Nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới và phát huy năng lực tư duy trong việc dạy học bộ môn vật lí cho HS THPT, việc phân tích các PPDH, chỉ ra cách lựa chọn các PPDH một cách phù hợp t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Giả thuyết khoa học 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Đối tượng nghiên cứu 3
7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 3
8 Các chữ viết tắt trong đề tài 3
Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG THPT 4
1 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục ở trường phổ thông 4
1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta 4
1.1.1 Mục tiêu dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước 4
1.1.2 Mục tiêu của chương trình Vật lí 4
1.2 Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục THPT 5
1.2.1 Chương trình giáo dục Trung học phổ thông (THPT) 5
1.2.2 Về sách giáo khoa THPT 7
1.3 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới 8
1.3.1 Quan điểm dạy học 8
1.3.2 Tiến trình dạy học 8
1.3.3 Phương pháp dạy học 9
1.3.4 Định hướng đổi mới PPDH 9
1.3.5 Mục đích của đổi mới PPDH 10
1.3.6 Đặc trưng của các PPDH 11
1.3.7 Yêu cầu đổi mới PPDH 13
1.3.8 Một số PPDH tích cực 14
1.3.9 Một số kĩ thuật dạy học góp phần đổi mới phương pháp 16
1.3.10 Phương tiện, TBDH góp phần đổi mới phương pháp 18
1.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá 20
2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 20
2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều, sử dụng các phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh 20
2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh 21
2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học 22
2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình giảng dạy 22
Trang 23 Mục tiêu của chương trình vật lí THPT 23
3.1 Đạt được một hệ thống Vật lí PT cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại 23
3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng 23
3.3 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm 24
4 Đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở lớp 12 theo chương trình trung học phổ thông mới 24
4.1 Mục tiêu đổi mới 24
4.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở lớp 12 theo chương trình trung học phổ thông mới 24
5 Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá 27
5.1 Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá 27
5.2 Quan điểm cơ bản về đánh giá 28
5.3 Khắc phục những hạn chế trong kiểm tra đánh giá 28
5.4 Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá 28
5.5 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục 28
Chương 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ DUY CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 30
1 Tư duy 30
1.1 Khái niệm 30
1.2 Đặc điểm của tư duy 30
1.3 Các loại tư duy 30
1.3.1 Tư duy kinh nghiệm 30
1.3.2 Tư duy lý luận 31
1.3.3 Tư duy logic 31
1.3.4 Tư duy vật lý 32
2 Các biện pháp phát triển tư duy của học sinh 33
2.1 Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò,ham hiểu biết của học sinh 33
2.2 Xây dựng một logic nội dung phù hợp với đối tượng học sinh 35
2.3 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng thực hiện các thao tác, những hành động nhận thức phổ biến trong học tập vật lí 36
2.4 Tập dượt để học sinh giải quyết vấn đề nhận thức theo phương pháp nhận thức của vật lí 37
2.5 Rèn luyện ngôn ngữ vật lí cho học sinh 37
3 Quy trình bồi dưỡng năng lực tư duy của học sinh 38
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TRONG DHVL 39
1 Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học 39
2 Đặc điểm của quá trình học sinh giải quyết vấn đề trong học tập 39
2.1 Về động cơ, hứng thú, nhu cầu 39
2.2 Về năng lực giải quyết vấn đề 40
Trang 32.3 Về thời gian dành cho việc giải quyết vấn đề 40
2.4 Về điều kiện phương tiện làm việc 40
3 Tổ chức tình huống học tập 41
3.1 Những đặc điểm của tình huống học tập trong kiểu dạy học giải quyết vấn đề 41
3.2 Các kiểu tình huống học tập 41
3.3 Tổ chức tình huống học tập 43
4 Các giai đoạn của dạy học giải quyết vấn đề 44
5 Các kiểu hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề 44
5.1 Hướng dẫn tìm tòi quy về kiến thức, phương pháp đã biết 44
5.2 Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần 46
5.3 Hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát 48
6 Ví dụ về bài học theo kiểu giải quyết vấn đề 49
Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG 5 DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU, VẬT LÍ 12 NÂNG CAO 49
1 Đại cương về chương V Dòng điện xoay chiều 49
1.1 Mục tiêu……… 49
1.2 Kiến thức, kĩ năng 49
1.3 Sơ đồ cấu trúc ……… 50
2 Đổi mới việc thiết kế bài học (soạn giáo án)………51
2.1 Các yêu cầu đổi mới việc soạn giáo án 51
2.2.Những nội dung việc soạn giáo án……… … 51
2.3 Một số hoạt động học tập phổ biến trong một tiết học……….……… 52
2.4 Cấu trúc của giáo án soạn theo các hoạt động học tập……….……… 53
3 Thiết kế giáo án một số bài học trong chương v 54
Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 55
1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 55
2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 55
3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 55
4 Kế hoạch giảng dạy 55
5 Tiến trình thực hiện các bài học 55
6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 55
6.1 Đề kiểm tra 1 tiết (theo 6 mức độ nhận thức của Bloom) 55
6.2 Kết quả thực nghiệm……… 60
KẾT LUẬN……… 61
PHỤ LỤC ……… 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 72
Trang 4MỞ ĐẦU
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Thời đại khoa học – kỹ thuật – công nghệ và kinh tế thị trường đang phát triển mạnh
mẽ không những ở ngoài nước mà trong nước cũng đang có sự chuyển biến một cách nhanh chóng nên xã hội rất cần những người có tính năng động tích cực và tư duy trong công việc Muốn được như thế thì đòi hỏi con người phải có tri thức, kỹ năng và sự sáng tạo, ấy là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Vì thế cần có sự phát triển nền giáo dục đất nước theo xu hướng bồi dưỡng và phát huy năng lực sáng tạo cho HS
Phát triển năng lực tư duy cho HS là một trong những những nhiệm vụ cơ bản khi dạy học vật lí ở trung học phổ thông Hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đã lấy việc rèn luyện
tư duy và năng lực sáng tạo cho HS làm mục tiêu quan trọng hàng đầu
Trong những năm gần đây, ngành giáo dục và đào tạo không ngừng đổi mới chương trình, SGK về nội dung, PP nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Song thực tế PPDH trong các bậc đào tạo hiện nay chủ yếu mang tính chất thông báo – tái hiện Đa số GV vẫn còn sử dụng phương pháp diễn giảng truyền thống theo lối truyền thụ một chiều, HS thụ động ghi chép và thụ động trong việc tiếp thu tri thức Kiểu dạy học truyền thống đã làm cho khả năng tự học, tự chủ, tìm tòi, khả năng tư duy khoa học độc lập của HS bị hạn chế
Nghị quyết trung ương II, khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ và cụ thể:
“Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều
và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các PP tiên tiến, PP hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo” [1,
tr50]
Một trong những phương hướng cải cách chương trình Vật lí phổ thông là chương
trình phải bao gồm những kiến thức về các PP Vật lí cơ bản Ngoài việc cung cấp kiến
thức, việc xây dựng và phát triển các năng lực tư duy cho HS là một yêu cầu có tính nguyên tắc Muốn vậy, làm cho HS không những nắm vững kiến thức mà còn hiểu rõ được con đường dẫn đến kiến thức, hiểu rõ các phương pháp nhận thức khoa học
Nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện đổi mới và phát huy năng lực tư duy trong việc dạy học bộ môn vật lí cho HS THPT, việc phân tích các PPDH, chỉ ra cách lựa chọn các PPDH một cách phù hợp trong mỗi đơn vị bài học nhằm phát huy, nâng cao khả năng nhận thức của HS trở thành một yêu cầu cấp bách đối với GV dạy môn vật lí THPT
Là một GV dạy môn vật lí tương lai đã được trang bị những kiến thức và PPDH mà thầy cô đã truyền đạt ngay khi còn trên giảng đường Đại Học, em cần phải biết cách áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất, nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta
Từ những yêu cầu trên, cùng với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng DH vật
lí ở trường phổ thông, em quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Bồi dưỡng năng lực tư
Trang 5duy học sinh khi áp dụng phương pháp giải quyết vấn đề giảng dạy Chương 5 Dòng điện xoay chiều,Vật lí 12 nâng cao”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu áp dụng PP GQVĐ nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy cho học sinh khi giảng dạy vật lí 12 NC
3 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Vận dụng lý luận hiện đại, có thể áp dụng PP GQVĐ nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy của học sinh khi giảng dạy vật lí 12 NC
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận về đổi mới PPDH vật lí ở trường THPT
Nghiên cứu lý luận về bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy cho HS trong dạy học vật lí
Nghiên cứu PP GQVĐ của khoa học vật lí và áp dụng PP khoa học đó trong DH vật
lí
Nghiên cứu chương trình vật lí 12 NC Vận dụng một số phương pháp nhận thức khoa học PP GQVĐ, soạn giảng thử nghiệm một số bài nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy cho HS
Bài 28: Mạch có R, L, C mắc nối tiếp Cộng hưởng điện
Bài 29: Công suất của dòng điện xoay chiều Hệ số công suất
Bài 30: Máy phát điện xoay chiều
Bài 31: Động cơ không đồng bộ ba pha
Thực nghiệm sư phạm
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận: Phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, tài liệu bồi dưỡng giáo viên các lớp 10 NC, 11 NC, 12 NC, các tài liệu về vấn đề bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy của học sinh
Quan sát sư phạm:
Quan sát thái độ học tập của HS thể hiện như thế nào khi chưa thực hiện mục tiêu của
đề tài, khi thực hiện đề tài và sau khi thực hiện đề tài nhằm xác định tính khả quan của đề tài
Tổng kết kinh nghiệm:
Tổng kết kinh nghiệm giảng dạy trong quá trình thực tập
Nghiên cứu kinh nghiệm làm luận văn của các anh chị khóa trước
Quan sát, theo dõi, học hỏi kinh nghiệm từ thầy cô, bạn bè
Thực nghiệm sư phạm:
Sử dụng PP GQVĐ để giảng dạy kết hợp với các đồ dùng dạy học ở trường phổ thông, làm nổi bật vai trò của PP GQVĐ trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy cho học sinh
Trang 66 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các hoạt động dạy và học của GV và HS áp dụng PP GQVĐ nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy của HS trong quá trình giảng dạy một số bài trong chương trình vật
lí 12 NC
