé vui mắt như đàn gà mẹ đông con Quả một, quả chùm, quả sinh đôi, quả chùm ba, chùm bốn Quả ở thân, quả leo nghịch ngợm lên ngọn làm ỏe cả những nhánh to nhất Nắng đến tạo vị thơm mát dịu dần trong quả Mỗi quả cà chua chín là một mặt trời nhỏ hiền dịu Cà chua thắp đèn lồng trong lùm cây nhỏ bé, gọi người đến hái Màu đỏ là màu nhận

ra sớm nhất Những quả cà chua đầu mùa gieo sự náo nức cho mọi người

(SGK TV lớp 4 tập 2, Ttr.51 ) Hình ảnh quả cà chua ra trái thật đẹp, thật huyền ảo dưới con mắt quan sát tinh tường và sự lựa chọn từ ngữ cực kì công phu của Ngô Văn Phú Hoa không rụng mà “lặn” đi, “biến” đi dưới màn đêm “huyền diệu”, nhường chỗ cho những chùm quả nõn xanh màu cây lá Từ chỗ cây cà chua ra quả người đọc lại được theo dõi đến lúc quả chín Quả cà chua chín sẽ không có gì lạ nếu như tác giả không sử dụng biện pháp so sánh khi ví quả cà chua chín như “mặt trời nhỏ hiền dịu”, như những “chiếc đèn lồng trong lùm cây” Quả cà chua thật hấp dẫn và bắt mắt bởi lấp

ló trong những lùm cây nhỏ bé chi chít những quả cà chín đỏ Để tả sự xum xuê, chi chít của quả, có lúc tác giả dùng hình ảnh so sánh quả như “đàn gà mẹ đông con”;

có lúc tác giả lại dùng hình ảnh nhân hóa chúng như lũ trẻ tinh nghịch “leo lên ngọn làm ỏe cả thân cây” Cà chua chín đầu mùa gieo sự háo hức, đón chờ của mọi người Ai cũng muốn là người đầu tiên được nhìn ngắm và hái chúng

Trang 23

13

Như vậy nhờ có những đặc điểm riêng biệt, ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc

đã khiến cho văn miêu tả giàu những rung động mạnh mẽ của tâm hồn, mang trong

nó sự đánh giá thẩm mĩ của người viết đối với đối tượng miêu tả

1.21.3 Văn miêu tả trong trường Tiểu học

1 12 3.1 Nội dung văn miêu tả ở trường Tiểu học

Trong chương trình TLV lớp 4, - 5, học sinh được trang bị kiến thức cần thức cần thiết về văn miêu tả, về kĩ năng viết đoạn văn, bài văn miêu tả Các kiến thức

này được cung cấp qua các nội dung: Cấu tạo bài văn miêu tả, Luyện tập quan sát, Luyện tập lập dàn ý, Luyện tập xây dựng đoạn văn, Bài viết và trả bài viết Các nội dung này là một khuôn mẫu, được lặp lại ở các kiểu bài văn miêu tả: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật, miêu tả cảnh, miêu tả người

Ngoài ra nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4, 5, còn có thêm cả những kiến thức lí thuyết cơ bản giúp HS nắm chắc về đặc điểm, kết cấu và phương pháp làm bài của từng kiểu văn miêu tả Chương trình nhấn mạnh yếu tố thực hành, coi trọng việc rèn luyện kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng xây dựng đoạn văn HS được học cách viết đoạn văn với nhiều nội dung và nhiều kiểu khác nhau ở một số dạng bài miêu tả các đối tượng quen thuộc, gần gũi với học sinh Một khi kĩ năng xây dựng đoạn văn thành thạo, HS sẽ chủ động, tự tin hơn khi xây dựng được một văn bản miêu tả hoàn chỉnh

1 21 3.2 Nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4, 5

 Chương trình tập làm văn lớp 4 được thiết kế tổng cộng là 62 tiết/ năm Trong đó, văn miêu tả (gồm tả con vật, tả đồ vật, tả cây cối) có 30 tiết được phân bố như sau:

Trang 24

14

Bảng 1-1: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4

(học kỳ I và học kỳ II)

