Nhưng trong đó, “Mở rộng vốn từ” vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, nên khi gặp những dạng bài tập Mở rộng vốn từ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM TOÁN HỌC
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO
MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM
CHO HỌC SINH LỚP 2
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
ThS Trịnh Thị Hương Nguyễn Thị Hồng Tươi
MSSV: 1110344 Lớp: SP Tiểu Học - K37
CẦN THƠ, 05/2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
- -
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ – khoa Sư Phạm – Bộ môn Toán đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ThS Trịnh Thị Hương, là
người trực tiếp hướng dẫn, hổ trợ, giúp đỡ tôi thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn các bạn sinh viên lớp Sư phạm Tiểu học - K37 đã ủng hộ và động viên tinh thần cho tôi
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng chắc hẳn không tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý Thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Cuối cùng, tôi xin kính chúc Qúy thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe, luôn hạnh phúc và thành công trong mọi lĩnh vực Xin chân thành cảm ơn!
Cần Thơ, ngày 05 tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hồng Tươi
Trang 3QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 3
4 Đối tượng, phạm vi 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp đề tài 4
7 Cấu trúc luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY 6
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học 6
1.1.2 Lí thuyết về từ tiếng Việt 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học 15
1.2.2 Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh 17
1.2.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2 19
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO MỞ RỘNG VỐN TỪ 24
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH LỚP 2 24
2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 2 24
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp 24
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 24
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình 25
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh 25
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 25
2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 25
2.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học
Trang 52.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập 26
2.2.2 Hệ thống bài tập 28
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KẾ HOẠCH BÀI DẠY 78
MỞ RỘNG VỐN TỪ NÂNG CAO THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH LỚP 2 78
3.1 Kế hoạch bài dạy chủ điểm 2: Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà 78
3.2 Kế hoạch bài dạy chủ điểm 3: Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú 81
3.3 Kế hoạch bài dạy chủ điểm 4: Sông biển 87
3.4 Kế hoạch bài dạy chủ điểm 6: Bác Hồ, Nhân dân 91
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt giữ vai trò quan trọng đối với học sinh tiểu học trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (đọc, nghe, nói, viết) để học tập và giao tiếp Việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy
cơ bản, góp phần nâng cao phẩm chất tư duy, năng lực nhận thức Bên cạnh đó, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và tri thức sử dụng Tiếng Việt, giúp học sinh hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học Việt Nam và nước ngoài Thông qua đó cũng bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt
Phân môn Luyện từ và câu là phân môn quan trọng của môn Tiếng việt, nhằm
mở rộng vốn từ, cung cấp những hiểu biết sơ giản về từ loại và về kiểu cấu tạo của các
từ thông qua vốn từ các em sẵn có các từ mới học Đồng thời rèn kỹ năng nói, viết thành câu, dùng một số dấu câu khi viết, cung cấp những mẫu câu cần thiết để học sinh vận dụng trong giao tiếp và học tập
Nhưng trong đó, “Mở rộng vốn từ” vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như: Vốn từ của học sinh còn nghèo nàn, vốn ngôn ngữ Tiếng Việt còn hạn chế, nên khi gặp những dạng bài tập Mở rộng vốn từ nâng cao các em còn rất lúng túng
Đặc biệt đối với học sinh lớp 2, vốn sống, vốn từ của các em còn quá ít trong khi từ ngữ Việt Nam rất phong phú, đa dạng Xuất phát từ lý do trên, người viết đã
chọn đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho
học sinh lớp 2” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Vài năm gần đây, chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 có nhiều công trình nghiên cứu Các công trình nghiên cứu chủ yếu tìm hiểu những vấn đề lí thuyết về các phương pháp dạy học, hay nghiên cứu những hệ thống bài tập để làm tài liệu tham khảo cho các giờ dạy và học Mà tiêu biểu có thể nhắc đến một số công trình sau:
Tác giả Nguyễn Minh Thuyết với công trình Hỏi đáp về dạy học Tiếng Việt 2
Trang 7câu trả lời Trong đó, tác giả đã đưa ra một số kiểu bài tập rèn luyện về từ và câu ở lớp
2 và hướng dẫn cách dạy các kiểu bài đó, đáp ứng được nhu cầu tham khảo của giáo viên, học sinh Tuy nhiên, những bài tập đưa ra làm ví dụ minh họa được lấy từ Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 mà chưa có thêm các bài tập bổ sung
Tác giả Cao Hòa Bình, Nguyễn Thanh Lâm với Luyện từ và Câu lớp 2 (2011)
gồm 2 chương: Chương 1 trình bày một số điểm cần lưu ý về phần luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 2 chỉ rõ mức độ yêu cầu đối với học sinh trong từng nội dung luyện từ
và câu khi học các chủ điểm Chương 2 trình bày cách giải bài tập luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 2 và các bài tập bổ sung Tài liệu hướng dẫn kỹ cách giải các bài tập trong sách giáo khoa cũng như đưa ra hệ thống bài tập bổ sung phù hợp với nội dung chương trình và trình độ của HS Song hệ thống bài tập chỉ dừng ở những dạng bài tập quen thuộc, ít thấy những dạng bài tập nâng cao cho HS khá giỏi
Tác giả Trần Mạnh Hưởng, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga với cuốn Trò
chơi học tập Tiếng Việt 2 (2007) gồm 2 phần chính: Phần 1 là Những cơ sở lí luận;
Phần 2 là Hệ thống bài tập được thiết kế dưới dạng trò chơi học tập có chọn lọc và chỉnh sửa phù hợp với học sinh lớp 2 Trò chơi đa dạng và có phân mức độ từ dễ đến khó giúp giáo viên lựa chọn phù hợp với năng lực học sinh Nhưng cuốn sách này chưa đưa ra một hệ thống bài tập cụ thể bám sát nội dung và chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt 2
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Hoàng Văn Thung
viết cuốn Dạy con học Tiếng Việt 2 ở nhà (2007) nhằm hướng dẫn cho cha mẹ học
sinh giúp con học tập Cuốn sách tham khảo này có 3 phần: Phần 1 trình bày Phương pháp luyện kỹ năng thực hành các bài tập, Phần 2 trình bày Hệ thống các bài tập trong
vở bài tập Tiếng Việt 2, phần 3 Gợi ý cách giải các bài tập Cuốn sách này có đóng góp trong việc đưa ra một số dạng bài tập theo từng tiết học và gợi ý cách giải các bài tập đó giúp phụ huynh dễ dàng hướng dẫn con em mình học môn Tiếng Việt được tốt hơn Nhưng các bài tập này không lập thành hệ thống theo chủ điểm như chương trình học của HS
Tác giả Nguyễn Trí (Chủ biên) với Tài liệu tham khảo dành cho GV và HS khi
dạy và học môn Tiếng Việt 2 mang tên Để dạy học tốt Tiếng Việt 2 (2004), cuốn tài
liệu được chia làm 2 phần: Phần 1 trình bày Những điểm cần lưu ý chung về dạy - học môn Tiếng Việt 2, trong đó có phân môn Luyện từ và câu; Phần 2 trình bày Gợi ý làm
Trang 8bài tập và các bài tập bổ trợ Tài liệu này gợi ý cách giải những bài tập trong chương trình học một cách rõ ràng, dễ hiểu và còn đưa thêm một hệ thống bài tập hỗ trợ cho từng bài học để giáo viên có thể dùng trong giờ dạy
Tác giả Hoàng Văn Thung, Hoàng Cao Cương, Trần Thị Minh Phương, Phạm
Thị Kim Oanh viết cuốn Bài tập bổ trợ và nâng cao Tiếng Việt Tiểu học, Quyển 2