7 CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Giai đoạn 1: Tìm hiểu thực trạng, trao đổi với thầy hướng dẫn, nhận đề tài
Giai đoạn 2: Nghiên cứu tài liệu, viết đề cương chi tiết
Giai đoạn 3: Hoàn thành cơ sở lý luận của đề tài
Giai đoạn 4: Nghiên cứu nội dung và phương pháp xây dựng một số bài trong chương trình VL 12 NC
Giai đoạn 5: Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT
Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài và chuẩn bị báo cáo bằng Powerpoint
Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp
8 CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
+ Giáo viên: GV + Phương pháp thực nghiệm: PPTN + Học sinh: HS + Phương pháp mô hình: PPMH
Trang 7Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÍ Ở
TRƯỜNG THPT
1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Mục tiêu đổi mới của giáo dục nước ta
1.1.1 Mục tiêu dạy học trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam
khóa VIII đã chỉ rõ: “Mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đạo đức trí dục, thể dục ở tất cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị tư tưởng, nhân cách, khả năng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành” [1, tr 49]
Để thực hiện được mục tiêu đó, có rất nhiều việc phải làm ở tầm vĩ mô của Nhà nước, của toàn xã hội cũng như ở tầm vĩ mô của mỗi trường học, lớp học, HS Những vấn đề ở tầm vi mô như mục tiêu giáo dục, thiết kế CT, cung cấp các PTDH, chính sách đối với người dạy, người học…; ở tầm vi mô là PPDH, hoạt động của GV và HS trong quá trình DH…Những vấn đề ở tầm vĩ mô và vi mô tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên, chất lượng GD thể hiện ở sản phẩm cuối cùng là phẩm chất, nhân cách của HS Điều quan trọng trước hết và cũng là cuối cùng của người GV, nhân vật chủ chốt trong công tác GD và DH là làm thế nào cho HS của mình trong thời gian qui định của CT đào tạo đạt được những yêu cầu mà xã hội mới đặt ra cho nhà trường
Hơn nữa đất nước ta đang bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đang chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường với sự quản lí của Nhà nước Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội “dựa vào tri thức”, vào tư duy sáng tạo, vào tài năng sáng chế của con người Trước tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diện, để có thể tạo cho đất nước những con người lao động có hiệu quả trong hoàn cảnh mới
Mục tiêu giáo dục ngày nay ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho HS những kiến thức, kỹ năng loài người đã tích lũy được trước đây, mà còn đặc biệt quan tâm đến vệc bồi dưỡng năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, PP mới, cách giải quyết vấn đề mới phù hợp với hoàn cảnh của mỗi đất nước, mỗi dân tộc Trong xã hội biến đổi nhanh chóng như hiện nay người lao động cũng phải biết luôn đổi mới kiến thức và năng lực của mình cho phù hợp với sự phát triển của khoa học, kĩ thuật Lúc đó người lao động phải có khả năng tự định hướng và tự học để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội GD không phải chỉ chú ý đến yêu cầu xã hội đối với người lao động, mà còn phải chú ý đến quyền lợi, nguyện vọng, năng lực, sở trường của
cá nhân Sự phát triển đa dạng của cá nhân sẽ dẫn đến sự phát triển nhanh chóng, toàn diện và hài hòa của xã hội
1.1.2 Mục tiêu của chương trình Vật lí
Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần:
Trang 8 Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống, gồm:
- Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng, và các quy tắc vật lí
- Các định luật, định lý, các nguyên lý vật lí cơ bản
- Nội dung chính của một số thuyết VL quan trọng nhất trong đời sống và sản xuất
- Các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí
- Các PP chung của nhận thức khoa học và những PPNT khoa học cơ bản của vật lí, trước hết là PP thực nghiệm, PP giải quyết vấn đề và PP tương tự
Phát triển tư duy khoa học ở HS, rèn luyện và phát triển các kỹ năng :
- Quan sát các hiện tượng và các quy tắc vật lí; điều tra, sưu tầm, thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập vật lí
- Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của vật lí, kỹ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí đơn giản
- Phân tích, tổng hợp, xử lý thông tin rút ra kết luận, đề ra các dự đoán về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng, quy tắc vật lí, đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán …
- Vận dụng kiến thức: mô tả, giải thích các hiện tượng, quy tắc vật lí, giải các bài tập vật lí… giải quyết các vấn đề đơn giản của đời sống, sản xuất
- Sử dụng các thuật ngữ VL, biểu bảng, trình bày rõ ràng, chính xác những kết quả thu được
Hình thành và rèn luyện các thái độ tình cảm sau:
- Bồi dưỡng cho HS thế giới quan duy vật biện chứng, giáo dục lòng yêu nước, thái
độ đối với lao động, đối với cộng đồng và những đặc tính khác của người lao động trên
cơ sở những kiến thức vật lí vững chắc
- Hứng thú HT môn VL, yêu thích, trân trọng những đóng góp của VL học…
- Có thái độ khách quan, trung thực, tác phong cẩn thận, chính xác, tinh thần HT tốt
- Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lí vào đời sống, cải thiện điều kiện sống, bảo vệ môi trường
Các mục tiêu trên không thể tách rời nhau mà luôn luôn gắn liền với nhau, hỗ trợ nhau, góp phần đào tạo ra những con người phát triển hài hòa, toàn diện Ví dụ: Kiến thức mà HS thu nhận được chỉ có thể sâu sắc, vững chắc khi họ có trình độ tư duy phát triển Muốn có kiến thức vững chắc, HS không phải chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động, máy móc mà phải tích cực hoạt động, tham gia vào quá trình xây dựng và vận dụng kiến thức Ngược lại, HS chỉ có thể phát triển trí thông minh, sáng tạo, khi có một vốn kiến thức vững chắc, thường xuyên vận dụng chúng để giải quyết những nhiệm vụ mới, vừa củng cố vừa mở rộng và phát hiện ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của chúng để tiếp tục sáng tạo ra những kiến thức mới, bổ sung hoàn chỉnh thêm vốn kiến thức của mình
1.2 Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục THPT
1.2.1 Chương trình giáo dục Trung học phổ thông (THPT)
a Chương trình cấp THPT: quy định mục tiêu, kế hoạch giáo dục của cấp học với các giải thích cần thiết, các định hướng về phương pháp tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả
Trang 9giáo dục, sự phát triển logic của các nội dung kiến thức ở từng môn học, lớp học Chương trình cấp THPT còn đề cập tới những yếu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng và thái độ trên các lĩnh vực học tập mà học sinh (HS) cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành cấp học Đó là chuẩn kiến thức, kĩ năng của cấp học trên các lĩnh vực: Ngôn ngữ và Văn học, Toán – Tin, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, Giáo dục công dân, Công nghệ, Thể chất và Giáo dục quốc phòng và an ninh Chuẩn theo lĩnh vực học tập của cấp học thể hiện sự gắn kết, phối hợp giữa các môn học nhằm đạt mục tiêu giáo dục của cấp học
- Về mục tiêu của giáo dục THPT
+ Văn bản chương trình giáo dục cấp THPT đã trình bày mục tiêu cấp học theo Luật Giáo dục quy định: “Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Điều 27,mục 2, chương II, Luật Giáo dục- 2005 ) [2, tr 3]
+ Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu cụ thể của cấp THPT được xây dựng, thể hiện qua yêu cầu HS học xong cấp THPT phải đạt được ở các mặt giáo dục, tư tưởng, đạo đức lối sống, học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kĩ thuật và hướng nghiệp, kĩ năng học tập và vận dụng kiến thức, về thể chất và xúc cảm thẩm mĩ
- Về kế hoạch dạy học
+ Kế hoạch giáo dục là văn bản quy định thành phần các môn học trong nhà trường, trình độ dạy học các môn trong từng năm, từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm, trong từng phần, cấu trúc và thời gian của năm học Kế hoạch giáo dục phải thể hiện được nhiệm vụ trọng tâm của cấp học Số giờ quy định trong kế hoạch giáo dục nói lên vị trí của từng môn học trong nội dung giáo dục ở cấp học đó và trong việc môn học đó tham gia thục hiện các nhiệm vụ
+ Kế hoạch giáo dục cấp THPT quy định sự phân bổ thời lượng đối với chương trình các môn học của ban KHTN, KHXH&NV và ban Cơ bản Ban KHTN đượcc tổ chức dạy học theo chương trình nâng cao đối với 4 môn: Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học
và theo chương trình chuẩn đối với các môn còn lại; Ban KHXH&NV được tổ chức dạy học theo chương trình nâng cao đối với 4 môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ và theo chương trình chuẩn đối với các môn còn lại Cả hai ban đều có 4 tiết dành cho 3 lớp
10, 11, 12 để dạy học môn tự chọn; Ban Cơ bản được tổ chức dạy học theo chương trình chuẩn và sử dụng 4 tiết/tuần để dạy học các chủ đề tự chọn, hoặc tùy theo điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện giáo viên (GV), nguyện vọng và năng lực học tập của HS có thể tổ chức dạy học một số môn trong số 8 môn phân hóa nên trên theo chương trình nâng cao
b Chương trình các môn học của THPT
- Chương trình chuẩn của tất cả các môn học thể hiện những yêu cầu mang tính tối thiểu mọi HS cần và có thể đạt
Trang 10- Chương trình nâng cao đối với 8 môn phân hóa: Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí và Ngoại ngữ Trong chương trình của từng môn, mục tiêu môn học được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cả cấp học Chương trình giới thiệu quan điểm chính của việc xây dựng lại chương trình môn học theo từng lớp và những gợi ý cần thiết về phương pháp, phương tiện dạy học (PTDH), kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của HS
- Chương trình tự chọn: Ngoài ra còn có hệ thống các chủ đề tự chọn cung cấp cho
HS những cơ hội để củng cố, luyện tập kiến thức, kĩ năng có trong chương trình các môn học hoặc mở rộng, nâng cao đáp ứng nhu cầu của HS
* Chương trình các môn học THPT đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau:
- Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của cấp học
- Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việc hoàn thiện, phát triển nội dung học vấn phổ thông
- Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam
- Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hóa
- Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học (HTTCDH)
- Tiếp tục coi trọng vai trò của PTDH
- Đổi mới đánh giá kết quả quá trình học tập
- Chú ý tới các vấn đề của địa phương
* Một số điểm mới của chương trình môn học:
- Nhìn chung chương trình các môn học đều bám sát vào các yêu cầu của xây dựng chương trình trong quá trình xác định mục tiêu, nhiệm vụ môn học, trong lựa chọn và sắp xếp các nội dung trong văn bản chương trình
- Điểm thể hiện nổi bật là các chương trình đều tăng thời lượng dành cho các hoạt động thực hành, hoạt động học tập tích cực của HS
