MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TÀI KHOÁ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
2 Nguyễn Thị Thiện
3 Võ Thị Lệ Thu
4 Nguyễn Thị Phương Thuý
5 Lê Đăng Bảo Trân
6 Dương Thị Thuỳ Trang
7 Trần Thi Hương Trang
8 Hồ Minh Trí
Lớp : Cao học Khóa 10
Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính-Ngân hàng
Trang 2TP.HCM, NĂM 2011
Chúng tôi gồm những thành viên ký tên dưới đây là học viên lớp Cao học Khóa 10
chuyên ngành Kinh tế Tài Chính-Ngân hàng cùng cam kết:
Tất cả các thành viên đều tham gia viết tiểu luận này Mức độ tham gia đóng góp của các thành viên là ngang nhau, từng thành viên thực hiện công việc theo sự phân công được tất cả các thành viên thông qua.
Điểm số của tiểu luận cũng chính là điểm số của từng thành viên.
Họ tên và chữ ký của từng thành viên
Nguyễn Hà Minh Thi
Nguyễn Thị Thiện
Võ Thị Lệ Thu
Nguyễn Thị Phương Thúy
Lê Đăng Bảo Trân
Dương Thị Thùy Trang
Trần Thị Hương Trang
Hồ Minh Trí
Trang 3MỤC LỤC
Đề tài: MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VIỆT NAM
ĐẾN NĂM 2020
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA 1.1 Chính sách tài khóa 3
1.1.1 Khái niệm chính sách tài khóa 3
1.1.2 Phân loại chính sách tài khóa 3
1.1.2.1 Chính sách tài khóa mở rộng 4
1.1.2.2 Chính sách tài khóa thu hẹp 4
1.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô 4
1.1.3.1 Khi nền kinh tế suy thoái 5
1.1.3.2 Khi nền kinh tế lạm phát 6
1.2 Đặc điểm chính sách tài khóa các nước 7
1.2.1Chính sách tài khóa thuận chu kỳ và ngược chu kỳ 7
1.2.2Đặc điểm chính sách tài khóa các nước phát triển 7
1.2.3Đặc điểm chính sách tài khóa các nước đang phát triển 8
1.2.4Các nguyên tắc tài khóa 9
1.2.2.2 Cân bằng ngân sách 10
1.2.2.3 Nguyên tắc vàng 10
1.2.2.4 Nguyên tắc các quỹ bình ổn 10
1.2.2.5 Nguyên tắc 1% của Chile .11
PHẦN 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM 2.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000-2007 12
2.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007-200 14
2.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay 16
Trang 42.4 Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta 19
PHẦN 3 : MỤC TIÊU CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA ĐẾN NĂM 2020 3.1 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020 21
3.1.1 Tình hình đất nước 21
3.1.2 Quan điểm phát triển kinh tế đến năm 2020 22
3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế đến năm 2020 22
3.2 Ba nhóm nhiệm vụ chiến lược 24
3.3 Lựa chon chính sách tài khóa đến năm 2020 25
3.3.1 Mục tiêu trong ngắn hạn của chính sách tài khóa là giữ vững mức động viên vào Ngân sách nhà nước (NSNN) 25
3.3.2 Mức độ thâm hụt NSNN trong lộ trình tiến tới cân bằng cán cân NSNN trong dài hạn 27
3.4 Mục tiêu chính sách tài khóa từ năm 2011 đến 2015 29
3.4.1 Mục tiêu của chính sách tài khóa 2011 29
3.4.2 Làm thế nào để đạt được mục tiêu :” Thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt giảm đầu tư công, giảm bôi chi NSNN?” 30
