1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

áp dụng phương pháp thực nghiệm khi giảng dạy chương động lực học chất điểm, vật lý 10 nâng cao, nhằm bồi dưỡng cho học sinh năng lực tự học

92 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc giảng dạy môn Vật lý theo chương trình nâng cao có nhiệm vụ: cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông, cơ bản, tương đối đầy đủ và hiện đại; hình thành ở học si

Trang 1

KHOA SƯ PHẠM

BỘ MÔN SƯ PHẠM VẬT LÝ

ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM KHI GIẢNG DẠY CHƯƠNG ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM, VẬT LÝ 10 NÂNG CAO, NHẰM BỒI DƯỠNG CHO HỌC SINH NĂNG LỰC TỰ HỌC

Luận văn tốt nghiệp

Ngành: SƯ PHẠM VẬT LÝ-TIN HỌC

ThS-GVC Trần Quốc Tuấn Hồ Trọng Nghĩa

MSSV: 1110247 Lớp: SP Vật Lý-Tin Học Khóa: 37

Cần Thơ, năm 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian dài nghiên cứu em đã hoàn thành luận văn của mình Đó là kết quả sự cố gắng của bản thân trong những năm tháng trên giảng đường Đại Học và sự hướng dẫn tận tình của quý thầy cô trong những năm vừa qua

Lời cảm ơn đầu tiên em xin gửi đến toàn thể quý thầy

cô Khoa Sư Phạm, đặc biệt là thầy cô trong Bộ Môn Sư Phạm Vật Lí đã dạy dỗ, truyền đạt cho em nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu

Riêng đối với ThS-GVC Trần Quốc Tuấn, em xin bày

tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất Thầy đã tận tình chỉ dẫn, quan tâm giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi hạn chế và thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến quý báu của quý thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn

Cuối lời, kính chúc quý thầy cô và các bạn dồi dào sức khỏe và công tác tốt

Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên thực hiện

Hồ Trọng Nghĩa

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GVHD

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2015

Trần Quốc Tuấn

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các số liệu, kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây

Mọi tham khảo, trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2015

Tác giả

Hồ Trọng Nghĩa

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3.Giả thuyết nghiên cứu 3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đối tượng nghiên cứu 3

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài 3

8 Các chữ viết tắt trong luận văn 4

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ THPT 5

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH VL ở THPT 5

1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu đổi mới 5

1.1.2 Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục trung học phổ thông 5

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học 6

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều 6

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh 6

1.2.3 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá 7

1.3 Mục tiêu của việc đổi mới chương trình Vật lý THPT 8

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại 8

1.3.2 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm sau khi học VL phổ thông 8

1.4 Những định hướng đổi mới PPDH VL theo chương trình THPT đổi mới 8

1.4.1 Phát huy tinh thần chủ động, tích cực và sáng tạo của học học sinh 8

1.4.2 Tổ chức hoạt động dạy và học chủ động để học sinh tự lĩnh hội kiến thức và kỹ năng… 9

Trang 6

1.4.3 Bồi dưỡng kỹ năng học cá nhân và học hợp tác của học sinh 9

1.4.4 Tăng cường làm thí nghiệm, và sử dụng các phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học……… 10

1.4.5 Soạn giáo án theo tinh thần mới, lấy học sinh làm trung tâm 11

1.5 Đổi mới việc kiểm tra và đánh giá 13

1.5.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá 13

1.5.2 Các hình thức cơ bản về đánh giá 15

1.5.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá 15

1.5.4 Xác định mức độ trong kiểm tra đánh giá 16

Chương 2 BỒI DƯỠNG HỌC SINH NĂNG LỰC TỰ HỌC 20

2.1 Năng lực tự học 20

2.1.1 Năng lực 20

2.1.2 Tự Học 21

2.1.3 Năng lực tự học 21

2.2 Hoạt động tự học vật lý của học sinh 22

2.3 Phương hướng rèn luyện năng lực tự học 26

2.4.Vai trò của GV trong việc rèn luyện cho HS PP tự học 27

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ NHẰM BỒI DƯỠNG CHO HS NĂNG LỰC TỰ HỌC 29

3.1 Nội dung của phương pháp thực nghiệm 29

3.2 Tầm quan trọng của phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học vật lý ở THPT 29

3.3 PPTN trong nghiên cứu khoa học vật lý 30

3.3.1 Phương pháp thực nghiệm 30

3.3.2 Các giai đoạn của PPTN trong nghiên cứu khoa học vật lý 31

3.4 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý 31

3.4.1 Phương pháp thực nghiệm trong dạy hoc vật lý 31

3.4.2 Các giai đoạn của PPTN trong dạy học vật lý 32

Trang 7

3.4.3 Hướng dẫn học sinh hoạt động trong mỗi giai đoạn của PPTN 32

3.4.4 Phối hợp PPTN và các phương pháp nhận thức khác trong dạy học Vật lý 36

3.5 Tổ chức dạy học vật lý theo PPTN ở THPT 37

3.5.1 Các dạng hoạt động học của học sinh trong khi áp dụng PPTN 37

3.5.2 Rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết khi áp dụng PPTN 37

3.5.3 Quan hệ giữa bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh và rèn luyện áp dụng PPTN……… 38

3.5.4 Các mức áp dụng PPTN trong dạy học vật lý ở trường phổ thông 39

3.6 Những sự chuẩn bị cần thiết để áp dụng PPTN……… 39

Chương 4 THIẾT KẾ MỘT SỐ BÀI HỌC TRONG CHƯƠNG ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM, VẬT LÝ 10 NÂNG CAO 41

4.1 Quy trình (các bước ) thiết kế bài học 41

4.2 Đại cương về chương Động lực học chất điểm, Vật lý 10 Nâng cao 43

4.2.1 Vị trí chương………43

4.2.2 Mục tiêu chương……… 43

4.2.3 Cấu trúc nội dung chương……….… 45

4.3 Soạn giảng một số bài trong chương ( Xem phần phụ lục ) 46

4.3.1 Bài 13: Lực Tổng hợp lực và phân tích lực 46

4.3.2 Bài 14: Định luật I Niu Tơn 46

4.3.3 Bài 15: Định luật II Niu Tơn 46

4.3.4 Bài 16: Định luật III Niu Tơn 46

4.3.5 Bài 17: Lực hấp dẫn 46

Chương 5 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 47

5.1 Mục đích……… … 47

5.2 Nội dung thực nghiệm……… ……….47

5.3 Đối tượng thực nghiệm……… 47

5.4.Kế hoạch giảng dạy…… ……….……47

Trang 8

5.5 Tiến trình thực hiện các bài học………… ……… 47

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 57

Bài 13: LỰC-TỔNG HỢP VÀ PHÂN TÍCH LỰC 57

BÀI 14: ĐỊNH LUẬT I NIU-TƠN 61

BÀI 15: ĐỊNH LUẬT II NIU-TƠN 67

BÀI 16: ĐỊNH LUẬT III NIU-TƠN 74

BÀI 17: LỰC HẤP DẪN 80

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Sự phát triển của khoa học Vật lý gắn bó chặt chẽ và có tác động qua lại trực tiếp với sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ Vì vậy những hiểu biết và nhận thức về Vật lý có giá trị to lớn trong đời sống và sản xuất, đặc biệt là trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Môn Vật lý có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục phổ thông Việc giảng dạy môn Vật lý theo chương trình nâng cao có nhiệm vụ: cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lý phổ thông, cơ bản, tương đối đầy đủ và hiện đại; hình thành ở học sinh những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học, góp phần tạo ra ở họ các năng lực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu Giáo dục đã đề ra Xuất phát từ những nhiệm vụ cơ bản trên của DHVL mà trọng tâm là việc cung cấp một hệ thống kiến thức Vật lý phổ thông, cơ bản, tương đối đầy đủ và hiện đại để nhằm giúp học sinh nắm được các định luật về các sự vật, hiện tượng và các quá trình vật lý thường gặp trong đời sống, khoa học và sản xuất

Bên cạnh đó tình hình thực tế giảng dạy Vật lý ở THPT còn mang nặng lối truyền thụ kiến thức một chiều, HS chỉ tiếp thu kiến thức lý thuyết từ GV mà không thể tự mình tiến hành các thao tác thực hành, quan sát các thí nghiệm để tự mình rút ra kiến thức GV chỉ truyền thụ và bắt HS phải thừa nhận những kiến thức đã được sắp đặt sẵn trước đó mà HS không có được ý kiến riêng hay phản bác lại với kiến thức đã được đưa

ra đó Từ đó HS chưa thể vận dụng được những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, tư duy với hành động Đồng thời do ở các trường THPT có sự khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất và nhiều vấn đề khác, nên mặc dù các trường đã cố gắng thay đổi theo hướng tích cực nhưng kết quả vẫn còn rất hạn hẹp

Tại Nghị quết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) và Nghị quyết số 30/2000/QH10 (09/12/2000) của Quốc hội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông ở nước ta, đã khẳng định mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục

phổ thông lần này là “ xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách

giáo khoa phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông của các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới” [2]

Trang 10

Đồng thời yêu cầu việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế trong cách dạy, tăng cường tính thực tiễn, kĩ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Đồng thời, Nghị quyết cũng

đã được thể chế hóa lại trong Luật giáo dục (2005) với định hướng “P h ư ơ n g pháp

giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [13]

Mặt khác yêu cầu đổi mới PPDHVL ở THPT là một yêu cầu vô cùng cấp bách và khẩn thiết Việc đổi mới cần tiến hành để phù hợp với trình độ tri thức và nhịp

độ phát triển tri thức ngày càng cao của nhân loại, để phát huy tính tự học hỏi, tự tìm tòi của HS; phải để HS tham gia hành động để tự tìm ra và lĩnh hội tri thức đó

Bên cạnh đó cần phải bồi dưỡng và phát triển năng lực DHVL cho giáo viên Vật lý tương lai để đáp ứng yêu cầu mới trong thời đại mới, thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Để việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông có hiệu quả thì cần phải đào tạo và bồi dưỡng GV có năng lực dạy học theo những quan điểm đổi mới PPDH, biết

tự đặt thấp vai trò dạy của người GV và đưa ra vai trò học của HS lên cao, phải biết

để HS tự thể hiện được bản thân mình trong việc chiếm lĩnh tri thức Người GV tương lai phải biết vận dụng các PPDH phù hợp với đặc điểm của từng trường, từng lớp, từng trình độ vốn có của HS Là một GV trẻ trong tương lai để có thể dạy tốt, chúng

em phải biết vận dụng những kiến thức và phương pháp mà thầy cô đã truyền đạt, áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả nhất nhằm phục vụ tốt nhất cho công cuộc đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay của nước ta

Vì là GV Vật lý trong tương lai, em đã nhận rõ tầm quan trọng của vấn đề trên nên

em đã chọn đề tài: “Áp dụng phương pháp thực nghiệm nhằm bồi dưỡng cho học

sinh phương pháp tự học khi giảng dạy Chương 2 Động lực học chất điểm, VL 10 NC.”

