Nội dung và giới hạn đề tài: Do giới hạn về thời gian thực hiện đề tài và kiến thức chuyên môn nên đề tài chỉ tập trung vào đánh giá các tiêu chí theo thông tư hướng dẫn của Bộ Khoa học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA CÔNG NGHỆ
- -
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
(CÔNG TY CP MAY TÂY ĐÔ)
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
Ths Phạm Thị Vân Võ Thị Kiều Tâm (MSSV:1117789)
Ngành Quản lý công nghiệp
Tháng 5/2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Cần Thơ, ngày 5 tháng 5 năm 2015
PHIẾU ĐĂNG KÍ ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP CỦA SINH VIÊN
NĂM HỌC: 2014-2015
1 Họ và tên sinh viên: Võ Thị Kiều Tâm MSSV: 1117789
Ngành Quản lý công nghiệp Khóa: 37
2 Tên đề tài:
Đánh giá trình độ công nghệ sản xuất tại Công ty CP May Tây Đô
3 Địa điểm thực hiện:
Công ty cổ phần may Tây Đô số 73 đường Mậu Thân, Q Ninh Kiều, TP Cần Thơ
4 Họ và tên cán bộ hướng dẫn
Thạc sĩ Phạm Thị Vân, Giảng viên thỉnh giảng, Bộ môn Quản Lý Công Nghiệp,
Trường Đại học Cần Thơ
5 Mục tiêu của đề tài
Hiểu được tầm quan trọng của việc đánh giá trình độ công nghệ và phương pháp đánh giá
Tìm hiểu, khảo sát các hoạt động sản xuất của công ty từ đó đánh giá được các điểm mạnh và các điểm còn hạn chế của nhà máy về trình độ công nghệ sản xuất của Công ty
Đề ra các giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ sản xuất của Công
ty
6 Nội dung và giới hạn đề tài:
Do giới hạn về thời gian thực hiện đề tài và kiến thức chuyên môn nên đề tài chỉ tập trung vào đánh giá các tiêu chí theo thông tư hướng dẫn của Bộ Khoa học Công nghệ ban hành và dựa trên kết quả đánh giá để đề xuất một số giải pháp góp phần nâng
Trang 3SINH VIÊN ĐỀ NGHỊ
Võ Thị Kiều Tâm
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG LUẬN VĂN
Trang 4Nhận xét và đánh giá của cán bộ hướng dẫn
NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Nhận xét:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
Nhận xét:
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 6CP May Tây Đô Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
Quý Thầy Cô trong bộ môn Quản lý công nghiệp đã hướng dẫn tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập 4 năm tại trường giúp tôi xây dựng một kiến thức nền tảng để bước vào đời và đặc biệt xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Phạm Thị Vân đã tận tình chỉ bảo, giải đáp thắc mắc giúp tôi để hoàn thành đề tài luận văn này
Anh Nguyễn Thái Hùng- Nguyên giám đốc Công ty CP May Tây Đô đã giới thiệu cho tôi thực tập trong công ty của anh và chỉ dẫn cho tôi nhiều điều hay trong cuộc sống
Cô Phan Thị Minh Châu- Giám đốc điều hành Công ty CP May Tây Đô đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học hỏi nhiều kiến thức, kinh nghiệm thực tế tại Công ty
Anh Nguyễn Hữu Nghiệm đã cung cấp cho tôi nhiều kiến thức hay trong thực tế và đưa ra nhiều ý kiến đóng góp quý báu cho tôi để thực hiện đề tài này
Và xin cảm ơn chị Nhành, anh Liêm, anh Thuận là nhân viên trong phòng Kiểm soát nội bộ và các anh chị trong nhóm Kaizen đã nhiệt tình giúp đỡ, giải đáp thắc mắc trực tiếp cho tôi trong suốt thời gian 2 tháng thực tập và thu thập số liệu tại Công ty
Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cha, mẹ, những người thân trong gia đình tôi- những người đã luôn bên cạnh tôi, lo lắng và động viên để tôi có thêm động lực vượt qua những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống
Xin chân thành cảm ơn!
Võ Thị Kiều Tâm
Trang 7TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước hiện nay, nền sản xuất công nghiệp càng phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải chạy đua về công nghệ và có cái nhìn chính xác, rõ ràng về trình độ sản xuất tại doanh nghiệp mình Thông qua đó có thể thấy rõ tầm quan trọng của việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất có tác động lớn đến công tác xây dựng chiến lược kinh doanh lâu dài trong công ty Các doanh nghiệp và công
ty cần có sự quan tâm sâu hơn đến công tác đánh giá để có những quyết định, những hướng
đi đúng đắn cho doanh nghiệp của mình
Bằng phương pháp đánh giá ATLAT thông qua bốn nhóm tiêu chí T,H,I,O và hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất của Bộ Khoa học và Công nghệ Đề tài thu thập
số liệu dựa trên phiếu khảo sát trình độ công nghệ và phỏng vấn một số chuyên gia tại công
ty Sau khi đã thu thập đầy đủ số liệu, tiến hành tính toán, cho điểm từng tiêu chí để xác định trình độ sản suất hiện tại của Công ty CP May Tây Đô Từ kết quả đánh giá phân tích các điểm mạnh và điểm yếu để đưa ra các giải pháp cần thiết nhằm cải thiện trình độ sản xuất nâng cao năng suất sản xuất
Dù đã cố gắng hết sức để hoàn thiện đề tài tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi một
số sai sót và hạn chế trong bài làm rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét từ quý Thầy, Cô
để đề tài hoàn thiện hơn
Võ Thị Kiều Tâm
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
MỤC LỤC………i
DANH MỤC HÌNH……… iv
DANH MỤC BẢNG……… v
CHƯƠNG I 1
GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu đề tài 2
1.3 Địa điểm và thời gian thực hiện 2
1.4 Phương pháp thực hiện 2
1.5 Giới hạn đề tài 2
1.6 Nội dung chính 2
1.7 Kế hoạch thực hiện 3
CHƯƠNG II 4
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
2.1 Khái niệm về công nghệ 4
2.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ 6
2.2.1 Công nghệ hàm chứa ở dạng vật chất (Technoware - T) 6
2.2.2 Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware - H) 6
2.2.3 Công nghệ hàm chứa trong thông tin (Inforware - I) 7
2.2.4 Công nghệ hàm chứa trong tổ chức (Orgaware - O) 7
2.3 Xây dựng các nhóm chỉ tiêu đánh giá 8
2.4 Đánh giá trình độ công nghệ 10
2.4.1 Khái niệm 10