3.5 Mục tiêu chính sách tài khóa từ năm 2016 đến 2020 33
PHẦN 4: NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ 4.1 Nhận xét 35
4.2 Kiến nghị 37
KẾT LUẬN 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hơn hai muơi năm trước khi Việt Nam bắt đầu mở cửa, các nhà kinh tế của Đại họcHarvard Mỹ cùng nhau phác thảo một con đường phát triển “Theo Hướng Rồng Bay”cho nềnkinh tế khiến thế giới tin tưởng rằng giấc mơ hóa rồng của Việt Nam sẽ sớm trở thành hiệnthực Từ một nước nghèo chúng ta đã thành công trong việc chuyển lên thành một quốc gia cótăng trưởng kinh tế thuộc loại nhanh nhất Châu Á Song song với tốc độ tăng trưởng ấn tượng,mức GDP bình quân theo đầu người cũng tăng vọt từ không đầy 100 đô la vào năm 1990 lênđến khoảng 1.200 đô la vào năm nay 2010 giúp Việt Nam đã mở được cánh cửa bước vào hàngngũ các nước có thu nhập trung bình.Có thể nói chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu lớnnhưng chưa đủ để biến giấc mơ hoá rồng trở thành hiện thực, tuy nhiên trong bối cảnh kinh tếnước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, tiềm lực phát triển của chúng ta cũnghơn hai muơi năm trước ,chúng ta có quyền hy vọng trở thành một quốc gia công nghiệp vàonăm 2020
Vấn đề đặt ra là Việt Nam theo đuổi chính sách đa mục tiêu, vừa muốn duy trì tốc độtăng trưởng cao vừa cố giữ tỷ giá cố định và mức lạm phát vừa phải Đây là bài toán vô cùngnan giải và chỉ có thể đạt được hai trong ba mục tiêu Thực tế, từ sau cuộc khủng hoảng kinh tếthế giới năm 2008 chúng ta bị đặt trong tình thế giằng co giữa kềm chế lạm phát và sử dụngcác gói hỗ trợ nhẳm kích thích nền kinh tế phát triển Đầu năm 2011 Chính phủ đã thông quanghị quyết về bảy nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, điều này cho thấy kiềm chế lạmphát chứ không phải là tăng truởng sẽ trở thành nhiệm vụ trọng tâm, hàng đầu hiện nay VậyViệt Nam sẽ phải làm những gì để đạt đuợc mục tiêu ổn đinh kinh tế vĩ mô, phát trền bền vững
nhằm trở thành nuớc công nghiệp năm 2020? Bài tiểu luận sẽ nghiên cứu “Mục tiêu chính sách tài khoá của Việt Nam đến năm 2020” để có thể trả lời đuợc câu hỏi này.
Mặc dù đã có nhiều báo cáo nghiên cứu về mục tiêu chính sách tài khóa của Việt Nam;tuy nhiên, dựa vào tài liệu, bài viết của các nhà phân tích, chuyên gia trong lĩnh vực kinh tế và
Trang 6các văn kiện, nghị quyết của Đảng và Chính Phủ nhóm đã tổng hợp, đánh giá, phân tích để đưa
ra cái nhìn chung về việc thực hiện chính sách tài khóa trong thời gian qua từ đó phân tích vềnhững mục tiêu phải thực hiện trong 10 năm tiếp theo từ năm 2010 đến năm 2020, với mongmuốn cung cấp cho các bạn trong lớp có thêm thông tin và hiểu rõ hơn về vấn đề này
Vì còn hạn chế về thời gian và kiến thức chuyên sâu nên không tránh khỏi sai sót, kính mongThầy và các bạn tham khảo
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 7PHẦN 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA.