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc áp dụng PPTN nhằm phát triển năng lực tự học của HS khi giảng dạy Chương Động lực học chất điểm VL 10 NC theo tinh thần áp dụng PPTN

Trang 11

3 Giả thuyết nghiên cứu

Vận dụng lý luận dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho HS năng lực tự học khi giảng dạy Chương Động lực học chất điểm VL 10 NC theo tinh thần áp dụng PPTN

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở về lý luận dạy học VL và đổi mới PPDH ở trường phổ thông

 Nghiên cứu PPTN trong quá trình sáng tạo khoa học vật lý và dạy học vật lý

 Xây dựng qui trình áp dụng PP nhận thức trong dạy học vật lý

 Xây dựng tiến trình dạy học theo phương PPTN

 Vận dụng vào soạn giảng thử mốt số bài theo tinh thần áp dụng PPTN trong chương Động lực học chất điểm, VL 10 NC

 Bài 13: Lực Tổng hợp lực và phân tích lực

 Bài 14: Định luật I Niu Tơn

 Bài 15: Định luật II Niu Tơn

 Bài 16: Định luật III Niu Tơn

 Bài 17: Lực hấp dẫn

 Chế tạo sử dụng một số dụng cụ thí nghiệm cơ bản

 Sử dụng công nghệ thông tin

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

- Nghiên c ứu các văn bản và nghị quyết

- Nghiên c ứu chương trình, nội dung SGK Vật lí 10 NC, các tài liệu bồi dưỡng

GV, sách GV, tài liệu về lí l uận dạy học

 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

- Quan sát, trao đổi với GV và học sinh trường THP T thô ng qua việc dự giờ

- Thực nghiệm sư phạm

6 Đối tượng nghiên cứu

Các hoạt động dạy và học của GV và HS trong đó thể hiện các phương pháp thực hiện việc áp dụng phương pháp thực nghiệm nhầm phát huy NL tự học của học sinh

7 Các giai đoạn thực hiện đề tài

 Giai đoạn 1: Tìm hiểu thực trạng, tìm thầy hướng dẫn, chọn đề tài nghiên cứu

 Giai đoạn 2: Lập đề cương chi tiết Đảm bảo logic, hoàn thiện

 Giai đoạn 3: Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

Trang 12

 Giai đoạn 3: Nghiên cứu nội dung và PP xây dựng Thiết kế một số bài học cụ thể

 Giai đoạn 5: Thực nghiệm sư phạm

 Giai đoạn 6: Hoàn chỉnh đề tài, chuẩn bị báo cáo bằng Powerpoint

 Giai đoạn 7: Bảo vệ luận văn tốt nghiệp

8 Các chữ viết tắt trong luận văn

Trang 13

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VẬT LÝ THPT

1.1 Những vấn đề chung về đổi mới PPDH VL ở THPT

1.1.1 Đổi mới phương pháp dạy học để thực hiện mục tiêu đổi mới

Phương pháp dạy học truyền thống một thời gian dài đã đạt được những thành tựu quan trọng Tuy nhiên phương pháp đó nặng về truyền thụ một chiều, thầy giảng giải, minh họa, trò lắng nghe, ghi nhớ và bắt chước làm theo, thì không thể đào tạo những con người có tính tích cực cá nhân, có tư duy sáng tạo, có kĩ năng thực hành giỏi Cùng với xu thế phát triển chung của thế giới, nền GD ở nước ta đang chuyển dần

từ trang bị cho HS kiến thức sang bồi dưỡng cho họ năng lực mà trước hết là năng lực sáng tạo Cần phải xây dựng một hệ thống PPDH mới có khả năng thực hiện mục tiêu mới Phương pháp DH hết sức đa dạng và phong phú song đều hướng sự tập trung vào

tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của HS, hình thành phương pháp học, biết vận dụng sáng tạo…

Nghị quyết TW 2, khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam ghi rõ: “Đổi mới mạnh

mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc thụ lối truyền thụ một chiều và rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước ứng dụng các phương pháp tiên tiến, phương pháp hiện đại vào quá trình dạy, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo”.[8]

1.1.2 Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục trung học phổ thông

Đổi mới GD THPT gắn bó chặt chẽ và thực chất là nằm trong khuôn khổ của GD phổ thông nói chung, tuân thủ các định hướng, nguyên tắc chung của công cuộc đổi mới

GD này Vì vậy, trước hết hãy điểm lại những vấn đề đổi mới chương trình GD phổ

Trang 14

khác trên cơ sở quán triệt những đặc điểm của cấp học, của trường THPT Trước hết cần tìm hiểu những vấn đề liên quan đến đổi mới chương trình GD phổ thông nói chung Nghị quyết số (30/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của quốc hội

khóa X khẳng định rằng: “Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục,

sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ phổ thông ở các nước trong khu vực và trên thế giới” [8]

Văn bản đồng thời yêu cầu “Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải

quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong luật giáo dục, khắc phục những mặt hạn chế của chương trình SGK tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học” [8]

1.2 Phương hướng chiến lược đổi mới phương pháp dạy học

1.2.1 Khắc phục lối truyền thụ một chiều

Truyền thụ một chiều là một kiểu dạy học đã tồn tại lâu năm trong nền giáo dục của chúng ta Nét đặc trưng của nó là: “GV độc thoại, giảng giải minh họa, làm mẫu, kiểm tra, đánh giá; còn HS thì thụ động ngồi nghe, ngồi nhìn, cố mà ghi và nhắc lại” Nói cách khác, GV là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, GV quyết định tất cả, từ xác định mục đích học, nội dung học, cách thức học, con đường đi đến kiến thức kĩ năng, đánh giá kết quả học Nếu dạy theo cách này thì HS sẽ dồn vào thế hoàn toàn thụ động, không có cơ hội suy nghĩ, phát triển kiến thức, thực hiện được những suy nghĩ mới mẻ của mình

Đối với chúng ta cũng cần phải đổi mới PPDH Tư tưởng chỉ đạo bao trùm nhất là

tổ nghiên cứu với phương pháp thực nghiệm.Để thực hiện được phương pháp dạy học theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức tích cực, tự lực của HS thì ngoài vai trò hướng dẫn, tổ chức của GV, cần phải có phương tiện làm việc phù hợp với HS Đối với Vật lý học thì đặc điểm quan trọng là tài liệu giáo khoa và thiết bị thí nghiệm SGK và thiết bị thí nghiệm phải đổi mới để tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu dạy học

1.2.2 Đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh

Do những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở thành lạc hậu, nên mỗi con người sống trong xã hội phải biết tự cập nhật thông tin bởi vì những điều học được trong nhà trường chỉ rất ít và là những kiến thức cơ bản rất chung chung, chưa đi sâu vào một

Trang 15

lĩnh vực cụ thể nào trong đời sống và sản xuất Sau này ra đời còn phải tự học thêm nhiều, phải biết tự cập nhật thông tin mới có thể làm việc tốt và theo kịp được sự phát triển rất nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đai Mặt khác, dù là học ở trên lớp hay học ở nhà, mỗi HS phải tự lực động não để tiếp thu những điều cần học Không ai có thể học thay ai Vì vậy, trong những hoạt động cá nhân của tiết học, GV phải có chiến lược bồi

dưỡng PP tự học cho HS Chẳng hạn:

 Rèn luyện khả năng tự học, hình thành thói quen tự học

 Phát phiếu học tập về nhà cho HS

 Tập cho HS PP đọc sách, có ý thức tự đọc sách

 Tập cho HS làm quen với các PPNTKH

 Tăng cường dạy học theo nhóm/ hợp tác

 Tăng cường dạy học theo nhóm, DH hợp tác…góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả hơn, có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung

Mặt khác, việc học theo nhóm, tất cả mọi HS, từ người kém đến người khá, đều

có thể trình bày ý kiến của mình, tức là có điều kiện tự thể hiện mình Điều đó có tác dụng kích thích rất mạnh về học tập của HS

Tuy nhiên những vấn đề này trước đây chưa được chý ý đúng mức, học sinh thì

đã quen học tập thụ động, dựa vào sự giảng giải tỉ mỉ, kĩ lưỡng của giáo viên, ít chịu tự lực học tìm tòi nghiên cứu Do đó kỹ năng tự học đã yếu lại càng yếu thêm Cần phải nhanh chóng khắc phục tình trạng này ngay từ những lớp dưới chứ không chỉ áp dụng cho những học sinh ở lớp trên