(2011) nhằm chỉ dẫn cho HS lớp 2 củng cố các kiến thức và kĩ năng đọc - hiểu, về chính tả, từ ngữ và ngữ pháp, tập làm văn Ngoài ra còn cung cấp thêm một số bài tập, trong đó có bài tập nâng cao để các em được luyện tập, thực hành tiếng Việt nhiều hơn Nội dung các bài tập bám sát chương trình SGK, phần giải đáp mang tính hướng dẫn, tham khảo để tự học sinh đánh giá kết quả làm bài Tuy nhiên, sách còn hạn chế
là bài tập mà sách cung cấp thêm cho tất cả các phân môn nên ở mỗi phân môn có số lượng bài tập ít
Tác giả Lê Hữu Tỉnh, Xuân Thị Nguyệt Hà thì xây dựng Phiếu bài tập cuối
tuần môn Tiếng Việt, Lớp 2 (2013) Trong cuốn sách này, tác giả xây dựng một hệ
thống bài tập trắc nghiệm cho 4 phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu và Tập làm văn trong chương trình tiếng Việt 2 Hệ thống bài tập ứng với nội dung bài học theo tuần Nội dung các bài tập trắc nghiệm bám sát yêu cầu của từng bài học trong sách Tiếng Việt 2 Hình thức trắc nghiệm phong phú giúp HS cuối tuần có thể củng
cố, vận dụng và khắc sâu kiến thức đã được học trong tuần Mỗi tuần đều có những bài tập cơ bản dành cho mọi đối tượng HS và những bài ôn tập nâng cao dành cho các em
HS khá, giỏi Tuy nhiên, hệ thống bài tập trình chủ yếu là kiểu bài tập "Trắc nghiệm" nên còn đơn điệu; hệ thống bài tập chưa được sắp xếp theo chủ điểm nên cũng chưa thật thuận tiện cho người sử dụng
Tuy nhiên, chưa thấy một công trình nghiên cứu nào xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm dưới nhiều kiểu dạng cho học sinh lớp 2 Tuy nhiên các công trình trên đều giúp cho người viết có hướng tiếp cận hợp lí khi nghiên cứu đề tài để thực hiện luận văn của mình
3 Mục tiêu nghiên cứu
Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của các công trình nghiên cứu liên quan
đến đề tài và thực tế dạy - học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2, người viết luận văn
thực hiện đề tài nhằm đa dạng hóa các bài tập, giúp HS có thêm kiến thức về từ và
Trang 94 Đối tượng, phạm vi
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề dạy Luyện từ và câu cho HS lớp 2 4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2 bao gồm 15 chủ điểm: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô, Ông bà, Cha mẹ, Anh em,
Bạn trong nhà, Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú, Sông biển, Cây cối, Bác Hồ, Nhân dân
Luận văn đã tích hợp các chủ điểm trên lại sau đó tiến hành xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo 6 chủ điểm lớn, đó là:
- Chủ điểm 1: Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô
- Chủ điểm 2: Ông bà, Cha mẹ, Anh em, Bạn trong nhà
- Chủ điểm 3: Bốn mùa, Chim chóc, Muông thú
- Chủ điểm 4: Sông biển
- Chủ điểm 5: Cây cối
- Chủ điểm 6: Bác Hồ, Nhân dân
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê - phân loại: Phương pháp này được dùng để phân loại các
dạng bài tập
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này được dùng để phân tích, tổng
hợp kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu,
đối chiếu chương trình phân môn Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 2 mới và chương trình Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 2 cũ
6 Đóng góp đề tài
Xây dựng được một hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho lớp 2 phù hợp với nội dung chương trình giảng dạy, phù hợp với đặc trưng về tính
hệ thống của từ vựng, phù hợp với qui luật tích luỹ vốn từ
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Nội dung luận văn gồm 3 chương:
Trang 10- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy mở rộng vốn từ cho HS lớp 2
- Chương 2: Hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho HS lớp 2
- Chương 3: Xây dựng kế hoạch bài dạy mở rộng vốn từ nâng cao theo chủ điểm cho
HS lớp 2
Trang 11CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP 2 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lý học sinh tiểu học
1.1.1.1 Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học
Cấp tiểu học có 5 lớp từ lớp 1 đến lớp 5 dành cho trẻ em từ 6 đến 11 tuổi (đối với một số trẻ em không có điều kiện bình thường để đi học đúng tuổi có thể học
muộn hơn 1 - 2 năm, nghĩa là học sinh tiểu học có thể có trẻ em ở tuổi 13 - 14)
Nhìn tổng thể, học sinh tiểu học có ba đặc trưng sau:
- Là thực thể hồn nhiên tiềm tàng khả năng phát triển (khả năng hiện thực và khả năng tiềm ẩn) Là thực thể hồn nhiên nên trẻ em ngây thơ, trong sáng Bản tính luôn được thể hiện ra bên ngoài không hề che giấu, không hề “đóng kịch”
Trong những hoàn cảnh nhất định, do tác động không đúng từ bên ngoài, từ phía người lớn nên nhiều trẻ em đã tập nhiễm tật xấu mà ta vẫn thường gặp Trong mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển, khả năng tiềm tàng đó vẫn còn là một ẩn số Tuy nhiên không vì vậy mà nhà trường đem đến cho trẻ em chương trình học quá tải, không phù hợp đặc điểm tâm sinh lí của các em Trẻ em thuộc các thời đại đều không giống nhau, song chúng vẫn luôn luôn là trẻ em
- Là nhân cách đang hình thành Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học là thực thể đang lớn lên, đang hoàn thiện về cơ thể (sinh lí) và đang phát triển tâm hồn (tâm lí)
- Có hoạt động học là hoạt động chủ đạo Trẻ em ở lứa tuổi học sinh tiểu học thực hiện bước chuyển từ hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo sang hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo Hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển tâm lí của học sinh tiểu học
- Học sinh tiểu học là phạm trù tương lai Đối với học sinh tiểu học thì tất cả còn ở phía trước, các em sống luôn hướng tới ngày mai, hướng tới tương lai chứ chưa bị níu kéo bởi quá khứ, các em dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới
Học sinh tiểu học có thể phân ra theo hai cấp độ phát triển:
- Cấp độ I (cấp độ thứ nhất): gồm các lớp 1, lớp 2 và lớp 3, trong cấp độ này thì lớp 1
là lớp đặc biệt, được nhiều người cho là “Cửa ải lớp 1”, hay như câu nói trong dân gian “Vạn sự khởi đầu nan” Lớp 1 là đầu vào bậc Tiểu học
Trang 12- Cấp độ II (cấp độ thứ hai): gồm lớp 4 và lớp 5 Lớp 5 được coi là đầu ra của cấp Tiểu học
a Đặc điểm của quá trình nhận thức
- Tri giác
Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn
Học sinh các lớp đầu cấp Tiểu học tri giác còn yếu nên thường thâu tóm sự vật về toàn
bộ, về đại thể để tri giác Khi tri giác thường gắn với hành động, với hoạt động thực tiễn của bản thân Đối với trẻ, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật, như cầm, nắm, sờ, mó vào sự vật ấy Những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các em thường gặp trong cuộc sống và gắn với hoạt động của bản thân, những gì được giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác, “trăm nghe không bằng một thấy, trăm lần thấy không bằng một lần tự làm”
Khi học sinh tri giác thì cảm xúc của các em thể hiện rất rõ Điều mà học sinh tiểu học tri giác đầu tiên từ sự vật là những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các
em xúc cảm Vì thế cái trực quan, cái rực rỡ, cái sinh động được các em tri giác tốt hơn, dễ gây ấn tượng tích cực đối với các em
Tri giác về thời gian và không gian cũng như ước lượng về thời gian và không gian của học sinh tiểu học còn hạn chế
Tri giác của học sinh tiểu học không tự nó phát triển Trong quá trình học tập, khi tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, khi trở nên phức tạp và sâu sắc, trở thành hoạt động có phân tích, có phân hóa hơn thì tri giác sẽ mang tính chất của sự quan sát có tổ chức
- Chú ý
Chú ý có chủ định của học sinh tiểu học còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa mạnh Học sinh nhỏ đầu bậc Tiểu học thường chỉ chú ý khi có động cơ gần, đến cuối bậc Tiểu học thì các em đã có thể duy trì chú ý có chủ định ngay khi chỉ có động cơ xa
Chú ý không chủ định của học sinh tiểu học phát triển nhờ những thứ mang tính mới
mẻ, bất ngờ, rực rỡ, khác thường dễ lôi cuốn sự chú ý của các em, không có sự nỗ lực
Trang 13của ý chí Sự chú ý không chủ định càng trở nên mạnh mẽ khi giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học đẹp, mới lạ gợi cho các em cảm xúc tích cực