Trang 9CHƯƠNG III 16
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VÀ CÔNG TY CP MAY TÂY ĐÔ 16
3.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam 16
3.2 Tổng quan về công ty CP May Tây Đô 20
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển 21
3.2.2 Sơ đồ tổ chức 21
3.2.3 Các dòng sản phẩm chính của Công ty 22
3.2.4 Chính sách Công ty 24
3.2.5 Thành tích đạt được 24
3.2.6 Thị trường và hệ thống phân phối 24
3.2.7 Quy trình sản xuất của Công ty 25
3.2.8 Công tác đánh giá nội bộ tại công ty 27
CHƯƠNG IV 28
KHẢO SÁT – ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP 28
4.5.1 Xác định các thành phần công nghệ (nhóm T, H, I, O) của Công ty 47
4.5.2 Phân loại trình độ công nghệ sản xuất 48
4.5.3 Hệ số đóng góp công nghệ 48
4.5.4 Đồ thị hình thoi 48
4.5.5 Nhận xét 49
4.5.6 Đề xuất một số giải pháp 50
4.5.6.1 Nâng cao nhóm tiêu chí về công nghệ 50
a) Mức độ hao mòn thiết bị 50
b) Cường độ vốn thiết bị 50
c) Mức độ tự động hóa 51
4.5.6.2 Nâng cao nhóm tiêu chí về nhân lực 52
a) Tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên 52
b) Tỷ lệ chi phí cho đào tạo và nghiên cứu 52
c) Năng suất lao động 53
4.5.6.3 Nâng cao nhóm tiêu chí tổ chức và quản lý 53
a) Tiêu chí phát triển đối mới sản phẩm 53
b) Bảo vệ môi trường 54
CHƯƠNG V 56
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56
5.1 Kết luận 56
5.2 Kiến nghị 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam 18
Hình 3.2: Giá trị xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam (triệu USD) 19
Hình 3.3: Giá trị nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam (triệu USD) 20
Hình 3.4: Hình ảnh biểu tượng công ty 20
Hình 3.5: Sơ đồ tổ chức 22
Hình 3.6: Áo sơ mi 23
Hình 3.7: Quần tây 23
Hình 3.8: Đồng phục học sinh 23
Hình 3.9: Quần áo công sở 24
Hình 3.10: Quy trình sản xuất 27
Hình 3.11: Kế hoạch đánh giá nội bộ năm 2015 27
Hình 5.1: Sơ đồ hình thoi lý tưởng T, H, I, O và tứ giác thực tế 49
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Khái quát chung về ngành dệt may Việt Nam năm 2013 16
Bảng 3.2:Mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 17 Bảng 4.2: Số điểm từng tiêu chí của nhóm tiêu chí về công nghệ 35
Bảng 4.3: Số điểm các tiêu chí của nhóm tiêu chí về nhân lực 40
Bảng 4.4: Một số khách hàng chính của Công ty 41
Bảng 4.5: Một số nhà cung ứng của Công ty 42
Bảng 4.7: Số điểm các tiêu chí của nhóm tiêu chí tổ chức, quản lý 46
Bảng 4.8: Số điểm của các nhóm tiêu chí 47
Trang 12Chương I:Giới thiệu
và thử thách vì sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự đánh giá đúng thực lực của mình thì mới có thể đối đầu với các đối thủ cũng như câu “biết người biết ta trăm trận trăm thắng” Vì thế yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp
là phải tiến hành phân tích một cách toàn diện về trình độ công nghệ sản xuất để biết mình đang ở đâu và có thể dựa trên đó để đưa ra chiến lược công nghệ phù hợp vào sản xuất giúp nâng cao năng lực sản xuất cho doanh nghiệp Đây đang là một vấn đề quan trong nhưng vẫn chưa được các doanh nghiệp quan tâm nhiều
Thấy được vấn đề đó nên Bộ khoa học và Công nghệ đã ban hành thông tư số 04/2014 để Hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất cho doanh nghiệp và cho ngành kinh tế
Công ty Cổ Phần May Tây Đô là một trong những công ty rất quan tâm đến công tác đánh giá nội bộ Hằng năm công ty luôn chủ động tiến hành công tác đánh giá nội bộ định kì theo quý và nhiều cuộc đánh giá đột xuất nhằm kiểm soát các hoạt động của công
Trang 13Nhìn thấy sự cấp thiết của việc đánh giá trình độ công nghệ nên tôi đã chọn đề tài
“Đánh giá trình độ công nghệ sản xuất tại Công ty Cổ Phần May Tây Đô” nhằm tìm
ra những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế của công ty để đề ra những chính sách phát triển phù hợp với lợi thế công nghệ mà công ty hiện có đồng thời tìm ra những giải pháp khắc phục những điểm còn hạn chế
1.3 Địa điểm và thời gian thực hiện
Cần Thơ
Thời gian thực hiện: 12/2014-5/2015
1.4 Phương pháp thực hiện
Tham khảo các tài liệu, sách báo, giáo trình có liên quan đến đề tài
Khảo sát thực tế tại nhà máy và thu thập số liệu
Tìm hiểu các quy chuẩn đánh giá tại nhà máy để đánh giá trình độ sản xuất tại công ty
Tham vấn ý kiến từ các chuyên viên tại công ty và giảng viên hướng dẫn để đưa ra những giải pháp phù hợp
1.5 Giới hạn đề tài
Do giới hạn về thời gian thực hiện đề tài và kiến thức chuyên môn nên đề tài chỉ tập trung vào đánh giá các tiêu chí theo thông tư của Bộ Khoa học Công nghệ ban hành và dựa trên kết quả đánh giá để đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao công tác quản lý công nghệ tại Công ty Cổ Phần may Tây Đô
1.6 Nội dung chính
Chương I: Giới thiệu
Chương II: Cơ sở lý thuyết
Trang 14Chương I:Giới thiệu
Chương III: Tổng quan về Công ty
Chương IV: Hiện trạng trình độ công nghệ sản xuất tại Công ty
Chương V: Đánh giá và đề xuất một số giải pháp
Chương VI: Kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG II
LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm về công nghệ
Từ “Công nghệ” xuất phát từ chữ Hy Lạp (τεκηνε - Tekhne) có nghĩa là một công nghệ hay một kỹ năng và (λογοσ - logos) có nghĩa là một khoa học, hay sự nghiên cứu
Theo từ điển kĩ thuật của Liên Xô trước đây: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp gia công, chế tạo, làm thay đổi trạng thái, tính chất, hình dáng nguyên, vật liệu hay bán thành phẩm sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh”
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, khởi đầu từ Mỹ rồi Tây Âu đã sử dụng thuật ngữ “công nghệ” để chỉ các hoạt động ở mọi lĩnh vực, các hoạt động này áp dụng những kiến thức là kết quả của nghiên cứu khoa học ứng dụng - một sự phát triển của khoa học trong thực tiễn - nhằm mang lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của con người
Định nghĩa công nghệ do Uỷ ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP) đưa ra
“Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu
và thông tin Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch vụ”
Theo quan điểm của UNIDO, công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghệ bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách hệ thống và có phương pháp
Luật khoa học và công nghệ của Việt Nam, quan niệm: “công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”
Trang 16Chương II: Lược khảo tài liệu
Theo tiến sĩ Ngô Văn Quế, trong thời kỳ đầu công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa, người ta quen dùng khái niệm công nghệ với nghĩa nó là phương tiện vật chất như: công
cụ, năng lượng, vật liệu được con người sáng tạo và sử dụng trong sản xuất và dịch vụ
Từ những năm 60 trở lại đây, do mua bán công nghệ ngày càng sôi động trong kinh doanh quốc tế nên công nghệ đã được hiểu theo nghĩa rộng hơn Hiện nay đang tồn tại những quan niệm khác nhau về công nghệ Song, chưa có sách vở nào đưa ra một định nghĩa chuẩn xác về công nghệ
Theo tác giả K.Ramanathan, tồn tại một số quan niệm phổ biến về công nghệ như sau: “Công nghệ là máy biến đổi” Với quan niệm này, công nghệ được thể hiện ở hai khía cạnh Thứ nhất, nó thể hiện xu hướng cho rằng khoa học và công nghệ là một và phải được áp dụng đồng thời, và các nhà khoa học ứng dụng cần tìm ra cách áp dụng vào thực tế các lý thuyết thuần tuý Thứ hai, thuật ngữ “công nghệ” liên quan đến khả năng làm một cái gì đó, ngụ ý rằng nó là những gì làm biến đổi yếu tố đầu vào thành sản phẩm đầu ra sau cùng
Quan niệm như vậy đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ Tuy nhiên, những định nghĩa này còn rất chung chung, không đủ cụ thể để mở ra chiếc “hộp đen công nghệ”
“Công nghệ là công cụ” Với quan niệm này, công nghệ dựa trên nền tảng là các máy móc thiết bị Cách nhìn này vẫn còn phổ biến đến ngày nay, mặc dù một vài định nghĩa có nói đến sự tác động quan lại giữa máy móc – con người
Những định nghĩa dựa trên quan niệm “Công nghệ là công cụ” đã mở ra phần nào chiếc hộp đen công nghệ, tuy nhiên nó vẫn còn thiếu sót Tác giả Simon đã nói trong cuốn sách “Technology Policy Formulation and Planning: A Reference Manual” rằng:
“Nhìn công nghệ ở khía cạnh máy móc và những vật chất rõ ràng sai lầm giống như chỉ nhìn thấy cái vỏ của con ốc sên, hay cái mạng của con nhện vậy.”
“Công nghệ là kiến thức” cho rằng kiến thức là bản chất của tất cả các phương tiện chuyển đổi Những người ủng hộ quan niệm này cho rằng kiến thức là khía cạnh quan trọng hàng đầu
Những định nghĩa đi theo quan niệm này ngụ ý rằng kiến thức có thể được phân loại thành “know-why” và “know-how” “Know-why” là những kiến thức khoa học thuần tuý như các nguyên tắc liên quan đến vật lý và hiện tượng xã hội “Know-how” dựa trên kinh nghiệm và kinh nghiệm tăng lên thông qua việc áp dụng “know-why” vào thực tế (phương pháp thử - sai, kinh nghiệm, học hỏi từ chuyên gia)
Một trong những đóng góp chính của quan niệm này là giúp mở ra chi tiết hơn
“hộp đen công nghệ” bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức và phác hoạ
Trang 17“Công nghệ là các hình thái biểu hiện” cố gắng làm sáng tỏ những vấn đề mà ba quan niệm trên gặp phải và cố mở ra hoàn toàn chiếc hộp đen công nghệ Quan niệm này nhìn công nghệ theo những hình thái biểu hiện khác nhau theo cách tiếp cận chiết trung, dựa trên những ý tưởng phát ra từ ba quan niệm phía trên
Một số định nghĩa theo quan niệm này vẫn còn chung chung theo các khía cạnh
“phần cứng” và “phần mềm”, nhưng cũng có những định nghĩa cụ thể hơn và có ý nghĩa đáng kể trong việc mở ra hộp đen công nghệ (chia công nghệ theo các thành phần Kỹ thuật, Con người, Thông tin và Tổ chức)
2.2 Các bộ phận cấu thành một công nghệ
Trung tâm chuyển giao công nghệ khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (The Asian and Pacific Centre for Transfer of Technology – APCTT) coi công nghệ hàm chứa trong bốn thành phần; kỹ thuật, kỹ năng con người, thông tin và tổ chức các thành phần này tác động qua lại lẫn nhau để thực hiện quá trình biến đổi mong muốn
Bốn thành tố của công nghệ là T, H, I, O đó là kỹ thuật, con người, thông tin và tổ chức
2.2.1 Công nghệ hàm chứa ở dạng vật chất (Technoware - T)
Thành phần kĩ thuật tức là máy móc, thiết bị, kết cấu hạ tầng hay còn gọi là phương tiện kỹ thuật
Kỹ thuật là phần cốt lõi của bất kỳ một công nghệ nào, nó được triển khai nhờ con người và nhờ nó nâng cao khả năng sức lực trí tuệ của cong người Hiệu năng của vật tư kỹ thuật thể hiện trình độ hiện đại Các đặc điểm kỹ thuật của hiệu năng được dánh giá trên một số chuẩn mực như:
Các thao tác cần có,
Phẩm chất của dây chuyền công nghệ
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tự động hoá quá trình sản xuất là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá trình độ phát triển của phần kỹ thuật hiện tại
2.2.2 Công nghệ hàm chứa trong con người (Humanware - H)
Thành phần con người bao gồm năng lực của con người về công nghệ như kỹ năng, kinh nghiệm, tính sáng tạo, đạo đức lao động
Trang 18Chương II: Lược khảo tài liệu
Con người là cho phương tiện kỹ thuật hoạt động và phát huy hết tính năng của chúng, nhờ tính năng động, sáng tạo con người có khả năng cải tiến, mở rộng, đổi mới
và sáng chế các trang thiết bị Con người đóng mọt vai trò chủ động trong công nghệ
Kỹ năng công nghệ của con người thể hiện qua trình độ học vấn, kỹ năng, trí lực Tài năng con người về mặt công nghệ được đánh giá qua các khía cạnh như hiệu suất, năng suất, tiềm năng sáng tạo, sự cầu tiến
Xu thế ngày nay là tăng hàm lượng chất xám chứ không phải tăng hàm lượng vật chất trong một đơn vị sản phẩm, cho nên chiến lược đầu tư vào yếu tố con người càng
cơ bản, lâu dài Con người phải đủ năng lực để là chủ công nghệ, phát huy hết năng lực của công nghệ
2.2.3 Công nghệ hàm chứa trong thông tin (Inforware - I)
Thành phần thông tin là các kiến thức có tổ chức, được tư liệu hoá như các lý thuyết, khái niệm, các phương pháp, các thông số, bí quyết, phần mềm
Phần thông tin thể hiện tri thức tích luỹ trong công nghệ Thông tin phải thường xuyên được cập nhật Cùng một thiết bị và phương tiện song với kiến thức khác nhau sẽ cho những sản phẩm khác nhau có chất lượng khác nhau đó là những bí quyết công nghệ
Bí quyết công nghệ (thông tin) được coi là sức mạnh của công nghệ
Vòng đời của thông tin được bắt đầu là tìm kiếm thông tin thông qua việc phân tích, lựa chọn thông tin, tổ chức lưu trữ hoặc chế tạo các sản phẩm thông tin Một thông tin có thể dùng cho nhiều công nghệ
Độ phức tạp của thông tin được đánh giá ở các mặt : (1).thông tin báo hiệu, (2) thông tin mô tả, (3) thông tin để lắp đặt, (4) thông tin để sử dụng, (5) thông tin để thiết
kế, (6) thông tin để mở rộng và (7) thông tin để đánh giá Trong đố thông tin (5), (6), (7) được coi là phần bí quyết và cần được bảo vệ
Tính thích hợp của thông tin thể hiện ở chỗ : mức độ lấy thông tin, sự liên kết giữa hệ thống thông tin và các nguốn, khả năng truy cập, mức độ dễ dàng trong giao lưu
2.2.4 Công nghệ hàm chứa trong tổ chức (Orgaware - O)
Thành phần tổ chức đó là cơ cấu tổ chức, thẩm quyền trách nhiệm, mối liên hệ, sự phối hợp, liên kết trong quản lý và điều hành
Phần tổ chức đóng vai trò điều hoà, phối hợp ba thành tố trên Nó giúp cho việc quản lý; lập kế hoạch, tổ chức bộ máy nhân sự, động viên thức đẩy và kiểm soát các hoạt
Trang 19Tính hiệu quả của một tổ chức được đánh giá thông qua trình độ lãnh đạo, mức
độ tự trị, tính định hướng, mối quan tâm chung, tính thích hợp, linh hoạt, tính đổi mới, mối liên hệ, liên kết với các tổ chức bên trong, bên ngoài
Trong những năm gần đây, sự phát của công nghệ thông tin đã giúp cho các nhà quản lý tạo lập một cấu trúc mới trong cơ cấu tổ chức và quản lý Nhờ công nghệ thông tin mà người ta đã bỏ được khái niệm "phạm vi điều khiển" và nhờ công nghệ thông tin các nhà quản lý có khả năng kết nối với thị trường, nhà cung cấp
Vai trò của công nghệ thông tin đối với công nghệ là rất to lớn, nó trợ giúp đắc lực và ngày càng trở nên không thể thiếu được trong công nghệ tiên tiến và hiện đại
Đánh giá trình độ công nghệ theo phương pháp ATLAT - công nghịêp là một phương pháp tiên tiến, nó cho kết quả tương đối chính xác về kết quả định tính và định lượng đặc trưng cho trình độ công nghệ Tuy nhiên, sử dụng phương pháp này đòi hỏi thông tin điều tra phải đầy đủ, chính xác Các cán bộ, chuyên gia đánh giá phải có trình
độ, năng lực và kinh nghiệm nhất định khi tham gia vào quá trình đánh giá Việc xử lý
số liệu và tính toán tương đối phức tạp
Đánh giá trình độ công nghệ của một số ngành công nghiệp địa phương nhằm xác định trình độ công nghệ hiện tại và từ đó có định hướng đầu tư phát triển đổi mới công nghệ cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của địa phương
Một trong những công việc quan trọng của phương pháp đánh giá này là xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá
Các thành phần của một công nghệ có quan hệ mật thiết bổ sung cho nhau, không thể thiếu bất cứ thành phần nào Tuy nhiên, có một giới hạn tối thiểu cho mỗi thành phần
để có thể thực hiện quá trình biến đổi, đồng thời có một giới hạn tối đa cho mỗi thành phần để hoạt động biến đổi không mất đi tính tối ưu hoặc tính hiệu quả
Nếu không hiểu chức năng và mối tương hỗ giữa các thành phần của một công nghệ, có thể dẫn đến lãng phí trong đầu tư trang thiết bị do các thành phần khác không tương xứng (hay không đồng bộ) khiến trang thiết bị, máy móc không phát huy hết tính năng của chúng
2.3 Xây dựng các nhóm chỉ tiêu đánh giá
Nhóm chỉ tiêu chiến lược sản phẩm để đánh giá các pha của sản phẩm và có chiến lược đổi mới phát triển sản phẩm
Nhóm chỉ tiêu chung để đánh giá trình độ công nghệ chính gần đúng theo theo phương pháp ATLAT - công nghiệp
Trang 20Chương II: Lược khảo tài liệu
Phương pháp tính toán hàm lượng công nghệ, đóng góp của TCN bằng công thức sau:
t - Được tính theo giá trị của bốn thành tố công nghệ theo công thức
T(i,j,k,l) thành phần công nghệ T cho từng công đoạn
Hệ số trọng lượng a phản ánh mức độ quan trọng của các yếu tố tham gia vào từng thành phần công nghệ
+ Các số mũ bt, bh, bi, bo biểu thị cường độ đóng góp của từng thành phần công nghệ
bt + bh + bi + bo = 1
Sau khi tính toán T, H, I, O ta tiến hành xây dựng biểu đồ công nghệ hình thoi
và trên biểu đồ này ta thấy được hàm lượng công nghệ đóng góp vào hiệu quả sản xuất của dây chuyền được đánh giá
Trang 21
Nhóm chỉ tiêu đặc thù đánh giá tính tương thích của công nghệ và thiết bị cũng như khả năng còn lại và khả năng phát triển Đánh giá năng lực nội sinh của doanh nghiệp Nhóm chỉ tiêu kinh doanh đặc thù hỗ trợ cho kết quả của quá trình sản xuất Trên cơ sở hệ thống các chỉ tiêu đã được xây dựng tiến hành đánh giá trình độ công nghệ của các ngành công nghiệp địa phương Tổ chức đánh giá theo phương pháp chuyên gia
2.4 Đánh giá trình độ công nghệ
2.4.1 Khái niệm
Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về đánh giá công nghệ Dưới đây
là một số định nghĩa về đánh giá công nghệ
Đánh giá công nghệ là một dạng nghiên cứu chính sách nhằm cung cấp sự hiểu biết toàn diện về một công nghệ hay một hệ thống công nghệ cho đầu vào của quá trình
ra quyết định
Đánh giá công nghệ là quá trình tổng hợp xem xét tác động giữa công nghệ với môi trường xung quanh nhằm đưa ra các kết luận về khả năng thực tế và tiềm năng của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ
Trang 22Chương II: Lược khảo tài liệu
Đánh giá công nghệ là việc phân tích định lượng hay định tính các tác động của một công nghệ hay một hệ thống công nghệ đối với các yếu tố của môi trường xung quanh
2.4.2 Tầm quan trọng của việc đánh giá trình độ công nghệ
Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, phần lớn các doanh nghiệp nước ta (chủ yếu là các doanh nghiệp dân doanh) đang sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2-3 thế hệ; có 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1960 -1970; 75% số thiết bị đã hết khấu hao; 50% thiết bị là đồ tân trang… Nhóm ngành sử dụng công nghệ cao mới đạt khoảng 20%, trong khi đó ở Singapore là 73%, Malaysia là 51% và Thái Lan là 31% (tiêu chí để đạt trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là trên 60%) Trình độ trang thiết bị, máy móc lạc hậu, chậm được đổi mới đang là cản trở lớn đối với quán trình phát triển và hội nhập của doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp dân doanh của nước ta hiện nay Chính vì thế nên việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất là rất quan trọng và cần thiết Công cụ này không những giúp các cơ quan quản lý nhà nước nắm được trình độ công nghệ các ngành sản xuất một cách kịp thời, đầy đủ mà còn giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong việc trao đổi, kiểm tra các thông tin về công nghệ, đặc biệt là tự đánh giá về trình dộ công nghệ của mình để có những định hướng đổi mới hiệu quả hơn về công nghệ sản xuất Đây là hướng đi mới của khoa học và công nghệ tác động vào phát triển sản xuất công nghiệp một cách hiệu quả nhất
Triển khai Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011-2020, ngày 19 tháng 9 năm 2014 tại Hà Nội, Văn phòng Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã phối hợp với Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ – Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề “Phương pháp đánh giá đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp” Đồng chí Hoàng Văn Phong, Chủ tịch Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Đồng chí Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã Chủ trì và điều hành Hội thảo
Tại Hội thảo, các đại biểu đã được nghe và thảo luận về các vấn đề liên quan đến công tác điều tra, thống kê, phương pháp đánh giá đổi mới công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới Kinh nghiệm xây dựng các chỉ tiêu và đánh giá hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp từ một số dự án hợp tác với nước ngoài; hoạt động điều tra, thống kê đánh giá cũng như thực trạng về đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp
ở Việt Nam, từ đó có thể đề xuất phương án tiếp cận nhằm xây dựng phương pháp đánh giá đổi mới công nghệ và tính toán tốc độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp hiện nay Hội thảo cũng là cơ hội để các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà thống kê, cũng như các doanh nghiệp của Việt Nam có cái nhìn tổng quát hơn về các
Trang 23thể phân rõ trách nhiệm cũng như cơ chế phối hợp giữa các đơn vị chức năng trong và ngoài bộ để có thể giải quyết những vấn đề còn tồn tại trong công tác này Hội thảo là
sự kiện bước đầu nhằm định hướng xây dựng phương pháp đánh giá, tính toán tốc độ đổi mới công nghệ và xác định phương án triển khai hoạt động điểu tra, thống kê, đánh giá đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp, từ đó các nhà khoa học có cơ sở khoa học cũng như phương pháp luận để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cũng như đề xuất các cơ chế hỗ trợ cần thiết trong quá trình thực hiện
Ngày 26/11/2014, Viện đánh giá khoa học và định giá công nghệ phối hợp với Văn phòng Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ (KH&CN) Quốc gia đã tổ chức buổi Hội thảo khoa học “Đánh giá và Quản lý công nghệ trong các doanh nghiệp
và tổ chức nghiên cứu”
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Trần Văn Tùng nhấn mạnh: trong những năm gần đây, công tác đánh giá, định giá công nghệ được lãnh đạo Bộ KH&CN hết sức quan tâm và giao cho một số đơn vị chức năng triển khai thực hiện, kết quả của hoạt động này nhằm phục vụ cho các nhu cầu của các cơ quan quản lý về KH&CN cũng như cộng đồng doanh nghiệp trong nước Chính vì vậy, Hội thảo này được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của công tác đánh giá công nghệ và quản lý công nghệ trong các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu KH&CN, cũng như đề xuất cơ chế hỗ trợ cần thiết trong quá trình thực hiện theo các yêu cầu đặt ra của Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020
Hội thảo đã chia sẻ và trao đổi một số nội dung như: Quản lý công nghệ và đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp - cách tiếp cận và kinh nghiệm từ góc nhìn của Đức; Đánh giá công nghệ - phương pháp và kinh nghiệm từ góc độ nước Đức; Quản lý và đánh giá công nghệ trong nghiên cứu ứng dụng - ví dụ và những bài học từ Viện Fraunhofec và các trường đại học của CHLB Đức; Đánh giá năng lực đổi mới - cách tiếp cận và kinh nghiệm của Đức Hội thảo là cơ hội để các đại biểu gặp gỡ, trao đổi và thảo luận cũng như nhận được các tư vấn, góp ý từ các chuyên gia đến từ CHLB Đức, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu, cộng đồng doanh nghiệp trong việc xây dựng và hình thành các công cụ chính sách hỗ trợ việc nghiên cứu và phát triển công nghệ, quản lý công nghệ tại các tổ chức nghiên cứu trong mối quan hệ tương tác với các doanh nghiệp sản xuất, ứng dụng công nghệ và ngược lại
2.4.3 Mục đích của đánh giá công nghệ
Đánh giá trình độ công nghệ là một công việc quan trọng, nó giúp cho các nhà hoạch định thấy được trình độ công nghệ hiện tại của một ngành, một địa phương hay một quốc gia đang ở mức nào, so với địa phương hay một quốc gia khác… Từ đó có
Trang 24Chương II: Lược khảo tài liệu
những định hướng chiến lược đầu tư phát triển cho ngành hay một địa phương phát triển bền vững Tiếp thu các công nghệ mới, công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành, địa phương, phát huy nội lực, công nghệ hiệncó sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực; máy móc thiết bị, nhân lực… Đánh giá trình độ công nghệ của một số ngành công nghiệp địa phương nhằm xác định trình độ công nghệ hiện tại và từ đó có định hướng đầu tư phát triển đổi mới công nghệ cho các ngành công nghiệp mũi nhọn của địa phương
Ở các nước đang phát triển, đánh giá công nghệ nhằm các mục đích sau:
đích này, đánh giá công nghệ phải xác định được tính thích hợp của công nghệ đối với môi trường nơi áp dụng nó
công nghệ để nhận biết các lợi ích của một công nghệ, trên cơ sở đó phát huy, tận dụng các lợi ích này, đồng thời tìm ra các bất lợi tiềm tàng của công nghệ để có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục
Đánh giá công nghệ cung cấp một trong những đầu vào cho quá trình ra quyết định:
Xác định chiến lược công nghệ khi có thay đổi lớn trong chính sách kinh tế - xã hội quốc gia
Khi quyết định chấp nhận các dự án tài trợ công nghệ của nước ngoài
Quyết định triển khai một công nghệ mới hay mở rộng một công nghệ đang hoạt động
Xác định thứ tự ưu tiên phát triển công nghệ của quốc gia trong từng giai đoạn
2.4.4 Kết quả đánh giá trình độ công nghệ một số tỉnh, thành phố
Sau khi Bộ Khoa học và Công Nghệ ban hành thông tư số 04/2014TT-BKHCN
“Hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất”, hầu hết các tỉnh, thành phố đều khẩn trương tiến thành xây dựng đề tài nghiên cứu đánh giá trình độ công nghệ sản xuất tại địa phương Căn cứ vào yêu cầu của từng ngành, từng địa phương, định kỳ theo kế hoạch
5 năm, các Bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo thực hiện việc đánh giá trình độ công nghệ sản xuất thuộc phạm vi quản lý của mình và gửi báo cáo kết quả đánh giá trình độ công nghệ sản xuất về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp, xây dựng cơ sở dữ liệu chung toàn quốc.Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày
01 tháng 6 năm 2014 Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chỉ có một vài tỉnh thành đã nghiệm thu đề tài
Sáng ngày 8 tháng 12 năm 2014, Sở Khoa học và Công nghệ đã thành lập Hội
đồng khoa học và công nghệ nghiệm thu đề tài cấp thành phố "Đánh giá trình độ công
Trang 25Nẵng" do Tiến sĩ Trần Hậu Ngọc -Viện Trưởng Viện Đánh giá khoa học và Định giá
công nghệ - Bộ Khoa học và Công nghệ chủ nhiệm đề tài
Theo Ban chủ nhiệm đề tài, qua khảo sát, nghiên cứu số liệu ở 80 doanh nghiệp
ở các lĩnh vực như: cơ khí, cao su, dệt may, giày da của Đà Nẵng đã thấy được các chỉ
số T,H,I,O và TCC của từng doanh nghiệp và tính toán được chỉ số trung bình của các nhóm ngành và trung bình của chung về công nghệ của toàn thành phố, bước đầu đã xây dựng được hệ thống thang điểm cho phép lượng hóa các thành phần, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp Đồng thời Ban chủ nhiệm đề tài cũng đã xây dựng được cơ sở dữ liệu trang website tạo thuận lợi cho việc cập nhật, lưu trữ, xử lý và truy cập thông tin phục vụ tra cứu, tìm kiếm thông tin, quản lý nhà nước về trình độ công nghệ các doanh nghiệp, liên kết các trang web cung cấp thông tin, kết nối nhu cầu công nghệ giữa các doanh nghiệp Kết quả đề tài đã được Hội đồng đánh giá xếp loại khá
Kết quả đề tài cũng đã đề xuất một số công cụ cho phép sử dụng các kết quả đánh giá về trình độ công nghệ vào việc hoạch định các chiến lược phát triển công nghệ và chiến lược phát triển kinh tế của các doanh nghiệp Đà Nẵng Đề tài cũng đã đề xuất như thành phố Đà Nẵng nên đầu tư vào các ngành có lợi thế về công nghiệp điện tử, công nghiệp chế biến thủy sản, giày da, may mặc, cơ khí, hóa chất và đặc biệt cần chú trọng vào chiến lược phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ cung cấp phụ tùng chi tiết cho các hãng sản xuất lớn đang có mặt trên địa bàn
Theo tin từ Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Long An cho biết, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Đánh giá trình độ công nghệ các ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh Long An năm 2014” do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp thực hiện với các đơn
vị thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Cục Thống Kê, Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông do ông Nguyễn Thanh Bình - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ làm chủ nhiệm đề tài, đã được Sở Khoa học và Công nghệ Long An
tổ chức hội nghị nghiệm thu ngày 19/12/2014
Ban chủ nhiện đề án đã tiến hành đánh giá trình độ công nghệ 10 ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh Long An năm 2014, chọn mỗi ngành 10 doanh nghiệp theo phương thức phi xác suất, với thang đánh giá gồm 04 bậc: Tiên tiến - Trung bình tiên tiến - Trung bình - Lạc hậu
Thành công mang tính đột phá của đề tài là đã thiết lập một website đánh giá trình
độ công nghệ Đây là một phần mềm cơ sở dữ liệu mã nguồn mở, chạy trên môi trường web, tính toán tự động kết quả về tổng số điểm các thành phần công nghệ và hệ số đóng góp công nghệ, cũng như việc vẽ biểu đồ T - H - I - O, xuất các phiếu tổng hợp kết quả theo biểu mẫu cho từng doanh nghiệp cũng như toàn ngành, toàn tỉnh Các dữ liệu truy xuất được lưu lại và hiển thị tại trang Web của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Long
An
Trang 26Chương II: Lược khảo tài liệu
Kết quả đánh giá trình độ công nghệ chung cho cả 10 ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh Long An năm 2014 đạt mức trung bình tiên tiến, trong đó có 7 ngành công
nghiệp đạt mức trình độ công nghệ trung bình tiên tiến, 3 ngành công nghiệp đạt trình
độ công nghệ trung bình (Dệt may; Sản xuất da, giả da; Nhựa); cho thấy đã có những
thay đổi tương đối đáng kể về công nghệ so với năm 2007
Từ những đánh giá trên, Ban chủ nhiệm đề tài đã đề xuất các giải pháp đối với doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước những giải pháp đầu tư, định hướng, quy hoạch đổi mới trình độ công nghệ các ngành công nghiệp chủ yếu của tỉnh
Trang 27CHƯƠNG III
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VÀ CÔNG TY CP MAY TÂY ĐÔ
3.1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam
Bảng 3.1: Khái quát chung về ngành dệt may Việt Nam năm 2013
Cơ cấu công ty theo hình thức sở hữu Tư nhân (84%), FDI (15%), nhà
nước (1%)
Cơ cấu công ty theo hoạt động
May (70%), se sợi (6%), dệt/đan (17%), nhuộm (4%), công nghiệp phụ trợ (3%)
Vùng phân bố công ty
Miền Bắc (30%), miền Trung và cao nguyên (8%), miền Nam (62%)
Giá trị xuất khẩu dệt may 2013
Trang 28Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
Hiện cả nước có khoảng 6.000 doanh nghiệp dệt may; thu hút hơn 2,5 triệu lao động; chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Theo số liệu của VITAS, mỗi 1 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may có thể tạo ra việc làm cho 150 - 200 nghìn lao động, trong đó có 100 nghìn lao động trong doanh nghiệp dệt may và 50 - 100 nghìn lao động tại các doanh nghiệp hỗ trợ khác Phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh
tế tư nhân (84%); tập trung ở Đông Nam Bộ (60%) và đồng bằng sông Hồng Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành với hình thức xuất khẩu chủ yếu là CMT (85%)
Bảng 3.2:Mục tiêu phát triển ngành dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm
2020
Nguồn: Quyết định 36/2008/QĐ-TTg
2020
Trang 29Hình 3.1: Sơ đồ chuỗi giá trị ngành dệt may Việt Nam
Trang 30Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
Tình hình xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam
Hình 3.2: Giá trị xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam (triệu USD)
Kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam tăng đều qua các năm và hiện trở thành mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn thứ 2 của nước ta Năm 2013, kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam đạt 17,9 tỷ USD; tăng 18,5% so với cùng kỳ; chiếm 13,6% tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam Nếu tính cả giá trị xuất khẩu xơ, sợi với 2,15 tỷ đồng; tổng giá trị xuất khẩu dệt may và xơ, sợi năm 2013 đạt 20,1 tỷ đồng; thấp hơn 1,15 tỷ đồng so với nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là điện thoại các loại và linh kiện Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc là 4 đối tác nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của
Việt Nam Năm 2013, tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 15,3 tỷ USD, chiếm tới 85,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước Đặc biệt, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ liên tục tăng mạnh qua các năm và đạt 8,6 tỷ USD năm 2013; chiếm 48% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may Việt Nam Đồng thời trong số các nhóm hàng của Việt Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ thì hàng dệt may dẫn đầu với
tỷ trọng chiếm 38% tổng kim ngạch xuất khẩu
Tình hình nhập khẩu ngành dệt may năm 2014
11.2
14 15.1 17.9
% 23
% 32
17 %
0 %
% 23
% 25
% 8
% 19
0 4.5 9 13.5 18
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Giá trị xuất khẩu % tăng trưởng
Trang 31Hình 3.3: Giá trị nhập khẩu ngành dệt may Việt Nam (triệu USD)
Giá trị nhập khẩu ngành dệt may liên tục tăng qua các năm với CAGR trong giai đoạn 2009-2013 là 20,5%/năm (CAGR giá trị xuất khẩu dệt may trong cùng giai đoạn
là 18,4%/năm) Năm 2013, giá trị nhập khẩu dệt may đạt 13.547 triệu USD; tăng 19,2%
so với cùng kỳ; chiếm 10,25% tổng kim ngạch nhập khẩu Việt Nam năm 2013 Giá trị nhập khẩu sử dụng cho xuất khẩu năm 2013 đạt 10.432 triệu USD; theo đó tỷ lệ giá trị gia tăng đạt 48,1% Trong cơ cấu nhập khẩu, vải chiếm tỷ trọng chủ yếu Năm 2013, giá trị nhập khẩu vải đạt 8,397 triệu USD; chiếm 62% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may Việt Nam
3.2 Tổng quan về công ty CP May Tây Đô
Hình 3.4: Hình ảnh biểu tượng công ty
,064 7
6 ,422
,911 8
Trang 32Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
Những năm đầu thành lập, công ty gặp rất nhiều khó khăn về trang thiết bị máy móc (60 máy may công nghiệp do Liên Xô (cũ) sản xuất), doanh thu hàng năm đạt trên dưới
200 triệu VND, thị trường xuất khẩu chủ yếu là Liên Xô (cũ), một số nước Đông Âu và sản xuất hàng hoá theo hiệp định trao đổi thương mại hoặc trả nợ giữa hai cấp Chính Phủ
Từ những năm 1992-1995 Công ty mạnh dạn vay vốn ngân hàng đầu tư mở rộng nhà xưởng, máy móc thiết bị chuyên dùng tiên tiến, hiện đại của các hãng sản xuất nổi tiếng như Nhật Bản, Âu-Mỹ (hiện nay Công ty đã trang bị hệ thống máy cắt tự động, trải vải tự động và máy may điện tử)
Công ty đã dần thay đổi công nghệ sản xuất số liệu sang công nghệ sản xuất Lean nâng cao năng suất lao động và tiền lương của cán bộ - công nhân viên Song song với việc thay đổi cơ cấu sản xuất công ty đã không ngừng bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp
vụ chuyên môn cho cán bộ quản lý
Trong gần 20 năm hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng 3 Huân chương Lao động; 6 năm được trao tặng giải thưởng chất lượng Việt Nam và 10 năm liên tục được người tiêu dùng bình chọn hàng Việt Nam chất lượng cao Trên cơ sơ đó, từ Tổng Giám Đốc cho đến mọi thành viên trong công ty đều đã cam kết thực hiện những yêu cầu của hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 và luôn đảm bảo mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm tốt nhất
3.2.2 Sơ đồ tổ chức
Trang 33Hình 3.5: Sơ đồ tổ chức 3.2.3 Các dòng sản phẩm chính của Công ty
Thời trang thanh lịch luôn là sự lựa chọn của phái Nam trong công việc cũng như
những buổi hội họp, nắm bắt được nhu cầu đó thương hiệu TAYDO đã cho ra đời dòng
sản phẩm thời trang công sở với họa tiết sọc, màu sắc thể hiện phong cách của người đàn ông thành đạt Sự kết hợp hài hòa giữa chiếc áo sơ mi và quần tây cùng cravatte sẽ tăng thêm vẻ lịch lãm của nam giới và hoàn toàn tự tin trong các buổi họp hoặc khi làm việc với đối tác
Tây Đô tiếp tục khẳng định sự phát triển bền vững của mình bằng việc cho ra đời
dòng sản phẩm Slimfit nhãn hiệu Advando với những nét đặc trưng riêng ở cổ áo, nẹp áo,
tay áo, theo phong cách Châu Âu tạo nên sự khác biệt của sản phẩm Hơn thế nữa, áo sơ
mi Slimfit còn được thiết kế nhằm mang lại tính tiện dụng, trẻ trung, năng động và cá tính, khẳng định được sự nổi bật cá nhân của mình ở bất cứ nơi đâu xuất hiện
Phòng kếtoán
Phòng Kĩ Thuật
Tổ sx quần tầng 5-7 Xưởng cắt
Tổ sx áo tầng 1-4 Xưởng cắt
Phòng kiểm soát nội bộ
Trang 34Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
Trang 35Hình 3.9: Quần áo công sở 3.2.4 Chính sách Công ty
Khi đối tác ký hợp đồng mở đại lý phân phối sản phẩm Tây Đô thì sẽ được hưởng các chính sách hỗ trợ của Công ty như sau:
Hổ trợ chi phí vận chuyển hàng hóa theo từng khu vực của đại lý kinh doanh
Khuyến khích đại lý tham gia hội chợ tại thị trường đại lý đang kinh doanh để quảng
bá thương hiệu Tây Đô, hổ trợ chi phí mặt bằng tham gia hội chợ
Hổ trợ định mức dư nợ hàng quý đối với đại lý
Trang bị bảng hiệu, quầy kệ tủ trưng bài hàng hóa đối với đại lý mới mở
3.2.5 Thành tích đạt được
Hàng Việt Nam chất lượng cao nhiều năm liền
Cờ của Tập Đoàn Dệt – May Việt Nam tặng "Đơn vị thi đua xuất sắc 2010”
Công ty CP May Tây Đô được bình chọn là 1 trong 10 thương hiệu hàng đầu Việt Nam 2009
Đạt "Thương hiệu nổi tiếng Quốc Gia năm 2010" & "Doanh nhân xuất sắc Đất Việt 2010”
Giải thưởng chất lượng Việt Nam
Giải thưởng "Thương hiệu nổi tiếng năm 2010"
Bằng Khen của Tập Đoàn Dệt – May Việt Nam về thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua thực hiện vượt mức kế hoạch sản xuất, kinh doanh và các nhiệm vụ khác năm
2009
Được tạp chí Thương Hiệu Việt bình chọn là thương hiệu hàng đầu năm 2009
3.2.6 Thị trường và hệ thống phân phối
Trang 36Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
Thị trường nội địa: hiện có 5 cửa hàng, 17 đại lý, hệ thống siêu thị Co.op Mart, hệ thống siêu thị Vinatex được phân bổ khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước có bán sản phẩm may mặc nhãn hiệu Tây Đô
Xuất khẩu: sản phẩm Tây Đô được xuất đi các nước trên thế giới
Châu Âu: Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Sĩ, Anh, Hungary
Châu Á: Nhật, HongKong
Châu Mỹ: Mỹ, Canada
Xuất nhập khẩu: ủy thác xuất khẩu qua tổng Công ty CP May Việt Tiến
3.2.7 Quy trình sản xuất của Công ty
(làm tài liệu kĩ thuật,
Mẫu rập, may mẫu,
bảng màu)
Khách hàng
Nhận đơn hàng từ khách hàng
Tài liệu
kĩ thuật
Kiểm tra
May mẫu đối
Bảng màu
Duyệt mẫu
Trang 37Lệnh sản xuất
Cắt
Kiểm tra
May
Kiểm tra
Ủi
Kiểm tra
Vô bao và đóng gói
Trang 38Chương III: Tổng quan về ngành may và Công ty CP May Tây Đô
KCS, P Sản xuất
P Cung tiêu
P Sản xuất
Hình 3.10: Quy trình sản xuất
3.2.8 Công tác đánh giá nội bộ tại công ty
Công ty luôn chú ý đánh giá nội bộ để kịp thời phát hiện những thiếu sót trong quá trình quản lý và sản xuất Công tác đánh giá nội bộ được thực hiện theo quý bốn lần trong năm, do phòng kiểm soát nội bộ đánh giá
Hình 3.11: Kế hoạch đánh giá nội bộ năm 2015
Ngoài việc đánh giá nội bộ để kiểm soát hoạt động nội bộ, Công ty còn thường xuyên phải tiếp các đoàn khách hàng đánh giá về các tiêu chuẩn vệ sinh lao động, chất
Kiểm tra
Nhập kho TP
Xuất hàng
Trang 39CHƯƠNG IV
KHẢO SÁT – ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP
Căn cứ theo thông tư Hướng dẫn đánh giá trình độ công nghệ sản xuất có 25 tiêu chí đánh giá trình độ công nghệ và được chia thành 4 nhóm tiêu chí bao gồm nhóm tiêu chí về thiết bị công nghệ (10 tiêu chí), nhóm tiêu chí về nhân lực (6 tiêu chí), nhóm tiêu chí
về thông tin (4 tiêu chí) và nhóm tiêu chí về tổ chức quản lý (5 tiêu chí)
4.1 Nhóm tiêu chí về công nghệ
4.1.1 Tiêu chí 1: Mức độ hao mòn thiết bị, công nghệ
Hao mòn thiết bị, công nghệ (sau đây viết tắt là TBCN) là sự giảm dần giá trị sử dụng của TBCN theo thời gian Hệ số phản ánh hao mòn TBCN (Kh) được tính bằng công thức sau:
%100
G
G G K
Trong đó:
Gbđ là tổng giá trị các TBCN ban đầu (nguyên giá);
Gsx là tổng giá trị TBCN hiện tại (đã được khấu hao)
Giá trị TBCN được lấy từ báo cáo tài chính năm liền kề trước năm thực hiện đánh giá trình độ công nghệ của doanh nghiệp
Theo số liệu điều tra (mục B, phiếu điều tra công nghệ) ta có:
Trang 40Chương IV: Khảo Sát-Đánh giá và giải pháp
Tổng giá trị các TBCN ban đầu (nguyên giá): Gbđ = 52.143 tỉ đồng
Tổng giá trị TBCN hiện tại ( đã được khấu hao): Gsx=12.255 tỉ đồng
% 5 76
% 100 143
52
12.255 143
52
Vậy số điểm của tiêu chí 1 về mức độ hao mòn thiết bị, công nghệ đạt 1 điểm
4.1.2 Tiêu chí 2: Cường độ vốn thiết bị, công nghệ
Cường độ vốn TBCN đặc trưng cho vốn đầu tư vào TBCN của doanh nghiệp Hệ số cường độ vốn TBCN (Kcđ) được tính bằng công thức sau:
cđ
Vậy Kcđ < Kchuẩn1 nên ở tiêu chí 2 về cường độ vốn thiết bị, công nghệ đạt 1 điểm
4.1.3 Tiêu chí 3: Mức độ đổi mới thiết bị, công nghệ
Đổi mới TBCN là sự đầu tư bổ sung TBCN nhằm thay thế và nâng cấp hệ thống TBCN của doanh nghiệp Hệ số đổi mới TBCN (Kđm) được tính bằng công thức sau:
%100
G tbm
K