1.2.3 Áp dụng các phương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học

Theo quan điểm thông tin, học là một quá trình thu nhận thông tin có định hướng,

có sự tái tạo và phát triển thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách

có hiệu quả Đổi mới PPDH người ta tìm những “ phương pháp làm tăng giá trị lượng

tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và có hiệu quả hơn” Nhờ sự phát triển của

KHKT, quá trình DH đã sử dụng phương tiện DH:

 Phim chiếu để giảng bài với đèn chiếu Overhead

 Phần mềm hổ trợ giảng bài, minh họa trên lớp với Projetor

 CNTT, đánh giá bằng trắc nghiệm trên máy tính

Trang 16

 Sử dụng mạng Internet, thiết bị đa phương tiện (multimedia), networking để DH

Vì vậy mà nền giáo dục của hầu hết các nước tiên tiến toàn thế giới trong nửa cuối thế kỉ XX đều rất quan tâm đến vấn đề phát triển năng lực sáng tạo ở HS Nhiều lí thuyết về việc phát triển đã ra đời (trong đó nổi bật là “lí thuyết thích nghi” của J.piaget và “lí thuyết về vùng phát triển gần” của Vưgốtxki), nhiều phương pháp dạy học mới đã được thử nghiệm và đã đạt được những kết quả khả quan

1.3 Mục tiêu của việc đổi mới chương trình Vật lý THPT

1.3.1 Đạt được một hệ thống kiến thức Vật lý phổ thông cơ bản, phù hợp với những quan điểm hiện đại

Vật lý học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lý thực nghiệm, trong đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa quan sát, thí nghiệm và suy luận lý thuyết để đạt được sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Chính vì vậy cần phải trang bị cho HS những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, có hệ thống, bao gồm:

 Các khái niệm về các sự vật, hiện tượng và quá trình vật lý thường gặp trong đời sống, khoa học và sản xuất

 Các đại lượng, các định luật và nguyên lí vật lý cơ bản

 Những nội dung chính của một số thuyết vật lý quan trọng

 Những ứng dụng của vật lý trong đời sống, khoa học và trong sản xuất

 Những phương pháp đặc thù của vật lý, trước hết là phương pháp thực nghiệm và phương pháp mô hình - tương tự

1.3.2 Hình thành và rèn luyện các thái độ, tình cảm sau khi học VL phổ thông

Có hứng thú học tập VL, yêu thích tìm tòi khoa học; trân trọng đối với những đóng góp của Vật lý học cho sự tiến bộ của xã hội và đối với công lao của các nhà khoa học

Có thái độ khách quan, trung thực và có tinh thần hợp tác trong học tập cũng như trong việc áp dụng các hiểu biết đã đạt được

Có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lý vào đời sống nhằm cải thiện điều kiện sống, học tập cũng như để bảo vệ và giữ gìn môi trường sống tự nhiên

1.4 Những định hướng đổi mới PPDH VL theo chương trình THPT đổi mới

1.4.1 Phát huy tinh thần chủ động, tích cực và sáng tạo của học học sinh

Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ định vai trò của các phương pháp dạy học truyền thống, tuy nhiên ta sẽ sử dụng các phương pháp đó theo tinh thần mới Giáo

Trang 17

viên phải lựa chọn PPDH theo một chiến lược nhằm phát huy được ở mức độ tốt nhất tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong những tình huống cụ thể

Thí dụ: Phương pháp cho HS làm việc với SGK

Như vậy, trước hết, có thể đổi mới PPDH bằng cách tổ chức việc dạy học trong

đó sử dụng linh hoạt các PPDH truyền thống nhằm tích cực hóa tư duy của HS

1.4.2 Tổ chức hoạt động dạy và học chủ động để học sinh tự lĩnh hội kiến thức và

kỹ năng

Theo quan niệm mới về việc dạy học, vai trò chính của GV là tổ chức và hướng dẫn các hoạt động học tập của HS, sao cho HS có thể tự lực chiếm lĩnh kiến thức và kĩ năng mới Do đó, trong tiết dạy học đổi mới, ta cần quan tâm xem HS hoạt động như thế nào? Các em đã thu hoạch được những giá trị gì? Diễn viên chính của lớp học phải là

HS GV đóng vai trò là người đạo diễn Trong giờ học, mọi HS đều làm việc hết sức tích cực, GV trông có vẻ nhàn nhã, nhưng kì thực cũng làm việc hết sức căng thẳng để thu thập thông tin phản hồi và điều khiển kịp thời hoạt động của HS

Việc đổi mới phương pháp dạy của thầy phải đi đôi với việc đổi mới phương pháp học của trò Trong giờ học GV phải tìm cách cho HS lĩnh hội kiến thức một cách hiệu quả

Trong nhà trường phải bắt đầu huấn luyện cho HS tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động học tập để sau này các em trở thành người chủ tương lai của đất nước

Cần chú ý rằng hoạt động vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã chiếm lĩnh được

để giải quyết một vấn đề, một bài tập…là tổng hợp của các hoạt động thu thập, xử lí và truyền đạt thông tin Thực vậy, chẳng hạn như khi giải bài tập: HS phải đọc kĩ để nắm được đề bài; tìm và thực hiện cách giải và viết lời giải

Thành công của việc tổ chức các hoạt động học tập nói trên cho HS phụ thuộc không những vào khả năng của GV mà còn phụ thuộc vào thói quen và thái độ học của

HS Chúng ta cần tiến hành từng bước, đổi mới dần dần từng hoạt động trên lớp để không những GV quen dần với PPDH dựa trên nguyên tắc tổ chức cho HS hoạt động mà còn để HS chuyển dần từ thói quen HT thụ động sang thói quen học tập tích cực, sáng tạo Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải thực hiện theo tinh thần kiên trì, không nóng vội

1.4.3 Bồi dưỡng kỹ năng học cá nhân và học hợp tác của học sinh

Trang 18

Các hình thức học tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cá nhân có hiệu quả cao hơn mà cần có tác dụng rèn luyện cho HS tinh thần hợp tác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm trong công việc chung Qua những thảo luận, tranh luận, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, được khẳng định hay bị bác bỏ, qua đó những hiểu biết của họ sẽ được hình thành hoặc được chính xác hóa Học tập theo nhóm giúp cho HS có thể trình bày được ý kiến của mình, có điều kiện để tự thể hiện mình

Các hình thức hoạt động cá nhân và hoạt động hợp tác thường được tiến hành xen kẽ lẫn nhau Thí dụ: hoạt động thực hành VL là hoạt động thường được tiến hành theo nhóm, nhưng việc thực hiện các thí nghiệm lại là nhiệm vụ bắt buộc của cá nhân Trong tiết thực hành, mỗi nhóm sử dụng chung một bộ thí nghiệm và phải thực hiện kế hoạch thí nghiệm theo đúng sự hướng dẫn chung của giáo viên đối với toàn lớp Tuy nhiên, việc lấy số liệu, xử lí số liệu và viết báo cáo thực hành phải do từng HS làm

1.4.4 Tăng cường làm thí nghiệm, và sử dụng các phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học

Vật lý học, đặc biệt là Vật lý phổ thông, là một khoa học thực nghiệm Các khái niệm vật lý, các định luật vật lý đều phải gắn với thực tế Trong chương trình vật lý phổ thông, nhiều khái niệm và hầu hết các định luật vật lý được hình thành bằng con đường thực nghiệm Thông qua thí nghiệm, ta xây dựng được những biểu tượng cụ thể về sự vật và hiện tượng mà không một lời lẽ nào có thể mô tả đầy đủ được Trong thực hành, không những các kĩ năng thực hành như quan sát, sử dụng dụng cụ vật lý, lắp ráp thí nghiệm, vẽ đồ thị, xác định sai số…được rèn luyện, mà cả óc suy đoán, tư duy lí luận và nhất là tư duy VL cũng được phát triển mạnh

Xét về mặt phương pháp dạy học, ta có thể chia các thí nghiệm Vật lý phổ thông thành ba loại: các thí nghiệm do học sinh làm ngay trên lớp, trong tiết học, dưới hình thức cá nhân hay theo nhóm; các thí nghiệm do giáo viên hay một nhóm học sinh làm để biểu diễn ngay trên lớp, trong tiết học và các thí nghiệm mà học sinh thực hiện trong phòng thí nghiệm để lấy số liệu, viết báo cáo dưới dạng một bài làm

Ở THPT, việc bố trí các thí nghiệm đồng loạt gặp nhiều khó khăn vì các thiết bị thí nghiệm nhìn chung đắt tiền và phức tạp Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ cố gắng trang bị sao cho trong mỗi năm học, giáo viên có thể tổ chức được một, hai lần cho HS làm thí nghiệm đồng loạt về VL trên lớp

Trang 19

Đối với chương trình VL đổi mới, gần như tất cả các thí nghiệm đều đã được nghiên cứu thực hiện và đưa vào sản xuất để cung cấp cho các trường phổ thông.Vấn đề còn lại là chúng sẽ được cung cấp và sử dụng như thế nào? Việc bố trí kho, lớp học, phòng thí nghiệm…có thuận lợi cho việc sử dụng hay không? Có biên chế phụ tá thí nghiệm hay không? Tất cả các khó khăn đó cần phải được khắc phục dần trong quá trình

đi lên của nhà trường phổ thông Về phía người GV, chúng ta sẽ cố gắng vượt qua những khó khăn thử thách, tận dụng những thiết bị sẵn có, tự làm thêm các đồ dùng dạy học mới…phấn đấu sao cho, trước mắt, khoảng 50% số tiết học VL có thí nghiệm

Số các bài thực hành VL của mỗi lớp đã tinh giản đến mức tối thiểu nội dung các bài thực hành đã được lựa chọn đến mức hết sức đơn giản và có tính khả thi cao Do đó, việc thực hiện các bài thực hành của mỗi lớp coi như bắt buộc