Do quá trình ức chế ở bộ não của học sinh nhỏ (lớp một, lớp hai) còn yếu nên sự tập trung chú ý của các em còn yếu, thiếu bền vững, chú ý của các em còn bị phân tán Học sinh tiểu học thường chỉ tập trung chú ý liên tục trong khoảng từ 30 - 35 phút Sự chú ý của các em còn phụ thuộc vào nhịp độ học: nhịp độ học tập quá nhanh hoặc quá chậm đều không thuận lợi cho tính bền vững và sự tập trung chú ý
Học sinh tiểu học có khả năng phát triển chú ý có chủ định trong quá trình học tập Chính quá trình học tập đòi hỏi học sinh phải rèn luyện thường xuyên chú ý có chủ định, rèn luyện ý chí Chú ý có chủ định phát triển cùng với sự phát triển động cơ học tập, cùng với sự trưởng thành về ý thức trách nhiệm đối với việc học
- Trí nhớ
Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - lôgíc, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các
em tương đối chiếm ưu thế Các em nhớ và giữ gìn chính xác những sự vật, hiện tượng
cụ thể nhanh hơn và tốt hơn những định nghĩa, những câu giải thích bằng lời Học sinh nhỏ ở lớp một và lớp hai có khuynh hướng ghi nhớ máy móc bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần, có khi chưa hiểu những mối liên hệ, chưa hiểu ý nghĩa của tài liệu học tập cần ghi nhớ Các em thường học thuộc lòng tài liệu theo từng câu, từng chữ mà không sắp xếp lại, sửa đổi lại, diễn đạt lại bằng lời lẽ của mình
Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định do tích cực học tập của học sinh quy định Điều này còn phụ thuộc vào kĩ năng nhận biết và phân biệt các nhiệm vụ ghi nhớ Hiểu mục đích của ghi nhớ và tạo ra được tâm thế thích hợp là điều rất quan trọng
để học sinh ghi nhớ tài liệu học tập
- Tưởng tượng
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học Nếu tưởng tượng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặp khó khăn trong hành động, trong học tập
Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển và phong phú hơn so với trẻ em tuổi mẫu giáo Nó được hình thành và phát triển trong hoạt động học và các hoạt động khác của các em Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh tiểu học còn tản mạn, ít có tổ chức, hình thành của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững
Trang 14Càng về những năm cuối bậc Tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn Về mặt cấu tạo hình tượng, tưởng tượng của học sinh tiểu học chỉ lặp lại hoặc thay đổi chút ít về kích thước, về hình dạng những tưởng tượng đã tri giác được Các em đã biết dựa vào ngôn ngữ để xây dựng hình tượng mang tính khái quát và trừu tượng hơn
- Tư duy
Tuy duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể Trong tư duy của học sinh đầu bậc Tiểu học tính trực quan thể hiện rất rõ
Đối với học sinh tiểu học, kĩ năng phân biệt các dấu hiệu bản chất và tách các dấu hiệu
đó ra khỏi các sự vật và hiện tượng mà chúng ẩn tàng trong đó là phẩm chất tư duy không dễ có ngay được Vì đối với học sinh tiểu học, tri giác phát triển sớm hơn và tri giác trước hết là nhận biết những dấu hiệu bên ngoài, mà những dấu hiệu này chưa chắc đã là bản chất của sự vật và hiện tượng đang được các em xem xét Đó là nguyên nhân của những khó khăn, những khiếm khuyết của học sinh tiểu học trong quá trình lĩnh hội khái niệm
Hoạt động phân tích - tổng hợp của học sinh tiểu học còn sơ đẳng, học sinh các lớp đầu bậc Tiểu học chủ yếu tiến hành phân tích - trực quan - hành động khi tri giác trực tiếp đối tượng Đến cuối bậc học các em có thể phân tích đối tượng mà không cần tới những hành động trực tiếp đối với đối tượng, các em đã có khả năng phân biệt dấu hiệu, những phía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Việc học tiếng Việt và số học có tác dụng tích cực hình thành và phát triển thao tác phân tích và tổng hợp cho học sinh tiểu học
Các em thường gặp một số khó khăn nhất định khi cần phải xác định mối quan
hệ nhân quả như lẫn lộn nguyên nhân và kết quả, hiểu mối quan hệ chưa thấu đáo
b Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
- Tính cách
Tính cách thường được hình thành rất sớm từ giai đoạn trước tuổi học, mỗi trẻ
em một tính cách, nhưng chưa ổn định nên có thể thay đổi dưới dạng tác động giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội
Những ảnh hưởng của hoạt động thần kinh cấp cao biểu lộ khá rõ trong hành vi của
Trang 15thần kình yếu; tính nóng nẫy, không bình tĩnh có thể là sự biểu hiện của quá trình ức chế thần kinh yếu
Ở lứa tuổi này dễ nhận ra tính xung động trong hành vi của các em Do vậy mà hành vi của học sinh tiểu học dễ có tính tự phát, dễ vi phạm nội quy và thường bị xem là “vô kỉ luật” Nguyên nhân của hiện tượng này là sự điều chỉnh của ý chí đối với hành vi của trẻ em lứa tuổi tiểu học còn yếu, các em chưa biết đề ra mục đích hoạt động và theo đuổi mục đích đó đến cùng
Tính cách của học sinh tiểu học có nhược điểm thường bất thường, bướng bỉnh Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như tính hồn nhiên, ham hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha
Niềm tin của học sinh tiểu học còn cảm tính, chưa có lí trí soi sáng dẫn dắt nên mọi điều đưa đến cho các em cần phải đúng, phải chính xác, vì nếu không thì khi trẻ đã có niềm tin vào điều gì đó, khi niềm tin được định hình, khắc sâu thì rất khó thay đổi dù điều đó là sai trái
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, tính bắt chước của các em vẫn còn đậm nét Các
em bắt chước hành vi, cử chỉ của giáo viên, của những người được các em coi như
hệ phụ thuộc giữa các hiện tượng
Lúc đầu là nhu cầu có tính chất chung, sau đó là nhu cầu có tính chọn lọc theo nhu cầu, sở thích của các em
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học là nhu cầu tinh thần Nhu cầu này có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của các em Nếu không có nhu cầu nhận thức thì học sinh cũng sẽ không có tính tích cực trí tuệ
- Tình cảm
Trang 16Xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học thường nảy sinh từ các tác động của những người xung quanh, từ các sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động Nhìn chung, học sinh tiểu học dễ bị kích thích bởi hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tượng với các thuộc tính của nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết)
Tình cảm của học sinh tiểu học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của các em Ở lứa tuổi này, tình cảm của các em có một số đặc trưng của một giai đoạn phát triển tâm lí
+ Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình + Tình cảm của học sinh tiểu học còn mỏng manh, chưa bền vững, chưa sâu sắc
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, nếu xúc cảm về một sự kiện, hiện tượng, nhân vật nào đó được củng cố thường xuyên trong cuộc sống và thông qua các môn học, thông qua các hoạt động thì sẽ hình thành được tình cảm sâu đậm, bền vững [5, 201]
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lý học sinh tiểu học
Sinh lí học trẻ em là một ngành của Sinh lí học người và động vật, có nhiệm vụ nghiên cứu những quy luật hình thành và phát triển của các chức năng sinh lí của cơ thể trẻ em Trọng tâm là những vấn đề có ý nghĩa đối với hoạt động thực tiễn của người giáo viên và nhà giáo dục Sinh lí học trẻ em có ý nghĩa lí luận và thực tiễn to lớn và là một trong những thành tố cần thiết và quan trọng nhất của học vấn sư phạm
a Đặc điểm hoạt động thần kinh cao cấp ở học sinh tiểu học
Từ 6 tuổi trở đi, trẻ bắt đầu sử dụng các khái niệm được trừu xuất khỏi hành động Ở tuổi này, trẻ bắt đầu học viết và học đọc được
Sang 7 tuổi, thùy trán của não bộ đã trưởng thành về hình thái, và trong thời kì này xuất hiện khả năng duy trì chương trình hành động gồm một vài động tác và khả năng dự kiến trước được kết quả của hành động