- Các nội dung lí thuyết được cân nhắc lựa chọn và đề ra các yêu cầu thực hiện phù hợp với mức độ nhận thức của HS
- Các nội dung trong chương trình được sắp xếp lại để tăng cường ứng dụng hoặc hỗ trợ giữa các môn
- Các nội dung tự chọn với loại chủ đề bám sát giúp HS nắm vững chắc hơn các kiến thức
cơ bản, chủ đề nâng cao giúp HS khai thác sâu, rộng hơn kiến thức cơ bản, chủ đề đáp ứng sẽ cung cấp cho HS những kiến thức kĩ năng theo nhu cầu, nguyện vọng của HS, phần nào giúp HS có thêm hiểu biết cần thiết để tham gia lao động xã hội tại địa phương
- Lớp 11 có 3 tiết/tuần cho chương trình hoạt động giáo dục nghề phổ thông nhằm giúp
HS có kiến thức nghề nghiệp và được rèn luyện một số kĩ năng phổ thông của các nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp, nông – lâm – ngư nghiệp, dịch vụ, Tin học
1.2.2 Về sách giáo khoa THPT
Sách giáo khoa (SGK) thể hiện một cách cụ thể nội dung, phương pháp giáo dục của từng môn học trong chương trình giáo dục phổ thông
Trang 11a Các yêu cầu đổi mới SGK THPT
- Bám sát chương trình môn học
- Đảm bảo tính kế thừa trong quá trình biên soạn
- Dựa vào cơ sở lí luận về SGK có lưu ý tới xu thế tiên tiến trên thế giới trên lĩnh vực này
- Đảm bảo cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam
- Đảm bảo tính liên môn
- Tạo điều kiện trực tiếp giúp HS tiếp tục nâng cao năng lực tự học và đổi mới phuong pháp dạy học (PPDH)
- Đảm bảo yêu cầu phân hóa
- Đảm bảo những yêu cầu về văn phong đặc trưng của SGK
- Chú ý tới đặc điểm lứa tuổi lứa tuổi HS và điều kiện dạy học cụ thể của cấp THPT
b Một số điểm mới của SGK môn học
- Về mặt nội dung: Thực hiện đổi mới qua việc cân nhắc lựa chọn kiến thức, xác định mức độ các kiến thức ở từng bài hướng vào việc thực hiên mục tiêu giáo dục của từng bài, từng chương, của bộ môn ở từng lớp và cả cấp THPT
1.3 Đổi mới PPDH để thực hiện mục tiêu mới
1.3.1 Quan điểm dạy học
Quan điểm dạy học (QĐDH): là những định hướng tổng thể cho các hành động phương pháp (PP), trong đó có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học làm nền tảng, những cơ sở lí thuyết của lí luận dạy học, những điều kiện dạy học và tổ chức cũng như những định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình HD [2, tr 7] QĐDH là những
định hướng mang tính chiến lược, cương lĩnh, là mô hình lí thuyết của PPDH Những QĐDH cơ bản: DH giải thích minh họa, DH gắn với kinh nghiệm, DH kế thừa, DH định hướng HS, DH định hướng hành động, DH định hướng mục tiêu, DH giải quyết vấn đề,
DH theo tình huống, DH giao tiếp, DH nghiên cứu, DH khám phá, DH mở
Trang 121.3.3 Phương pháp dạy học
PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học
PPDH là cách thức hành động của GV và HS trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của
GV và HS trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học PPDH là những cách thức và hình thức, thông qua đó và bằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể
1.3.4 Định hướng đổi mới PPDH
Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 – 1999)
Luật Giáo dục, điều 28.2, đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách
và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QD – BGDDT ngày 5/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”
Đối với PPDH cần có cuộc cách mạng về tư duy: Thay đổi kiểu tư duy đơn tuyến: là
tư duy coi phương pháp là hệ thống các nguyên tắc, điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn; chuyển kiến thức của thầy sang trò theo một chiều Tư duy đơn tuyến là tư duy dễ cả tin, cần phải khắc phục Tư duy đa tuyến: là tư duy đặt phương pháp vào hệ thống hoạt động gồm nhiều thành tố, là tư duy theo hệ hình thái tương tác, bao quát tổng thể mọi sự vật, từ đó nắm được bản chất cụ thể và xâu xa của sự vật
Hãy chiêm nghiệm những triết lí về phương pháp: “Phương pháp là linh hồn của một nội dung đang vận động”; “Học phương pháp chứ không học dữ liệu”; “Thầy giáo tồi truyền đạt chân lí, Thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lí”; Phương pháp tốt là làm đơn giản những phức tạp, Phương pháp tồi là làm phức tạp những đơn giản”; “Thầy giỏi dạy cho mọi người hiểu, đồng thời tối ưu mọi người”
Trang 13Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động [2, tr 9]
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểm cuẩ từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho HS, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phục lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều với kiến thức có sẵn Rất cần phát huy cao năng lực tự học, học suốt đời trong thời đại bùng nổ thông tin Tăng cường học tập cá thể phối hợp với hợp tác Định hướng vào người học được coi là quan điểm định hướng chung trong đổi mới PPDH Quan điểm định hướng chung cần được cụ thể hóa thông qua những QĐDH khác, như dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình huống (dạy học gắn với tình huống thực hiện), dạy học định hướng hành động v.v…cũng như phương pháp, kĩ thuật dạy học (KTDH) cụ thể, nhằm tăng cường hơn nữa việc gắn quản lí với thực tiễn, tư duy với hành động, nhà trường với xã hội
Đổi mới PPDH được thực hiện theo các định hướng sau:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi HS
- Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của nhà trường
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy – học
- Kết hợp giữa việc tiếp thu và sử dụng có chọn lọc, có hiệu quả các PPDH tiên tiến, hiện đại với việc khai thác những yếu tố tích cực của PPDH truyền thống
- Tăng cường sử dụng các PTDH, thiết bị dạy học (TBDH) và đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
Đổi mới chương trình (CT), SGK lần này đặt trọng tâm vào việc đổi mới PPDH Chỉ
có đổi mới căn bản PPDH chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thật sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức Phương pháp giáo dục phổ thông phải được thể hiện trong chương trình giáo dục phổ thông, SGK, tài liệu hướng dẫn dạy học, kế hoạch thực hiện bài học của GV Đây là nội dung trọng tâm của chương trình bồi dưỡng Phần này làm giúp làm quen với những phương hướng, quan điểm đổi mới PPDH trong bộ môn, rèn luyện kĩ năng thực hiện PPDH theo những phương hướng, quan điểm đổi mới
1.3.5 Mục đích của đổi mới PPDH
Việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng
bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, PTDH đến cách thức đánh giá kết quả dạy học, trong đó khâu đột phá là đổi mới PPDH
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông là thay đổi lối truyền thụ một chiều sang dạy học theo “phương pháp dạy học tích cực” (PPDHTC) nhằm giúp HS phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học,
Trang 14tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn: tạo niềm tin, niềm vui, hứng thú học tập Làm cho “Học” là quá trình kiến tạo; HS tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lí thông tin…tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất Tổ chức hoạt động nhận thức cho HS, dạy
HS cách tìm ra chân lí Chú trọng hình thành các năng lực (tự học, sáng tạo, hợp tác,…) dạy phương pháp và kĩ thuật lao động khoa học, dạy cách học Học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân HS và cho sự phát triển xã hội
PPDHTC được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái với không hoạt động, thụ động PPDHTC hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nghĩa là hướng vào phát huy tính tích cực, chủ động của người học chứ không chỉ hướng vào việc phát huy tích cực của người dạy
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy quyết định cách học, tuy nhiên thói quen học tập thụ động của HS cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Mặt khác, cũng có trường hợp HS mong muốn được học theo PPDHTC nhưng GV chưa đáp ứng được Do vậy, GV cần phải được bồi dưỡng, phải kiên trì cách dạy theo PPDHTC, tổ chức các hoạt động nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, hình thành thói quen cho HS Trong đổi mới phương pháp phải có sự hợp tác của thầy và trò, sự phối hợp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới có kết quả PPDHTC hàm chứa cả phương pháp dạy và phương pháp học
“học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó
tự lực khám phá những điều mình chưa rõ, chưa có chứ không phải thụ động tiếp thu những tri đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp
“làm ra” kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo Dạy theo cách này, GV không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động Nội dung và PPDH phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng, thực hiện thầy chủ đạo, trò chủ động: “Hoạt động làm cho lớp học ồn ào hơn, nhưng là sự ồn ào hiệu quả”
b Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão – thì không thể nhồi nhét vào đầu óc trẻ khối
Trang 15lượng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp Tiểu học và càng lên cấp học cao hơn càng phải được chú trọng
Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nổ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà
tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
c Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PPDHTC buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, mức độ, tiến
độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập
Áp dụng PPDHTC ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi HS
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc
lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ
4 đến 6 người Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gây cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Hoạt động nhóm làm cho từng thành viên bộc lộ suy nghĩ, hiểu biết, thái độ của mình; được tập thể uốn nắn, điều chỉnh; phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kĩ luật, tính tập thể, tinh thần tương trợ, hợp tác, ý thức cộng đồng, tạo không khí, niềm vui; hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, tăng tính tự tin Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
Trong nền kinh tế thị trường đã xuật hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS
Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ
Trang 16động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có thể nhàn nhã hơn nhưng trước đố, khi soạn giáo án,
GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài tròn các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS GV phải có trình
độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
d Kết hợp đánh giá của thầy, với đánh giá của bạn, với tự đánh giá
Hoạt động đánh giá đa dạng: đánh giá chính thức và không chính thức; đánh giá bằng định tính và định lượng; đánh giá bằng kết quả và bằng biểu lộ thái độ - tình cảm; đánh giá thông qua sản phẩm được giới thiệu và định hướng phát triển các mối quan hệ xã hội