So với các chương trình cũ thì nội dung của các thí nghiệm VL hầu như không có

gì mới; tuy nhiên, sự đổi mới phải thể hiện ở cung cách mà chúng ta cho HS làm thí nghiệm Phải cho HS đến với thí nghiệm một cách chủ động và phải tạo cho các em cơ hội phát huy được những sáng tạo suy nghĩ trong thực hành

Muốn thế, không thể khuôn khổ cho học sinh làm thí nghiệm theo kiểu chỉ đâu, làm đấy một cách máy móc, mô tả một cách đơn giản hiện tượng Vật lý xảy ra đã quá rõ ràng, học sinh đã biết, làm cho học sinh nhàm chán…

Cần cho HS nắm được mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thí nghiệm, tham gia làm thí nghiệm, xử lí kết quả và thảo luận rút ra kết luận cần thiết

Ngoài ra, đối với những thí nghiệm VL khó làm hoặc đòi hỏi nhiều thời gian thì ta

có thể cung cấp cho HS các số liệu thực nghiệm mà người ta đã thu được trước đó để cho các em xử lí kết quả

1.4.5 Soạn giáo án theo tinh thần mới, lấy học sinh làm trung tâm

 Các yêu cầu đối với việc soạn giáo án

- Việc chuyển trọng tâm từ thiết kế các hoạt động của GV sang thiết kế các hoạt động của HS là yêu cầu nổi bật đối với công việc soạn giáo án của người GV

- Khi soạn giáo án, GV phải suy nghĩ trả lời các câu hỏi sau:

+ Trong bài học học sinh sẽ lĩnh hội được những kiến thức, kĩ năng nào? Mức

độ đến đâu?

+ Sự chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng của HS sẽ diễn ra theo con đường nào? HS cần huy động những kiến thức, kĩ năng nào đã có? Những hoạt động

Trang 20

đó của học sinh diễn ra dưới hình thức làm việc cá nhân hay làm việc theo nhóm?

+ GV phải chỉ đạo như thế nào để đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được những kiến thức, kĩ năng đó một cách chính xác, sâu sắc và đạt được hiệu quả giáo dục? + Hành vi ở đâu ra mà HS cần thể hiện được sau khi học là gì?

 Những nội dung của việc soạn giáo án

- Thiết kế tiến trình xây dựng từng kiến thức trong bài học Để làm tốt việc này

GV cần xác định kiến thức cần xây dựng được diễn đạt như thế nào? Giải pháp nào giúp trả lời được câu hỏi này?

- Soạn thảo tiến trình hoạt động dạy học cụ thể

- Xác định nội dung tóm tắt trình bài bảng

- Soạn nội dung bài tập về nhà

 Một số hình thức trình bày giáo án

- Viết hệ thống các hoạt động theo thứ tự từ trên xuống dưới

- Viết hệ thống các hoạt động theo 2 cột: hoạt động của GV và hoạt động của HS

- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng, hoặc tiêu

đề nội dung chính và thời gian thực hiện

- Viết 3 cột: hoạt động của GV; hoạt động của HS; nội dung ghi bảng; tiêu đề nội dung chính và thời gian thực hiện

 Các nhóm bài học theo trình tự soạn giáo án

- Nhóm 1: HĐ nhằm kiểm tra, hệ thống, ôn lại bài cũ và chuyển tiếp sang bài mới

- Nhóm 2: HĐ nhằm HD, diễn giải, khám phá, phát hiện TH, đặt và nêu VĐ

- Nhóm 3: HĐ nhằm để HS tự tìm kiếm, khám phá, phát hiện, thử nghiệm, quy nạp, suy diễn, để tìm ra kết quả, giải quyết vấn đề

- Nhóm 3: Tiếp tục củng cố, khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng để vận dụng vào giải bài tập và áp dụng vào cuộc sống

Trang 21

 Các bước soạn giáo án

Khi thực hiện soạn thảo một giáo án cho một tiết dạy có thể chia làm 7 bước:

- Bước 1: Lượng hóa mục tiêu kiến thức và kỹ năng của bài học

- Bước 2: Chia bài học thành những đơn vị kiến thức

- Bước 3: Hoạch định các hoạt động của học sinh ứng với từng đơn vị kiến thức

- Bước 3: Tìm những hình thức học tập phù hợp với từng đơn vị kiến thức.a

- Bước 5: Hoạch định các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ học sinh ứng với từng hoạt động Dự kiến những tình huống sư phạm có thể xảy ra và cách xử lý

- Bước 6: Xác định thời gian cho mỗi hoạt động

- Bước 7: Chuẩn bị các dụng cụ, thiết bị cần thiết hỗ trợ cho tiết học

1.5 Đổi mới việc kiểm tra và đánh giá

1.5.1 Quan điểm cơ bản về đánh giá

Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục

Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu nhập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của học sinh về tác động và nguyên nhân của tình hình

đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và nhà trường, cho bản thân học sinh để học sinh học tập ngày một tiến bộ hơn Phương tiện và hình thức quan trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới phương pháp giáo dục được chú trọng của đánh giá là kiểm tra Đổi mới phương pháp giáo dục được chú trọng để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu nên việc kiểm tra, đánh giá phải chuyển biến mạnh theo hướng phát triển tính tích cực, trí thông minh sáng tạo của học sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế, làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề nóng hổi của đời sống cá nhân, gia đình và cộng đồng Chừng nào việc kiểm tra, đánh giá chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động thì chưa thể phát triển dạy và học tích cực

Đánh giá với hai chức năng cơ bản là xác nhận và điều khiển Thứ nhất, xác nhận đòi hỏi độ tin cậy, còn điều khiển đòi hỏi tính hiệu lực Thực hiện tốt đồng thời hai chức năng trên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đánh giá chất lượng giáo dục gồm nhiều vấn đề, trong đó có hai vấn đề cơ bản nhất là đánh giá chất lượng dạy của thầy

Trang 22

và đánh giá chất lượng học của trò Đánh giá thực chất là yếu tố để tạo được động lực nâng cao chất lượng dạy và học

Chất lượng học được xem xét là sản phẩm đầu ra sau mỗi quá trình tác động

có chủ đích của hoạt động dạy học Tác động của quá trình dạy học bao gồm nhiều yếu

tố dựa trên một hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, đội ngũ

GV, quản lý dạy học…từ đó sản phẩm được hình thành và tiếp tục phát triển ở những giai đoạn tiếp theo của quá trình GD Không như chất lượng của các loại sản phẩm khác, sản phẩm của quá trình dạy học làm nên chất lượng học tập sau khi đã được xác nhận có thể thay đổi theo hai chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực Chất lượng học tập của HS đối với mỗi môn học thể hiện số lượng đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà HS nắm được ở các mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá).Ngoài ra, chất lượng học tập cũng biểu hiện ở cả kỹ năng và thái độ của HS sau khi có những vốn kiến thức môn học

Trong quá trình hình thành hoàn thiện nhân cách của mình, mỗi HS được trải qua quá trình GD bao gồm các mặt GD trí tuệ, đạo đức, thể chất, thẩm mỹ Đánh giá chất lượng học tập các môn học cho HS thực chất là xem xét mức độ hoàn thành mục tiêu

GD đã đặt ra cho quá trình GD ở các môn học, trong đó chủ yếu là xem xét những năng lực về mặt trí tuệ mà HS đã đạt được sau một giai đoạn HT

Tham gia vào quá trình HT, HS có mục đích chiếm lĩnh những tri thức của môn học mà những tri thức này được mục tiêu của mỗi môn học định ra và yêu cầu HS phải đạt được Mức độ đạt được các tri thức đó so với yêu cầu tạo nên giá trị của sản phẩm mà quá trình dạy học đạt được Mục tiêu môn học đặt ra các yêu cầu về kiến thức,

kỹ năng, thái độ “Chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, yêu cầu thái độ” thể hiện trong Chương trình GD phổ thông và thể hiện cụ thể qua SGK Trong quá trình dạy học,

GV phải đặt ra những kế hoạch để kiểm tra mức độ đạt được yêu cầu so với mục tiêu

đề ra Kiểm tra xem HS đạt được những yêu cầu về các mặt ở mức độ nào so với mục tiêu môn học đề ra hoàn thành được đến đâu

Hoạt động dạy và học luôn cần có những thông tin phản hồi để điều chỉnh kịp thời nhằm tạo ra hiệu quả ở mức cao nhất thể hiện chất lượng học tập của HS Dạy học căn cứ kết quả đầu ra cần thông tin phản hồi đa dạng Về phương diện này chất lượng học tập được xem như chất lượng của một sản phẩm đang trong giai đoạn hình thành và hoàn thiện Sự điều chỉnh bổ sung những kiến thức, kỹ năng, thái độ còn chưa hoàn

Trang 23

thiện giúp cho chất lượng học tập trở thành những tri thức bền vững cho mỗi HS Việc kiểm tra chất lượng HT sẽ giúp cho các nhà quản lý GD, các GV và bản thân HS có những thông tin xác thực, tin cậy để có những tác động kịp thời nhằm điều chỉnh và bổ sung để hoàn thiện sản phẩm trong quá trình dạy học

 Đổi mới PPDH là điều quan trọng nhất để đổi mới đánh giá kết quả dạy học

 Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, tạo niềm tin, năng lực tự học cho học sinh thì đánh giá phải đổi mới theo hướng phát triển mọi năng lực học sinh

 Đánh giá là một quá trình, đánh giá từng nội dung, từng bài học, từng hoạt động giáo , từng môn học và đánh giá toàn diện theo mục tiêu GD

1.5.2 Các hình thức cơ bản về đánh giá

Các hình thức kiểm tra HS trong quá trình học tập gồm:

 Kiểm tra miệng: kiểm tra kiến thức, thái độ của HS ngay trên lớp, dạng vấn đáp

 Kiểm tra thí nghiệm thực hành: kiểm tra kĩ năng thực hành của HS trong quá trình làm các bài thực hành thí nghiệm, dạng vấn đáp, trình bày báo cáo kết quả

 Kiểm tra viết: kiểm tra kiến thức, kĩ năng của HS, dạng kiểm tra 15 phút, 35 phút, kiểm tra học kì Đây là hình thức quan trọng nhất trong việc đánh giá kết quả HT của HS

 Kiểm tra đề tài: dạng bài tập lớn có thể là một vấn đề yêu cầu HS hoặc nhóm HS phải thực hiện nhằm kiểm tra năng lực nhận thức của HS, đặc biệt là các HS giỏi

1.5.3 Đổi mới kiểm tra, đánh giá

Kiểm tra, đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với

người học nhằm thu được những thông tin cần thiết để đánh giá “Đánh giá có nghĩa là

xem xét mức độ phù hợp giữa một tập hợp thông tin có giá trị, thích hợp và đáng tin cậy với mục tiêu đã được đề ra để xác định thực trạng điểm mạnh, điểm yếu của người học

và kết quả là đề ra những quyết định kịp thời nhằm uốn nắn, điều chỉnh có hiệu quả đối với các hoạt động dạy theo mục tiêu ấy, dành kết quả tối ưu.” (J.M.De ketele)

Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đối với các môn học nói chung và môn vật lý nói riêng ở mỗi lớp và mỗi cấp học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả giáo dục HS Phải cụ thể mục tiêu đào tạo thành mục tiêu, yêu cầu của từng hoạt động giáo dục, từng môn học, từng bài học, từng bài kiểm tra

Nội dung ĐG đổi mới theo hướng phát triển mọi NL của HS theo mục tiêu GD

Trang 24

Sử dụng phối hợp các hình thức KTĐG khác nhau, kết hợp giữa TNTL và TNKQ Cần xác định phương thức đánh giá phù hợp với nội dung, kỹ năng cần rèn luyện của bài học và tình hình thực tế Cần sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào việc kiểm tra đánh giá góp phần tiết kiệm thời gian đảm bảo chính xác

Quá trình đánh giá được diễn ra theo một trình tự hoạch định trước đảm bảo tính giáo dục, tính khoa học và logic về nội dung

 Từ thực trạng đánh giá kết quả học tập ở trường THPT còn nhiều nhược

điểm nên việc đánh giá được đổi mới trên nhiều phương diện: hình thức, mục tiêu, nội dung ĐG

1.5.4 Xác định mức độ trong kiểm tra đánh giá

Đánh giá chú trọng ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục là: lĩnh vực về nhận thức, lĩnh vực về hoạt động và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ

a Nhận biết : Là sự nhớ lại các dữ liệu, thông tin đã có trước đây ; nghĩa là

một người có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lí thuyết phức tạp HS phát biểu đúng một định nghĩa, định lí, định luật nhưng chưa giải tương đối, các mối quan hệ đã biết giữa các yếu

tố

Để kiểm tra mức độ nhận biết của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Mô tả, phát biểu, liệt kê, nhớ lại, nhận biết, xác định, kể tên, cái gì, bao nhiêu Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm Việc trả lời các câu hỏi này giúp HS ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua, thích và vận dụng được chúng

Có thể cụ thể mức độ nhận biết bằng các động từ:

 Nhận ra, nhớ lại các khái niệm, định lí, định luật, tính chất

 Nhận dạng (không cần giải thích) được các khái niệm, hình thể, vị trí tương đối giữa các đối tượng trong các tình huống đơn giản

 Liệt kê, xác định các vị trí

b Thông hiểu: Là khả năng nắm được, hiểu thấu đáo được ý nghĩa của các

khái niệm, hiện tượng, sự vật; giải thích được, chứng minh được nó; là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu SV, HT, nó liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin mà HS đã được học hoặc đã

Trang 25

biết

Để kiểm tra mức độ thông hiểu của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Giải thích, lí giải, so sánh, hiểu thế nào hoặc các từ hỏi “tại sao?”, “nghĩa là gì?” Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học

c Vận dụng: Là khả năng sử dụng các kiến thức đã học vào một hoàn cảnh cụ

thể mới : vận dụng nhận biết, hiểu biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra; là khả năng đòi hỏi HS phải biết vận dụng kiến thức, biết sử dụng phương pháp, nguyên lí hay ý tưởng để giải quyết một vấn đề nào đó

Để kiểm tra mức độ vận dụng của HS, ngoài các bài tập ra, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Hãy tìm (trong thực tế), hãy chỉ ra, liên hệ, làm thế nào, giải thích (trong thực tế), chứng minh, liên hệ, giải quyết, sử dụng, xây dựng, bổ sung,… Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng áp dụng các dữ kiện, các khái niệm, quy luật, các phương pháp vào hoàn cảnh và điều kiện mới Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các quy luật, khái niệm, có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng phương án này vào thực tiễn

d Phân tích : Là khả năng phân chia một thông tin ra các thành phần thông tin

nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng

Để kiểm tra mức độ phân tích của HS, GV thường hay nêu câu hỏi bắt đầu bằng các động từ như: Tại sao, em có nhận xét gì về , hãy chứng minh , phân tích, so sánh, tìm tương phản, phân biệt, tìm điểm giống nhau, khác nhau của… Mục tiêu loại câu hỏi này nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối qua hệ hoặc chứng minh một luận điểm Việc trả lời các câu hỏi phân tích cho thấy học sinh có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận

e Tổng hợp: Là khả năng sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các

nguồn tài liệu khác nhau,trên cơ sở đó tạo lập nên một hình mẫu mới Là nhìn bao quát lên một chỉnh thể gồm nhiều bộ phận (sau khi đã phân tích), mô tả được bức tranh toàn cảnh của chỉnh thể, các mối quan hệ giữa các bộ phận của chỉnh thể với nhau và quan hệ

Trang 26

giữa chỉnh thể với môi trường xung quanh Cụ thể hóa mức độ tổng hợp bằng các động từ:

 Kết hợp nhiều yếu tố riêng thành một tổng thể hoàn chỉnh

 Khái quát hóa những vấn đề riêng lẻ cụ thể

 Phát hiện ra được các mô hình mới đối xứng, đồng thời biến đổi hoặc mở rộng từ

mô hình đã biết ban đầu

Việc trả lời các câu hỏi tổng hợp đòi hỏi HS phải dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra câu trả lời sáng tạo Cần nói cho HS biết rõ các em có thể tự do đưa ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình Mục tiêu của loại câu hỏi này nhằm kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của HS, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung Phân tích và tổng hợp là hai hoạt động luôn luôn đi kèm nhau để tìm hiểu một sự việc, hiện tượng một cách trọn vẹn Chính vì thế mà ở các bậc Bloom cải tiến người ta kết hợp hai hoạt động thành một

f Đánh giá: Là khả năng xác định giá trị của thông tin: bình xét, nhận định,

xác định được giá trị của một tư tưởng, một phương pháp, một nội dung kiến thức Đây là một bước mới trong việc lĩnh hội kiến thức được đặc trưng bởi việc đi sâu vào bản chất của đối tượng, sự vật, hiện tượng Một người có khả năng đánh giá là người có thể thực hiện các công việc sau: khi tìm hiểu một vấn đề, có thể nhận biết nó đúng hay sai, hay hay là dở, chính xác hay không chính xác, có giá trị hay không có giá trị Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định

Mục tiêu của câu hỏi đánh giá nhằm kiểm tra xem HS có thể đóng góp ý kiến và đánh giá các ý tưởng, giải pháp,…dựa vào những tiêu chuẩn đã đề ra Hiệu quả kích thích tư duy HS khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được hoặc đặt câu hỏi quá dễ mà HS nào cũng có thể trả lời ngay mà không cần suy nghĩ Sau khi HS trả lời xong, GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như câu trả lời chưa đúng

Dưới đây là bảng các cấp độ nhận thức, hình thành kĩ năng và thái độ:

Trang 27

Các mức độ nắm vững kiến thức theo Bloom

Thiết kế được PA khi có đủ các thông số cần thiết

4 Phân tích VDNL vào các TH phức hợp TK được PA khi phải tìm các

thông số cần thiết

5 Tổng hợp VDNL vào các TH phức hợp để

trình bày một giải pháp mới Tìm được lỗi trong các PA.