1.1 Chính sách tài khóa.
1.1.1 Khái niệm về chính sách tài khóa
Muốn thực hiện các mục tiêu đề ra chính phủ cần phải có các công cụ để tác động vàonền kinh tế và từ đó thực hiện các mục tiêu cụ thể của mình Chính phủ có bốn công cụ thôngdụng để điều tiết nền kinh tế vĩ mô đó là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sáchkinh tế đối ngoại, và chính sách thu nhập Trong đó, chính sách tài khóa và chính sách tiền tệgiữ vai trò quyết định Đặc biệt, chính sách tài khóa giữ vai trò chủ chốt và quan trọng
Chính sách tài khóa (fical policy) là các chính sách của chính phủ nhằm tác động nênđịnh hướng phát triển của nền kinh tế thông qua việc thay đổi chính sách Thuế và các khoảnchi tiêu của Chính phủ
Việc thay đổi thuế một mặt làm thay đổi thu nhập, mặt khác thuế cũng có thể tác độngđến giá cả hàng hóa
Việc thay đổi chi tiêu của chính phủ một mặt làm ảnh hưởng đến tổng chi tiêu của xãhội, mặt khác cũng làm thay đổi thu nhập của dân cư thông qua cac khoản trợ cấp Thu nhậpdân cư thay đổi lại làm thay đổi mức chi tiêu của hộ gia đình Từ đó sẽ ảnh hưởng đến sảnlượng giá cả, công ăn việc làm
Chính sách tài khoá là một công cụ quan trọng giúp Nhà Nước thực hiện mục tiêu ổnđịnh kinh tế vĩ mô
1.1.2 Phân loại chính sách tài khóa.
Để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế (tức là điều chỉnh tổng cầu để đưa sản lượng trở
về mức sản lượng tiềm năng), chính phủ phải sử dụng chính sách tài khóa, chính phủ có thểthay đổi thuế ròng (T) hoặc chi tiêu mua hàng hòa và dịch vụ (G) theo vụ (G) theo hai hướng:
mở rộng hoặc thu hẹp
Trang 81.1.2.1 Chính sách tài khóa mở rộng.
Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách mà Chính phủ sẽ:
- Tăng G tức là tăng chi mua hàng hóa và dịch vụ sẽ trực tiếp làm tăng tổng cầu
- Giảm T (thuế) sẽ làm tăng thu nhập khả dụng cho hộ gia đình Thu nhập khả dụng tăng
sẽ kích thích tiêu dùng tăng theo Tiêu dùng tăng lại làm tổng cầu tăng
Khi tổng cầu tăng đường tổng cầu dịch chuyển lên trên thì làm cho sản lượng tiến vềsản lượng tiềm năng và thất nghiệp giảm xuống bằng thất nghiệp tự nhiên
* Cơ chế tác động của chính sách Tài khoá mở rộng
G AD Y T→ YD C AD Y
1.1.2.2 Chính sách tài khóa thu hẹp
Chính sách tài khóa mở rộng là chính sách mà Chính phủ sẽ:
- Giảm G tức là giảm chi mua hàng hóa và dịch vụ, sẽ trực tiếp làm giảm tổng cầu.
- Tăng T (thuế) sẽ làm giảm thu nhập khả dụng cho hộ gia đình Thu nhập khả dụnggiảm sẽ hạn chế tiêu dùng Tiêu dùng giảm thì làm tổng cầu giảm
Khi tổng cầu giảm đường tổng cầu dịch chuyển xuống dưới làm cho sản lượng tiến vềsản lượng tiềm năng và lúc đó sẽ khắc phục được tình trạng lạm phát cao
* Cơ chế tác động của chính sách Tài khoá thu hẹp
G AD Y T→ YDCAD Y
1.1.3 Chính sách tài khóa và mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô.
Một trong những nhược điểm lớn của nền kinh tế thị trường là tự động tạo ra chu kỳ
kinh doanh, sản lượng thực tế dao động lên xuống xoay quanh sản lượng tiềm năng, nền kinh
tế luôn có xu hướng bất ổn
Trang 9Khi sản lượng vượt quá sản lượng tiềm năng tạo ra áp lực lạm phát còn khi sản lượngthực tế nhỏ hơn mức sản lượng tiềm năng thì tạo ra áp lực suy thoái đối với nền kinh tế Đó làhai thái cực không tốt của nền kinh tế.