e Tăng cường khả năng, kĩ năng vận dụng vào thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế
về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của HS, tối ưu các điều kiện hiện có Sử dụng các PTDH, TBDH hiện đại khi có điều kiện
1.3.7 Yêu cầu đổi mới PPDH
Yêu cầu đổi mới PPDH đã được các tác giả sách quán triệt vào quá trình lựa cọn nội dung SGK, vào việc trình bày SGK và sách giáo viên (SGV) GV và cán bộ quản lí trường THPT cần nắm được những yêu cầu và quy trình đổi mới các PPDH Đặc biệt cán
bộ quản lí chịu trách nhiệm trực tiếp việc này cần quan tâm và đặt vấn đề đổi mới PPDH
ở đúng tầm của nó trong sự phối hợp với các hoạt động toàn diện của nhà trường Ban giám hiệu cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của GV và cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ GV vận dụng các PPDH thích hợp với môn học, đặc điểm HS, điều kiện dạy và học ở địa phương làm, cho hoạt động đổi mới PPDH ngày càng được mở rộng và có hiệu quả hơn Tuy nhiên đổi mới PPDH không có nghĩa là gạt
bỏ các phương pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các PPDH hiện có theo QĐDH tích cực kết hợp với các phương pháp hiện đại
a Yêu cầu chung
Việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông thực hiện theo các yêu cầu sau:
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của HS
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thức học cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp
Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa GV và GV, giữa HS với HS
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực, tăng cường thực hành
và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, TBDH được trang bị hoặc do các gGV tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng dụng của công nghệ thông tin
- Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thức đánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá
b Yêu cầu đối với HS
Trang 17- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia các hoạt động học tập để tự khám phá và lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng đắn
- Tích cực sử dụng thiết bị, đồ dùng học tập; thực hành thí nghiệm; thực hành vận dụng kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, giải quyết các tính huống và các vấn đề đặt
ra từ thực tiễn; xây dựng và thực hiện các kế hoạch học tập phù hợp với khả năng và điều kiện
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân; tích cực thảo luận, tranh luận; đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn
- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm hoạt động học tập của bản thân và bạn bè
c Yêu cầu đối với GV
- Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn HS thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức
đa dạng, phong phú có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình
độ HS, với điều kiện cụ thể của lớp, trường và địa phương
- Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho HS được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của HS; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ tự tin trong học tập cho HS; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng
- Thiết kế và hướng dẫn HS thực hiện các dạng câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn HS có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Sử dụng các phương pháp và HTTCDH một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học; nội dung, tính chất của bài học; đặc điểm và trình độ của HS; thời lượng dạy học và các điều kiện dạy học cụ thể của trường, địa phương
d Yêu cầu đối với cán bộ quản lí giáo dục
- Nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương trình, SGK, PPDH, sử dụng phương tiện, thiết bị, HTTCDH và đánh giá kết quả giáo dục
- Tạo điều kiện thuận lợi cho GV thực hiện đổi mới PPDH
- Có biện pháp quản lí, chỉ đạo đổi mới PPDH trong nhà trường một cách hiệu quả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy và học theo định hướng đổi mới PPDH
- Động viên, khen thưởng kịp thời những GV thực hiện có hiệu quả đổi mới PPDH, đồng thời với phê bình, nhắc nhở những người chưa tích cực đổi mới PPDH
1.3.8 Một số PPDH tích cực
Thực hiện dạy và học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống Trong hệ thống các PPDH quen thuộc được đào tạo trong các trường sư phạm nước ta từ mấy thập kỉ gần đây cũng đã có nhiều phương pháp tích cực Các sách lí luận dạy học đã
Trang 18chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì phương pháp thực hành là “tích cực” hơn phương pháp trực quan, phương pháp trực quan thì “sinh động” hơn phương pháp thuyết trình Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển phương pháp thực hành, phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoặc nghiên cứu phát hiện, nhất là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm
Đổi mới PPDH cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc
Môi trường học tập mới khuyến khích hình thành thói quen tự học và tự đánh giá của
HS, thói quen học cả đời
Huấn luyện: Thay đổi quan niệm từ: “Thầy giáo chỉ đạo toàn diện học tập của HS” sang “Huấn luyện viên tổ chức hoạt động học tập sáng tạo của HS” Huấn luyện đồng nghiệp, giúp đỡ đồng nghiệp trong tổ chức hoạt động mới Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây
a Dạy học vấn đáp, đàm thoại
Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ học bằng cách tăng cường hình thức hỏi – đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể Muốn thực hiện điều đó, đòi hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích hỏi, các yếu tố kết nối các câu hỏi, thứ tự hỏi GV cũng cần dự kiến các phương án trả lời của HS để có thể chủ động thay đổi hình thức, cách thức hỏi, mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu, nhàm chán, nặng nề, bế tắc; tạo hứng thú học tập của HS và tăng hấp dẫn của giờ học
Có 3 mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa và vấn đáp tìm tòi
b Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề
Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt ra
và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình
và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội: phát hiện kịp thời và giải quyết hợp
lí các vấn đề nảy sinh Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với PPDH
Trang 19Khuyến khích HS phát hiện và tự giải quyết vấn đề Vấn đề cốt yếu của phương pháp này là thông qua quá trình gợi ý, dẫn dắt, nêu câu hỏi, giả định, GV tạo điều kiện cho HS tranh luận, tìm tòi, phát hiện vấn đề thông qua các tình huống có vấn đề Các tình huống này có thể do GV chủ động xây dựng, cũng có thể do logic kiến thức của bài học tạo nên Cần trân trọng, khuyến khích những phát hiện của HS, tạo cơ hội, điều kiện cho HS thảo luận, tranh luận, đưa ra ý kiến, nhận định, đánh giá cá nhân (có thể không đúng hoặc khác với sự chuẩn bị của GV), giúp HS tự giải quyết vấn đề để chủ động chiếm lĩnh kiến thức
c Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ
PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhìn rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng HS với sự việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới
1.3.9 Một số kĩ thuật dạy học góp phần đổi mới phương pháp
Kĩ thuật dạy học (KTDH) là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học [2,
tr 19]
Các KTDH chưa phải là các PPDH độc lập, mà là những thành phần của PPDH, KTDH được hiểu là đơn vị nhỏ nhất của PPDH
Sự phân biệt giữa kĩ thuật và PPDH nhiều khi không rõ ràng
a Huy động tư duy (động não tập thể): là một hình thức học đặc biệt nhằm xới lên vấn đề để chuẩn bị giải quyết
Huy động tư duy (HĐTD) là một kĩ thuật nhằm huy động những ý tưởng
- Mọi người nắm rõ vấn đề cần giải quyết
- Cần hòa nhã, vui vẻ, coi như một trò chơi Mọi người tham dự vô tư, thoải mái
- Xác định ngay từ đầu mục đích và luật chơi
- Chỉ phát biểu ý kiến tích cực: không chỉ trích bất cứ ý kiến nào và khuyến khích mọi ý kiến Có ý gì cần chủ động nói ngay, không cần đào sâu hay dè dặt, giữ kẽ
- Mọi ý kiến đều viết lớn ra để mọi người nhìn, suy nghĩ, kết hợp các ý đó nêu ra một cách tích cực, nảy ra ý mới
- Các ý kiến đó không thuộc về bất cứ ai
- Vai trò người điều khiển rất quan trọng
Trang 20- Khách quan, vô tư với mọi người
- Đến một lúc nào đó thì tổ chức dần các ý kiến thành từng nhóm tương thích trong khi vẫn tiếp tục động não
- Biết phát hiện và khen ngợi các ý kiến có tính tăng cường và bổ túc các ý đã có, biết hỏi kích thích
- Không đánh giá và phê phán trong quá trình thu thập ý tưởng của các thành viên
- Liên hệ với những ý tưởng đã được trình bày
- Khuyến khích số lượng các ý tưởng
- Cho phép sự tưởng tượng và liên tưởng
b Tham vấn bằng phiếu
Tham vấn bằng phiếu giúp thu thập ý kiến về những câu hỏi còn bỏ ngỏ, giúp nhận biết sắp xếp vấn đề Người tham gia viết những suy nghĩ của mình dưới dạng cụm từ ngắn gọn lên những miếng bìa, sau đó ghim chúng lên bảng mềm
* Tiến trình:
- Trình bày những câu hỏi quan trọng lên bảng ghim, lên giá treo, hoặc viết lên bảng
- Viết câu trả lời lên những miếng phiếu được phát (nhiều nhất là 5 tờ), viết chữ in hoa
- Trên mỗi miếng phiếu chỉ trình bày một ý
- Nội dung trên các miếng phiếu sẽ được đọc lên và treo những miếng phiếu đó lên bảng ghim giấy
d Thông tin phản hồi
- Thông tin phản hồi trong quá trình dạy học là GV và HS cùng nhận xét, đánh giá, đưa ra ý kiến đối với những yếu tố cụ thể có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập
Trang 21+ Mục đích là điều chỉnh hợp lí quá trình dạy và học
+ Tạo cảm thông, chia sẻ, cụ thể, kịp thời, được mọi người chờ đợi
+ Cố gắng hiểu được những suy tư, tình cảm, diễn đạt ý kiến một cách đơn giản và
có trình tự, cùng thảo luận, khách quan, không nhận xét về giá trị
+ Có kiểm soát, có thể biến thành hành động, tìm hiểu các vấn đề cũng như nguyên nhân của chúng Đặt câu hỏi: Điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta? + Giải thích những quan điểm không đồng nhất và chấp nhận cách thức đánh giá của người khác
+ Chỉ tập trung vào những vấn đề có thể giải quyết được trong thời điểm thực tế + Giải thích rõ ràng cuộc trao đổi là cơ hội để tiếp tục cải tiến Hãy coi các mục tiêu như là các thử thách chứ không phải là phương tiện gây áp lực
+ Chỉ ra các khả năng để lựa chọn
- Phản hồi xử lí tình huống bằng kĩ thuật “Tia chớp”
Kĩ thuật “Tia chớp” là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhanh để xử lí tình huống nhằm cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học tập trầm lặng, buồn tẻ, nặng
nề trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng ý kiến của mình về tình trạng vấn đề
* Quy tắc thực hiện
- Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị
- Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thỏa thuận Ví dụ: Hiện tại tôi có hứng thú với chủ đề thảo luận không?
- Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1 – 2 câu ý kiến của mình
- Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến của mình
e Kĩ thuật điều phối
Kĩ thuật điều phối được sử dụng khi điều khiển sự làm việc phối hợp tích cực giữa các thành viên trong nhóm thảo luận về một chủ đề
- Mục đích cấu trúc hóa tiến trình và huy động sự tham gia tích cực của tất cả các thành viên vào quá trình làm việc, giải quyết vần đề
- Người điều phối có vai trò điều khiển và phối hợp sự tham gia của các thành viên
mà không can thiệp vào nội dung và quyết định của nhóm
1.3.10 Phương tiện, TBDH góp phần đổi mới phương pháp
PTDH không chỉ dừng ở mức minh họa nội dung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học Do yêu cầu tăng hoạt động thực hành, thí nghiệm cũng như yêu cầu ứng dụng nên khi xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trí của TBDH trong quá trình dạy học bô môn Khi nêu lên yêu cầu về mặt này cần lưu ý đến sự kết hợp giữa các thiết bị thông thường đã được và sẽ phải trang bị cho các trường với các thiết bị hiện đại; giữa các thiết bị phải mua sắm với các thiết bị tự tạo Cần lưu ý tới vai trò của công nghệ thông tin và việc ứng dung nó vào quá trình dạy học bộ môn
Trang 22- Sử dụng PTDH, TBDH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học PTDH, TBDH không chỉ minh họa, còn là nguồn tri thức, là một cách chứng minh bằng quy nạp Chú trọng sử dụng PTDH mới, phát triển năng lực sử dung PTDH mới, đa phương tiện cho HS thực hành và thí nghiệm
- Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của TBDH, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm trong quá trình học tập Đảm bảo để nhà trường có được TBDH ở mức tối thiểu, đó là những thiết bị thật sự cần thiết không thể thiếu được
- Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm TBDH của nhà trường
- Cần lưu ý tới các hướng dẫn sử dụng, bảo quản và căn cứ vào điều kiện cụ thể của các trường đề ra các quy định để thiết bị được GV, HS sử dụng tối đa
- Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới va bổ sung đối với trường cũ phòng học phòng học bộ môn, trước mắt là phòng học cho các môn thực nghiệm (Lí, Hóa, Sinh, Tin học, phòng học đa năng) và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn
- Hỗ trợ GV biết sử dụng PTDH hiệu quả, đặc biệt là PTDH mới: lựa chọn và sử dụng hợp lí PTDH, biết sử dụng PTDH trên cơ sở logic quá trình nhận thức của HS và chú ý đến các chức năng lí luận DH nhằm đáp ứng đổi mới PPDH và thực hiện mục tiêu dạy học
TBDH là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình, SGK nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới PPDH hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của HS Đáp ứng yêu cầu này phương tiện PPDH phải tạo điều kiện thuận lợi cho
HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác
- PTDH, TBDH rất cần sử dụng khi không thể mô tả được: quá to, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ)
- Cần tăng cường sử dụng, coi là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là sự minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm
- Sử dụng PTDH để hình thành khái niệm, chưa được hiểu đúng Yêu cầu GV phải nắm rất vững tư tưởng này để truyền đạt kiến thức đầy đủ, đúng yêu cầu về mức độ nhận thức Có nội dung là “chứng minh” qua TBDH, vì vậy, không sa đà vào giải thích, không dùng ngôn ngữ khoa học chặt chẽ thay cho PTDH mô tả để HS nắm được khái niệm Sử dụng thiết bị hiện đại trong điều kiện có thể sẽ có tác động rất sâu vào nhận thức
Trang 23- Tận dụng TBDH đã có chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào tự làm, tạo điều kiện về kinh phí theo danh mục có mua sắm Phát động HS làm và sưu tập (tranh ảnh, các mẫu vật…)
1.4 Đổi mới kiểm tra đánh giá
Đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục.Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong
cả một quá trình giáo dục
Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lí thông tin về trình độ, hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp.Các câu hỏi bài tập sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu đã được xác định
Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh, bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm, chú ý hơn tới đánh giá cả quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh…
Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cũng cần thể hiện sự phân hóa, đảm bảo 70% câu hỏi ở trình độ chuẩn dành cho mọi học sinh THPT, 30% phản ánh mức độ nâng cao,dành cho học sinh có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn
2 PHƯƠNG HƯỚNG CHIẾN LƯỢC ĐỔI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều, sử dụng các phương pháp dạy học nhằm bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các PPDH truyền thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các PP đó theo tinh thần mới GV phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
HS trong những tình huống cụ thể
Từ những nhược điểm cơ bản của kiểu dạy học cũ là GV độc thoại, giảng giải, KT,
ĐG, còn HS thì học một cách thụ động, cố ghi nhớ, nhắc lại kiến thức, làm theo mẫu Chiến lược DH này xuất phát từ quan niệm về nhiệm vụ của GD chỉ là một sự truyền đạt đơn giản những kiến thức, kinh nghiệm xã hội như những sản phẩm hoàn chỉnh đã được
thử thách “ Từ đó dẫn người GV ngấm ngầm hay công khai coi đứa trẻ hoặc như một người lớn thu nhỏ cần dạy dỗ, giáo dục, làm cho nó giống với mẫu người lớn nhanh chừng nào hay chừng ấy, hoặc như kẻ hứng chịu tội lỗi của tổ tiên….chứa trong mình một chất lệu chống đối, cho nên cần phải uốn nắn hơn là tạo dựng” (J.Piaget) [1, tr 43]
Theo kiểu DH này, trung tâm chú ý là nội dung các kiến thức cần dạy Song, nếu chỉ quan tâm tới bản thân nội dung kiến thức được trình bày thì dù tốt đến đâu vẫn chưa phải là sự xác định một cách cụ thể HS cần đạt được những khả năng gì trong hoặc sau khi học, và bằng cách nào đảm bảo cho HS đạt được các khả năng đó Chính vì vậy nó hạn chế chất
Trang 24lượng và hiệu quả DH Như vậy việc khắc phục lối truyền thụ một chiều là một hoạt động
có tính cách mạng nhằm chống lại thói quen đã có từ lâu, chống lại đặc quyền của GV Những GV tâm huyết với nghề hết lòng yêu thương trẻ em thì sẵn lòng hi sinh đặc quyền của mình, tự cải tạo mình, tự nguyện thu hẹp quyền uy của mình, dành cho HS vị trí chủ động trong HT Nhưng không ít GV còn bảo thủ không từ bỏ được thói quen và đặc
quyền trên, không thích ứng được với đòi hỏi mới
Chuyển lối dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn giản là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để HS tự lực chiếm lĩnh nội dung HT, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình
HS tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề, tình huống HT …Trên lớp, HS hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn GA, GV đã phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người “gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài” trong các hoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS, GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV
Bên cạnh đó, việc đổi mới SGK, thiết bị thí nghiệm, áp dụng các PPNT khoa học, tăng cường sử dụng các phương tiện DH hiện đại… cũng đóng vai trò quan trọng không kém góp phần bồi dưỡng và phát triển năng lực sáng tạo cho HS
2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh
Thực tế cho thấy bất cứ một việc HT nào đều phải thông qua hoạt động tự học của người học thì mới có thể có kết quả sâu sắc và bền vững Hơn nữa, một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện đại là sự bùng nổ thông tin Những ứng dụng kỹ thuật là rất hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên rất lạc hậu trong một tương lai không xa Ta có thể kể rất nhiều thí dụ: sự phát triển của máy tính điện tử, máy thu thanh, thu hình, máy ghi âm, điện thoại, máy ảnh…Do những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin bởi vì những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa
đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được
sự phát triển rất nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đại Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay
học ở nhà, mỗi HS phải tự lực động não để tiếp thu những điều cần học Vì vậy, trong
những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi dưỡng PP tự học cho
Trang 25Tăng cường dạy học theo nhóm, dạy học hợp tác… góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái
độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Theo lý thuyết về vùng phát triển gần của Vưgốt-xki, các tương tác thầy – trò và trò – trò trong lớp học có thể giúp cho HS vượt qua được những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến của mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó nhũng hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Mặt khác, trong việc học tập theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện để tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh hứng thú học tập của HS
Bên cạnh đó việc rèn luyện cho HS khả năng tự học còn là một biện pháp giúp ta giải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầu cao về việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng và một bên là sự hạn hẹp và thời gian dành cho mỗi môn học GV phải tính toán cân đối giữa nội dung DH trên lớp và nội dung dành cho HS tự tìm hiểu ở nhà Có thể không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bài học trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho HS tự tìm hiểu ở nhà rồi sau đó sẽ KT sự tự học của các em
Tuy nhiên, những vấn đề này trước đây chưa được chú ý đúng mức, HS đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kỹ lưỡng của GV, ít chịu tự lực tìm tòi nghiên cứu
Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những HS ở các lớp trên
2.3 Rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học