6 Đánh giá VDNL vào các trường hợp để đưa

ra các giải pháp mới và SS nó với các giải pháp đã biết khác

theo nội quy của trường

3 Có lí lẽ, lượng giá Trở thành có GT với bản thân Tin và bảo vệ cái đúng

4 Được tổ chức HT Xây dựng thành HT có giá trị

Cân bằng giữa các giá trị, giải quyết được các xung đột về giá trị

5 Hình thành đặc trưng Hình thành đặc trưng, bản sắc

riêng

Phối hợp trong các nhóm hoạt động hình thành thói quen

Trang 28

Chương 2 BỒI DƯỠNG HỌC SINH NĂNG LỰC TỰ HỌC

- Nhóm lấy dấu hiệu tố chất tâm lý để định nghĩa Trong khoa học tâm lý, “Năng lực

là một thuộc tính tích hợp của cá nhân, là tổ hợp các đặc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những nhu cầu của một hoạt động xác định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt đẹp”

- Nhóm lấy dấu hiệu về các yếu tố tạo thành khả năng hành động để định nghĩa Có thể định nghĩa như “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, ký năng, thái độ và hứng thú để hành động mọt cách phù hợp và có hiệu quả các tình huống

đa dạng trong cuộc sống”

- Năng lực có những điểm chung cơ bản:

- Không tồn tại năng lực chung: năng lực tự học, năng lực học tập, năng lực quản lý bản thân

- Phân biệt giữa năng lực giữa người này với người khác: kiến thức, quan hệ, xã hội

- Năng lực vừa là mục tiêu vừa là kết quả hoạt động, nó là điều kiện của hoạt động, nhưng cũng phát triển trong chính hoạt động đó

b Đặc điểm của năng lực

Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt có tổ chức hợp lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của hoạt động, đảm bảo cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một tình huống nhất định

Mỗi người đều có một năng lực về một lĩnh vực nào đó, nhờ vào năng lực đó mà họ

có thể vượt qua khó khăn một cách nhanh chóng và dễ dàng trong khi công sức bỏ ra rất

ít nhưng mang lại kết quả cao

Quá trình giao dục muốn hình thành, rèn luyện, đánh giá năng lực ở cá nhân tất yếu phải đưa cá nhân tham gia vào hoạt động tạo ra sản phẩm

c Sự hình thành và phát triển năng lực

Trang 29

- Yếu tố sinh học: vai trò của di truyền trong hình thành năng lực

- Yếu tố hoạt động của chủ thể

- Yếu tố môi trường xã hội

2.1.2 Tự Học

Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức.Tự học không có nghĩa là không cần đến sự trợ giúp của GV khi HS gặp khó khăn, không có sự tranh luận của HS với nhau Sự giúp đỡ của GV có thể chia nhiệm

vụ nhận thức thành những nhiệm vụ bộ phận vừa sức với HS, đưa ra những nhận xét theo kiểu phản biện, nêu những câu hỏi định hướng trong quá trình làm việc của HS hoặc hướng dẫn HS xây dựng cơ sở định hướng khái quát các hoạt động khi làm việc với nguồn thông tin cụ thể (làm việc với bản đồ, đồ thị, thí nghiệm vật lý)

cơ sở định hướng khái quát của quá trình xây dựng các loại kiến thức vật lý khác nhau (khái niệm về các sự vật khác nhau, hiện tượng vật lý, khái niệm về các đại lượng vật lý, định luật qui tắc và nguyên lý cơ bản, thuyết, ứng dụng vật lý) cơ sở định hướng của việc giải bài tập sau đó

2.1.3 Năng lực tự học

Năng lực tự học tiềm ẩn trong mọi người và là cơ sở để con người có thể học trên

nhiều lĩnh vực và học suốt cuộc đời UNESCO đã nhấn mạnh trong báo cáo của mình: “Để

thích ứng được với những biến chuyển nhanh chóng của xã hội hiện đại, mọi người đều cần phải học tập suốt đời Học tập suốt đời được hiểu là quá trình học tập xuyên suốt cả đời người, ở nhà trường, gia đình và xã hội, cả chương trình giáo dục chính quy lẫn chương trình giáo dục không chính quy, trong đó mỗi cá nhân thu nhận và tích lũy được tri thức, kỹ năng thái độ và trải nghiệm trong cuộc sống của mình Nhân tố quyết định để có thể học tập suốt đời là năng lực tự học, năng lực tư duy và năng lực hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề” [8]

Năng lực tự học của học sinh bao gồm:

a Xác định được nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp: mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơn những khía cạnh còn yếu kém

b Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập: hình thành cách học riêng của bản thân, tìm được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau, thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề

Trang 30

học tập của các bài tập khác nhau, ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết, tự đặt được vấn đề học tập

c Tự nhận ra và điều chỉnh những sai xót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập, suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm để có thể chia sẻ, vận dụng vào các tình huống khác, trên cơ sở các thông tin phản hồi vạch kế hoạch điều chỉnh cách học để nâng cao chất lượng học tập

2.2 Hoạt động tự học vật lý của học sinh

Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Cốt lõi của học là tự học” và “… khi nói tự học là chỉ xét riêng nội lực của người học” [7] Như vậy, học sinh ôn bài ở nhà là một hoạt động tự học, phải suy nghĩ trả lời câu hỏi của thầy là một hoạt động tự học, tự tra cứu sách vở để giải đáp thắc mắc của chính bản thân cũng là một hoạt động tự học Có nhiều hình thức hoạt động tự học khác nhau nhưng nhìn chung, ta có thể phân ra hai dạnghoạt động tự học, đó là:

a Tự học có sự hướng dẫn của thầy

Trong sự tự học có sự hướng dẫn của thầy, giáo viên phải dạy cho người học cách tìm lấy kiến thức và làm chủ kiến thức Nhưng vì sao phải dạy cho người học tìm lấy và làm chủ kiến thức? Đó là những nhân tố quyết định sự thành công trong dạy và học theo

hướng tự học mà giáo viên phải giúp học sinh những điều sao đây:

Chọn lọc kiến thức: Kiến thức khoa học nói chung và kiến thức vật lý nói riêng

là một biển kiến thức mênh mông và hiển nhiên là mới lạ và khó hiểu đối với học sinh Do mục tiêu học và thời gian học của một khóa học hay một cấp, bậc học

mà người học không thể thu nhận hết tất cả các kiến thức hoặc đi sâu tìm hiểu một kiến thức nào đó, nghĩa là phải có sự chọn lọc, vấn đề nào cần và vấn đề nào chưa cần

Nắm bắt kiến thức: Để thâm nhập vào một vấn đề vật lý nào đó cần có sự gợi ý

ban đầu của giáo viên, nghĩa là cần có sự hỗ trợ nhất định từ người thầy Bản thân học sinh, nhất là các em không phải là học sinh giỏi, thường không thể tự tìm hiểu sâu nội dụng vấn đề bằng hình thức tự đọc các tài liệu hay sách giáo khoa Mức

độ nhận thức ý nghĩa một câu nói, một câu phát biểu còn tùy thuộc vào năng lực trí tuệ của các em Khi đọc qua một định nghĩa vật lý, một khái niệm vật lý hay một định luật vật lý, học sinh có thể gặp phải một trong những khó khăn sau:

Trang 31

- Không nắm được câu phát biểu hàm chứa bao nhiêu ý và ý nào là ý chính, ý nào

Tạo niềm tin khoa học: Cho dù trên cơ sở lý luận, người học có thể nhận thức

được sự đúng đắn của một vấn đề vật lý, tuy nhiên vẫn cần có sự củng cố niềm tin Những yếu tố giúp người học củng cố niềm tin bao gồm: sự trùng khớp với suy luận bạn bè, kết quả từ thí nghiệm và sự khẳng định của người dạy Chỉ khi có niềm tin thì người học mới thực sự làm chủ kiến thức

Định hướng hoạt động: Muốn việc tự học đạt hiệu quả cao thì người học cần có

một phương pháp hoạt động tự học hợp lý Nếu người học hoạt động không theo một phương pháp nào sẽ dẫn đến tình trạng lẩn quẩn, lúng túng trong quá trình tự tìm hiểu vấn đề Hoạt động có phương pháp vừa mang lại lợi ích cho cá nhân vừa mang lại lợi ích cho tập thể Đặc biệt, khi người học học theo trường lớp, hoạt động học tập cá nhân này có thể ảnh hưởng đến hoạt động học tập của các cá nhân khác Khi này, giáo viên sẽ là người lãnh đạo, định hướng chung

Để thuận lợi trong việc quản lý, đánh giá kết quả học tập của từng học sinh, cũng như tạo sự cạnh tranh để thi đua, phấn đấu trong học tập, giáo viên sẽ đưa ra phương pháp hoạt động mang tính thống nhất cho cả lớp học Phương pháp hợp lý cho mọi đối tượng học sinh, có thể thực hiện được trong mọi hoàn cảnh và điều kiện cơ sở vật chất,

đó là giáo viên biên soạn sẵn các câu hỏi gợi ý cho từng bài và yêu cầu học sinh tìm hiểu

từ sách giáo khoa, các sách tham khảo và tài liệu do giáo viên giới thiệu để trả lời các câu hỏi đó Sau đó, học sinh trình bày những tìm hiểu của mình trước lớp

b Tự học hoàn toàn

Trong một số điều kiện và hoàn cảnh đặc biệt, người học không thể thường xuyên đến lớp, phải tự học không có sự hướng dẫn của thầy, khi đó người học phải tự tiến hành hoạt động của mình bằng cả ý chí và năng lực trí tuệ, bằng vốn kinh nghiệm của cá nhân để hướng tới làm thay đổi chính mình Người học chỉ gặp mặt thầy khi

Trang 32

tập trung sao một đợt học hay một học kì nào đó nhằm kiểm tra, đánh giá các kết quả

quá trình tự học được gọi là tự học hoàn toàn

Ưu điểm của tự học hoàn toàn là người học có nhiều sáng tạo nảy sinh trong quá trình

tự tìm hiểu; học được tính tự tin vì phải tự giải thích vấn đề và tự khẳng định những kết luận rút ra từ những bài học theo lập luận cá nhân; rèn luyện cho người học tính vượt khó vì trong

tự học hoàn toàn người học sẽ gặp nhiều khó khăntrong việc tìm lấy kiến thức Hệ quả của những ưu điểm trên là người học khi bước vào thực tế, áp dụng các kiến thức đã học sẽ không lúng túng khi tự mình giải quyết một vấn đề phức tạp

Nhược điểm của tự học là người sẽ mất nhiều thời gian để tìm lấy kiến thức so với những người tự học có sự hướng dẫn của thầy Trong tự học hoàn toàn cũng thiếu tính cạnh tranh, người học dễ tự mãn với những gì đạt được do không có đối tượng nào khác để so sánh Một nhược điểm lớn nhất trong tự học hoàn toàn là người học có thể hiểu lệch vấn đề, hoặc nắm vấn đề chưa thật toàn diện với những khía cạnh và tính chất vốn có của nó

c Điều kiện cho hoạt động của học sinh

Hoạt động tự học là một hoạt động đòi hỏi nhiều nổ lực, sự chuyên cần, sự ham thích của chủ thể Đáp ứng được những điều này, đối với những học sinh phổ thông, cần phải có những điều kiện thiết yếu như: phải nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học, phải có động lực học và phải có tài liệu để học