Ở trẻ 7 - 9 tuổi, các phản xạ có điều kiện dương tính được hình thành nhanh hơn Ở một số trẻ những phản xạ đó trở thành bền vững ngay từ lúc xuất hiện Phản xạ với phức hợp các kích thích tác động nối tiếp được hình thành dễ dàng và ngay lập tức với toàn bộ phức hợp Thời gian tiềm tàng của phản xạ được rút ngắn rõ rệt so với tuổi mẫu giáo
Đặc điểm nổi bậc của lứa tuổi này là các phản xạ có điều kiện dương tính và âm tính đều được củng cố nhanh chóng; các phản xạ đó có độ ổn định cao đối với những tác
Trang 17Ở trẻ 10 - 12 tuổi, các phản xạ có điều kiện dương tính đối với những kích thích đơn giản hay phức tạp đều xuất hiện nhanh, thường trở thành bền vững ngay lập tức Những cử động thừa và không phù hợp nào đó của phản ứng đều bị mất đi Các phản
xạ có điều kiện có độ bền vững cao đối với các kích thích bên ngoài, bắt đầu dễ dàng làm lại các phản xạ có điều kiện
Ảnh hưởng cảm ứng khá mạnh và sự mất đi nhanh chóng của các hậu quả của các tác nhân gây ức chế chứng tỏ các quá trình thần kinh có khả năng tập trung nhanh.[5, 30]
b Đặc điểm phát triển các cơ quan phân tích ở học sinh tiểu học
Lúc 7 tuổi, thể tích các vùng vỏ não của các cơ quan phân tích vận động tổng cộng gần bằng 80% so với thể tích ở người lớn Sự tăng trưởng nhanh của cơ quan phân tích vận động diễn ra lúc 7 và 12 tuổi Sự phân hóa của vùng vỏ não của cơ quan phân tích thị giác diễn ra đặc biệt nhanh vào lúc 7 - 12 tuổi
Ở lứa tuổi học sinh tiểu học, các chức năng của các cơ quan phân tích đạt tới sự hoàn diển rõ rệt Lúc 10 tuổi, điểm nhìn thấy rõ gần nhất nằm ở khoảng cách 7cm từ mắt, và thể tích điều tiết bằng 14 điôp Mức độ mở rộng của đồng tử trong bóng tối đạt tới độ lớn trung bình ở người lớn Thành của ống tai được cốt hóa khi tới 10 tuổi và sự phát triển của các cơ quan thính giác nói chung được kết thúc vào lúc 12 tuổi Lúc 8 -
10 tuổi thì ngưỡng thời gian của thính giác là lớn nhất
c Đặc điểm phát triển hệ cơ - xương ở học sinh tiểu học
Từ 7 - 12 tuổi có sự phát triển đồng đều của hệ cơ - xương, nhịp độ tăng trưởng
bị chậm lại đôi chút, nhưng trọng lượng của nó lại tăng lên Từ 8 - 10 tuổi có sự phát triển mạnh của hệ cơ Tới 8 tuổi, trọng lượng cơ đối với trọng lượng cơ thể là 27% Lực cơ của cả hai tay tăng lên 2 - 2,5 lần Lực tay phải dần dần gần tới lực tay trái Ở 8 tuổi, lực cơ của em gái nhỏ hơn so với em trai gần 5kg, và ở 10 - 12 tuổi là 10kg Tính không ổn định của hệ thần kinh - cơ đạt được tiêu chuẩn của người lớn vào lúc 8 - 10 tuổi Ở lứa tuổi này thấy rõ tính linh hoạt cao, nhưng lại chóng mệt mỏi, vì các chức năng của hệ thần kinh chưa đạt tới sự phát triển đầy đủ Từ 7 - 8 tuổi, năng lực tiến hành những động tác tinh vi, chính xác được hình thành Các động tác đơn điệu và những sự cố gắng tĩnh đều có ảnh hưởng không lợi đến tuần hoàn và hô hấp
Mối quan hệ giữa tâm lí và sinh lí trong cơ thể
Sự phát triển tâm lí của trẻ em diễn ra trên cơ sở phát triển giải phẫu - sinh lí của nó, đặc biệt là sự phát triển của hệ thần kinh và các giác quan Người ta thường nói
Trang 18“Một tâm hồn lành mạnh trong một cơ thể cường tráng” là vì vậy; ảnh hưởng của sự phát triển cơ thể đến sự phát triển tâm lí của trẻ Mặt khác, bản thân sự phát triển tâm lí cũng lại có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển cơ thể của trẻ Chẳng hạn, sự phát triển của hoạt động ngôn ngữ đã làm phát triển cái tai âm vị của trẻ; những luyện tập
có động cơ, có mục đích có thể làm tăng tính nhạy cảm của các cơ quan phân tích, hoặc phục hồi được các chức năng đã bị phá hủy của cơ thể Trong mối quan hệ qua lại giữa sự phát triển cơ thể và sự phát triển tâm lí của đứa trẻ thì sự phát triển cơ thể là tiền đề cho sự phát triển tâm lí [14, 10]
1.1.1.3 Kĩ năng sử dụng vốn từ của học sinh lớp 2 trong học tập Tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu
Hầu hết HS tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1 bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 2 thì ngôn ngữ viết đã dần thành thạo và bắt đầu học nhiều về ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khả năng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự tìm tòi kiến thức thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ có ngôn ngữ mà tri thức, tư duy, tưởng tượng, ghi nhớ, chú ý của trẻ phát triển dễ dàng và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác, thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trí tuệ của trẻ
Trong học tập Tiếng Việt và phân môn Luyện từ và câu, do vốn từ của HS lớp 2 rất hạn chế nên kĩ năng sử dụng vốn từ của các em chưa thành thạo, các em còn lúng túng rất nhiều trong việc lựa chọn từ ngữ cho phù hợp, sử dụng sai từ dẫn đến không đạt hiệu quả giao tiếp và học tập cao, và thường thấy nhất là các em hiểu sai hay hiểu chưa đầy đủ nghĩa của từ
1.1.2 Lí thuyết về từ tiếng Việt
1.1.2.1 Khái niệm từ tiếng Việt
Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu
Ta thấy được, từ của tiếng Việt có tính cố định và bất biến ở mọi vị trí, mọi quan hệ và chức năng trong câu
Trang 19Khi nói đến ý nghĩa của từ, ta hiểu đó là một tập hợp của những thành phần ý nghĩa khác nhau, ứng với các chức năng khác nhau của từ Trong ngôn ngữ học hiện đại, người ta thường phân biệt bốn thành phần ý nghĩa của từ (ở đây phải tạm coi là từ chỉ có một nghĩa) đó là:
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp
Bốn thành phần ý nghĩa này được quy thành hai phạm trù ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp
Những ý nhĩa này đều có tính ổn định, bền vững tương đối Không chỉ có quan hệ giữa
từ với những yếu tố ngoài ngôn ngữ, chúng còn có quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với
từ khác trong ngôn ngữ quy định nên
Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa sau đây: ý nghĩa biểu vật; ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái
Ý nghĩa ngữ pháp của từ cũng bao gồm những thành phần ý nghĩa nhỏ hơn là: ý nghĩa từ pháp; ý nghĩa từ loại và ý nghĩa quan hệ
Lưu ý rằng, không phải tất cả các từ của ngôn ngữ đều có đầy đủ các thành phần ý nghĩa như nói ở trên
Ý nghĩa biểu vật là những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là ý nghĩa biểu vật của từ Hay nói cách khác, ý nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ
Ý nghĩa biểu niện của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ [4, 118]
Ý nghĩa biểu thái bao gồm những nhân tố đánh giá, nhân tố cảm xúc hay nhân
tố thái độ mà từ gợi ra cho người nói hay người nghe
Ý nghĩa ngữ pháp là những thông tin đã được mã hóa trong từ mà dựa vào đó ta
có thể tạo lập hoặc nhận biết các mối quan hệ giữa các từ
1.1.2.3 Khái niệm về trường nghĩa
Tính hệ thống về ngữ nghĩa trong lòng từ vựng và quan hệ ngữ nghĩa giữ các từ riêng lẻ thể hiện qua quan hệ giữ những tiểu hệ thống ngữ nghĩa của chúng Mỗi tiểu
Trang 20hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ vựng của một ngôn ngữ
Có thể chia hệ thống từ vựng thành các trường nghĩa theo từng tiêu chí
Trường nghĩa biểu vật: Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự vật, hiện tượng thực tế khách quan [4, 172]
Cơ sở để xác lập trường nghĩa biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ
Trường nghĩa biểu niệm: Trường nghĩa biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm [4, 178]
Căn cứ để phân lập các trường nghĩa biểu niệm là các ý nghĩa biểu niệm của từ Cấu trúc biểu niệm không chỉ riêng cho từng từ mà chung cho nhiều từ
Trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm đều thuộc loại trường nghĩa dọc
Trường nghĩa tuyến tính (trường nghĩa ngang) Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuổi tuyến tính chấp nhận được trong ngôn ngữ
Trường liên tưởng là tập hợp bao gồm những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và truyền tuyến tính, tức là có những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa tới từ trung tâm
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1.1 Khái niệm phương pháp dạy - học
Theo lời khẳng định của GS.TS Lê A thì : Trong khoa học giáo dục và lí luận dạy học bộ môn chưa có một cách định nghĩa và cách giải thích hoàn toàn thống nhất
về thuật ngữ phương pháp dạy học [1, 15]
Có thể dẫn ra một vài định nghĩa phương pháp dạy học trong nhiều quan niệm
về phương pháp dạy học như:
“Phương pháp dạy học là cách thiết kế trình bày tài liệu ngôn ngữ cũng như phương thức tổ chức các hoạt động học tập, sử dụng ngôn ngữ của học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học đã định” [19, 224]
Phương pháp dạy học là tổ chức các cách thức hoạt động của giáo viên và của học sinh trong quá trình dạy học, được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên sự
Trang 21hoạt động nhận thức tích cực, tự giác của học sinh, nhằm thực hiện tốt những nhiệm
vụ dạy học theo hướng mục tiêu [2, 69]
Phương pháp dạy học tiếng Việt là cách thức làm việc của thầy giáo và học sinh nhằm làm cho học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt [10, 81]
Từ đó có thể thấy rằng, các định nghĩa trên tuy có những điểm khác nhau nhưng đều thống nhất ở một điểm: Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy và trò, với vai trò chủ đạo của thầy và hoạt động tích cực, tự giác của trò nhằm hướng vào việc đạt mục đích nào đó
1.2.1.2 Các phương pháp dạy học thường được sử dụng và các hình thức thể hiện của phương pháp
a Những phương pháp dạy học thường được sử dụng
Có nhiều phương pháp dạy học thường được sử dụng nhưng có thể phân loại thành 3 nhóm chính, theo 3 tiêu chí sau:
- Những phương pháp dạy học được phân loại theo các chức năng điều hành quá trình dạy học, gồm: Phương pháp vào bài, Phương pháp dạy học bài mới, Phương pháp củng cố bài học, Phương pháp hướng dẫn học sinh học bài ở nhà…
- Những phương pháp dạy học được phân loại theo con đường nhận thức và hoạt động
tư duy, gồm: Phương pháp diễn dịch - qui nạp, Phương pháp so sánh, Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Những phương pháp dạy học được phân loại theo phương thức đặc thù tiếp nhận các nội dung tri thức, gồm: Phương pháp thống báo - giải thích, Phương pháp tái hiện, Phương pháp rèn luyện theo mẫu,…
b Các hình thức thể hiện của phương pháp
Phương pháp phải thể hiện qua các hình thức của nó Một hình thức có thể được dùng cho nhiều phương pháp khác nhau Một số hình thức thể hiện của phương pháp thường gặp trong quá trình dạy - học, là: Hình thức diễn giảng, hình thức đàm thoại, hình thức đọc sách giáo khoa và hình thức làm bài tập
1.2.1.3 Một số phương pháp dạy - học tiếng Việt ở tiểu học
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu: là phương pháp mà thầy giáo chọn giới thiệu các hoạt động ngôn ngữ rồi hướng dẫn học sinh phân tích để hiểu và nắm vững cơ chế của chúng rồi bắt chước mẫu đó một cách sáng tạo vào lời nói của mình
Trang 22Phương pháp dạy học này thường được dùng để hướng dẫn học sinh làm các bài tập về rèn luyện kỹ năng mở rộng vốn từ và cấu tạo câu
- Phương pháp sử dụng trò chơi: Ngoài mục đích vui chơi, phương pháp này còn rèn luyện về thể lực, các giác quan, trí tuệ, tạo cơ hội giao lưu với mọi người
- Phương pháp thực hành: hình thức thực hiện là ra bài tập và làm bài tập Phương pháp thực hành giúp học sinh nắm vững khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm
Ngoài ra còn có một vài phương pháp chỉ có trong dạy tiếng Việt và thường được sử dùng phổ biến trong nhiều phân môn Tiếng Việt ở tiểu học:
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ: là phương pháp được sử dụng một cách có hệ thống trong việc xem xét tất cả các mặt của ngôn ngữ: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, cấu tạo từ, chính tả, phong cách với mục đích làm rõ cấu trúc các kiểu đơn vị ngôn ngữ, hình thức và cách thức cấu tạo, ý nghĩa của chúng trong nói năng Các dạng phân tích ngôn ngữ : quan sát ngôn ngữ, phân tích ngữ âm, phân tích ngữ pháp, phân tích chính
tả, phân tích tập viết, phân tích ngôn ngữ các tác phẩm văn chương
- Phương pháp giao tiếp (thực hành giao tiếp): là phương pháp dạy tiếng dựa vào lời nói, vào những thông báo sinh động, vào việc tổ chức quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách có hiệu quả trong những tình huống nói năng điển hình và những tình huống nói năng cụ thể Phương pháp này gắn liền với phương pháp luyện theo mẫu
- Phương pháp luyện theo mẫu: là phương pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nói bằng mô phỏng lời thầy giáo, sách giáo khoa…
Các phương pháp thường được sử dụng phối hợp chặt chẽ, không có phương pháp vạn năng Điều quan trọng là phải nắm vững các điều kiện cụ thể của dạy học để lựa chọn phương pháp cho phù hợp Các yếu tố liên quan trực tiếp tới lựa chọn phương pháp là nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, khả năng của học sinh, trình độ giáo viên, điều kiện vật chất của trường lớp và các phương tiện dạy học
Có nhiều quan niệm về phương pháp dạy học cũng như có nhiều phương pháp dạy học khác nhau Chúng ta có thể sử dụng nhiều phương pháp dạy - học để dạy - học tiếng Việt, trong đó có những phương pháp đặc thù dành cho môn Tiếng Việt
1.2.2 Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh
1.2.2.1 Hình thành và rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh - mục tiêu quan trọng nhất của dạy - học từ ngữ
Trang 23Năng lực là một tổ hợp các kỹ năng cho phép nhận biết và giải quyết một tình huống với khái niệm của tâm lí học
Năng lực ngôn ngữ là vốn ngôn ngữ và khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ đó trong thực tế giao tiếp
Năng lực từ ngữ là một bộ phận của năng lực ngôn ngữ, gồm vốn từ và kỹ năng
sử dụng vốn từ ấy để tạo lập và lĩnh hội ngôn bản
Để có năng lực ngôn ngữ và năng lực từ ngữ, ta phải có một vốn từ nhất định cũng như nắm được nghĩa và có kỹ năng sử dụng chúng
b Vốn từ của học sinh hiểu học
Vốn từ của học sinh tiểu học hình thành theo con đường tự nhiên, vô thức lệ thuộc nhiều vào môi trường sống Theo một số nghiên cứu, nếu một học sinh được sống trong môi trường phong phú thì số lượng từ của các em sẽ nhiều hơn khoảng 1, 2 lần số lượng từ của một học sinh sống trong môi trường bình thường
Bên cạnh đó, địa bàn cư trú cũng ảnh hưởng tới việc hình thành vốn từ ngữ của các
em Học sinh ở những địa bàn khác nhau thì vốn từ cũng sẽ khác nhau, ví dụ như vốn
từ của một học sinh ở địa bàn nông thôn cũng sẽ khác với vốn từ một học sinh thành thị, giữ miền xuôi và miền núi,…
Từ đó cho thấy, có nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến việc tích lũy vốn từ của học sinh như môi trường sống, địa bàn cư trú,…ngoài ra còn có những đặc trưng tâm lí, lứa tuổi, sinh lí cũng làm ảnh hưởng
Nhìn chung, vốn từ của học sinh tiểu học là một vấn đề phức tạp “do vốn từ của học sinh tiểu học chủ yếu hình thành qua cách học tự nhiên, vô thức, dựa vào ngữ cảnh, vào tình huống giao tiếp để phỏng đoán nghĩa của từ… cho nên trong vốn từ này, có một số từ không được hiểu đúng về âm thanh - chữ viết, học sinh hiểu sai hoặc chưa đầy đủ về nghĩa, sử dụng từ không đúng hoặc chưa thích hợp
Phương pháp mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học:
Theo Lê Hữu Tỉnh, dạy mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học phải dựa vào quy luật nhận thức của con người nói chung, trẻ em nói riêng Đồng thời cũng dựa vào qui luật liên tưởng của con người, cụ thể dựa trên quan hệ liên tưởng giữa các từ trong đầu
óc con người
Khi mở rộng vốn từ cho học sinh, cần chú ý qui luật trên để cung cấp những từ ngữ cần thiết cho các em Cung cấp từ trái nghĩa, từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa, những
Trang 24từ có quan hệ ngữ nghĩa với nhau Chúng ta còn có thể hướng dẫn học sinh mở rộng vốn từ dựa vào việc cung cấp những từ ghép hay từ láy cùng gốc,…
c Rèn luyện kỹ năng sử dụng vốn từ cho học sinh là nhiệm vụ tiếp theo của việc dạy từ ngữ
Để học sinh biết cách sử dụng vốn từ, ta phải dạy học sinh nắm chắc nghĩa của
từ Có nhiều cách giải nghĩa từ như: giải nghĩa từ bằng cách chỉ ra nét nghĩa của từ đã được liệt kê trong từ điển, giải nghĩa từ bằng cách dẫn ra những từ đồng nghĩa, trái nghĩa với chúng,…Nhưng khi tổ chức dạy học nắm nghĩa từ, cần lựa chọn từ để giải nghĩa dựa trên nguyên tắc tính vừa sức, tính cần thiết, và phải là những từ trung tâm của chủ đề
Sau khi các em nắm được nghĩa của từ, tiếp theo ta phải dạy học sinh cách sử dụng vốn từ đã có để học sinh có thể từ đó mà rèn luyện năng lực từ ngữ của mình Phương pháp thông dụng và phù hợp nhất để rèn luyện kỹ năng sử dụng từ cho học sinh là yêu cầu và hướng dẫn học sinh làm bài tập Gồm các dạng bài tập thường gặp là: Điền từ vào chỗ trống, đặt câu (hoặc tạo cụm từ) với từ cho trước, viết đoạn văn với một từ cho sẵn, chữa lỗi dùng từ,…
1.2.3 Chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2
1.2.3.1 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở tiểu học
Làm giàu vốn từ cho học sinh và phát triển năng lực dùng từ đặt câu cho các
em
- Dạy nghĩa từ: Làm cho học sinh nắm vững nghĩa từ bao gồm việc thêm vào vốn từ của học sinh những từ mới và những nghĩa mới của từ đã biết, làm cho các em nắm được tính nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ
- Hệ thống hóa vốn từ: Dạy học sinh biết cách sắp xếp các từ một cách có hệ thống trong trí nhớ để tích lũy từ được nhanh chóng và tạo ra tính thường trực của từ, tạo điều kiện cho các từ đi vào hoạt động lời nói được thuận lợi
- Tích cực hóa tốn từ: Dạy cho học sinh sử dụng từ, phát triển kĩ năng sử dụng từ trong lời nói và lời viết của mình, đưa từ vào trong vốn từ tích cực được học sinh dùng thường xuyên
- Dạy học sinh biết cách đặt câu, sử dụng các kiểu câu đúng mẫu phù hợp với hoàn cảnh, mục đích giao tiếp
Trang 25Cung cấp cho học sinh một số kiến thức về từ và câu cơ bản, sơ giản, cần thiết
và vừa sức với các em Trang bị cho học sinh những hiểu biết về cấu trúc của từ, câu,
quy luật hành chức của chúng
Ngoài ra, Luyện từ và câu còn có nhiệm vụ rèn luyện tư duy và giáo dục thẩm
mĩ cho học sinh
1.2.3.2 Nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu ở lớp 2
Môn Tiếng Việt 2 gồm 6 phân môn: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập
viết, Kể chuyện, Tập làm văn Phân môn Luyện từ và câu được dạy mỗi tuần 1 tiết
a Về vốn từ
Ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết, học sinh
được cung cấp vốn từ một cách có hệ thống trong các bài từ ngữ theo chủ đề
Học sinh học thêm khoảng 300 - 350 từ ngữ theo các chủ đề: học tập; ngày, tháng,
năm; đồ dùng học tập; các môn học; họ hàng; đồ dùng và công việc trong nhà; tình
cảm, công việc gia đình; tình cảm gia đình; vật nuôi; các mùa, thời tiết, chim chóc, các
loài chim; muông thú, loài thú; sông biển; cây cối; Bác Hồ; nghề nghiệp
Ngoài ra còn có các chủ đề mở rộng vốn từ theo ý khái quát của từ ở các bài
học như: Từ chỉ sự vật, Từ chỉ hoạt động, Từ chỉ hoạt động, trạng thái, Từ chỉ đặc
điểm, Từ chỉ tính chất và có một bài về lớp từ: Từ trái nghĩa
b Các mảng kiến thức và kĩ năng về từ và câu
- Từ và câu
- Các lớp từ: Từ trái nghĩa
- Từ loại: Từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặt điểm, tính chất
- Các kiểu câu: Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? Khẳng định, phủ định
- Cấu tạo câu: Đặt, trả lời câu hỏi “Khi nào?”; Đặt, trả lời câu hỏi “Ở đâu?”; Đặt, trả
lời câu hỏi “Như thế nào?”; Đặt, trả lời câu hỏi “Vì sao?”; Đặt trả lời câu hỏi “Để làm
gì?”
- Dấu câu: Dấu chấm hỏi, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu chấm
- Ngữ âm - chính tả: Tên riêng và cách viết tên riêng
1.2.3.3 Chuẩn kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt ở Tiểu học và lớp 2
Chuẩn kiến thức, kĩ năng là các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng
của môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh cần phải và có thể đạt được Chuẩn kiến
thức, kĩ năng được cụ thể hóa ở các chủ đề của môn học theo từng lớp, ở các lĩnh vực
Trang 26học tập cho từng lớp và cho cả cấp học Yêu cầu về thái độ được xác định cho từng lớp
và cho cả cấp học Chuẩn kiến thức, kĩ năng là cơ sở để biên soạn SGK, quản lí dạy học, đánh giá kết quả giáo dục ở từng môn học, hoạt động giáo dục nhằm bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của Chương trình Tiểu học; đảm bảo chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục
a Chuẩn kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt ở Tiểu học
Chuẩn kiến thức, kĩ năng (gọi tắt là Chuẩn) môn Tiếng Việt trong văn bản Chương trình Giáo dục phổ thông - cấp Tiểu học được xác định rõ Mục tiêu, Nội dung (Kế hoạch dạy học, Nội dung dạy học từng lớp) và Chuẩn về kiến thức và kĩ năng cần đạt được ở môn Tiếng Việt Chuẩn môn Tiếng Việt là cơ sở để biên soạn SGK Tiếng Việt, quản lí và đánh giá kết quả dạy học môn Tiếng Việt nhằm bảo đảm tính hệ thống, tính khả thi của Chương trình môn Tiếng Việt
b Chuẩn kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt lớp 2
Qui định cụ thể những nội dung cần đạt được trong từng phân môn như sau:
- Tập đọc: Đọc đúng, rõ ràng, rành mạch toàn bài; biết ngắt, nghỉ hơi và nhấn giọng đúng chỗ; hiểu được nội dung của bài tập đọc;
- Kể chuyện: Dựa theo tranh học sinh kể lại được từng đoạn của câu chuyện;
- Chính tả: Không mắc quá 5 lỗi trong bài, trình bày đúng và đẹp bài chính tả; làm được các bài tập chính tả theo qui định;
- Luyện từ và câu: Biết và hiểu nghĩa một số từ theo chủ điểm; làm được các bài tập theo qui định;
- Tập viết: Viết đúng, viết đều, viết thẳng hàng và tương đối đẹp
Riêng về tốc độ đọc và tốc độ viết được qui định
Bảng: Qui định về tốc độ đọc, viết theo từng giai đoạn của HS lớp 2
tiếng/ phút
Khoảng 40 tiếng/ phút
Khoảng 45 tiếng/ phút
Khoảng 50 tiếng/ phút
chữ/ phút
Khoảng 40 chữ/ phút
Khoảng 45 chữ/ phút
Khoảng 50 chữ/ phút
Trang 27Chuẩn kiến thức và kĩ năng Tiếng Việt lớp 2 đã đưa ra các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kĩ năng của từng phân môn mà học sinh cần phải và có thể đạt được nhằm hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng khi sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) Trong đó, Luyện từ và câu giúp học sinh biết và hiểu nghĩa một số từ theo chủ điểm và làm được các bài tập theo qui định từ đó có thể cung cấp kiến thức
về Tiếng Việt, rèn cả 4 kĩ năng đọc, viết, nghe, nói Với tư cách là một phân môn thực hành, Luyện từ và câu giúp học sinh có những kiến thức cơ bản và cần thiết về Tiếng Việt, giúp học sinh học tốt các phân môn còn lại của môn Tiếng Việt, các môn học khác cũng như vận dụng để giao tiếp trong cuộc sống Từ đó có thể thấy vị trí quan trọng của Luyện từ nói chung hay Mở rộng vốn từ nói riêng vì nó chính là đặt nền móng về ngôn từ Tiếng Việt
1.2.3.4 Tầm quan trọng của việc mở rộng vốn từ cho học sinh Tiểu học và lớp 2 theo chủ điểm
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người” Ngôn ngữ
là phương tiện thể hiện tâm trạng, tình cảm Muốn sử dụng được một loại ngôn ngữ nào đó thì việc đầu tiên là phải có một vốn từ nhất định của loại ngôn ngữ đó Nếu không thể làm chủ được vốn từ thì chúng ta không thể sử dụng ngôn ngữ đó như một công cụ để học tập và giao tiếp Ngoài ra, vốn từ của con người càng phong phú bao nhiêu thì khả năng lựa chọn từ ngữ của người đó để diễn đạt càng lớn, càng chính xác, tinh tế và mang lại hiệu quả giao tiếp bấy nhiêu Để làm được điều đó, mỗi người cần trao dồi cho mình vốn từ nhất định Vì vậy, việc làm giàu vốn từ cho các em HS ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường là rất cần thiết, đặc biệt là cấp Tiểu học Vốn từ của các em cần được làm giàu theo từng chủ điểm một để các em dễ nhớ, dễ sử dụng và nhất là tạo nền tảng vững chắc cho các em làm giàu vốn từ ở những bậc học cao hơn
Vốn từ của HS lớp 2 chủ yếu được hình thành qua cách học tự nhiên, vô thức, dựa trên ngữ cảnh và tình huống giao tiếp để phỏng đoán nghĩa của từ cho nên trong vốn từ này, có một số từ không được hiểu đúng về âm thanh - chữ viết, HS hiểu sai hoặc hiểu chưa đầy đủ về nghĩa, sử dụng từ không đúng hoặc chưa phù hợp Mặc khác, khả năng vận dụng các từ đã học vào giao tiếp và học tập của HS rất hạn chế, HS gặp nhiều khó khăn và lúng túng trong việc tìm và sử dụng từ Làm giàu vốn từ cho
HS ngoài việc cung cấp thêm từ mới, giúp HS hiểu nghĩa từ, còn tạo ra tính thường trực của từ để rèn cho các em năng lực tư duy, sáng tạo trong suy nghĩ, trang bị cho
Trang 28các em tư tưởng, tình cảm lành mạnh, trong sáng, góp phần hình thành nhân cách cho
HS
Việc làm giàu vốn từ được thực hiện trong tất cả các phân môn của môn Tiếng Việt ở tiểu học Tuy nhiên, thông qua giờ học Luyện từ và câu, GV có thể dễ dàng giúp HS làm phong phú hóa, chính xác hóa vốn từ hơn, bởi trong phân môn này, việc làm giàu vốn từ cho HS được qui định cụ thể trong nội dung các bài học Mở rộng vốn
từ theo chủ điểm của tuần Qua đó, ta có thể thấy rằng việc Mở rộng vốn từ cho HS tiểu học nói chung và HS lớp 2 nói riêng theo chủ điểm là hết sức quan trọng, cần được quan tâm nhiều hơn
Trang 29CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP NÂNG CAO MỞ RỘNG VỐN TỪ
THEO CHỦ ĐIỂM CHO HỌC SINH LỚP 2 2.1 Nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 2
Hệ thống bài tập trình bày trong luận văn được xây dựng dựa trên 6 nguyên tắc
cơ bản sau:
- Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp;
- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống;
- Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình;
- Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh;
- Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa;
- Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính tích hợp
Tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học, một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liên quan với nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian học tập cho người học
Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và Chương trình môn Tiếng Việt ở lớp 2 nói riêng đều được xây dựng trên quan điểm tích hợp Tất cả các phân môn trong sách Tiếng Việt 2 đều có quan hệ chặt chẽ, lấy bài Tập đọc làm điểm xuất phát chung về chủ đề cần dạy
Phân môn Luyện từ và câu cũng nằm trong mối quan hệ này Bởi vậy, hệ thống bài bài tập được trình bày trong luận văn sẽ dựa vào các bài tập đọc, mà cụ thể là hệ thống bài tập được xây dựng sẽ tuân thủ triệt để các chủ điểm được dạy qua những bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 2
Trang 302.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình
Luận văn xây dựng hệ thống bài tập nhằm làm tài liệu tham khảo cho việc dạy
và học phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 2 Vì vậy hệ thống bài tập ở đây phải luôn bám sát nội dung chương trình của môn học, phải đảm bảo được mức độ kiến thức cần đạt đối với học sinh khi học xong chương trình Do đó nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình được thể hiện ở chỗ các bài tập không những phải tuân thủ nội dung chương trình của môn học mà còn phải đảm bảo sự phù hợp về kiến thức trong chương trình
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy tính sáng tạo của học sinh
Tính vừa sức được hiểu ở đây là hệ thống bài tập đưa ra sẽ phải phù hợp với trình độ tri thức và trình độ nhận thức của học sinh
Nếu bài tập quá dễ thì sẽ không phát huy được tính sáng tạo của học sinh Còn nếu bài tập quá khó thì học sinh sẽ không đủ kiến thức để giải quyết yêu cầu của bài tập Nhằm ứng dụng hệ thống bài tập vào thực tế dạy - học, hệ thống bài tập không thể không dựa vào nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và cả nguyên tắc phát huy tính sáng tạo của học sinh
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa
Đa số những công trình nghiên cứu, dù là trực tiếp hay gián tiếp đều phải kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước
Kế thừa ở đây được hiểu là tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu đã có Theo cách hiểu đó, luận văn có tiếp thu một số bài tập của một vài tác giả đi trước trên tinh thần chọn lọc
2.1.6 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Hệ thống bài tập phải có tính khả thi để đạt được mục đích đã đặt ra, nghĩa là chúng phải là một hệ thống bài tập có thể vận dụng được trong thực tế dạy - học và đem lại hiệu quả như mong muốn
Tóm lại, hệ thống bài tập trình bày trong luận văn được xây dựng dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc tích hợp, nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống, nguyên tắc đảm bảo phù hợp nội dung chương trình, nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và phát huy
sự sáng tạo của học sinh, nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa, nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Trang 312.2 Xây dựng hệ thống bài tập nâng cao mở rộng vốn từ theo chủ điểm cho học sinh lớp 2
2.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập
Để nắm được một từ trong vốn từ của một ngôn ngữ ta phải biết nhận diện được
nó, hiểu nghĩa, sử dụng nó vào hoạt động giao tiếp một cách thành thạo và phải biết phát hiện và sửa lỗi dùng từ trong hoàn cảnh sử dụng từ nhất định
Nhằm giúp học sinh lớp 2 rèn luyện kỹ năng nhận diện từ, tăng thêm vốn từ, rèn luyện năng lực sử dụng từ, luận văn đã cố gắng xây dựng một hệ thống bài tập gồm nhiều nhóm, nhiều dạng theo các chủ điểm đã chọn Có thể khái quát hệ thống bài tập trong luận văn gồm 4 nhóm và 11 kiểu bài tập như sau:
- Nhóm bài tập nhận dạng từ
Nhận dạng từ có nghĩa là nhìn vào hình thức của từ có thể biết đó là từ gì
Vì Tiếng Việt là một ngôn ngữ không biến hình từ nên khi nhìn vào hình thức ngữ âm của từ để xác định từ là một việc khó khăn Nhưng với cách đặt câu hỏi của từng bài tập cụ thể sẽ giúp nhận dạng những từ cần thiết
Hướng xây dựng hệ thống bài tập này là đưa ra một dãy từ, yêu cầu học sinh chọn từ theo định hướng
+ Kiểu bài tập nhận dạng từ rời (từ chưa hoạt động)
Ví dụ: Gạch chân những từ vừa có thể dùng để chỉ quan hệ họ ngoại vừa có thể
dùng để chỉ quan hệ họ nội:
Chắt, chú, thím, em, cô, cháu, chị, bác, anh, dì, bà, cụ, ông
+ Kiểu bài tập nhận dạng từ trong lời nói (từ đã hoạt động)
Ví dụ: Gạch dưới những từ chỉ người trong gia đình, họ hàng trong đoạn sau:
Chim ri là dì sáo sậu Sáo sậu là cậu sáo đen Sáo đen là em tu hú
Tu hú là chú bồ các
Bồ các là bác chim ri Chim ri là dì sáo sậu
- Nhóm bài tập tìm từ dựa vào từ gốc (từ cho trước)
Bằng cách hướng dẫn học sinh tìm từ mới theo yêu cầu, dựa trên một từ cho trước để mở rộng vốn từ là một phương pháp đem lại hiệu quả khá cao trong việc rèn
Trang 32luyện năng lực từ ngữ cho học sinh dựa vào các trường nghĩa của từ, đặc điểm ngữ âm, ngữ pháp của từ và cơ chế liên tưởng của tư duy
Cách làm thường thấy là đưa ra một từ để làm gốc, sau đó yêu cầu học sinh tìm từ mới trên cơ sở mối quan hệ ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa chúng
Nhóm bài tập có thể được chia thành nhiều kiểu, nhiều dạng, nhưng luận văn chỉ trình bày 3 kiểu bài tập sau:
+ Tìm từ đồng nghĩa, gần nghĩa với từ cho trước
Ví dụ: Hãy liệt kê những từ có nghĩa giống/ gần giống nghĩa của từ xinh xắn
Mẫu: Xinh xắn, kháu khỉnh,
+ Tìm từ cùng trường nghĩa với từ cho trước
Ví dụ: Viết tiếp những từ ngữ nói về tình cảm của những người trong gia đình
dành cho nhau:
Ông bà, cha mẹ đối với cho con cháu: Yêu thương,
Con cháu đối với ông bà, cha mẹ: Kính trọng,
+ Tìm từ dựa vào khả năng kết hợp từ (về phía trước/ sau từ cho trước)
Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong câu sau:
là tương lai của đất nước
Điền từ vào các ô vuông sao cho mỗi chữ cái nằm trong một ô vuông
Trang 33+ Kiểu bài tập dùng từ đặt câu
Ví dụ:
Đặt câu với các từ sau đây (mỗi từ đặt một câu): Đùm bọc, hòa thuận, vâng lời Tìm 2 từ nói về những người chỉ quan hệ gia đình và đặt câu với các từ đó (mỗi
từ đặt một câu)
+ Kiểu bài tập thay thế từ ngữ
Ví dụ: Hãy thay từ in nghiêng trong các câu dưới đây bằng một từ khác mà vẫn
giữ được nghĩa của câu
Bố, mẹ tôi còn trẻ
Học sinh phải ghi bài đầy đủ trong giờ học
+ Kiểu bài tập trắc nghiệm
Ví dụ: Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng
Gặp người lớn biết chào hỏi thể hiện đức tình nào sau đây?