Muốn rèn luyện được nếp tư duy sáng tạo của người học thì điều quan trọng nhất là
phải tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS tích cực, tự lực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó
mà phát triển năng lực sáng tạo HS học bằng cách tự làm, làm một cách chủ động say mê hứng thú, chứ không phải bị ép buộc Vai trò của GV không còn là giảng giải, minh họa nữa mà chủ yếu là tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện cho HS hoạt động, thực hiện thành công các hoạt động học đa dạng mà kết quả là giành được kiến thức và phát triển được năng lực Muốn vậy GV cần:
- Tổ chức, hướng dẫn HS tham gia giải quyết các vấn đề, tình huống học tập…
- Tổ chức cho HS tham gia vào quá trình tái tạo kiến thức
- Áp dụng rộng rãi một số PPNT khoa học của vật lí như PP thực nghiệm, PP giải quyết vấn đề, PP tương tự,… vào trong quá trình DH
2.4 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình giảng dạy
Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng, có
sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách có
hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” [6, tr 17]
Trang 26Nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình DH đã sử dụng phương tiện :
- Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead
- Phần mềm hỗ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor
- Công nghệ thông tin, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính
- Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để DH Tăng cường sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH, coi đó là phương tiện để nhận thức; việc sử dụng phương tiện DH tạo điều kiện cho quá trình nhận thức của HS trên tất
cả các bình diện khác nhau, đặc biệt là trên bình diện trực quan trực tiếp và bình diện trực quan gián tiếp
3 MỤC TIÊU CỦA CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ THPT
3.1 Đạt được một hệ thống Vật lí PT cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại
Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời sống và sản xuất
Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lí cơ bản
Những nội dung chính của một số thuyết vật lí quan trọng nhất
Những ứng dụng phổ biến của Vật lí trong đời sống và trong sản xuất
Các phương pháp chung của nhận thức khoa học và những phương pháp đặc thù của vật lí, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình
3.2 Rèn luyện và phát triển các kĩ năng
Các bình diện của hoạt động
Bình diện trực quan trực tiếp - Các vật thật, các bức ảnh chụp
- Các thí nghiệm của GVvới các thiết bị thí nghiệm
- Phim học tập (quay các cảnh thật)
Bình diện trực quan gián tiếp - Các thí nghiệm mô hình
- Các phim hoạt họa
- Các phần mềm máy vi tính mô phỏng các hiện tượng, quá trình vật lí
- Các mô hình vật chất
- Các hình vẽ, sơ đồ
Bình diện nhận thức khái niệm-
ngôn ngữ
- SGK, sách bài tập, sách tham khảo
-Các phần mềm máy vi tính dùng cho việc ôn tập
Trang 27Quan sát các hiện tượng và các quá trình vật lí trong tự nhiên, trong đời sống hằng ngày hoặc trong các thí nghiệm, điều tra, sưu tầm, tra cứu tài liệu từ các nguồn khác nhau
để thu thập các thông tin cần thiết cho việc học tập Vật lí
Sử dụng các dụng cụ đo phổ biến của Vật lí, kĩ năng lắp ráp và tiến hành các thí nghiệm vật lí đơn giản
Phân tích, tổng hợp và xử lí các thông tin thu được để rút ra kết luận, đề ra các dự đoán đơn giản về các mối quan hệ hay về bản chất của các hiện tượng hay quá trình vật
lí, cũng như đề xuất phương án thí nghiệm để kiểm tra dự đoán đã đề ra
Vận dụng kiến thức để mô tả và giải thích các hiện tượng và quá trình vật lí, giải các bài tập vật lí và giải quyết các vấn đề đơn giản trong đời sống và sản xuất ở mức độ phổ thông
Sử dụng các thuật ngữ vật lí, các biểu bảng,đồ thị để trình bày rõ ràng, chính xác những hiểu biết, cũng như những kết quả thu được qua thu thập và xử lí thông tin
- Có kỹ năng soạn giáo án vận dụng kiểu dạy học theo PP dạy học tích cực
4.2 Những định hướng đổi mới phương pháp dạy học Vật lí ở lớp 12 theo chương trình trung học phổ thông mới
Giảm đến tối thiểu việc giảng giải, minh họa của giáo viên, tăng cường việc tổ chức cho học sinh tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề học tập
Trang 28PPDH truyền thống trong một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên PP đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo Có nhiều điều HS đọc hay làm theo SGK cũng có thể hiểu được nhưng GV vẫn giảng Cách giảng đó thể hiện một sự thiếu tin tưởng ở HS và nguy hại hơn nữa là không cho HS có cơ hội để suy nghĩ, càng không có điều kiện để HS đề xuất những ý kiến cá nhân khác với SGK, hay khác với ý kiến của GV Nhiều GV thường nói là bài dài, thực ra nhiều khi sách viết có dài, nhưng viết dài là để cho HS tự đọc mà cũng hiểu được, nhưng GV lại không cho HS tự đọc ở lớp hay ở nhà mà giảng giải trình
bày tất cả
Chính vì vậy GV cần giảm đến mức tối thiểu việc giảng giải minh họa, tăng cường việc tổ chức cho HS tự lực, tham gia vào giải quyết các vấn đề HT Tuy ban đầu HS chưa quen với PP học mới còn chờ GV giảng giải, tóm tắt, đọc cho chép, nhưng sau một thời gian tự lực làm việc, họ tự tin hơn, đọc nhanh hơn và nhất là hiểu kĩ, nhớ lâu Kết quả là nếu tính tổng cộng thời gian mà HS phải bỏ ra để học một bài lại ít hơn là chờ đợi GV giảng giải rồi cố ghi nhớ Điều quan trọng hơn là khi quen với cách học mới, HS sẽ tự tin
và hào hứng Muốn vậy, GV cần phải biết phân chia một vấn đề HT phức tạp thành những bộ phận đơn giản, vừa sức, nếu HS cố gắng một chút là có thể hoàn thành được Thông thường trong mỗi bài học GV đều có thể tìm ra một hoặc hai chỗ trong bài để
HS có thể tự lực hoạt động với khoảng thời gian từ 10 đến 20 phút nhằm góp phần giải quyết một vấn đề nào đó trong quá trình HT như phát hiện vấn đề, thu thập thông tin, xử
lí thông tin, phát biểu kết luận khái quát, vận dụng vào thực tế GV cần tính toán xem với trình độ HS cụ thể thì việc gì có thể trao cho họ tự làm, việc gì cần có sự trợ giúp hướng dẫn của GV
Áp dụng rộng rãi kiểu dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Kiểu dạy học nêu và GQVĐ (dạy học nêu vấn đề) là kiểu DH trong đó dạy cho HS thói quen tìm tòi GQVĐ theo cách của các nhà khoa học, GV vừa tạo cho HS nhu cầu, hứng thú hoạt động sáng tạo, vừa rèn luyện cho họ khả năng sáng tạo
Trong quá trình dạy học có rất nhiều cách tạo ra tình huống có vấn đề Cách phổ biến nhất là đưa ra một hiện tượng, một sự kiện, một câu hỏi mà lúc đầu HS tưởng rằng mình
đã biết cách trả lời Nhưng khi phân tích kĩ mới thấy những kiến thức đã có của mình không đủ giải thích hiện tượng hay trả lời câu hỏi Động cơ hoạt động xuất phát từ chỗ muốn hoàn thiện, phát triển kiến thức, kỹ năng của mình bền vững và mạnh mẽ hơn cả
PP tìm tòi nghiên cứu giải quyết vấn đề một cách sáng tạo thường theo quy trình chung như sau:
- Phát hiện, xác định vấn đề, nêu câu hỏi
- Nêu câu trả lời dự đoán (mô hình, giả thuyết) có tính chất lí thuyết, tổng quát
- Từ dự đoán suy ra hệ quả lôgic có thể kiểm tra trong thực tế
- Tổ chức thí nghiệm kiểm tra xem hệ quả đó có phù hợp với thực tế không Nếu phù hợp thì điều dự đoán là đúng Nếu không thì dự đoán là sai, phải xây dựng dự đoán mới
- Phát biểu kết luận
Trang 29Muốn thực hiện được các khâu của PP này, HS phải thực hiện việc thu thập thông tin,
xử lí thông tin, khái quát kết quả tìm tòi nghiên cứu Trong quá trình này có hai lĩnh vực luôn luôn kết hợp với nhau: hiện tượng thực tế cụ thể quan sát được và những kết luận trừu tượng phản ánh thực tế đó Sự kết hợp đó thực hiện thông qua các suy luận lôgic như: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa…
Rèn luyện cho học sinh các phương pháp nhận thức khoa học Vật lí
Một trong những nét đặc trưng của tư duy khoa học là phải biết phương pháp hành động rồi mới hành động, chứ không hành động mò mẫm, ngẫu nhiên
Về phương pháp thực nghiệm: GV có thể làm thí nghiệm để thu thập thông tin hoặc củng cố bảng số liệu kết quả TN Còn sau đó việc xử lí thông tin rút ra kết quả nên dành cho HS làm Ở khâu thí nghiệm kiểm tra, cụ thể GV yêu cầu HS đề xuất phương án TN kiểm tra bằng những thiết bị cụ thể, GV có thể làm thí nghiệm biểu diễn
Về phương pháp giải quyết vấn đề: Dựa theo những cách mà các nhà bác học thường dùng để giải quyết các vấn đề khoa học kỹ thuật, có thể có những kiểu hướng dẫn HS GQVĐ sau: Hướng dẫn tìm tòi qui về kiến thức, phương pháp đã biết; hướng dẫn tìm tòi sáng tạo từng phần; hướng dẫn tìm tòi sáng tạo khái quát
Về PP tương tự : PPTT là PPNT khoa học, trong đó sử dụng sự tương tự và phép suy luận TT để rút ra tri thức mới về đối tượng khảo sát
Tận dụng những phương tiện thí nghiệm mới, trang thiết bị mới, phát huy tính sáng tạo của giáo viên trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học
- Vai trò, vị trí của phương tiện, thiết bị dạy học
Góp phần quan trọng đổi mới PPDH, hướng vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, tạo điều kiện thuận lợi cho GV, HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Sử dụng phương tiện DH, thiết bị DH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn
là phương tiện của việc học; không chỉ minh họa mà còn là nguồn tri thức là một cách chứng minh bằng quy nạp
Sử dụng đồ dùng DH, thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành, thí nghiệm Những thiết bị DH có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị DH của nhà trường
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và có chất lượng cao của phương tiện DH, thiết bị
DH tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm thí nghiệm
Trong quá trình biên soạn chương trình, SGK, SGV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị DH và chuẩn bị phương tiện DH, thiết bị DH theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị DH
- Yêu cầu sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học
Cần sử dụng phương tiện, thiết bị DH khi sự vật hiện tượng không thể mô tả được: quá lớn, quá nhỏ, khó tìm trên thực tế, không thể biểu diễn được quá trình biến đổi (phản ứng hóa học, hoạt động của các động cơ…)
Trang 30Cơ sở vật chất, PTDH, thiết bị DH của nhà trường phải hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học linh hoạt, dễ dàng thay đổi, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác Tăng cường sử dụng PTDH, TBDH, phải coi đó là phương tiện để nhận thức, không chỉ thuần túy là minh họa Đây là nguồn thông tin cực kì quan trọng giúp HS có hứng thú tìm tòi, phát hiện kiến thức mới Coi trọng quan sát, phân tích, nhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm
“Tận dụng PTDH, TBDH đã có, chỉnh sửa, cải tiến cho phù hợp Phát động phong trào GV, HS tự làm và sưu tập (tranh ảnh, mẫu vật…)” [8, tr 19]
- Công nghệ thông tin với vai trò phương tiện dạy học, thiết bị dạy học
Thế giới bước vào kỉ nguyên mới nhờ tiến bộ nhanh chóng của việc ứng dụng CNTT vào tất cả các lĩnh vực Trong giáo dục và đào tạo, CNTT đã góp phần hiện đại hóa PTDH, TBDH góp phần đổi mới phương pháp dạy học
Sử dụng CNTT như công cụ DH cần được đặt trong toàn bộ hệ thống các PPDH nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống đó Mỗi PPDH đều có những chỗ mạnh và chỗ yếu Ta cần phát huy chỗ mạnh hạn chế chỗ yếu của mỗi phương pháp
Bên cạnh đó cần phát huy vai trò của người thầy trong quá trình sử dụng CNTT như PTDH, TBDH, nghĩa là không thủ tiêu vai trò của người thầy mà trái lại còn phát huy hiệu quả hoạt động của thầy giáo trong quá trình dạy học có sử dụng CNTT
Sử dụng CNTT như một PTDH, TBDH, không phải chỉ để thực hiện dạy học với trang thiết bị của CNTT mà còn góp phần thúc đẩy việc đổi mới PPDH ngay cả trong điều kiện không có máy
5 ĐỔI MỚI VIỆC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
5.1 Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá
Đánh giá là quá trình thu thập, lý giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng, hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo…
Nhược điểm:
Hình thức đánh giá đơn điệu, không có khả năng phân hóa HS
Nội dung thiên về kiểm tra khả năng ghi nhớ, tái hiện hoặc ra bài kiểm tra theo khuôn mẫu có sẵn (SGK, sách bài tập, …)
Kết quả kiểm tra khó đo lường và phản ánh đúng năng lưc, trình độ học tập của
HS
Tuy nhiên đánh giá kết quả học tập có ý nghĩa quan trọng trong việc:
Xác định trình độ, năng lực học tập của HS vào những thời điểm nhất định theo những yêu cầu nhất định
Cung cấp thông tin tương đối chính xác về nội dung học tập và mức độ HS đã hoặc chưa đạt yêu cầu của mục tiêu đề ra, nguyên nhân ở đâu, từ đó đề xuất các biện pháp kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học
Góp phần điều chỉnh phương pháp dạy và phương pháp học
Trang 31 Đánh giá, đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với những mục tiêu đã định trong chương trình bộ môn
Đánh giá, đo lường kết quả thực hiện của chính bản thân HS so với mặt bằng chất lượng chung của HS cùng lớp trong học tập môn Vật lý, cung cấp thông tin ngược cho HS về quá trình học tập để tự điều chỉnh, kích thích hoạt động học, khuyến khích tự đánh giá
5.2 Quan điểm cơ bản về đánh giá
Đánh giá là công cụ quan trọng, chủ yếu xác định năng lực nhận thức của người học, điều chỉnh quá trình dạy và học; là động lực để đổi mới PPDH, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu GD
Đánh giá là một quá trình, theo một quá trình: đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo dục, từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu GD
5.3 Khắc phục những hạn chế trong kiểm tra đánh giá
Bài kiểm tra, bài thi chỉ đo được những kiến thức HS nhớ trong SGK, tài liệu, chưa quan tâm chú trọng đến kết quả học tập quan trọng khác
Bài kiểm tra, bài thi chưa thể hiện được tất cả các kiến thức mà HS đã được học trong nhà trường
GV chưa phản hồi cụ thể, chính xác với HS vì sao các em chưa học tốt, bằng cách nào các em có thể nâng cao kết quả học tập của mình
HS không phải lo lắng về những kết quả học tập quan trọng khác vì những kết quả này không được kiểm tra
GV chấm điểm không thống nhất, GV khác nhau chấm điểm khác nhau
HS phải làm quá nhiều bài kiểm tra và các em ít có cơ hội học tập và phát triển toàn diện
Điểm số là công cụ đánh giá mức thuộc bài, không đánh giá được tiềm năng, năng lực con người
Khắc phục những khó khăn của hình thức trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
Hình thức TNKQ có thể có lợi thế hơn với một số HS
Khó quan tâm được nhiều đến môi trường học tập của HS
HS khó thể hiện được tính thống nhất trong quá trình học tập
Khó đánh giá được hết năng lực học tập, các kỹ năng mà chỉ đánh giá được các mảng kiến thức
5.4 Mục tiêu đổi mới kiểm tra, đánh giá
Đánh giá đúng thực chất trình độ, năng lực người học; kết quả kiểm tra, thi đủ độ tin cậy để xét lên lớp, tốt nghiệp, làm một căn cứ xét tuyển sinh
Tạo động lực đổi mới PPDH góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Giảm áp lực thi cử, tạo thuận lợi và đảm bảo tốt hơn lợi ích của người học
5.5 Yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục
Trang 32Căn cứ vào chuẩn kiến thức và kỹ năng của từng môn học ở từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kỹ năng, thái độ của HS sau mỗi lớp, mỗi giai đoạn, mỗi cấp học
Phối hợp đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, đánh giá của cộng đồng
Đánh giá chính xác, khách quan, công bằng, kịp thời và không bỏ sót, giáo dục và động viên HS, giúp HS sửa chữa những thiếu sót kịp thời
Chú trọng kiểm tra đánh giá hoạt động, tình cảm của HS: nghĩ và làm Năng lực vận dụng vào thực tiễn của HS qua ứng xử, giao tiếp
Đánh giá cả quá trình học tập của HS, tạo điều kiện cho HS cùng tham gia xác định tiêu chí đánh giá kết quả học tập
Nội dung đánh giá có thể hơi "cao" nhưng không được quá khó để kích thích sự tìm tòi, sáng tạo, hứng thú của HS
Hệ thống câu hỏi kiểm tra đánh giá cần thể hiện sự phân hóa cao, 70% câu hỏi bài tập đo được mức độ chuẩn kiến thức và 30% phản ánh mức độ nâng cao dành cho HS có năng lực trí tuệ và thực hành cao hơn
Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập của nhà trường; tăng cường đổi mới khâu kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kỳ
Kết hợp hợp lý giữa các hình thức kiểm tra đánh giá, thi vấn đáp, tự luận và trắc nghiệm nhằm hạn chế học tủ, học vẹt, học ghi nhớ máy móc; phát huy ưu điểm, hạn chế nhược điểm của mỗi hình thức
Đa dạng hóa công cụ đánh giá; sử dụng tối đa CNTT trong quy trình tổ chức kiểm tra đánh giá
Trang 33Chương 2 BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ DUY CỦA HỌC SINH
1 TƯ DUY
1.1 Khái niệm
Tư duy là một quá trình nhận thức khái quát và gián tiếp những sự vật và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính bản chất của chúng, những mối quan hệ khách quan, phổ biến giữa chúng, đồng thời cũng là sự vận dụng sáng tạo những kết luận khái quát đã thu được vào những dấu hiệu cụ thể, dự đoán được những thuộc tính, hiện tượng, quan hệ mới [7, tr 113]
1.2 Đặc điểm của tư duy
Tư duy có những đặc điểm sau:
Tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu Bởi vậy, tư duy có mối quan
hệ mật thiết với nhận thức cảm tính, sử dụng những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm thực tế, những cơ sở trực quan sinh động
Tính trừu tượng và khái quát của tư duy: Tư duy phản ánh cái bản chất chung cho nhiều sự vật hiện tượng, đồng thời đã trừu xuất khỏi những sự vật, hiện tượng đó Nhờ tính chất trừu tượng và khái quát, tư duy có thể cho phép ta đi sâu vào bản chất và mở rộng phạm vi nhận thức sang cả những sự vật, hiện tượng cụ thể mới mà trước đây ta chưa biết
Tính gián tiếp: Trong quá trình tư duy, quá trình hoạt động nhận thức của con người nhanh chóng thoát khỏi những sự vật cụ thể cảm tính mà sử dụng những khái niệm biểu đạt chúng, thay thế những sự vật cụ thể bằng những ký hiệu, bằng ngôn ngữ
Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, ngôn ngữ là phương tiện, là hình biểu đạt của
tư duy Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tư duy, nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho người khác và cho cả bản thân chủ thể tư duy Không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tư duy không diễn ra được, đồng thời các sản phẩm của tư duy cũng không thể sử dụng được
Tính “có vấn đề”: Hoạt động tư duy chỉ bắt đầu khi con người đứng trước một câu
hỏi về một vấn đề mà mình quan tâm nhưng chưa giải đáp được bằng những hiểu biết đã
có của mình, nghĩa là gặp phải tình huống có vấn đề
1.3 Các loại tư duy
Có nhiều cách phân biệt tư duy, dựa theo những dấu hiệu khác nhau Trong dạy học vật lý, người ta quan tâm đến những loại tư duy chủ yếu dưới đây:
1.3.1 Tư duy kinh nghiệm
Tư duy kinh nghiệm là một tư duy chủ yếu trên kinh nghiệm cảm tính và sử dụng phương pháp “thử và sai” Chủ thể phải thực hiện một nhiệm vụ nào đó, thử mò mẫn thực hiện một số thao tác, hành động nào đó, ngẫu nhiên gặp một trường hợp thành công, sau
đó lặp lại đúng như thế mà không biết nguyên nhân vì sao Kiểu tư duy này đơn giản, không cần phải rèn luyện nhiều, có ích trong hoạt động hàng ngày để giải quyết một số vấn đề trong một phạm vi hẹp Ví dụ: Đứng trước một máy thu hình có nhiều nút bấm,
Trang 34một học sinh bấm thử tất cả các nút Sau một số lần bấm, em đó nhận ra rằng ấn nút thứ nhất thì có hình ảnh, ấn nút thứ hai thì có tiếng mà không hiểu tại sao Kinh nghiệm này không áp dụng cho các loại máy thu hình khác, trong đó không có nút bấm mà có núm xoay hoặc gạt
1.3.2 Tư duy lý luận
Tư duy lý luận là loại tư duy giải quyết nhiệm vụ được đề ra dựa trên sử dụng những khái niệm trừu tượng,những tri thức lý luận Đặt trưng của loại tư duy của loại tư duy này là:
- Không dừng lại ở kinh nghiệm rời rạc mà luôn hướng tới xây dựng quy tắc, quy luật chung ngày một sâu rộng hơn
- Tự định hướng hành động, suy nghĩ về cách thức hành động trước khi hành động
- Luôn sử dụng những tri thức khái quát đã có để lý giải, dự đoán những sự vật, hiện tượng cụ thể
- Luôn lật đi, lật lại vấn đề để đạt đến sự nhất quán về mặt lý luận, xác định được phạm
vi ứng dụng của mỗi lý thuyết
Tư duy lý luận rất cần thiết cho hoạt động nhận thức và phải rèn luyện lâu dài mới có được Nhờ có tư duy lý luận, con người mới có thể đi sâu được vào bản chất của sự vật hiện tượng, phát hiện được quy luật vận động của chúng và sử dụng những tri thức khái quát đó để cải tạo bản thân và biến đổi thế giới tự nhiên, phục vụ lợi ích của mình
1.3.3 Tư duy logic
Tư duy logic là tư duy tuân theo các quy tắc, quy luật của logic học một cách chặc chẽ, chính xác, không phạm phải sai lầm trong các lập luận, biết phát hiện ra các mâu thuẫn, nhờ đó mà nhận thức được đúng đắn chân lý khách quan
Logic học là một khoa học nghiên cứu những tư tưởng của con người về mặt hình thức logic của chúng và xây dựng những quy tắc, quy luật mà việc tuân theo chúng là điều kiện cần phải đạt tới chân lý trong quá trình suy luận Con người bằng kinh nghiệm của mình đã suy nghĩ theo những quy luật nhất định rất lâu trước khi những quy luật này được khoa học logic khám phá ra Những quy luật của logic học mà mỗi người sử dụng trong quá trình hoạt động tư duy không phải là con người tự ý tái tạo ra mà là sụ phản ánh những mối liên hệ và quan hệ khách quan của các sự vật và hiện tượng quanh ta Bởi thế, dù chưa biết logic học, nhưng con người bằng kinh nghiệm sống của mình đã có thể trao đổi kinh ngiệm sống với nhau, thông hiểu nhau và thống được với nhau trong một số lập luận, phán đoán Tuy nhiên, điều đó chỉ xảy ra trong một số trường hợp đơn giản, còn khi gặp những trường hợp phức tạp thì khó có thể thông hiểu lẫn nhau hoặc khó phân biệt đúng hay sai, nếu không nắm vững và vận dụng đúng đắn những quy tắc, quy luật logic hoc Ví dụ: học sinh có thể dễ dàng tin rằng lập luận sau đây là đúng, dù không hiểu lí do
vì sao:
Tất cả kim loại đều dẫn điện
Vật này là kim loại
Vậy: vật này dẫn điện
Trang 35Nhưng họ có thể biết rằng lập luận dưới đây là đúng hay sai:
Tất cả kim loại đều dẫn điện
Vật này dẫn điện
Vậy: vật này là kim loại
Tuy nhiên, đối với học sinh ở trường phổ thông, không thể dạy cho họ logic học để sau đó, họ mới vận dụng các quy tắc và quy luật logic để suy nghĩ, lập luận Trái lại, ta có thể thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà tích lũy dần kinh nghiệm và đến một lúc nào đó sẽ tự tổng kết thành những quy tắc đơn giản thường dùng
Tư duy logic được sử dụng trong mọi lĩnh vực hoạt động nhận thức, cho nên phải thường xuyên rèn luyện cho học sinh cách tư duy logic
1.3.4 Tư duy vật lý
Ta hiểu tư duy vật lý là sự quan sát các hiện tượng vật lý, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định tính và mặt định lượng của các hiện tượng và các đại lượng vật lý, dự đoán các hệ quả mới từ các lý thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được từ thực tiễn
Các hiện tượng vật lý trong tự nhiên rất phức tạp, nhưng những định luật chi phối chúng thường lại rất đơn giản, vì mỗi hiện tượng bị nhiều yếu tố tác động chồng chéo lên nhau hoặc nối tiếp nhau mà ta chỉ quan sát được kết quả tổng hợp cuối cùng Bởi vậy muốn nhận thức được những đặc tính bản chất và quy luật của tự nhiên thì việc đầu tiên
là phải phân tích được hiện tượng phức tạp thành những bộ phận, những giai đoạn bị chi phối bởi một số ít nguyên nhân, bị tác động bởi một số ít yếu tố, tốt nhất là một nguyên nhân, một yếu tố Có như thế, ta mới xác lập được một mối quan hệ bản chất, trực tiếp, những sự phụ thuộc định lượng giữa các đại lượng vật lý dùng để đo lường những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng Muốn biết những kết luận khái quát thu được có phản ánh đúng thực tế khách quan không, ta phải kiểm tra lại trong thực tiễn Để làm việc
đó, ta phải xuất phát tư những kết luận khái quát, suy ra những hệ quả, dự đoán những hiện tượng mới có thể quan sát được trong thực tiễn Nếu thí nghiệm xác nhận hiện tượng đúng như dự đoán thì kết luận khái quát ban đầu mới được xác nhận là chân lý Mặc khác, việc vận dụng những kiến thức vật lý khái quát vào thực tiễn tạo điều kiện cho con người cải tạo thực tiễn, làm cho các hiện tượng vật lý xảy ra theo hướng có lợi cho con người, thỏa mãn được nhu cầu ngày càng tăng của con người
Trong quá trình nhận thức vật lý như trên, con người sử dụng tổng hợp, xen kẽ nhiều hình thức tư duy, trong đó có hình thức chung như tư duy lý luận, tư duy logic và những hình thức đặc thù của vật lý học như thực nghiệm, mô hình hóa…
Ví dụ: Quan sát hiện tượng các vật nổi hay chìm trong nước, ta thấy rất phức tạp Thông thường, vật nặng thì chìm, vật nhẹ thì nổi, nhưng cũng có trường hợp vật nặng lại nổi mà vật nhẹ lại chìm Hai vật nặng như nhau cùng thả trong nước nhưng một vật thì chìm, vật kia lại nổi Hình như cả trọng lượng, hình dạng, kích thước, bản chất của vật, của chất lỏng đều ảnh hưởng đến hiện tượng nổi này Sự quan sát trực tiếp những hiện
Trang 36tượng đa dạng đó trong tự nhiên khó có thể rút ra được điều gì là chung, khó mà phát hiện được quy luật chi phối hiện tượng Ta phải phân tích xem có yếu tố nào ảnh hưởng đến hiện tượng nổi và xem xét tưng yếu tố một Chẳng hạn vật nhúng trong nước chịu tác
dụng của hai lực: trọng lượng kéo vật xuống và nước đẩy vật lên Lực đẩy của nước lên
vật cũng là một hiện tượng phức tạp, phụ thuộc vào cả vật và cả chất lỏng: phụ thuộc vào thể tích của vật và vào trọng lượng riêng của chất lỏng Cuối cùng thì hiện tượng nổi của một vật nhúng trong chất lỏng rất đa dạng và phức tạp lại bị chi phối bởi một loạt những tính chất, quy luật đơn giản sau:
2 CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA HỌC SINH
2.1 Tạo nhu cầu hứng thú, kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh
Tư duy là quá trình tâm lý diễn ra trong đầu học sinh Tư duy chỉ thực sự có hiệu quả khi học sinh tự giác mang hết sức mình để thực hiện Tư duy chỉ thực sự bắt đầu khi trong đầu học sinh xuất hiện một câu hỏi mà chưa co lời giải đáp ngay, khi họ gặp phải mâu thuẫn giữa một bên là nhu cầu, nhiệm vụ nhận thức mới phải giải quyết và một bên
là trình độ kiến thức hiện có không đủ để giải quyết nhiệm vụ đó, cần phải xây dựng kiến thức mới, tìm giải pháp mới Lúc đó, học sin vừa ở trạng thái tâm lý hơi căng thẳng, vừa hưng phấn khao khát vượt qua được khó khăn, giải quyết được mâu thuẫn, đạt được một
trình độ cao hơn trên con đường nhận thức Ta nói rằng: học sinh được đặt vào “tình huống có vấn đề”
Có thể tạo ra nhu cầu, hứng thú bằng cách kích thích bên ngoài, chẳng hạn: khen thưởng, sự ngưỡng mộ của bạn bè, gia đình, sự hứa hẹn một tương lai tươi đẹp, thực tế xây dựng quê hương đất nước… Những sự kích thích này không được thường xuyên, bền vững và phụ thuộc nhiều vào hoàn cảnh của mỗi học sinh
Nhu cầu, hứng thú có thể nảy sinh ngay trong quá trình học tập, nghiên cứu một môn học, từ mâu thuẫn nội tại của quá trình nhận thức
Những tình huống điển hình hay gặp trong dạy học vật lý là:
a Tình huống phát triển
Học sinh đứng trước một vấn đề chỉ mới được giải quyết một phần, một bộ phận, trong một phạm vi hẹp, cần phải được tiếp tục phát triển, hoàn chỉnh, mở rộng sang những phạm vi mới, lĩnh vực mới Phát triển hoàn thiện vốn kiến thức của mình luôn là niềm khát khao của tuổi trẻ Ngoài ra, như Risa Fayman nói đó cũng là con đường phát triển của khoa học Quá trình phát triển, hoàn thiện vốn kiến thức sẽ đem lại những kết
Trang 37quả mới (kiến thức mới, kĩ năng mới, phương pháp mới) nhưng trong quá trình đó, vẫn
có thể sử dụng những kiến thức, kĩ năng và phương pháp đã biết cho đến lúc găp mâu thuẫn không thể giải quyết được bằng vốn hiểu biết cũ
Ví dụ: Học sinh lớp 10 đã biết rằng một vật có khối lượng m chịu tác dụng của một lực F sẽ thu được một gia tốc a theo định luật thứ hai của Niuton: F = ma Nếu F không đổi thì a cũng không đổi và chuyển động của vật là chuyển động biến đổi đều Đến lớp
12, đặt vấn đề áp dụng định luật hai của Niuton cho trường hợp vật chịu tác dụng của một lực biến đổi, ví dụ lực đàn hồi: F = -kx thì vật sẽ chuyển động như thế nào? Mặc dù vẫn tin tưởng rằng định luật hai Niuton vẫn đúng, nhưng học sinh không thể có ngay một câu trả lời đúng cho câu hỏi đó Cần phải thực hiện một chuỗi suy luận toán học để tìm nghiệm phương trình:
hay
Ta thu được nghiệm:
Sau khi kiểm tra lại bằng thí nghiệm, ta rút ra được kiến thức mới: Vật chịu tác dụng của lực có dạng F = -kx sẽ chuyển động theo một dao động điều hòa hình sin
b Tình huống lựa chọn
Học sinh đứng trước một vấn đề có mang một số dấu hiệu quen thuộc có liên quan tới những kiến thức hay nhiều phương pháp đã biết, nhưng chứ biết chắc chắn có thể dùng kiến thức nào hay phương pháp nào sẽ mang lại kết quả chắc chắn Học sinh cần phải lựa chọn, thậm chí còn phải làm thử mới biết được cách nào đem lại kết quả như mong muốn
Ví dụ: Ở lớp 10, khi nghiên cứu sự tương tác bằng va chạm giữa hai vật, vấn đề được đặt ra là ngoài khối lượng hai vật, còn đại lượng nào được bảo toàn trong khi tương tác nữa không? Học sinh không thể trả lời ngay được, nhưng họ có thể cảm nhận được rằng
có hai phương pháp để tìm câu trả lời:
- Một là, ở đây ta có bài toán hai vật va chạm, nghĩa là hai vật tương tác, chúng tác dụng vào nhau những lực, vậy có thể áp dụng định luật Niuton để tìm xem trong quá trình tương tác thì vận tốc biến đổi, gia tốc cũng có thể biến đổi, hi vọng sẽ tìm ra một đại lượng mới không biến đổi
- Hai là, theo cách thông thường như vẫn làm từ khi học cơ học, có thể áp dụng phương pháp thực nghiệm, dựa vào thí nghiệm để tìm tòi
c Tình huống bế tăc
Học sinh đứng trước một hiện tượng vẫn thương thấy nhưng không hiểu vì sao, vẫn coi như một điều bí mật của tự nhiên Bây giờ, họ được giao nhiệm vụ phải tìm nguyên nhân, lý giải rõ ràng nhưng chưa biết dựa vào đâu
Ví dụ: Trước khi học quang học, nhiều học sinh vẫn thường quan sát thấy một chiếc que thẳng nhúng vào nước thì thấy như nó bị gãy đi khi nhìn từ trên xuống, hoặc khi lội