 Nhận thức về tầm quan trọng của tự học: Chúng ta thường không thiết tha tham

gia công việc hoặc có tham gia cũng không làm đến nơi đến chốn khi không xác định được tầm quan trọng của công việc Do đó, điều kiện đầu tiên cho hoạt động tự học chính là nhận thức đúng tầm quan trọng của tự học Nhận thức đúng dẫn đến hoạt động đúng Hành động là kết quả của nhận thức Người học chỉ có thể tiến hành tự học một cách tự giác khi hiểu được tầm quan trọng của tự học

Để nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của tự học, giáo viên phải

là người thường xuyên giáo dục cho các em hiểu mục đích của tự học qua các hoạt động: Giao công việc cụ thể cho từng cá nhân và từng nhóm Chỉ định người đại diện nhóm trình bày vấn đề, không để trong nhóm cử đại diện dễ dẫn đến tình trạng chỉ một số học sinh thực sự tham gia hoạt động tự học, một số khác có khuynh hướng trông chờ, ỷ lại, đối phó với sự may rủi

Trang 33

Khen ngợi, biểu dương thành quả hoạt động tự học của cá thể hoặc của cá thể trong sự hợp tác của nhóm Những tư tưởng thụ động, trông chờ và ỷ lại vào người khác cần phải bị phê phán nghiêm khắc

Rèn luyện thói quen tự học cho học sinh bằng việc theo dõi sát sao, kiểm tra thường xuyên quá trình tự học của các em

 Động lực tự học của học sinh: Đối với học sinh phổ thông, việc nhận thức tầm

quan trọng của học tập còn phụ thuộc vào người thầy Do vậy, muốn người học có động lực tự học cần có tác nhân khuyến khích từ người thầy Mục tiêu cuối cùng của giáo dục

là phát triển con người, cho dù muốn đạt được mục tiêu đó bằng phương pháp này hay phương pháp khác Nhưng phương pháp nào cũng cần phải có tác nhân khuyến khích để khơi dậy trí thông minh của người học, kích thích nhằm phát huy tiềm năng của con người

Hình thức khuyến khích tự học ở trường phổ thông chủ yếu tập trung ở khâu đánh giá kết quả các hoạt động tự học Việc đánh giá kết quả các hoạt động tự học cần phải công bằng và hợp lý sao cho người thực hiện được nhiều công việc hoặc thực hiện công việc khó khăn hơn thì phải có điểm cao hơn những người thực hiện công việc nhẹ nhàng hơn hoặc ít hơn Do đó, khi phân công cá nhân hoặc tổ nhóm phần công việc, giáo viên phải đưa ra trọng số Trong quá trình thảo luận tại lớp, những học sinh nào tích cực phát biểu và phát biểu hay hoặc nêu những thắc mắc có giá trị cần phải có điểm thưởng Như vậy, việc bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh, cách đánh giá kết quả học tập nói chung sẽ khác so với phương pháp dạy và học truyền thống Giáo viên không chỉ căn cứ vào điểm số của các bài kiểm tra viết để đánh giá mà còn phải căn cứ vào hoạt động cụ thể của các em trong giờ học

 Tài liệu: Tài liệu là vấn đề then chốt trong quá trình tự học của học sinh vì nó

đóng vai trò như một người thầy khi không có mặt thầy Tài liệu phải bao gồm sách giáo khoa, sách tham khảo, các địa chỉ truy cập Internet và các địa chỉ tham khảo Tên sách tham khảo và những địa chỉ trên mạng phải do GV cấp, và đây là phần mà

GV phải chuẩn bị kỹ, GV càng chuẩn bị kỹ phần này thì hiệu quả của việc tự học qua tài liệu càng cao, học sinh sẽ không mất nhiều thời gian tìm kiếm nhưng lại có nhiều

thông tin cần thiết

Một tài liệu chuẩn cần phải thỏa mãn những yêu cầu sau:

 Xác thực với nội dung, vấn đề đang tìm hiểu

 Phù hợp với đối tượng nghiên cứu

 Có tính cập nhật

Trang 34

2.3 Phương hướng rèn luyện năng lực tự học

a HS cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết Song điều quan trọng là HS phải có

hệ thống kỹ năng tự học Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với HS, bởi lẽ muốn

có kỹ năng tự học trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và vận dụng vào trong thực tế thì việc rèn luyện hệ thống

kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường

Cạnh đó, HS cần vận dụng một cách sáng tạo các phương pháp học tập tích cực với nhau như: học nhóm, làm việc tập thể, thảo luận, làm thí nghiệm, nghiên cứu phát hiện vấn đề…

Như vậy, để hoạt động học tập của HS đạt chất lượng và hiệu quả, HS phải có tri thức và kỹ năng tự học Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để HS biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho HS tự tin vào bản than mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của HS

b Vận dụng hệ các phương pháp tự học vào chu trình tự học của HS

Đó là một chu trình ba giai đoạn:

Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích,

phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học)

Giai đoạn 2- Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói,

tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua

sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy

Giai đoạn 3- Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác

trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh

Chu trình tự nghiên cứu → tự thể hiện→ tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học

Rèn luyện năng lực tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của HS

Trang 35

Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân HS để hoàn thành nhiệm vụ học tập đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học - đào tạo trong nhà trường Tự học

là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của HS Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của GV

Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, HS cần tự rèn luyện năng lực tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập Năng lực tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập

2.4 Vai trò của giáo viên trong việc rèn luyện cho HS phương pháp tự học

Trong quá trình học tập, có rất nhiều việc phải làm: phát hiện vấn đề, thực hiện giải pháp đã đề xuất, xử lí kết quả thực hiện giải pháp, khái quát hóa rút ra kết luận mới và vận dụng kiến thức Trong một loạt công việc đó GV cần tính toán xem với thời gian cho phép lên lớp, trình độ HS trong lớp thì việc được giao cho HS tự làm (tự làm ngay trên lớp hay ở nhà), việc gì cần sự trợ giúp của GV, còn việc gì GV phải cung cấp thêm thông tin để HS có thể hoàn thành Trong mọi bài học, GV có thể tìm ra một vài

công việc để HS tự làm

Trong dạy học Vật lí 10, ngoài việc tổ chức cho HS tự lực làm việc với các thí nghiệm, GV có thể cho HS tự nghiên cứu nhiều nội dung kiến thức ngay trên lớp như thiết lập phương trình biểu diễn sự biến đổi vận tốc trước và sau va chạm, thiết lập phương trình trạng thái khí lí tưởng… GV cần lựa chọn một số nội dung kiến thức mới trong các bài học để HS tự học ở nhà

Với mỗi chủ đề học tập, GV có thể giao cho mỗi nhóm HS những đề tài nghiên cứu nhỏ, đòi hỏi HS phải sưu tầm thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau (sách báo, phương tiện nghe nhìn, quan sát tự nhiên…) xử lí thông tin theo nhiều cách (lập bảng đo các giá trị, biểu đồ, so sánh phân tích các dữ liệu ) rút ra kết luận và truyền đạt thông tin qua thảo luận, báo cáo viết…

Cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, kết hợp học tập cá nhân với học tập hợp tác với các hình thức khác nhau (cặp, nhóm, lớp) các hình thức học tập này rèn luyên cho HS kỹ năng làm việc tập thể trong công việc được giao GV

Trang 36

cần tiếp tục rèn luyện các kỹ năng làm việc tập thể mà HS có trong các giờ học trên lớp và cả trong tự học ở nhà

Thông qua các hoạt động học tập tích cực, tự lực HS không những chiếm lĩnh được kiến thức, rèn luyện được kĩ năng, mà còn có niềm vui của sự thành công trong học tập và phát triển được năng lực sáng tạo của mình

Trang 37

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ NHẰM BỒI DƯỠNG CHO HS NĂNG LỰC TỰ HỌC

3.1 Nội dung của phương pháp thực nghiệm

Vật lý ở trường phổ thông hiện nay chủ yếu là vật lý thực nghiệm PPTN do Galilê sáng lập ra và được các nhà khoa học khác hoàn chỉnh Spaski đã nêu lên thực chất của PPTN như sau: “Xuất phát từ quan sát và thực nghiệm, nhà khoa học xây dựng một giả thuyết (dự đoán) Giả thuyết đó không chỉ đơn thuần là sự tổng quát hóa các sự kiện thực nghiệm đã làm, nó còn chứa đựng một cái gì mới mẻ, không có trong từng thí nghiệm cụ thể Bằng phép suy luận logic và bằng toán học, các nhà khoa học

có thể từ giả thuyết đó mà rút ra một số hệ quả, tiên đoán một số sự kiện trước đó chưa biết đến Những sự kiện và hệ quả mới đó lại có thể dùng thực nghiệm mà kiểm tra lại được, và nếu sự kiểm tra đó thành công, nó khẳng định một giả thuyết, biến giả thuyết thành định luật vật lý chính xác”

Như vậy, PPTN không phải là làm thí nghiệm đơn thuần, không phải là sự suy nạp đơn giản (như chủ nghĩa quy nạp thực nghiệm) mà là sự phân tích sâu sắc các sự kiện thực nghiệm, tổng quát hóa nâng lên mức lý thuyết và phát hiện ra bản chất

sự vật Đó là sự thống nhất giữa thực nghiệm và lý thuyết nhằm mục đích nhận thức thiên nhiên