a Hiếu thảo
b Thông minh
c Lễ phép
d Chăm chỉ
- Nhóm bài tập sửa lỗi dùng từ
Đặt học sinh trước những cách dùng từ thiếu chuẩn xác, yêu cầu phát hiện chỗ sai, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất cách chữa
Có nhiều kiểu lỗi về dùng từ, nhưng luận văn chỉ trình bày kiểu lỗi: dùng từ sai âm, dùng từ sai nghĩa
+ Kiểu bài tập sửa lỗi dùng từ sai ngữ âm
Ví dụ: Hãy chỉ ra những từ dùng không đúng trong câu sau và sửa lại cho đúng
Ngày mai, lớp em tổ chức cuộc thăm quan khu di tích cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc
+ Kiểu bài tập sửa lỗi dùng từ sai ngữ nghĩa
Ví dụ: Từ ngữ nào dùng không đúng trong câu dưới đây Hãy sửa lại cho đúng
Món quà tuy nhỏ nhen nhưng ông em rất quý
2.2.2 Hệ thống bài tập
2.2.2.1 Hệ thống bài tập chủ điểm Em là học sinh, Bạn bè, Trường học, Thầy cô
1 Gạch chân những từ chỉ người trong dãy từ sau:
Nhà, học sinh, lớp, trường, cô giáo, cây bàng, múa, thầy giáo, chạy, xe đạp
Trang 342 Gạch chân những từ chỉ đồ dùng học tập trong dãy từ dưới đây:
Giường, thước, trường, bút, bàn , bút chì, vở, cái tủ, bảng con, ghế, lớp
3 Tìm các từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối, ) trong dãy từ sau:
Qúi mến, phượng vĩ, đi, nai, sách, dài, viết, xanh, thầy giáo, thân yêu
4 Gạch chân những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối, ) trong dãy từ sau:
Hạnh phúc, hộp bút, làm việc, máy bay, chào, cây mía, học trò, dũng cảm, nhớ
5 Gạch chân những từ ngữ chỉ đồ dùng học tập trong dãy từ sau:
Bạn học, bút chì, bạn cùng lớp, học kì, hộp màu, học phí, hộp bút, năm học, phấn viết
6 Gạch chân những từ chỉ hoạt động trong dãy từ dưới đây:
Vui vẻ, đọc, nhộn nhịp, buồn, viết, hỏi, ngộ nghĩnh, hát, chơi, cảm động, ngạc nhiên
7 Tìm những từ chỉ hoạt động học tập của học sinh trong câu sau:
a Cậu bé hiểu ra, quay về nhà học bài
b Bé làm bài, bé đi học, bé quét nhà, nhặt rau, chơi với em đỡ mẹ
8 Tìm những từ chỉ tính nết của học sinh trong câu sau:
Con học hành chăm chỉ
Là ngày qua vẫn còn
b Bạn Na học chưa giỏi, nhưng bạn rất ngoan ngoãn
9 Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối, ) có trong hai câu sau:
Con mèo mà trèo cây cau Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
10 Tìm những từ chỉ sự vật (người, đồ vật, con vật, cây cối, ) trong câu sau:
Mùa thu, trời trong xanh, nắng tỏa vàng như mật ong mới rót, gió chỉ đủ lạnh để giục trẻ em chạy nhảy chung quanh bầy trâu
11 Gạch dưới các tên riêng trong đoạn văn sau:
Nam quê ở Hà Nam Gần nhà Nam ở có ngọn núi Nghè cao vút Đứng trên núi,
có thể nhìn thấy chợn Non họp cạnh sân đình, thấy các xóm Nghè Thượng, Nghè
Trang 3512 Gạch dưới từ ngữ chỉ hoạt động trong các câu sau:
a Chúng em chào cờ trước lăng Bác
b Thầy em đang học hát
c Chú gấu nhí nhảnh đang chơi đàn
13 Tìm từ chỉ hoạt động, trạng thái trong hai khổ thơ sau:
Cơn mưa rơi nho nhỏ Không làm ướt tóc ai Tay em che trang vở Mưa chẳng khắp bàn tay Mưa yêu em mưa đến Dung dăng cùng đùa vui Mưa cũng làm nũng mẹ Vừa khóc xong đã cười
14 Chăm chỉ còn được gọi là gì?
15 Bút còn được gọi là gì?
16 Cục tẩy còn được gọi là gì?
17 Học sinh còn được gọi là gì?
24 Hãy liệt kê những từ con vật
Mẫu: Chim sáo,…
25 Hãy liệt kê những từ chỉ cây cối
Mẫu: Táo,…
26 Hãy liệt kê tên năm bạn trong lớp
Trang 3629 Liệt kê từ chỉ tên các môn học ở lớp 2
Mẫu: Tiếng Việt,
30 Hãy liệt kê những từ ngữ chỉ hoạt động của thầy cô
Mẫu: Giảng bài,…
31 Viết tiếp những từ chỉ hoạt động của học sinh
Trang 3742 Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống:
(vẽ, chăm chỉ, hát, lễ phép, hỏi, hiền lành, viết , thật thà)
Từ chỉ hoạt động của học sinh: , , ,
Từ chỉ tính nết của học sinh: , , ,
43 Điền từ thích hợp vào chỗ chấm trong các câu sau:
a Thân dài thượt
Ruột thẳng băng Khi thịt bị cắt khỏi chân Thì ruột lòi dần dần vẫn thẳng như rươi
Trang 38Là cái ………?
b Là lọ mà có nước đen sì
Để cho một kẻ uống thì no nê
Là cái ……….?
44 Xếp các từ trong dòng sau thành một câu và ghi lại:
Cô giáo/ em/ bông hoa/ tặng
………
45 Từ chỉ hoạt động học và luyện tập để hiểu biết, để có kĩ năng, có tri thức (có 6 chữ cái, bắt đầu bằng chữ H)
46 Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống:
(đồ vật, người, con vật, cây cối)
- Học sinh, đội viên, thầy cô, là những từ chỉ………
- Tủ sách, chăn, thước kẻ, ấm điện,… là những từ chỉ ………
- Bằng lăng, hồng xiêm, sầu riêng, là những từ chỉ………
- Chích chòe, ngan, rô phi, ngỗng, là những từ chỉ………
47 Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau:
a ……… là người mẹ thứ hai của em
b Tháng tám có bốn ………
c Bạn thân của em là………
d ……….có mười hai tháng
48 Hãy điền vào chổ trống để hoàn thành các câu sau:
a Muốn sang thì bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy………
Trang 39Công danh gặp bước, chớ ……….ơn thầy
c Muốn sang thì bắt cầu kiều
Muốn con hay chữ phải……….lấy thầy
49 Có quan hệ tình cảm gần gũi và gắn bó mật thiết với nhau (có 9 chữ cái, bắt đầu bằng chữ T)
50 Điền từ thích hợp vào chỗ trống trong các câu sau đây:
a ……… là học sinh lớp 2
b Hằng là học sinh ………… ……….nhất lớp
c ……… em yêu thích là Tiếng Việt
51 Đọc các từ ở mỗi cột sau và điền vào mỗi chỗ trống để hoàn thành nhận xét:
a Trường em đang học là trường ………
b ………là Thủ đô của nước ta
c ……….là môn thể thao mà em thích nhất
53 Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống:
a Hình chữ nhật đỏ rực hồng
Trang 40Ngôi sao ở giữa nhìn trông màu vàng
Ở khắp đất nước Việt Nam Luôn bay trước gió huy hoàng muôn năm?
55 Tập giấy ghi ngày, tháng trong năm (có 4 chữ cái, bắt đầu bằng chữ L)
56 Chọn từ thích hợp trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống:
(dang, ngẩng, trông, biến)