Tuần 14 1 Thế nào là văn miêu tả

2 Cấu tạo bài văn miêu tả đồ vật Tuần 15 1 Luyện tập miêu tả đồ vật

2 Quan sát đồ vật Tuần 16 Luyện tập miêu tả đồ vật

Tuần 17 1 Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật

2 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật Tuần 19 1 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả đồ vật

2 Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả đồ vật Tuần 20 Miêu tả đồ vật (Kiểm tra viết)

Tuần 21 1 Trả bài văn miêu tả đồ vật

2 Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối Tuần 22 1 Luyện tập quan sát cây cối

2 Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối Tuần 23 1 Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối

2 Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối Tuần 24 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả cây cối

Tuần 25 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối Tuần 26 1 Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây cối

2 Luyện tập miêu tả cây cối Tuần 27 1 Miêu tả cây cối (Kiểm tra viết)

2 Trả bài văn miêu tả cây cối Tuần 29 Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật

Tuần 30 Luyện tập quan sát con vật

Tuần 31 1 Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật

2 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật Tuần 32 Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật

Trang 25

15

 Chương trình TLV lớp 5 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm Trong đó, văn miêu tả (gồm tả cảnh, tả người) có 35 tiết (ôn tập cả tả cây cối, con vật, đồ vật ở lớp 4) được phân bố như sau:

Bảng 1-2: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 5

(học kỳ I và học kỳ II)

Tuần 1 1 Cấu tạo của bài văn tả cảnh

2 Luyện tập tả cảnh Tuần 2 Luyện tập tả cảnh (một buổi trong ngày)

Tuần 3 Luyện tập tả cảnh (2 tiết)

Tuần 4 1 Luyện tập về tả cảnh (trường học)

2 Kiểm tra viết (tả cảnh) Tuần 5 Trả bài văn tả cảnh

Tuần 6 Luyện tập tả cảnh (sông nước)

Tuần 7 Luyện tập tả cảnh (sông nước – 2 tiết)

Tuần 8 Luyện tả cảnh địa phương

Tuần 11 Trả bài văn tả cảnh

Tuần 14 Luyện tập tả người

Tuần 15 Luyện tập tả người (tả hoạt động – 2 tiết)

Tuần 16 Kiểm tra viết (tả người)

Tuần 17 Trả bài văn tả người

Tuần 19 Luyện tập tả người (2 tiết)

Tuần 20 Viết bài văn tả người

Tuần 21 Trả bài văn tả người

Tuần 24 Ôn tập về tả đồ vật (2 tiết)

Tuần 25 Viết bài văn tả đồ vật

Tuần 26 Trả bài văn tả đồ vật

Tuần 27 1 Ôn tập về tả cây cối

2 Viết bài văn tả cây cối Tuần 29 Trả bài văn tả cây cối

Tuần 30 1 Ôn tập về tả con vật

Trang 26

16

2 Viết bài tả con vật Tuần 31 Ôn tập về tả cảnh (2 tiết)

Tuần 32 1 Trả bài văn tả con vật và viết bài văn tả cảnh

21 Viết bài văn về tả cảnh Tuần 33 1 Ôn tập về tả người

2 Viết bài văn tả người Tuần 34 1 Trả bài văn tả cảnh

2 Trả bài văn tả người

1 21 3.3 Yêu cầu về kiến thức, kĩ năng của việc viết văn miêu tả ở Tiểu học

- Viết được đoạn văn tả bao quát, tả hình dáng bên ngoài, tả đặc điểm bên trong của đồ vật quen thuộc

- Nắm vững các cách mở bài trực tiếp và gián tiếp, kết bài mở rộng và không

mở rộng để viết được đoạn mở bài (trực tiếp, gián tiếp); kết bài (mở rộng và không

mở rộng) cho bài văn miêu tả đồ vật

Tả cây cối

Đề bài

- Viết đoạn văn tả lá, thân, gốc của một cây mà em thích

- Viết bài văn tả loài hoa, thứ quả mà em thích

Trang 27

17

- Viết đoạn văn nói về lợi ích của một loài cây mà em biết

- Viết hoàn chỉnh bài văn miêu tả cây chuối

- Viết đoạn mở bài giới thiệu chung về cây mà em định tả

- Viết đoạn kết bài mở rộng cho một trong các đề bài: tả cây tre ở làng quê, tả cây tràm ở quê em, tả cây đa cổ thụ ở đầu làng

- Tả một cây bóng mát, luống rau hoặc vườn rau

- Vận dụng những hiểu biết về đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối đã học

để viết được một bài văn (còn thiếu ý) cho hoàn chỉnh

- Nắm vững cách mở bài trực tiếp và gián tiếp; kết bài mở rộng và không mở rộng để viết được đoạn mở bài (trực tiếp, gián tiếp); kết bài (mở rộng và không mở rộng) cho bài văn tả cây cối

Tả con vật

Đề bài

- Sắp xếp các câu văn tả hình dáng con chim gáy thành đoạn văn

- Viết đoạn văn có chứa câu mở đoạn: “Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp”

- Viết đoạn văn miêu tả ngoại hình và hoạt động của con vật mà em yêu thích

- Viết đoạn mở bài theo kiểu gián tiếp cho bài văn tả con vật mà em thích

- Viết đoạn kết bài theo kiểu mở rộng cho bài văn tả con vật mà em thích

- Viết một bài văn hoàn chỉnh tả con vật mà em thích

Yêu cầu cần đạt

- Nhận biết đoạn văn, cấu tạo và ý chính của từng đoạn văn trong bài văn miêu

tả con vật (đặc điểm hình dáng bên ngoài và hoạt động của con vật)

- Biết sắp xếp các câu cho trước thành đoạn văn; bước đầu viết được một đoạn văn có câu mở đầu cho sẵn

Trang 28

18

- Viết được đoạn văn tả ngoại hình, hoạt động của một con vật yêu thích

- Viết được đoạn mở bài gián tiếp, kết bài mở rộng cho bài văn tả con vật yêu thích

- Viết được một bài văn hoàn chỉnh tả con vật mà em thích

Tả cảnh

Đề bài

- Dựa vào dàn ý đã lập, viết đoạn văn tả cảnh buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong vườn cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy)

- Chọn một phần trong dàn ý tả cơn mưa, viết thành một đoạn văn

- Viết một bài văn theo dàn ý của bài văn tả ngôi trường của em

- Viết câu mở đoạn cho một trong hai đoạn văn của bài văn tả cảnh Tây Nguyên theo ý em

- Dựa vào dàn ý đã lập, viết bài văn tả cảnh sông nước, cảnh đẹp ở địa phương

- Xác định được phần mở bài, thân bài, kết bài của đoạn văn, hiểu mối liên hệ

về nội dung giữa các câu

- Biết làm hoàn chỉnh một bài dàn ý văn tả cảnh có chi tiết và hình ảnh hợp lí, nêu rõ một số đặc điểm nổi bật, trình tự miêu tả

- Dựa vào dàn ý thân bài viết được bài văn tả cảnh đẹp ở địa phương

- Nhận biết và phân biệt được cách viết hai kiểu mở bài (trực tiếp gián tiếp), hai cách kết bài (mở rộng và không mở rộng); viết được đoạn mở bài gián tiếp, đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả cảnh thiên nhiên ở địa phương

Tả người

Đề bài

- Hãy viết một văn tả ngoại hình một người em thường gặp

- Viết một đoạn văn tả hoạt động của một người mà em yêu mến

Trang 29

Như vậy, những đổi mới chương trình SGK hiện hành đã giúp cho học sinh cải thiện phần nào kĩ năng viết văn so với những chương trình SGK trước đây Thông qua hệ thống các bài hình thành kiến thức cũng như bài luyện tập thực hành, các dạng bài tập đa dạng trong SGK, học sinh được rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu

tả đơn giản, gần gũi với lứa tuổi của các em

1.1.4 Kỹ năng làm văn

Kỹ năng là một khái niệm phức tạp, xung quanh khái niệm này có nhiều định nghĩa khác nhau Tác giả Đỗ Văn Thông [19] cho rằng: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách lựa chọn, vận dụng tri thức, những kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo phù hợp với mục tiêu, điều kiện thựưc tế.”

Kỹ năng làm văn là kỹ năng thông qua hệ thống kiến thức đã có, HS cảm nhận bằng sự tinh tế của bản thân mà có được những bài văn hay

Các kỹ năng làm văn bao gồm:

- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp

 Nhận diện loại văn bản

 Phân tích đề bài

- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp

 Xác định dàn ý của bài văn miêu tả đã cho

 Quan sát đối tượng tìm và sxắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả

- Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp

Trang 30

20

 Xây dựng đoạọan văn

 Liên kết các đoạn văn thành bài văn

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp

 Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt

 Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

1.1.5 Đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 4-5 với việc dạy học văn miêu tả

Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên HS được học văn miêu tả Các em gặp nhiều khó khăn cả về tri thức lẫn phương pháp Do đó việc nắm được đặc điểm tâm lí của

HS sẽ giúp cho giáo viên có những phương pháp thích hợp trong việc giảng dạy trong các giờ học TLV miêu tả

Văn miêu tả là kết quả dễ thấy nhất, trực tiếp nhất của quan sát Quan sát càng tinh vi, thấu đáo, bài viết sẽ đặc sắc, hấp dẫn Quan sát hời hợt, phiến diện thì bài viết sẽ khô khan, nông cạn Quan sát còn là một hoạt động tư duy cần thiết giúp trẻ nhận thức được thế giới xung quanh Vì vậy kỹ năng quan sát luôn là một kỹ năng quan trọng trong chương trình dạy học văn miêu tả Thông qua các giờ rèn luyện kĩ năng quan sát trong chương trình, sự quan sát của HS ngày càng trở nên tỉ

mỉ, sâu sắc với những mục đích rõ ràng hơn HS đã có khả năng phân biệt, phán đoán và hệ thống hoá các sự vật được quan sát để diễn đạt chính xác những điều quan sát Quan sát tốt chẳng những giúp HS tích luỹ vốn sống, mà còn góp phần bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên ở trẻ

Trang 31

21

1.1.5.2 Tư duy

Tư duy của học sinh các lớp cuối Tiểu học đã thoát ra khỏi tính chất trực tiếp của tri giác và mang dần tính trừu tượng, khái quát Các em đã có thể phân tích đối tượng mà không cần đến những hành động thực tiễn đối với đối tượng, cũng như có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ và sắp xếp chúng thành một hệ thống nhất định Tuy nhiên trẻ vẫn khó khăn khi tiến hành các thao tác tổng hợp

Văn miêu tả đem lại cho trẻ cái nhìn mới mẻ về thế giới khách quan Thông qua hoạt động trong các giờ học văn miêu tả như đọc, phân tích đề bài, quan sát, tìm

ý, viết đoạn, sửa chữa bài,… tư duy của trẻ cuối cấp dần tách ra khỏi tri giác trực tiếp và mang dần tính trừu tượng Những thao tác logic đầu tiên thay thế cho trực giác, cho phép trẻ có khả năng phán đoán, suy luận và nhận thức thế giới một cách khách quan hơn Cùng một lúc, trẻ có thể vừa tìm thấy cái giống nhau và khác nhau của những đối tượng tri giác, tách chúng ra khỏi các dấu hiệu không bản chất để làm nên sự khái quát hoá đúng đắn Những tài liệu trực quan của giờ văn miêu tả cũng là một chỗ dựa vững chắc để HS có thể chứng minh, lập luận vấn đề một cách

dễ dàng

1.1.5.3 Tưởng tượng

Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn Các em học sinh lớp 4, 5 đã có khả năng dùng ngôn ngữ để nhào nặn, gọt giũa những hình tượng cũ, sáng tạo ra những hình tượng mới.Tuy nhiên các chi tiết, hình ảnh tưởng tượng của trẻ đôi khi còn nghèo nàn, tản mạn

Văn miêu tả là một bức tranh vẽ các sự vật, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Đọc và học văn miêu tả, các em sẽ đến được thế giới của tuổi thơ, thế giới của sự tưởng tượng và sáng tạo Các em sẽ được tự do sáng tạo ra các ý tưởng, hình ảnh ưa thích mà không bị người lớn cho là nói dối Chương trình dạy văn miêu tả sẽ giúp trẻ biến hình ảnh tưởng tượng ban đầu còn tản mạn bằng những hình ảnh trọn vẹn, chính xác, rõ ràng, mạch lạc hơn Nhờ đó, trẻ có thể viết được những câu văn, đoạn văn, hay bài văn sinh động, đầy cảm xúc

và chân thật

Trang 32

22

1.1.5.4 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính

và lý tính của trẻ Nhờ có ngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Ngôn ngữ của trẻ Tiểu học phát triển mạnh cả về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng Vốn từ của các em tăng lên đáng kể từ kiến thức ở các môn học trong nhà trường và phạm vi tiếp xúc được mở rộng Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển: từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát, trừu tượng nghĩa của từ Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khoá Việc hiểu nghĩa bóng còn khó khăn với trẻ Các em thường sử dụng chúng một cách tuỳ tiện khi chưa hiểu hết nội dung Ngoài ra ở lứa tuổi này, HS đã nắm được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản khi nói và viết nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục, còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết Từ chỗ hiểu nghĩa từ ngữ chưa chính xác, nắm ngữ pháp chưa chắc, nên khi viết các em còn dùng từ sai, viết câu chưa đúng, không biết chấm câu, …

Ngôn ngữ góp phần làm cho bài văn miêu tả thêm sinh động, tạo hình Học văn miêu tả, học sinh sẽ cơ hội tích lũy, mở rộng thêm vốn từ Thông qua các ngữ liệu trong bài văn miêu tả, thông qua các tiết quan sát, tìm ý, các bài học của tiết tập đọc, luyện từ và câu, học sinh sẽ biết cách chọn lựa từ ngữ thích hợp, vận dụng được các quy tắc ngữ pháp về câu, đoạn, các từ trái nghĩa, gần nghĩa, các phép so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, để viết ra những đoạn văn, bài văn miêu tả có sức gợi hình, gợi cảm lớn

Từ những đặc điểm vừa nêu ở trên, chúng ta thấy rằng hoạt động nhận thức của học sinh lớp 4, - 5 đã có những bước phát triển quan trọng Chính sự phát triển này là điều kiện thích hợp giúp cho trẻ dễ dàng tiếp xúc với thể loại văn miêu tả và vận dụng chúng trong hoạt động giao tiếp Do đó, trong dạy học văn miêu tả, GV cần chú ý đến đặc điểm tâm lí về tri giác, tư duy, tưởng tượng, ngôn ngữ để có những biện pháp thích hợp cho quá trình dạy và học văn miêu tả cho HS lớp 4,- 5

Trang 33

23

1.1.5.5 Đặc điểm thể loại văn học

Các kiến thức về loại thể văn học, đặc biệt là kiến thức về kể chuyện và miêu

tả thực sự cần thiết để dạy hai kiểu bài viết văn bản nghệ thuật: kể chuyện, miêu tả

Để có thể dạy tốt các bài TLV ở tiểu học, GV cần vận dụng các tri thức về miêu tả

và kể chuyện, trong đó có các hiểu biết về cốt truyện, chi tiết, nhân vật, về ngôn ngữ,

về đề tài, tư tưởng Các tri thức này góp phần chỉ ra nội dung luyện tập của các kỹ năng làm văn Nói cách khác, có các hiểu biết về loại thể văn học, GV mới hiểu rõ tính đặc thù của từng kỹ năng trong từng kiểu văn Để “vẽ được bằng lời”, GV phải dạy HS tìm ý trong bài văn miêu tả bằng cách dạy quan sát và ghi chép các nhận xét

GV phải hướng dẫn HS biết vận dụng các giác quan để quan sát, biết lựa chọn vị trí

và thời gian quan sát, biết liên tưởng, tưởng tượng khi nhận xét sự vật và diễn đạt điều quan sát được một cách gợi cảm, gợi tả, tức là có hình ảnh và cảm xúc

1.2 Thực trạng về việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả ở tTrường Tiểu học Ngô Quyền

1.2.1 Mục đích khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát về vấn đề dạy và học phân môn TLV dạng văn miêu tả lớp 4, 5 theo chương trình mới và việc áp dụng phương pháp dạy học theo định hướng của GV Từ đó xác định những khó khăn mà GV gặp phải khi dạy văn miêu tả và các biện pháp khắc phục

Mặt khác chúng tôi tìm hiểu tâm lí của HS lớp 4, 5 và khảo sát thực trạng học tập để thấy được những hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó, chúng tôi đưa ra một

số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy và học văn miêu tả cho HS lớp 4, 5

1.2.2 Nội dung khảo sát

Đề tài tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:

- Tìm hiểu SGK, SGV và các đồ dùng dạy học phân môn TLV dạng văn miêu tả

- Hoạt động dạy và học văn miêu tả của HS lớp 4, 5

- Thái độ của HS khi tham gia học phân môn TLV

1.2.3 Phương pháp khảo sát

- Phương pháp dự giờ trực tiếp

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp GV và HS

Trang 34

24

- Phương pháp trắc nghiệm

1.2.4 Thời gian và địa bàn khảo sát

- Thời gian tiến hành khảo sát từ 26/01/2015 đến 12/04/2015

- Địa bàn khảo sát tại: Trường Tiểu học Ngô Quyền - Thành Phố Cần Thơ

1.2.5 Kết quả khảo sát

Sau khi khảo sát thực tế tại trường chúng tôi thu được kết quả như sau: Kết quả khảo sát số liệu thống kê tại trường Tiểu học Ngô Quyền Trường có

8 lớp 5 và 7 lớp 4 Trong đó 100% em đi học đúng độ tuổi với 15 GV đều đạt chuẩn

GV tiểu học Hầu hết GV đều đạt GV dạy giỏi cấp trường trở lên

Kết quả khảo sát phiếu điều tra như sau:

- Qua khảo sát 15 GV trong trường bao gồm các GV đã và đang dạy lớp 4, 5 Chúng tôi thu được kết quả như sau:

Trang 35

25

Bảng 1-3: Thực trạng giảng dạy Văn miêu tả ở Trường Tiểu học Ngô Quyền

Mức độ quan trọng của phân môn TLV Mức độ Rất quan trọng Bình thường Không quan trọng

Mức độ đặt những đề văn gây hứng thú cho HS

Mức độ Thường xuyên Thỉnh thoảng Không bao giờ

- Qua khảo sát HS 87 HS lớp 4,5 chúng tôi thu được kết quả như sau:

Bảng 1-4: Thực trạng học Văn miêu ở Trường Tiểu học Ngô Quyền

Mức độ yêu thích phân môn tập làm văn

Trang 36

26

Các tài liệu tham khảo

Mức độ thích học các loại văn Dạng văn Văn miêu tả Văn kể chuyện Các văn bản khác

Mức độ luyện viết văn ở nhà

Mức độ tham khảo các tài liệu văn mẫu vào bài viết của mình

để dạy tốt phân môn TLV hay bất cứ phân môn nào, việc nhận thức được tầm quan trọng của phân môn đó là cần thiết Vì vậy, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi: “Theo thầy

cô Tập làm văn là phân môn có vai trò như thế nào?” và đã được 93.3% GV trả lời

là rất quan trọng, còn 6.7% GV trả lời là bình thường Điều này cho thấy mỗi GV có nhận thức khác nhau về phân môn TLV Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng,

Trang 37

đồ dùng trực quan là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong giờ học Để biết các thầy cô sử dụng đồ dùng trực quan thế nào trong giờ TLV chúng tôi có câu hỏi:

“Khi dạy Tập làm văn thầy cô thường sử dụng đồ dùng trực quan nào?” thì thu được mức độ sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên là thấp Như vậy việc đầu tư thiết bị, phương tiện dạy học còn rất hạn chế

Việc sử dụng các biện pháp dạy học sao cho có hiệu quả cũng là một vấn đề cần quan tâm Với câu hỏi: “Khi dạy tập làm văn thầy (cô) thường sử dụng các biện pháp dạy học nào?” thì đa số các GV đều đưa ra các biện pháp tạo hứng thú ở HS như: Trau dồi vốn từ, rèn kỹ năng quan sát, luyện viết câu văn, đoạn văn sao cho liên kết được các ý, đoạn,.…

Tuy vậy, việc vận dụng nó như thế nào trong giờ dạy mới mang lại hiệu quả cao là điều GV còn lúng túng Chúng tôi đã đặt câu hỏi như sau: “Để rèn luyện kỹ năng làm văn cho các em, thầy cô thường xây dựng đề văn gắn với đời sống để các

em luyện tập không?” Tất cả các GV mà chúng tôi điều tra đều trả lời là “có” Hầu hết các GV mà chúng tôi điều tra, phỏng vấn đều có quá trình công tác lâu năm, có rất nhiều kinh nghiệm giảng dạy phân môn này Do vậy, khi chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Thầy cô hãy cho biết những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn là gì?” Thì chúng tôi thu được là:

- Thuận lợi:

 Nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện công tác chuyên môn nhằm nâng cao tay nghề cho GV

 Tổ chuyên môn đã tổ chức chuyên đề dạy học TLV lớp 4, - 5

 GV đều được trang bị đầy đủ SGK, SGV, sách tham khảo,.…

 Đặc điểm tâm lý của HS có tâm hồn trong sáng, thơ ngây, giàu cảm xúc

và sức sáng tạo Thế giới của các em là thế giới cổ tích Những đồ vật, con vật, cây

Trang 38

28

cối, cảnh vật là những người người bạn thân thiết gần gũi mà các em có thể tâm tư, chia sẻ tình cảm của mình Đặc điểm tâm lý này rất thuận lợi cho việc khơi gợi cho các em những cảm xúc miêu tả thú vị, bất ngờ,.…

- Khó khăn:

 Lên lớp 4 - 5, HS mới bắt đầu học cách lập dàn ý, dựng đoạn và viết thành bài văn hoàn chỉnh Hơn nữa, khả năng ngôn ngữ của các em còn hạn chế Mỗi bài văn miêu tả hay lại đòi hỏi khả năng tưởng tượng và sử dụng ngôn ngữ diễn đạt thật sinh động Thực tế cho thấy, đa số HS lớp 4, - 5 viết văn miêu tả chưa hay, sắp xếp ý còn lộn xộn, lủng củng, hình ảnh trong bài văn còn chưa gợi

tả, ít liên tưởng hoặc chỉ là sao chép một cách sống sượng bài văn mẫu

 Nhiều đối tượng miêu tả chưa thật gần gũi với HS thành thị (dòng sông, con gà,…)

 TLV là phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 4, lớp 5

 Việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa phổ biến vì trình độ của HS không đồng đều nên đôi khi sử dụng tốn nhiều thời gian

 Về phía nhà trường, dù đã được đầu tư một hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị đầy đủ đặc biệt là có giáo án giảng bằng điện tử nhưng do trình độ tin học, tiếng Anh còn hạn chế nên việc sử dụng phần mềm Ppowerpoint vào giảng dạy chương trình tiếng Việt nói chung và phân môn TLV nói riêng chưa phổ biến dẫn đến chưa phát huy hết được năng lực của GV và HS

Trang 39

29

có đủ SGK Tiếng Việt, còn các tài liệu tham khảo khác như bài văn hay, bài văn mẫu thuộc chương trình lớp 4, - 5 các em sử dụng phổ biến (chiếm khoảng 49.4%) Mặc dù đã có hứng thú học tập, nhưng mỗi dạng văn lại mang lại cho các em những cảm nhận khác nhau Khi được hỏi: “Em thích học dạng văn nào nhất?” thì

có 39% các em cho rằng thích học văn miêu tả, 34.5% thích học văn kể chuyện, 26.5% thích học các kiểu văn bản như viết thư, văn bản hành chính ) Điều đó chứng tỏ rằng, các bài viết văn miêu tả và kể chuyện vẫn luôn hấp dẫn và thu hút

HS Do đối tượng của văn miêu tả thường là những sự vật, sự việc, cây cối, con vật,…gắn liền với đời sống thực tế xung quanh các em nên các em dễ tưởng tượng, miêu tả Nhưng không phải vì thế các em coi nhẹ các dạng viết văn khác, cho nên khi

áp dụng vào dạy những dạng văn cụ thể GV phải có biện pháp tạo hứng thú ở HS

Để học tốt phân môn TLV, ngoài giờ học trên lớp, HS phải thường xuyên tìm hiểu ngoài thực tế cuộc sống Tuy nhiên, mức độ tìm hiểu cũng như thời gian dành cho việc học của mỗi HS có khác nhau

Khi điều tra việc học ở trường, chúng tôi đưa ra câu hỏi: “Ngoài giờ học trên lớp, ở nhà em có thường xuyên luyện viết văn không?” Và kết quả thu được là phần lớn các em đã có ý thức học ở nhà Điều đó được biểu hiện bằng con số sau: 40.8% tổng số HS lớp 4, - 5 trả lời đã dành thời gian cho việc luyện viết văn, 41.2% trả lời là thỉnh thoảng, còn lại 18.6% không tự giác Như vậy, ý thức tự học ở nhà chưa cao nên tỉ lệ HS dành thời gian cho việc luyện viết ở nhà còn thấp chiếm chưa được phân nửa số HS

Với câu hỏi: “Khi viết bài tập làm văn các em có tham khảo tài liệu tham khác vào bài viết của mình không?” Với câu hỏi này có 23% HS trả lời thường xuyên sử dụng tài liệu tham khảo vào bài viết của mình, 52.9% là thỉnh thoảng sử dụng và 24.1% là không bao giờ sử dụng tài liệu tham khảo vào bài viết của mình

Từ những con số trên đây nói lên rằng, có rất nhiều điều ảnh hưởng lớn tới hiệu quả dạy học phân môn TLV nói riêng, các phân môn khác trong chương trình tiếng Việt nói chung Bởi vậy, giáo dục ý thức tự giác và tinh thần hiếu học trong dạy học dạng viết văn miêu tả cho các em cũng gặp phải không ít những khó khăn

đó là: Sự phân hóa giữa các HS trong một lớp và giữa các lớp về khả năng nhận

Trang 40

30

thức Có em học tốt và vận dụng những hiểu biết vào học tập rất hiệu quả Tuy nhiên, số lượng này không nhiều, còn rất nhiều em khả năng hiểu biết và vận dụng còn yếu Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy và sáng tạo của các em trong quá trình viết văn

1.2.7 Thực trạng viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 Trường Tiểu học Ngô Quyền

Để tìm hiểu thực trạng về kết quả viết văn miêu tả cho HS lớp 4, 5 Trường Tiểu học Ngô Quyền Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng phiếu điều tra

Chúng tôi đã tiến hành dựa trên chương trình SGK lớp 4, 5 để thiết kế phiếu điều tra, với nội dung phiếu như sau:

Đề bài: Em hãy tả một người thân trong gia đình mà em yêu thương

Sau quá trình điều tra, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích bài làm của

HS và thu được kết quả sau đây:

Hầu hết các em có tinh thần học tập, hứng thú khi thực hiện bài, nhiều em có khả năng viết tốt, có tư duy tưởng tượng phong phú, sáng tạo trong cách đặt câu, ngôn từ tự nhiên, trong sáng thể hiện đúng lứa tuổi của mình Ví dụ có một em viết:

“Mái tóc bà như khoác lên mình chiếc áo màu trắng bạc, chiếc áo có nếp quăn rất đẹp tựa như những áng mây trắng hiền hòa vậy” Một bạn khác viết về tiếng chim họa mi ở nhà mình: “Chú ta cùng các bạn của mình hót rối rít một bài ca nào đó để chào tạm biệt hoàng hôn”

Bên cạnh đó còn nhiều em chưa có kĩ năng quan sát, hồi tưởng nên các em làm bài không kịp giờ và chất lượng bài viết chưa cao HS bị vướng phải nhiều lỗi

cụ thể như:

Thứ nhất, về viết câu và dùng từ Số lượng HS viết câu và dùng từ chưa hợp

lí chiếm tỉ lệ không cao, đa số bài viết của các em thường sử dụng câu đơn, cụt ngủn, kể lể, ít hình ảnh Chẳng hạn có em viết: “Bà tôi cao 1m50” hay “Bà tôi nặng

40 kí” Cách diễn đạt thật máy móc, khuôn sáo Thay vào đó các em có thể viết “Bà tôi không cao lắm, hơn tôi khoảng một cái đầu Nhưng bà lại nhẹ tênh, tôi nghĩ có khi mình còn ôm bổng bà lên được cơ đấy” Trong khi đó có những bài viết được câu ghép thì lại dài dòng lủng củng Các bài viết của các em thường ít sinh động, không thu hút được người đọc, người nghe Chẳng hạn có em viết: “Bà tôi tóc bạc

Ngày đăng: 22/12/2015, 00:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1-1: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4 - rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và 5
Bảng 1 1: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 4 (Trang 24)
Bảng 1-2: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 5 - rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và 5
Bảng 1 2: Hệ thống nội dung chương trình TLV miêu tả lớp 5 (Trang 25)
Bảng 1-3: Thực trạng giảng dạy Văn miêu tả ở Trường Tiểu học Ngô Quyền - rèn luyện kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 và 5
Bảng 1 3: Thực trạng giảng dạy Văn miêu tả ở Trường Tiểu học Ngô Quyền (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w