PPTN hiểu theo nghĩa trên là bao gồm cả quá trình tìm tòi từ ý tưởng ban đầu đến kết luận cuối cùng Nhưng sự phát triển của vật lý học, có khi quá trình phát sinh ra một định luật rất lâu dài và phức tạp, mỗi nhà bác học chỉ thực hiện một khâu trong quá trình đó Ví dụ: Maikenxơn trong 20 năm làm thí nghiệm đo vận tốc ánh sáng truyền theo chiều quay của Trái Đất và theo chiều ngược lại, cốt để kiểm tra lại giả thuyết về gió “ête” đã có từ trước, ông nổi tiếng là nhà vật lý thực nghiệm, và thiết bị thí nghiệm do ông chế tạo ra (giao thoa kế) đã đạt mức độ chính xác cao Anhstanh

đã tin tưởng ở kết quả thí nghiệm đó và dùng nó làm tiên đề cho thuyết tương đối của

ông Bởi thế, ngày nay có thể hiểu PPTN theo nghĩa hẹp chỉ gồm hai giai đoạn: “Từ

giả thuyết rút ra hệ quả và dùng thí nghiệm để kiểm tra lại hệ quả đó”.[2]

3.2 Tầm quan trọng của phương pháp thực nghiệm trong nghiên cứu khoa học và trong dạy học vật lý ở THPT

Một trong những điều quan trọng của phương hướng cải cách chương trình vật

Trang 38

lý phổ thông là “Chương trình phải bao gồm những kiến thức về các phương pháp vật lý cơ bản” Ngoài việc cung cấp kiến thức, việc xây dựng và phát triển các năng lực

tư duy cho HS là một yêu cầu có tính nguyên tắc Muốn vậy, làm cho HS không những nắm vững được kiến thức mà còn hiểu rõ được con đường dẫn đến kiến thức, hiểu rõ các phương pháp nhận thức khoa học

Đối với môn vật lý, PPTN là một trong những phương pháp nhận thức cơ bản quan trọng Vì vậy, trong chương trình cải cách vật lý phổ thông cần phải coi trọng ápdụng PPTN của khoa học vật lý trong quá trình dạy học Trong quá trình dạy học, cần làm cho HS hiểu được PPTN trong nghiên cứu vật lý và từng bước hướng dẫn HS tập vận dụng PPTN của vật lý trong khi nghiên cứu các kiến thức theo chương trình và SGK

Để có thể vận dụng được PPTN của vật lý học trong quá trình dạy học ta cần làm rõ hai vấn đề sau:

Thứ nhất là: PPTN trong quá trình tự học vật lý, với tư cách là một phương pháp

nhận thức của khoa học vật lý là gì? Nó bao gồm những giai đoạn nào?

Thứ hai là: PPTN trong dạy học vật lý, với tư cách là một PPDH (là sự vận dụng

PPTN của khoa học vật lý vào dạy học vật lý, nhằm rèn luyện cho HS những phương pháp nhận thức của vật lý học) được thực hiện theo các bước dạy học như thế nào khi hình thành một kiến thức cụ thể cho HS? [11]

3.3 PPTN trong nghiên cứu khoa học vật lý

3.3.1 Phương pháp thực nghiệm

Để có thể khái quát hóa các sự kiện thực tế và xây dựng các giả thuyết khoa học

về hiện tượng nghiên cứu, nhà khoa học phải tổ chức và tiến hành thí nghiệm để khảo sát hiện tượng trong những điều kiện xác định và dựa trên kết quả của thí nghiệm đó để thu được những tài liệu thực tế làm cơ sở xuất phát cho sự hoàn thành giả thuyết Để kiểm tra sự đúng đắn của các kết luận lý thuyết thu được nhờ sự suy luận logic từ mô hình giả thuyết (và cũng là để kiểm tra sự đúng đắn của chính bản thân giả thuyết) lại phải tiến hành thí nghiệm để có thể đối chiếu lại kết quả của thí nghiệm với những thí nghiệm như thế gọi là phương pháp thực nghiệm

Vậy, phương pháp thực nghiệm là một phương pháp nhận thức khoa học được thực hiện khi nhà nghiên cứu tìm tòi xây dựng phương án và tiến hành thí nghiệm, nhằm dựa trên kết quả của thí nghiệm để xác lập giả thuyết hoặc kiểm tra một giả thuyết

Trang 39

nào đó

Phương pháp thực nghiệm nói ở đây là nói về phương pháp nhận thức trong quá trình sáng tạo khoa học, chứ không phải là chỉ đơn thuần cách thức tiến hành một thí nghiệm đã có sẵn Quá trình nhận thức này đòi hỏi tư duy sáng tạo Khi áp dụng phương pháp thực nghiệm nhà nghiên cứu phải tìm tòi thiết kế phương án thí nghiệm Trong việc đề xuất phương án thí nghiệm để có thể kiểm tra giả thuyết đã nêu ra hoặc cho phép thu được những thông tin cần thiết cho việc xác lập giả thuyết, tư duy sáng tạo có vai trò quan trọng [11]

3.3.2 Các giai đoạn của PPTN trong nghiên cứu khoa học vật lý

PPTN của quá trình nghiên cứu khoa học vật lý gồm các giai đoạn chính sau đây:

 Nhận biết các sự kiện khởi đầu, phát hiện vấn đề (nêu câu hỏi)

 Xây dựng giả thuyết (câu trả lời dự đoán)

 Từ giả thuyết suy ra một hệ quả có thể kiểm tra trong thực tế (có thể quan sát, đo lường được)

 Bố trí thí nghiệm kiểm tra

 Kết luận (thí nghiệm xác nhận hay bác bỏ giả thuyết) [13]

3.4 Phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý

3.4.1 Phương pháp thực nghiệm trong dạy hoc vật lý

Ở đây ta muốn đề cập một phương pháp dạy học, trong đó phương pháp thực nghiệm của quá trình sáng tạo khoa học được vận dụng vào quá trình dạy học vật lý Thực chất của phương pháp dạy học này là ở chỗ: Giáo viên tổ chức, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh theo các bước tương tự như các giai đoạn của phương pháp thực nghiệm trong quá trình sáng tạo khoa học, để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức, làm cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc, vững chắc, đồng thời qua đó góp phần phát huy năng lực nhận thức sáng tạo của HS

Tất nhiên khi áp dụng phương pháp thực nghiệm trong dạy học vật lý giáo viên phải sử dụng thí nghiệm (dưới dạng thí nghiệm biểu diễn của giáo viên và thí nghiệm của học sinh làm) Không sử dụng thí nghiệm thì không thể nói đến phương pháp thực nghiệm Nhưng cũng cần lưu ý rằng, điều này không có nghĩa là hễ có sử dụng thí nghiệm trong dạy học thì là đã áp dụng phương pháp thực nghiệm như vừa nói ở trên Bởi vì trong dạy học vật lý, thí nghiệm được sử dụng có khi chỉ như một phương tiện

Trang 40

trực quan đơn thuần, chứ không phải là nó được thiết lập và thực hiện trong tiến trình nghiên cứu theo đòi hỏi của việc xác lập hoặc kiểm tra một giả thuyết nào đó Việc sử dụng thí nghiệm trong trường hợp như thế thì không phải theo tinh thần áp dụng phương pháp thực nghệm của vật lý học [9]

3.4.2 Các giai đoạn của PPTN trong dạy học vật lý

Để giúp HS có thể tái tạo, chiếm lĩnh được các kiến thức vật lý bằng những hoạt động của bản thân mình thì tốt nhất là GV phỏng theo PPTN của các nhà khoa học mà

tổ chức cho HS hoạt động theo các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: GV mô tả một hoàn cảnh thực tiễn hay biểu diễn một vài thí

nghiệm và yêu cầu các em dự đoán diễn biến của hiện tượng, tìm nguyên nhân hoặc xác lập một mối quan hệ nào đó, tóm lại là nêu lên một câu hỏi mà HS chưa biết câu trả lời, cần phải suy nghĩ tìm tòi mới trả lời được

Giai đoạn 2: GV hướng dẫn, gợi ý cho HS xây dựng một câu hỏi trả lời dự đoán

ban đầu, dựa vào sự quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng, vào kinh nghiệm của bản thân vào những kiến thức đã có…(ta gọi là xây dựng giả thuyết) Những dự đoán này có

thể còn thô sơ, có vẻ hợp lý nhưng chưa chắc chắn

Giai đoạn 3: Từ giả thuyết dùng suy luận logic hay suy luận toán học suy ra một

hệ quả: Dự đoán một hiện tượng trong thực tiễn, một mối quan hệ giữa các đại

lượng VL

Giai đoạn 4: Xây dựng và thực hiện một phương án thí nghiệm để kiểm tra xem

hệ quả dự đoán ở trên có phù hợp với kết quả thực nghiệm không Nếu phù hợp thì giả thuyết trên trở nên thành chân lý, nếu không phù hợp thì phải xây dựng

giả thuyết mới

Giai đoạn 5: Ứng dụng kiến thức , HS vận dụng kiến thức để giải thích hay dự

đoán một số hiện tượng trong thự tiễn, để nghiên cứu các thiết bị kỹ thuật Thông qua đó trong một số trường hợp, sẽ đi tới giới hạn áp dụng của kiến thức và xuất

hiện mâu thuẫn nhận thức mới cần giải quyết [13]

3.4.3 Hướng dẫn học sinh hoạt động trong mỗi giai đoạn của PPTN

Những bài học mà HS có thể tham gia đầy đủ vào cả 5 giai đoạn trên không nhiều

Đó là những bài học mà việc xây dựng giả thuyết không đòi hỏi một sự phân tích quá phức tạp và có thể kiểm tra giả thuyết bằng những thí nghiệm đơn giản, sử dụng những dụng cụ đo lường mà HS đã quen thuộc

Ngày đăng: 22/12/2015, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm