1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp

66 617 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 840,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước tiên, vấn đề kinh nghiên cứu nhằm tìm và đổi mới các phương pháp dạy học sao cho phù hợp và có hiệu quả khi dạy Tập làm văn thể hiện trong các bài viết: “Sáng kiến kinh nghiệm – Hư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN KHOA SƯ PHẠM

  

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

VẤN ĐỀ DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH LỚP 3 TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC

TRẦN QUỐC TOẢN, TP CẦN THƠ

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Cán bộ hướng dẫn : Sinh viên thực hiện:

ThS Trịnh Thị Hương Trần Thị Hồng Lộc MSSV: 1110309

Lớp: SP Tiểu học K37

Cần thơ 05/2015

Trang 2

Nhân đây, tôi cũng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu và quý thầy cô trường Tiểu học Trần Quốc Toản (TP Cần Thơ) đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi tổ chức thực hiện cuộc khảo sát để thực hiện đề tài

Tôi xin cảm ơn đến các bạn sinh viên lớp Giáo dục Tiểu học k37 và gia đình đã

đã giúp đỡ, động viên, chia sẻ và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Mặc dù bản thân đã ý thức và cố gắng rất nhiều nhưng do kiến thức và tài liệu tham khảo còn hạn chế, thời gian thực tập không nhiều nên khi thực hiện luận văn này không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế Rất mong được sự chỉ bảo tận tình, đóng góp ý kiến của quý thầy cô nhằm gúp tôi hoàn thành tốt luận văn, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp giảng dạy sau này

Xin chân thành cảm ơn!

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2015

Sinh viên thực hiện

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… ……… 1

2 Lịch sử nghiên cứu……… ……… 1

3 Mục đích nghiên cứu ……….……… 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……….……….3

5 Phương pháp nghiên cứu ……….……… 3

6 Cấu trúc luận văn……….………4

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC ……….……… 5

1.1 Mục tiêu của việc dạy học Tập làm văn………5

1.2 Kỹ năng làm văn là gì? … ……… ……….7

1.3 Những nguyên tắc dạy học Tập làm văn ở Tiểu học ……… 8

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN VÀ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN KHỐI LỚP 3 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN, TP CẦN THƠ ……… 10

2.1 Chương trình phân môn Tập làm văn ở khối lớp 3 ……….……… 10

2.1.1 Nội dung của chương trình …… ……… ……10

2.1.2 Các yêu cầu cần đạt ……… 10

2.2 Khảo sát thực trạng làm văn hiện nay của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Cần Thơ ……… 12

2.2.1 Mục đích khảo sát ……… ……… 12

2.2.2 Cách tiến hành ……… ……… … 12

2.2.3 Quá trình khảo sát … ……… 12

Trang 4

2.2.5 Kết quả khảo sát ……… …… 12

2.3 Nhận định chung về thực trạng làm văn cuả học sinh ……… … 30

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG CẢI THIỆN KỸ NĂNG NÓI, VIẾT VÀ VĂN MIÊU TẢ TRONG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN …… ……… 32

3.1 Phương hướng cải thiện kỹ năng nói, viết trong dạy học Tập làm văn … 32

3.1.1 Về phía giáo viên ……… ……… 32

3.1.2 Về phía học sinh ……… ……….… 43

3.1.3 Về chương trình Tập làm văn thực học ……….……….…… 45

3.1.4 Về phía nhà trường, gia đình ……….……….… 45

3.2 Một số phương hướng cải thiện việc dạy học văn miêu tả trong Tập làm văn ……… ……… 46

3.3 Thiết kế giáo án để phát huy khả năng viết văn cho học sinh ……… 48

3.3.1 Giáo án 1 ……….……… … 48

3.3.2 Giáo án ………50

KẾT LUẬN ……….………… 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….…………54

PHỤ LỤC ……… 55

.

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường nói chung, ở bậc Tiểu học nói riêng không phải là nhiệm vụ của bất kì cá nhân nào mà đó là nhiệm

vụ chung của toàn xã hội

Đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng của của việc dạy và học Ở bậc tiểu học có rất nhiều môn học: Toán, Tiếng Việt, Đạo Đức, Kỹ thuật, Âm nhạc,… đặc biệt là môn Tiếng Việt Môn học này giúp người học rèn luyện, củng cố cũng như thực hành các kiến thức đã được học để vận dụng vào cuộc sống hằng ngày Điều đó được thể hiện một cách toàn diện và đầy đủ trong phân môn Tập làm văn Đây

là phân môn được tích hợp bởi nhiều phân môn khác của môn Tiếng Việt bao gồm: Tập đọc, Tập viết, Luyện từ và câu Thông qua bài làm của mình, học sinh thể hiện được khả năng tiếp nhận cảm xúc, suy nghĩ của một cách tự nhiên, không áp đặt, gò

bó Tuy nhiên hiện nay, đa số học sinh đều có cảm giác lo sợ và không có hứng thú trong giờ học làm văn vì các em không biết nói hay viết gì Nguyên nhân chủ yếu là do các em bị phụ thuộc vào các bài văn mẫu và các sách văn mẫu, vì thế các em không thể hiện được tính sáng tạo vào bài văn của mình Bên cạnh đó, học sinh còn gặp một

số khó khăn trong việc dùng từ, lỗi về dấu câu, chính tả,… khi thể hiện trong bài văn của mình dẫn đến việc các em gặp khó khăn trong việc làm văn và không còn hứng thú đối với phân môn này Chính vì thế kết quả của việc dạy học trong phân môn Tập làm văn chưa đạt được những hiệu quả tối đa Đây là một trong những vấn đề đáng lo ngại của giáo viên, phụ huynh học sinh và cả những nhà giáo dục Để giúp học sinh đạt

được kết quả cao hơn trong phân môn Tập làm văn nên tôi chọn đề tài: “Vấn đề dạy

học Tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Cần Thơ, thực trạng và giải pháp.”

2 Lịch sử nghiên cứu

Tập làm văn có thể được xem là một phân môn khó và rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học Việc nghiên cứu để tìm ra những biện pháp nâng cao chất lượng trong phân môn Tập làm văn được các nhà giáo dục quan tâm được thể hiện và chia sẻ dưới

Trang 6

Trước tiên, vấn đề kinh nghiên cứu nhằm tìm và đổi mới các phương pháp dạy học sao cho phù hợp và có hiệu quả khi dạy Tập làm văn thể hiện trong các bài viết:

“Sáng kiến kinh nghiệm – Hướng dẫn học sinh lớp 2 học Tập làm văn” của giáo viên Phạm Thị Thương Huyền trường tiểu học Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội Trong bài viết tác giả đã phân tích tầm quan trọng phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 2

Do vốn từ ngữ của học sinh còn rất hạn hẹp, các em chưa biết cách diễn đạt, đồ dùng dạy học chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu bài dạy Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích rõ thời lượng và phương pháp ôn tập trong phân môn Tập làm văn lớp 2 để học sinh học tập tích cực và chủ động hơn

Những khó khăn và thuận lợi trong quá trình dạy và học trong phân môn Tập làm văn lớp 3 và đưa ra những biện pháp rèn luyện kỹ năng nói - viết một cách hiệu quả bằng cách trang bị kiến thức cho học sinh về vốn từ, cách tiếp nhận các văn bản nói hoặc viết, cách để học sinh tìm ,hiểu bài, hướng cho học sinh tìm ý và cách diễn đạt ý trong bài văn của mình Đố là nội dung của bài viết “Rèn kỹ năng nói – viết qua phân môn Tập làm văn lớp 3, góp phần nâng của chất lượng môn Tiếng Việt” của giáo viên Bùi Thu Sương, trường Tiểu học Ba Tri, Bến Tre

Bên cạnh đó, văn Miêu tả là một trong những nội dung quan trọng trong phân môn Tập làm văn Bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4” của giáo viên Trần Thị Ngọc Uyên ở Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh đã nêu cách rèn kỹ năng làm văn Miêu tả, kỹ năng làm văn miệng, kỹ năng viết, kỹ năng nhận xét, phát hiện lỗi sai, cách lập dàn ý chi tiết Ngoài ra, bài viết còn nêu cụ thể phương pháp thu thập các bài văn mẫu, văn hay và cách phân tích những điểm hay, chọn lọc để làm phong phú thêm vốn từ cho học sinh

khi làm văn Bài viết “Sáng kiến kinh nghiệm – Một số trò chơi giúp các tiết dạy văn

miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp 4 đạt hiệu quả” của một giáo viên trường

Tiểu học Bùi Chát, thành phố Hội An – Đà Nẵng đã tìm hiểu mục đích và cách tổ chức một trò chơi trong tiết dạy văn Miêu tả tạo cho học sinh cảm thấy hứng thú, thoải mái khi học nhằm củng cố, khắc sâu kiến thức mà các em đã được học

Đối với việc dạy và học trong phân môn Tập làm văn ở lớp 5 có bài viết: “Sáng kiến kinh nghiệm – Dạy Tập làm văn tiết trả bài lớp 5” của một giáo viên trường Tiểu

Trang 7

trạng học văn của học sinh lớp 5, đưa ra những nguyên nhân dẫn đến chất lượng kém bài văn của học sinh Tác giả còn nhấn mạnh vai trò của tiết trả bài Tập làm văn và đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng làm văn cho học sinh ở 3 nội dung: chấm bài (chỉ ra lỗi sai, nêu lên ưu, nhược điểm của từng bài viết), thiết kế bài dạy (các bước tiến hành dạy), lên lớp (sửa những lỗi sai cân thiết cho học sinh)

Ngoài ra còn rất nhiều bài viết khác viết về thực trạng đáng báo động trong việc dạy học trong phân môn Tập làm văn ở Tiểu học Đặc biệt là bài viết “Dạy Tập làm văn ở Tiểu học chưa ổn” của tác giả Nguyễn Thanh Dũng, giáo viên trường THCS Phước Lý, huyện Cần Giuộc, Long An Bài viết đã đề cập đến vấn đề sử dụng phương pháp chưa hợp lý của giáo viên khi cho học sing học thuộc lòng những bài văn mẫu trong những lần kiểm tra, thi cử Bên cạnh đó, việc chạy theo thành tích mà không chú trọng đến khả năng tiếp nhận, cảm thụ văn học của học sinh

Tuy vấn đề trên đã được nhiều nhà giáo dục đề cập và nghiên cứu nhưng vẫn còn nhiều khía cạnh chưa được khai thác và tìm hiểu sâu nên việc dạy học trong phân môn Tập làm văn ở Tiểu học chưa đạt chất lượng cao Vì vậy, vấn đề dạy học trong phân môn Tập làm văn ở Tiểu học mở ra những hướng đi mới cho người nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

- Khảo sát thực trạng dạy học tập làm văn tại một số trường tiểu học

- Chỉ ra yêu cầu những đề xuất, những chiến lược dạy học tập làm văn nhằm phát huy kỹ năng viết văn cho học sinh tiểu học

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Học sinh lớp 3

- Phạm vi nghiên cứu: vấn đề dạy học Tập làm văn cho học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Cần Thơ, thực trạng và giải pháp

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra thông qua việc khảo sát, đặt câu hỏi trên phiếu đánh giá gửi cho HS và GV thông qua bài làm văn của HS nhằm tìm hiểu thực trạng làm văn của các em

Trang 8

- Phương pháp thống kê được sử dụng để thống kê kết quả phiếu khảo sát thực trạng viết văn của HS

- Phương pháp thực nghiệm bằng cách dạy một số tiết tập làm văn để nắm

rõ thực trạng làm văn của các em

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát chung về phân môn Tập làm văn trong trường tiểu học

Chương 2: Khái quát về chương trình Tập làm văn và khảo sát thực trạng dạy học

Tập làm văn khối lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản

Chương 3: Phương hướng cải thiện kỹ năng nói, viết và văn miêu tả trong dạy học

Tập làm văn

Trang 9

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN

TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC

Tập làm văn là tên một phân môn học của Tiếng Việt chỉ hai kỹ năng cần rèn cho học sinh đó là nói và viết Đây là hai kỹ năng để tạo lập văn bản

1.1 Mục tiêu của việc dạy học Tập làm văn

Mục tiêu của môn học Tập làm văn là giúp học sinh rèn luyện kỹ năng nói và viết

Với Tập làm văn, cái đích đó là kỹ năng nói, viết theo chuẩn hóa trung bình từng cấp về từng kiểu loại văn bản Ở bậc tiểu học, các em có thể chỉ cần nói đúng, viết đúng những câu, những bài nói, bài viết ngắn gọn phù hợp với mức ban đầu

Nói đến kỹ năng ngôn ngữ ở Tiểu học không thể đòi hỏi năng lực ấy ở mức nghệ thuật văn chương Nhưng có thể đòi hỏi nắm vững và vận dụng những quy luật giao tiếp ngôn ngữ thông thường Bài tập làm văn, thực chất đó vẫn là một văn bản giao tiếp gián tiếp với một đối tượng cụ thể Tất cả các lý thuyết và kinh nghiệm tạo lập một văn bản chỉ là cách nói phù hợp quy ước chung trong trường hợp ấy mà thôi Khi nắm vững yêu cầu cơ bản về giao tiếp người ta sẽ dễ dàng học tập cách làm ngôn bản, văn bản cụ thể qua cách học ở trường hay tự học qua mẫu thực tế sau này (theo đúng cách đã được dạy ở trường)

Cái cuối cùng ở Tập làm văn là qua các giờ tập nói, tập viết, học sinh sẽ có được năng lực tạo lập ngôn bản, văn bản phù hợp, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống ở trường học hiện tại và trường đời sau này

Như ta đã biết, dạy Tập làm văn là nhằm phát triển và hoàn thiện năng lực văn học cho học sinh trên 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, trong đó có kỹ năng nói có vai trò quan trọng trong đời sống học sinh, nó giúp các em hình thành các kỹ năng học tập khác Vì thế, mục đích cao nhất của Tập làm văn là rèn kỹ năng nói cho học sinh kỹ năng nói cho học sinh giúp các em sử dụng Tiếng Việt một cách có hệu quả trong học tập và trong giao tiếp trong gia đình, nhà trường và xã hội Đối với học sinh lớp 3 các em còn hạn về vốn từ nghèo nàn nên khả năng tạo lập thành một văn bản hoàn chỉnh của các em còn

Trang 10

hạn chế Ngôn ngữ nói là ngôn ngữ được cảm xúc trực tiếp, người nói, người nghe có thể nắm bắt được những nội dung cần trao đổi và đạt được mục đích của giao tiếp Qua ngôn ngữ nói ta dễ nhận thấy trí tuệ, tâm hồn của người nói bởi lời nói luôn mang phong cách riêng của mỗi người Trong lời nói, cần thể hiện tư duy, nếu tư duy tốt lời nói sẽ dễ dàng, ngắn gọn, hấp dẫn, thuyết phục được người nghe, ngược lại nếu nói ấp úng, không rõ ràng sẽ không thuyết phục được người nghe và đôi khi còn hiểu sai ý của mình muốn nói Vì thế, mục đích của giao tiếp sẽ khó thực hiện hoàn chỉnh

Để có lời hay ý đẹp mỗi người cần phải rèn luyện trong quá trình lâu dài Những giờ học Tập làm văn chính là những giờ học hình thành cho học sinh những kỹ năng nói đầu tiên, ở lứa tuổi này các em đã có một sự thay đổi đáng kể về đặc điểm tâm sinh lý Các em đã dần dần hình thành quá trình tự nhận thức của bản thân tuy ở mức độ chưa cao, một số em sử dụng các công cụ trực quan do độ tuổi còn nhỏ Ở lớp 3, đây là giai đoạn đầu tiên các em được làm quen và biết đến môn Tập làm văn, do đó khi các em chưa biết gì nhiều về Tập làm văn, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh các thói quen tốt về kỹ năng diễn đạt để tạo nền tảng giúp các em học tốt văn sau này Do đó, Tập làm văn còn rèn luyện cho các em kỹ năng nói, dạy các em biết tổng hợp các kiến thức

từ các phân môn khác như: Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả cùng các môn học khác và những kinh nghiệm sống mà các em có được Tuy cùng chung một vấn đề nhưng khả năng tiếp nhận của mỗi em là khác nhau do đó giáo viên cần phải theo dõi, quan tâm tới đặc điểm riêng của mỗi cá nhân học sinh để kịp thời uốn nắn sao cho phù hợp với hoàn cảnh riêng của mỗi em

Bên cạnh việc hình thành kỹ năng nghe – nói, phân môn Tập làm văn còn giúp các em hình thành kỹ năng viết: nắm kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng ngữ pháp, bố cục văn cảnh hoặc môi trường giao tiếp, mỗi bài văn của học sinh không đơn thuần là kể, là thuật lại mà thông qua đó còn thể hiện tình cảm, suy nghĩ, cảm xúc, bày tỏ thái độ hay phê phán của các em Thông qua bài làm của các em người đọc hiểu được tâm tư, tình cảm của các em về một vấn đề nào đó

Ngoài ra, kỹ năng viết văn là một dạng bài nòng cốt trong phân môn Tập làm văn Nó đòi hỏi học sinh huy động vốn sống hằng ngày, vốn từ phong phú, sự quan sát tinh tế, óc tưởng tượng sáng tạo Do đó, khi hướng dẫn học sinh làm bài giáo viên cần

Trang 11

đánh giá sự việc đó ra sao, như thế nào? Giáo viên cần lưu ý, nhấn mạnh cho học sinh biết rõ về đối tượng mà đề yêu cầu, cách viết và trình bày đúng yêu cầu của một bài văn, nội dung sắp xếp hợp lý theo trình tự

óc và tâm hồn mỗi học sinh có nhiều điều muốn nói hay viết ra, và những điều đó được suy nghĩ một cách rõ ràng thì khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ của các em sẽ được tăng lên và có ý nghĩ hơn

Về mặt sư phạm, làm văn là quá trình mỗi học sinh tích cực vận dụng kiến thức

và nhiều kỹ năng khác nhau để xây dựng chuỗi các ý nghĩ nhằm giải quyết vấn đề bài làm đặt ra

Để tạo lập một ngôn bản thành công, học sinh phải sử dụng nhiều loại kỹ năng

đã được hình thành và phát triển từ việc học các phân môn khác của môn Tiếng Việt như kỹ năng viết chữ, viết chính tả, kỹ năng đọc nắm ý, kỹ năng nghe hiểu, kỹ năng sử dụng từ ngữ, câu thích hợp Mặt khác, sản phẩm văn học của học sinh còn là kết quả vận dụng tổng hợp nhiều kiến thức và kỹ năng đạt được từ các môn học khác Hơn nữa, những bài văn tốt không chỉ là kết quả của quá trình vận dụng kiến thức và kỹ năng mà còn là sự thể hiện những phẩm chất tâm hồn, kinh nghiệm cá nhân của người viết Tính chất thực hành tổng hợp và sáng tạo của hoạt động làm văn như thế nào cho thấy kết quả của việc dạy học làm văn không chỉ do phân môn Tập làm văn quyết định Kết quả làm văn của học sinh đạt được khi tiến trình dạy học môn Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác ở bậc Tiểu học thật sự được thực hiện theo hướng tích hợp

Trang 12

qua quá trình dạy học môn Tiếng Việt cũng như các môn học khác chú ý giáo dục và rèn luyện cho học sinh cả hai mặt: tri thức – kỹ năng và tâm hồn

Về mặt ngôn ngữ, làm văn là tạo lập các loại văn bản (theo những phong cách – thể loại khác nhau) ở dạng nói hay dạng viết để giao tiếp

Không có nhu cầu giao tiếp thì học sinh sẽ khó nói hay viết thành văn bản Việc dạy làm văn cính là dạy học sinh cách thức tổ chức giao tiếp bằng văn bản Việc giao tiếp bằng văn bản không chỉ đơn thuần nhằm mục đích thông tin mà còn tác động đến người nhận (người nghe, người đọc) sao cho họ hiểu, họ chia sẻ hay lĩnh hội được ý định giao tiếp của người viết hay nói Vì vậy, nhìn chung, việc xây dựng bất kì bài văn nào cũng đòi hỏi học sinh không chỉ biết cách tổ chức các đơn vị ngôn ngữ, mà còn phải xử lý, vận dụng mối quan hệ giữa bài viết của mình với các yếu tố khác nằm ngoài ngôn ngữ như yếu tố kinh nghiệm, vốn sống, hiểu biết về văn hóa xã hội, yếu tố đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp… (Nguyễn Quang Ninh, 1995)

Về mặt đánh giá kết quả giáo dục, sản phẩm làm văn của học sinh là thước đo năng lực sử dụng tiếng Việt của các em

Kết quả học tập trong lĩnh vực này phản ảnh trực tiếp tình trạng mục tiêu tổng quát nhất của bộ môn tiếng Việt ở tiểu học được thực hiện trong hiện thực Thực vậy, cách nhìn nhận tầm quan trọng của hoạt động làm văn theo cách trên được tìm thấy trong nhận định dưới đây:

Môn làm văn góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy

và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học… (Lê Phương Nga, 1995, tr.120)

“Dạy tập làm văn là dạy cho học sinh tạo lập ngôn bản – đơn vị cao nhất, cuối cùng, đơn vị cơ bản của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Vì vậy, năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ của học sinh được thể hiện rõ nhất, tập trung và toàn diện nhất trong việc làm bài tập làm văn” (Nguyễn Thị Xuân Yến, 2002)

1.3 Những nguyên tắc dạy học làm văn ở Tiểu học

Theo quan điểm giao tiếp, trong dạy học tiếng, giáo viên là một người điều hành và

là người làm dễ dàng quá trình sử dụng ngôn ngữ của học sinh chứ không phải là người

Trang 13

truyền thụ kiến thức ngôn ngữ hoặc ý tưởng cho đề văn Nếu giảng dạy là một nghệ thuật, chúng ta cần nhớ rằng điều này không có nghĩa là có nhiều ý tưởng Thay vì đổ tràn các ý tưởng hay vào lớp học, chúng ta cần rút ra những điều quan trọng nhất, những điều chúng

ta tin tưởng để sang tạo nên cái gì đó thật đẹp Để dạy tốt, chúng ta không cần quá nhiều

kỹ thuật, hoạt động và phương pháp Chúng ta cần cảm cái gì là chủ yếu trong giảng dạy Calkins (1986), và Nicoll & Robert (1993) với tư cách là những nhà giáo nhiều khinh nghiệm trong dạy làm văn đã đúc kết một số điều chủ yếu trong quá trình tổ chức dạy học Tập làm văn Các ý kiến của hai tác giả này thể hiện đậm nét quan điểm dạy học theo hướng giao tiếp kết hợp với việc nhấn mạnh tư tưởng dạy học hướng về người học: từ người học, vì người học và cho người học

Hoạt động tập làm văn cần được tổ chức như một việc làm có mục đích đối với học sinh, nghĩa là học sinh cảm nhận mình là người nói hoặc người viết

Hoạt động tập làm văn nói hoặc viết cần được thực hiện kết kết hợp một cách hệ thống với hoạt động ngôn ngữ khác như nói/ viết, nghe và đọc sao cho mỗi học sinh có cơ hội nhúng sâu trong hoạt động làm văn

Tổ chức, tạo điều kiện cho học sinh tự lực suy nghĩ, bộc lộ ý nghĩ chân thực, rèn kỹ năng phát triển ý nghĩ theo trường liên tưởng – tưởng tượng một cách sáng tạo

Đánh giá bài văn của học sinh cần khuyến khích năng lực sử dụng tiếng Việt phong phú và sáng tạo, mang bản sắc kinh nghiệm và cảm xúc của cá nhân, cần cho những nhận xét, phản hồi cụ thể, tích hợp

Trang 14

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ CHƯƠNG TRÌNH TẬP LÀM VĂN

VÀ KHÁT THỰC TRẠNG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN KHỐI LỚP 3

TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN QUỐC TOẢN 2.1 Chương trình phân môn Tập làm văn ở khối lớp 3

2.1.1 Nội dung của chương trình

Chương trình Tập làm văn ở khối lớp 3 chủ yếu giúp học sinh rèn luyện các kỹ năng nói, viết, nghe nhằm phục vụ tích cực cho việc học tập, giao tiếp và ứng xử có văn hóa, đồng thời còn chuẩn bị cho yêu cầu học Tập làm văn ở giai đoạn sau (lớp 4, 5), cụ thể:

+ Thực hành về một số kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày như: điền vào tờ giấy in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức cuộc họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp, trường, ghi chép sổ tay,…

+ Thực hành rèn kỹ năng diễn đạt (nói, viết), như: kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh ảnh, bằng câu hỏi

+ Thực hành kỹ năng nghe: dựa vào câu hỏi gợi ý để kể lại được nội dung chính của mẫu chuyện đã được nghe, nghe – hiểu được ý kiến của bạn và có thể nêu ý kiến

+ Tiếp tục rèn luyện kĩ năng viết, nói thông qua kể chuyện và miêu tả như kể một

sự việc đơn giản, tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi

+ Rèn luyện kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe – kể và các hoạt động học tập trên lớp

Trang 15

Kỹ năng

Các bài học rèn luyện cho học sinh những kỹ năng sản sinh ngôn bản cụ thể như sau:

- Kỹ năng định hướng hoạt động giao tiếp

+ Nhận diện đặc điểm văn bản

+ Phân tích đề bài, xác định yêu cầu đề bài

- Kỹ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp:

+ Xác định dàn ý của bài văn đã cho

+ Tìm ý và sắp xếp thành dàn ý trong bài văn kể chuyện

+ Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả (nói

về người hàng xóm, lễ hội,…)

- Kỹ năng thực hiện hóa hoạt động giao tiếp:

+ Xây dựng đoạn văn (chọn từ, tạo câu, viết đoạn)

+ Liên kết các câu thành đoạn văn, liên kết các đoạn thành bài văn Bước đầu viết được bài văn theo câu hỏi gợi ý có độ dài từ 7 – 10 câu

Viết được các văn bản thông thường như: thư, đơn

+ Viết thư, viết đơn, điền vào tờ giấy in sẵn

- Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp:

+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu cầu cần đạt

+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt

Lưu ý: nội dung về kiến thức và kỹ năng làm văn ở lớp 3 phải hoán triệt tinh thần

tích cực hóa học tập của các em: học sinh tiếp nhận kiến thức thông qua yêu cầu bài tập phải phù hợp với lứa tuổi, tâm sinh lý, khả năng

Nhìn chung, phân môn Tập làm văn ở khối lớp 3 có một số đặc điểm chung như

Trang 16

Về nội dung: Chương trình Tập làm văn ở lớp 3 được cụ thể hóa trong SGK Tiếng Việt 3 chủ yếu qua các nội dung: Kể chuyện, Viết thư, Viết đơn, Điền vào tờ giấy in sẵn,…

2.2 Khảo sát thực trạng làm văn hiện nay của học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, TP Cần Thơ

2.2.1 Mục đích khảo sát

Để tìm thực tế tình học học về những thuận lợi, khó khăn, phương pháp dạy học, khả năng học,… cũng như thái độ, tâm lý của học sinh lớp 3 như thế nào khi học Tập làm văn, tôi đã tiến hành khảo sát 180 học sinh cùng 9 giáo viên khối 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản thông qua phiếu khảo sát gồm 21 câu hỏi

2.2.2 Cách tiến hành

- Thiết kế câu hỏi (dạng trắc nghiệm) để khảo sát ý kiến của học sinh, giáo viên

- Phát phiếu khảo sát ý kiến

- Thống kê kết quả khảo sát

2.2.3 Quá trình khảo sát

- Quá trình khảo sát diễn ra tại trường Tiểu học Trần Quốc Toản, đường Mậu Thân, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ

- Thời gian khảo sát diễn ra từ ngày 26/02/2015 đến ngày 12/04/2015

2.2.4 Nội dung khảo sát

- Khảo sát học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản thông qua phiếu khảo sát được thiết kế gồm 21 câu hỏi, trực tiếp phát cho 180 học sinh Số phiếu thu về là

Trang 17

Thống kê kết quả trả lời từ các phiếu khảo sát thu về của giáo viên, tôi làm bảng thống kê sau:

Trang 18

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Trang 19

Khảo sát câu hỏi số 7 ở 9 giáo viên lớp 3: “Theo thầy (cô) làm thế nào để việc dạy và học môn Tập làm văn tốt hơn?”, kết quả mỗi giáo đưa ra có nhiều cách dạy giống nhau cũng có một số giáo viên khác nhau, cụ thể các cách dạy đó như sau:

- Đề văn đưa ra phải sát với thực tế, phù hợp với từng vùng miền, nội dung gần gũi với các em hơn

- Giáo viên đọc nhiều sách, tìm thêm tài liệu để tham khảo

- Nghiên cứu kỹ bài dạy trước khi lên lớp

- Tạo điều kiện tốt nhất để các em học tốt phân môn Luyện từ và câu

- Giáo viên giải thích lý thuyết và yêu cầu, thể loại của từng để bài để học sinh nắm

- Mở rộng vốn sống và vốn hiểu biết của học sinh bằng cách phối hợp với nhà trường tổ chức các chuyến dã ngoại để học sinh có thể tự quan sát và trải nghiệm thực

tế nhiều hơn

Nhận xét kết quả khảo sát của giáo viên

Thông qua các bảng thống kê từ kết quả của 9 giáo viên khối 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản, chúng tôi thành lập biểu đồ và có những nhận xét như sau:

0 0

Bảng 4: Kết quả khảo sát câu 1, 2 của giáo viên

Trang 20

Để thu thập ý kiến nhận xét của giáo viên về tâm lý của học sinh trong giờ học Tập làm văn, chúng tôi nêu ra câu hỏi thứ nhất Từ bảng thống kê và biểu đồ cho thấy: không có giáo viên nào nhận xét học sinh của mình rất hứng thú trong tiết Tập làm văn, có 55.6% giáo viên cho rằng học sinh cảm thấy hứng thú khi học, 33.7% giáo viên nhận xét học sinh không hứng thú trong giờ học và 11.1% giáo viên nhận thấy học sinh chán nản khi học Tập làm văn Nhìn chung, các em hứng thú khi học Tập làm văn Bên cạnh đó, còn có một số em cảm thấy chán, không thích học

Với câu hỏi số 2 chúng tôi đặt ra để biết được mức độ đánh giá của giáo viên về khả năng làm văn của học sinh Quan sát biểu đồ, chúng ta thấy không có giáo viên nào tự đánh giá học sinh của mình đạt loại tốt và yếu, 44.6% giáo viên cho rằng học sinh của lớp mình viết văn ở mức khá, số viên còn lại nhận xét học sinh lớp mình viết văn ở mức trung bình chiếm 55.6%

Để biết giáo viên nhận xét học sinh của lớp mình thích học nội dung nào nhất trong các nội dung của môn Tập làm văn, chúng tôi đã đưa ra câu hỏi số 3 Kết quả nhận về cho thấy hầu như ở mỗi nội dung đều có học sinh yêu thích, tuy nhiên ở nội dung Miêu tả được giáo viên nhận xét không có học sinh nào yêu thích, 11.1% giáo viên nhận xét học sinh lớp mình thích nội dung Kể chuyện; Viết thư là nội dung được học sinh yêu thích nhất chiếm 55.6%; 22.2% giáo viên cho rằng học sinh thích nội dung Điền vào tờ giấy in sẵn; số giáo viên còn lại cho rằng học sinh lớp mình thích nội dung Viết đơn chiếm 11.1%

Thứ tự nội dung trong môn

Tập làm văn

Trang 21

Để biết cụ thể hơn nhận xét của học sinh về các mức độ ở những nội dung khác nhau trong phân môn Tập làm văn, tôi đưa ra câu hỏi số 4 dành cho giáo viên Từ bảng thống kê

và biểu đồ, ta nhận thấy: Chương trình Tập làm văn lớp 3 gồm các nội dung chính: Kể chuyện, Viết thư, Miêu tả; Điền vào tờ giấy in sẵn; Viết đơn Trong các nội dung vừa nêu thì Miêu tả là nội dung khó nhất chiếm 66.8% vì đa phần văn Miêu tả đòi hỏi người làm phải miêu tả một cách cụ thể, chính xác về đối tượng trong khi đó độ tuổi các em còn rất nhỏ nên vốn từ còn hạn chế chưa biết nhiều về đối tượng mà đề yêu cầu, tiếp đến là nội dung Kể chuyện chiếm 33.3%, các nội dung còn lại bao gồm Viết thư, Điền vào tờ giấy in sẵn, Viết đơn giáo viên nhận xét tương đối dễ đối với học sinh

0

33.3 55.6

00

66.7

33.3

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Viết thư

Miêu tả Điền

vào tờ giấy in sẵn

Viết đơn

Thứ tự các nội dung trong môn

Tập làm văn

Rất khó

Khó Trung bình Dễ

Bảng 6: Kết quả khảo sát câu 4 của giáo viên

Để tìm hiểu những khó khăn mà học sinh gặp phải khi học Tập làm văn, chúng tôi đặt mình vào vị trí của học sinh để dự đoán một số vấn đề khó khăn mà học sinh có thể gặp và đưa ra bảng khảo sát Từ kết quả nhận về ta thấy: đa số những khó khăn nêu

ra học sinh đều gặp phải ở những mức độ khác nhau

Trang 22

Trong các vấn đề được nêu thì có ba vấn đề ở mức độ rất thường xuyên đáng báo động bao gồm: học lý thuyết quá nhiều, thực hành ít; không biết cách diễn đạt ý; không biết cách liên kết đoạn, liên kết các câu trong bài văn của mình Mỗi vấn đề chiếm 22.2% từ nhận xét của giáo viên Bên cạnh đó, ở mức độ thường xuyên cũng cần quan tâm bao gồm các vấn đề: khả năng tư duy, cảm thụ văn học còn hạn chế do

độ tuổi các em còn quá nhỏ nên nên khả năng tư duy chưa cao chiếm 66.7% trong các

ý kiến của giáo viên Ngoài ra, vốn từ nghèo nàn chiếm 66.7% trong tổng số ý kiến của giáo viên Đây là các vấn đề đáng lưu ý vì nó là các nguyên nhân chính gây khó khăn cho học sinh khi học Tập làm văn Tuy chỉ ở mức độ thỉnh thoảng nhưng vấn đề viết văn dựa vào bài mẫu chiếm 100% ý kiến của giáo viên, điều này cho thấy việc học sinh còn phụ thuộc vào bài mẫu rất nhiều

22.2

0

33.3 44.4

0

22.2 33.3 44.4

0 22.2 77.8

0 0 33.3 66.7

0 00

44.4 55.6

00

66.7

33.3

0 22.2 77.8

0 22.2 22.2 55.6

0

22.2 33.3 44.4

Bảng 7: Kết quả khảo sát câu 5 của giáo viên

Ngoài ra, để biết được những nhận xét của giáo viên về nguồn tại liệu mà các

em sử dụng cùng với mức độ sử dụng nguồn tài liệu đó, chúng tôi đưa ra câu hỏi số 6 Qua kết quả khảo sát nhận về, chúng tôi thấy đa phần nguồn tài liệu mà các em sử dụng chủ yếu đó là sách giáo khoa được các em sử dụng rất thường xuyên chiếm 33.3% vì sách giáo khoa không những cung cấp những kiến thức cơ bản mà còn là nguồn tài liệu phong phú, gần gũi nhất đối với học sinh Ngoài ra, 44.4% giáo viên

Trang 23

giúp các em tham khảo biết thêm nhiều đoạn văn mở rộng, vốn từ, cách trình bày bài văn khi làm bài với mức độ thường xuyên Bên cạnh đó, Internet là nguồn tài liệu được các em tìm đến phục vụ cho việc học Tập làm văn của mình chiếm 33.3%, tuy bài văn mẫu của giáo viên được các em ít sử dụng làm nguồn tại liệu nhất nhưng theo kết quả theo nhận xét cuả giáo viên thì chiếm 22.2% với mức độ sử dụng thường xuyên

33.3 22.2 33.3

11.1 0

22.2 33.3 44.4

11.1

44.4 33.3

11.1 0

0

33.3 44.4

22.2

0000 0

Bảng 8: Kết quả khảo sát câu 6 của giáo viên

Và để biết được các phương pháp cũng như những đề nghị của giáo viên để việc dạy học Tập làm văn hiệu quả hơn chúng tôi đã khảo sát thông qua câu hỏi số 7: “Theo thầy (cô) làm thế nào để việc dạy và học Tập làm văn tốt hơn?” Theo như chúng tôi được tìm hiểu Tập làm văn có thể được xem là một trong những môn học khó nhất đối với học sinh Vì vậy, việc dạy và học cần được đầu tư khá cao với các biện pháp khác nhau nhằm tăng hiệu quả của việc dạy học Theo ý kiến đa phần giáo viên đưa ra để việc dạy và học tôt môn Tập làm văn: đề văn đưa ra phải sát với thực tế hằng ngày theo từng vùng miền của học sinh đang sinh sống Ngoài ra, giáo viên nên đọc nhiều sách, tìm thêm nhiều nguồn tài liệu để tham khảo Bên cạnh đó, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ bài dạy trước khi lên lớp, tạo không khí thoải mái, hứng thú trong giờ học, hướng dẫn các em nắm rõ yêu cầu đề bài, thường xuyên mở rộng vốn từ để học sinh viết văn tốt hơn, hướng dẫn các em cách tham khảo các nguồn tài liệu đạt kết quả

Trang 24

tạo điều kiện để các em có những chuyến dã ngoại sát với thực tế tạo cho các em có những trải nghiệm, cảm nhận riêng khi viết bài Ngoài ra, phụ huynh cũng cần phải quan sát quá trình học tập và động viên để các em học tốt hơn

b Khảo sát học sinh về việc học Tập làm văn

Thống kê kết quả trả lời từ các phiếu khảo sát thu về của học sinh, tôi làm bảng thống kê sau:

7/180 (3.9%)

46 (25.6%)

(25.6%)

90 (50%)

12/180 (6.7%)

4/180 (2.2%)

(33.9%)

103 (57.2%)

14/180 (7.8%)

2/180 (1.1%)

(21.7%)

70/180 (39.9%)

15/180 (8.3%)

35/180 (19.4%)

21/180 (11.7%)

Bảng 9: Kết quả khảo sát câu 1, 2, 3, 4 của học sinh lớp 3

(6.7%)

44/180 (24.4%)

59/180 (32.8%)

65/180 (36.1%)

(5%)

26/180 (14.4%)

47/180 (26.1%)

98/180 (54.4%)

(11.1%)

79/180 (43.9%)

43/180 (23.9%)

38/180 (21.1%)

Trang 25

Điền vào tờ

giấy in sẵn

5/180 (2.8%)

15/180 (8.3%)

48/180 (26.7%)

112/180 (62.2%)

(4.4%)

39/180 (21.7%)

76/180 (42.2%)

57/180 (31.7%)

Bảng 10 : Kết quả khảo sát câu 5, 6,7, 8, 9 của khối lớp 3

11/180 (6.1%)

Bảng 12: Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3

Đáp án

Câu hỏi

Trang 26

19 46/180

(25.6%)

134/180 (74.4%)

Bảng 13: Kết quả khảo sát câu 19 của học sinh lớp 3

Bảng 14 : Kết quả khảo sát câu 20 của học sinh lớp 3

Khảo sát câu hỏi số 21 ở 180 học sinh lớp 3: “Theo em, làm thế nào để học tốt môn Tập làm văn?”, kết quả học sinh đưa ra nhiều cách học, có em có cách học giống nhau, có em có cách học khác nhau, cụ thể các cách học như sau:

- Đọc kỹ đề bài, bài làm bám sát nội dung yêu cầu đề bài để tránh viết sai và lạc

đề khi làm Tập làm văn (có 92 học sinh đồng ý)

- Đọc nhiều sách gồm nhiều thể loại khác nhau: truyện, báo chí, thơ, văn,… nhằm nâng cao hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, bồi dưỡng tâm hồn tình cảm, đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnh,… của con người Ngoài ra, đọc sách để tăng thêm vốn từ, làm giàu từ ngữ, biết cách diễn đạt, học hỏi nhiều ý hay (có 83 học sinh đồng ý)

- Để biết thêm nhiều cách diễn đạt hay, học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm, mở rộng vốn từ khi làm văn nên đọc thêm nhiều bài văn hay, văn chọn lọc (có 50 học sinh đồng ý)

- Để viết được một bài văn hoàn chỉnh, đầy đủ thông tin về đối tượng vì vậy cần tìm hiểu rõ đối tượng mà đề yêu cầu (có 33 học sinh đồng ý)

Trang 27

- Lắng nghe giáo viên giảng bài để nắm vững kiến thức về cấu trúc của một bài văn và được giáo viên cung cấp thông tin về đối tượng, ghi nhận lại để có nhiều tài liệu cho bài văn (có 26 học sinh đồng ý)

- Ngoài ra, với thời đại mới hiện đại về công nghệ thông tin như hiện nay, học sinh lên Internet để tìm hiểu thông tin về đối tượng, cũng như tham khảo một số bài văn trên mạng (có 16 học sinh đồng ý)

- Để biết cách trình bày cấu trúc một bài văn, cũng như cách diễn đạt ý sao cho phù hợp, biết sơ lược về bài văn mình sắp làm thì học sinh chọn cách đọc văn mẫu (có

14 học sinh đồng ý)

- Và để biết bài văn của mình cần viết những gì, các ý được sắp xếp như thế nào cho phù hợp thì các em bám sát vào những câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa (có 5 học sinh đồng ý)

- Ngoài những nguồn tài liệu về đối tượng từ sách giáo khoa, trên mạng,… học sinh có thể tham khảo ý kiến của cha, mẹ để hoàn thành bài văn của mình (1 học sinh đồng ý)

- Luyện viết văn nhiều từ những đề văn khác nhau là một trong những cách để sinh làm văn tốt hơn (1 học sinh đồng ý)

Nhận xét kết quả khảo sát việc học Tập làm văn

Thông qua các bảng thống kê từ kết quả khảo sát 180 học sinh khối lớp 3, tôi lập thành biểu đồ và có những nhận xét như sau:

12.2 58.3

3.9 25.6 41.1 50

6.7 2.2 33.9 57.2

7.8 1.1 0

10 20 30 40 50 60

Bảng 15: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 1, 2, 3 của học sinh lớp 3

Trang 28

Để thu thập ý kiến nhận xét của học sinh lớp 3 về chương trình Tập làm văn đang được học, tôi nêu ra câu hỏi khảo sát đầu tiên Từ bảng thống kê và biểu đồ ta thấy, có 58.3% học sinh đều nhận xét chương trình Tập làm văn ở lớp 3 đang được học ở mức độ dễ Số học sinh chọn mức độ khó là 25.6%, 12.2% chọn mức độ rất

dễ Trong khi đó rất ít học sinh chọn mức độ rất khó chiếm 3.9% Từ những số liệu

về tỉ lệ phần trăm tương ứng nói trên, ta có thể kết luận: Đối với học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản thì chương trình Tập làm văn đang được học hiện nay là dễ

Để nắm bắt và biết được tâm lý của học sinh lớp 3 khi học Tập làm văn, tôi tiến hành khảo sát qua câu hỏi thứ 2 Qua khảo sát 180 học sinh lớp 3 nhận thấy các em đều có tâm lý hứng thú và rất hứng thú khi học tập làm văn Trong đó, tỉ lệ học sinh có tâm lý hứng thú là 50% và tỉ lệ học sinh có tâm lý rất hứng thú chiếm 41.1% Bên cạnh đó, có một số em không có hứng thú khi học Tập làm văn chiếm 6.7% và 2.2% học sinh cảm thấy chán nản khi học môn này Nhìn chung, trong giờ học văn đa số học sinh cảm thấy hứng thú Tuy nhiên, vẫn còn không ít học sinh cảm thấy không hứng thú và chán nản trong giờ học Tập làm văn

Khi được biết về khả năng viết văn hiện tại của mỗi học sinh ở những mức

độ nào tôi đã tìm hiểu thông qua câu hỏi số 3 Từ số liệu thu thập được chúng ta nhận thấy rằng học sinh tự đánh giá khả năng viết văn của mình ở mức độ khá chiếm 57.2% Ngoài ra, số học sinh tự nhận khả năng viết văn ở mức độ tốt là 33.9% Bên cạnh số học sinh viết văn tốt thì số học sinh tự nhận viết văn ở mức trung bình chiếm 7.8% Và1.1% là số học sinh tự nhận mình còn yếu khi viết văn Qua những con số này cho thấy đa phần học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Trần Quốc Toản tương đối học khá văn, tỉ lệ học tốt văn chưa cao Bên cạnh đó, còn không ít học sinh yếu văn Nếu duy trì những con số vừa nêu thì số học sinh giỏi văn sẽ đạt không cao, phần đông chỉ là học sinh khá

Trong chương trình Tập làm văn được lồng ghép các nội dung chính như sau:

Kể chuyện, Viết thư, Miêu tả, Điền vào tờ giấy in sẵn, Viết đơn thì các em hứng thú với từng nội dung khác nhau Với nội dung đơn giản, dễ dàng trải nghiệm cảm xúc của mình thông qua bài văn thì ta số học sinh rất thích nội dung Viết thư

Trang 29

học chiếm 21.7% Ngoài ra, với việc đơn giản Điền vào tờ giấy in sẵn khi làm bài tạo cảm giác thích thú cho học sinh chiếm 19.4% 11.7% là tỉ lệ học sinh cảm thấy yêu thích khi học nội dung Viết đơn trong môn Tập làm văn Đặc biệt, trong các nội dung được học thì nội dung Miêu tả chiếm tỉ lệ thấp nhất là 8.3% Các em cảm thấy gặp nhiều khó khăn khi học nội dung này nên đa số các em không thích thú và cảm thấy chán nản khi học

Các nội dung trong môn TLV

Bảng 16: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 4 của học sinh lớp 3

Để biết được từng nội dung trong phân môn Tập làm văn: Kể chuyện, Viết thư, Miêu tả, Điền vào tờ giấy in sẵn, Viết đơn có phù hợp với khả năng làm bài cuả các

em hay chưa? Mỗi nội dung được các em cảm nhận ở từng mức độ như thế nào? Tôi

đã tìm hiểu thông qua các câu hỏi 5, 6, 7, 8, 9

Theo kết quả khảo sát được nhận về, đa số các em học sinh lớp 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản cảm nhận nội dung Miêu tả trong phân môn Tập làm văn là khó nhất (chiếm 65%) Vì ở thể loại này, đối với lứa tuổi và kiến thức hiện tại của các em còn nhiều mặt hạn chế: vốn từ nghèo nàn, chưa có nhiều kiến thức về đối tượng, khả năng diễn đạt chưa cao,… Trong khi đó, văn Miêu tả đòi hỏi người làm phải tả một cách sát thực, chi tiết, ngôn từ trau chuốt, bài văn bộc lộ hết cảm xúc của tác giả, Đó

Trang 30

Để hiểu rõ hơn về những khó khăn mà học sinh gặp phải trong quá trình làm văn, tôi đã đặt mình vào vị trí của học sinh để dự đoán một số vấn đề khó khăn mà học sinh gặp phải và đưa ra bảng khảo sát Qua kết quả thu nhận, học sinh gặp khó khăn ở các vấn đề khác nhau và từng mức độ khác nhau Kế đến là nội dung Kể chuyện chiếm 31.1%, các em còn hạn chế về ngôn từ, chưa biết cách diễn đạt ý nên các em cảm thấy lúng túng trong quá trình kể lại câu chuyện Viết đơn chiếm 26.1%, tiếp theo là nội dung Viết thư chiếm 19.4% và nội dung dễ nhất đối với các em là Điền vào tờ giấy in sẵn chiếm 11.1%

6.7

24.4 32.8 36.1

5 14.4 26.1 54.4

11.1

43.9

23.9 21.1

2.8 8.3 26.7 62.2

4.4 21.7

42.2

31.7

0 10 20 30 40 50 60 70

Viết thư Câu 6

Miêu tả Câu 7

Điền vào

tờ giấy

in sẵn Câu 8

Viết đơn Câu 9

Rất khó Khó Trung bình Dễ

Bảng 17: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 5, 6, 7, 8, 9 của học sinh lớp 3

Do các em là những học sinh lớp 3, với độ tuổi còn nhỏ nên việc tự nhận định

và kiểm soát việc làm còn rất khó khăn về từng mức độ khác nhau như: rất thường xuyên, thường xuyên, thỉnh thoảng, không bao giờ nên tôi chỉ tiến hành khảo sát ở hai mức độ là có hoặc không

Trong các vấn đề được nêu mà học sinh mắc phải tỉ lệ % các lỗi các em thường gặp chiếm khá cao, các con số này đáng lưu ý Đặc biệt, vấn đề “ Trong bài văn của mình, các em thường sai lỗi chính tả” chiếm tỉ lệ cao nhất (43.9%) Tiếp đến, vấn đề “ Bài văn của các em thường bị lặp từ” chiếm tỉ lệ mắc phải cũng khá cao (42.2%)

Trang 31

chưa biết cách sử dụng từ đồng nghĩa thay thế nên bài văn của các em thường xuyên

bị lặp từ dẫn đến cách diễn đạt còn lủng củng; Đề văn đưa ra thường vượt quá khả năng làm bài của các em chiếm 37.8% Đây là một trong những vấn đề đáng quan tâm

và cần lưu ý vì nó góp phần hạn chế khả năng làm văn của học sinh; 35% là tỉ lệ các

em khi viết sang một câu khác hay một đoạn văn khác, học sinh chưa biết cách liên kết câu, liên kết đoạn để chuyển sang ý khác Các em chỉ viết liên tục nội dung mình cần trình bày theo những câu hỏi gợi ý

Ngoài các vấn đề nêu trên, một số vấn đề khác tuy chiếm tỉ lệ không cao nhưng cũng cần lưu ý Trong đó có đến 32.8% học sinh chưa biết cách diễn đạt ý trong bài văn của mình Các em chỉ biết viết theo suy nghĩ, chưa biết cách sắp xếp trình tự các ý theo logic Vấn đề “Việc học bị chi phối bởi nhiều môn học khác” chiếm 31.7% do trong cùng một buổi học, các em phải học tích hợp nhiều môn học khác nhau (Toán, Địa lý, Âm nhạc, Thể dục, Anh văn,…) mỗi môn học đều cần phải nắm vững kiến thức từng môn Do đó, khả năng chi phối bởi thời gian dành cho các môn học khác ảnh hưởng đến việc học tập của học sinh Ngoài ra, việc không theo kịp bài giảng của giáo viên cũng là một trong những vấn đề làm hạn chế khả năng học văn của các em chiếm 23.9% Điều này cho thấy các em không nắm vững cấu trúc bài văn, những thông tin

về đối tượng do giáo viên cung cấp dẫn đến việc các em không trình bày đúng cấu trúc bài văn theo yêu cầu và không biết viết gì trong bài văn của mình 20.6% là tỉ lệ học sinh không hiểu yêu cầu đề bài dẫn đến việc viết lạc đề

31.7

68.3

37.8 62.2

23.9 76.1

20.6

79.4 67.2

32.8

65

35 42.2

57.8

43.9 56.1

Bảng 18: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18 của học sinh lớp 3

Trang 32

Để biết được mức độ tự đánh giá khả năng sử dụng từ, cụm từ để viết văn của bản thân mỗi học sinh tôi tiến hành khảo sát thông qua câu số 14 Kết quả nhận lại cho thấy 41.1% các em tự đánh giá mình sử dụng tốt từ, cụm từ để viết văn, 52.8% là

tỉ lệ trung bình, 6.1% là tỉ lệ sử sụng từ, cụm từ còn yếu Nhìn chung, cách sử dụng từ của các em chỉ ở mức trung bình Tuy tỉ lệ yếu chiếm không cao nhưng cũng cần phải lưu ý tránh để tỉ lệ này tăng lên

Mức độ sử dụng từ, cụm từ khi viết văn

Bảng 19: Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3

Làm văn là do suy nghĩ của mỗi cá nhân viết ra, phù hợp với từng hoàn cảnh, cảm nhận riêng của mỗi người Do đó, khi nhận được kết quả khảo sát từ câu 19 về vấn đề ý thức làm văn của học sinh, chúng tôi ghi nhận được 74.4% học sinh tự suy nghĩ làm bài Bên cạnh đó còn không ít học sinh làm dựa vào bài văn mẫu chiếm 25.6%, đây là vấn đề đáng quan tâm vì nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra và những con số này còn tăng lên sẽ làm cho học sinh thụ động, không suy nghĩ, làm bài một cách rập khuôn máy móc, khả năng biểu lộ cảm xúc của các em bị hạn chế ảnh hưởng đến kết quả học văn của học sinh

Trang 33

Để biết được các em sử dụng những nguồn tài liệu nào để phục vụ cho việc viết văn của mình, chúng tôi đã đưa ra một số nguồn tài liệu để các em lựa chọn và kết quả thu nhận được: sách giáo khoa là nguồn tài liệu chính được các em sử dụng nhiều nhất chiếm 81.7% Thông qua sách giáo khoa các em không những được các thông tin cần thiết để nắm vững các kiến thức cơ bản mà các em còn được học hỏi thêm về cách diễn đạt ý, liên kết các đoạc văn, mở rộng vốn từ,… Bạn bè là nguồn tài liệu phong phú thứ hai được các học sinh tham khảo, học hỏi lẫn nhau chiếm 32.8% Bên cạnh đó, trong thời đại công nghệ mới hiện nay, tuy với lứa tuổi còn nhỏ nhưng các em đã biết đến Internet và lên mạng tìm kiếm thông tin Đây là cách thức tìm nguồn tài liệu mới nhưng học sinh đã nhanh chóng tiếp cận và chiếm 23.3% Ngoài ra, nguồn tài liệu từ bài mẫu của học sinh (chiếm 15.6%) và nguồn tài liệu từ sách văn mẫu (chiếm 13.9%) Tuy 2 nguồn tài liệu này ít được học sinh chọn nhưng các em vẫn còn sử dụng văn mẫu khi viết văn Vấn đề này cần được xem xét để tránh gia tăng ảnh hưởng đến vấn

đề làm văn của các em

Bài văn mẫu của GV

Sách văn mẫu

Internet Bạn bè

Thứ tự các nguồn tài liệu

Bảng 20: Kết quả thống kê câu 20 của học sinh lớp 3

Tập làm văn có rất nhiều phương pháp để học, để biết được các em học sinh khối 3 trường Tiểu học Trần Quốc Toản đã sử dụng những phương pháp nào tôi dã khảo sát thông qua câu hỏi số 21: “Theo em, làm thế nào để học tốt môn Tập làm

Ngày đăng: 22/12/2015, 00:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Minh Diệu, Nghiên cứu phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học theo hướng đổi mới và hội nhập giáo dục, Tạp chí giáo dục số 339, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phương pháp dạy học văn miêu tả ở tiểu học theo hướng đổi mới và hội nhập giáo dục
2. Nguyễn Ngọc Ngân, Một số ý kiến về đề bài Tập làm văn miêu tả lớp 4,5 hiện nay, Tạp chí giáo dục số 337, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về đề bài Tập làm văn miêu tả lớp 4,5 hiện nay
3. Lê Phước Lộc, Giáo trình lý luận dạy học, NXB Đại học Cần Thơ – Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận dạy học
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ – Lưu hành nội bộ
4. Bùi Thị Mùi, Giáo trình lý luận giáo dục Tiểu học, NXB Đại học Cần Thơ – Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận giáo dục Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Cần Thơ – Lưu hành nội bộ
5. Mai Thị Kiều Phượng, Phương pháp dạy và học kĩ năng làm văn Lựa chọn – Nghe – Nói – Đọc – Viết, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy và học kĩ năng làm văn Lựa chọn – Nghe – Nói – Đọc – Viết
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
6. Mai Thị Kiều Phượng, Phương pháp dạy và học làm văn, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy và học làm văn
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
7. Hoàng Thị Tuyết, Lý luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Thời đại Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Thời đại
11. Lê Thị Diểm Hương, Sáng kiến kinh nghiệm – Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập làm văn,http://tailieu.vn/doc/skkn-phat-huy-tinh-tich-cuc-chu-dong-va-sang-tao-cho-hoc-sinh-lop-3-trong-phan-mon-tap-lam-van-1681260.html, [truy cập ngày 2/4/2015] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng kiến kinh nghiệm – Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo cho học sinh lớp 3 trong phân môn Tập làm văn,http://tailieu.vn/doc/skkn-phat-huy-tinh-tich-cuc-chu-dong-va-sang-tao-cho-hoc-sinh-lop-3-trong-phan-mon-tap-lam-van-1681260.html
9. Trần Thị Châu, Sáng kiến kinh nghiệm – Dạy Tập làm văn lớp 3 như thế nào để đáp ứng nhu cầu đổi mới hiện nay,http://tailieu.vn/doc/sang-kien-kinh-nghiem-day-tap-lam-van-lop-3-nhu-the-nao-de-dap-ung-nhu-cau-doi-moi-hien-nay- Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Kết quả thống kê câu 4 của giáo viên - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 2 Kết quả thống kê câu 4 của giáo viên (Trang 18)
Bảng 4: Kết quả khảo sát câu 1, 2 của giáo viên. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 4 Kết quả khảo sát câu 1, 2 của giáo viên (Trang 19)
Bảng 5: Kết quả khảo sát câu 3 của giáo viên - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 5 Kết quả khảo sát câu 3 của giáo viên (Trang 20)
Bảng 6: Kết quả khảo sát câu 4 của giáo viên. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 6 Kết quả khảo sát câu 4 của giáo viên (Trang 21)
Bảng 7: Kết quả khảo sát câu 5 của giáo viên. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 7 Kết quả khảo sát câu 5 của giáo viên (Trang 22)
Bảng 8: Kết quả khảo sát câu 6 của giáo viên. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 8 Kết quả khảo sát câu 6 của giáo viên (Trang 23)
Bảng 9: Kết quả khảo sát câu 1, 2, 3, 4 của học sinh lớp 3 - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 9 Kết quả khảo sát câu 1, 2, 3, 4 của học sinh lớp 3 (Trang 24)
Bảng 10 : Kết quả khảo sát câu 5, 6,7, 8, 9 của khối lớp 3 - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 10 Kết quả khảo sát câu 5, 6,7, 8, 9 của khối lớp 3 (Trang 25)
Bảng 12: Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3 - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 12 Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3 (Trang 25)
Bảng 13: Kết quả khảo sát câu 19 của học sinh lớp 3 - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 13 Kết quả khảo sát câu 19 của học sinh lớp 3 (Trang 26)
Bảng 16: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 4 của học sinh lớp 3. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 16 Biểu đồ kết quả khảo sát câu 4 của học sinh lớp 3 (Trang 29)
Bảng 17: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 5, 6, 7, 8, 9 của học sinh lớp 3. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 17 Biểu đồ kết quả khảo sát câu 5, 6, 7, 8, 9 của học sinh lớp 3 (Trang 30)
Bảng 18: Biểu đồ kết quả khảo sát câu 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18 của học sinh lớp 3 - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 18 Biểu đồ kết quả khảo sát câu 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 18 của học sinh lớp 3 (Trang 31)
Bảng 19: Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 19 Kết quả khảo sát câu 14 của học sinh lớp 3 (Trang 32)
Bảng 20: Kết quả thống kê câu 20 của học sinh lớp 3. - vấn đề dạy học tập làm văn cho học sinh lớp 3 tại trường tiểu học trần quốc toản, tp cần thơ thực trạng và giải pháp
Bảng 20 Kết quả thống kê câu 20 của học sinh lớp 3 (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w