Chính vì thế, chính phủ cần sử dụng chính sách tái khóa như thế nào để điều hành hoạtđộng của nền kinh tế để ổn định nền kinh tế vĩ mô tạo đà tăng
trưởng nền kinh tế
1.1.3.1 Khi nền kinh tế suy thoái.
Khi nền kinh tế suy thoái tức là mức sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềmnăng, điều đó có nghĩa là vẫn có một lượng tài nguyên chưa được sử dụng hết, sản lượng đangnằm dưới mức sản lượng tiềm năng Thường là không phải vốn vật chất (vì trong ngắn hạn,vốn là cố định), mà là các nguồn lực có thể thay đổi được, như là lao động hay các nguồn tàinguyên có thể linh hoạt đưa vào sử dụng khác
Trong giai đoạn này chính phủ thường dùng chính sách kích cầu để kích thích nền kinh
tế Thông thường có ba cách để bơm cầu vào nền kinh tế
- Chính phủ tăng chi tiêu, tăng các khoản chuyển nhượng, hay giảm thuế
- Khu vực tư nhân chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm (C và I tăng, S giảm)
- Xuất khẩu tăng nhiều hơn nhập khẩu
Trang 10Vậy, trong thời kỳ suy thoái, chính phủ sử dụng chính sách tài khóa mở rộng (tăng Ghoặc giảm T), nhưng phải ở mức đủ lớn để dịch chuyển đường AD sang phải.
Lưu ý rằng giảm thuế chưa hẳn đã dẫn tới tăng chi tiêu (C) hay tăng đầu tư (I) Bởi vìkhi nhận được chính sách giảm thuế, người dân có thể chỉ tiết kiệm phần thu nhập tăng thêm,đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái.Ý tưởng cốt lõi ở đây là, để tăng tổng cầu AD, người dânphải tiêu xài, chứ không phải tiết kiệm Làm cách nào để chính phủ có thể kích thích chi tiêutrong ngắn hạn, mà không phải tiết kiệm
Chính phủ cần phải có chính sách giảm thuế xuất khẩu tăng thuế nhập khẩu thích hợp đểkích thích xuất khẩu tăng nhiều hơn nhập khẩu
1.1.3.2 Khi nền kinh tế lạm phát.
Khi nền kinh tế lạm phát tức là sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng thìchúng ta cần sử dụng chính sách tài khóa thắt chặt bằng cách
- Giảm chi tiêu, hay tăng thuế
- Khu vực tư nhân giảm chi tiêu và đầu tư (C và I)
- Nhập khẩu phải tăng nhiều hơn xuất khẩu
Khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt sẽ làm giảm tổng cầu từ đó dẫnđến mức sản lượng thực tế của nền kinh tế sẽ giảm và trở về mức sản lượng tiềm năng
Trang 111.2 Đặc điểm chính sách tài khóa các nước.
Mọi chính phủ đều phải duy trì một chính sách tài khóa bền vững, có nghĩa là có mộtmức độ thâm hụt tài khóa trong tầm kiểm soát ở ngắn hạn, đi kèm với những khoản nợ công cóthể trả được
Ngoài ra, các nước đang phát triển còn có những trách nhiệm như làm giảm nghèo, tăngtrưởng kinh tế, đảm bảo phúc lợi xã hội Để làm được việc này cần những chính sách tài khóa
và các chương trình đầu tư công hiệu quả
1.2.1 Chính sách tài khóa thuận chu kỳ và ngược chu kỳ.
Chính sách tài khóa thuận chu kỳ: là chính sách tài khóa được chính phủ các nước tiếnhành chính sách tài khóa mở rộng vào lúc có lạm phát, và tiến hành chính sách tài khóa thu hẹpvào lúc suy thoái
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ: là chính sách tài khóa được chính phủ các nước tiếnhành chính sách tài khóa thắt chặt (giảm chi tiêu và tăng thuế) khi nền kinh tế đang ở trạng tháitốt, và chính sách tài khóa mở rộng (tăng chi tiêu và giảm thuế) khi nền kinh tế đang ở trạngthái suy yếu
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ là cần thiết để chính phủ đưa nền kinh tế của đấtnước thoát khỏi tình trạng suy thoái hoặc lạm phát Thế nhưng do đặc điểm và trình độ pháttriển kinh tế của các nước khác nhau tạo ra các yếu tố tác động khác nhau làm cho chính sáchtài khóa có xu hướng ngược chiều hay thuận chiều
1.2.2 Đặc điểm chính sách tài khoá của các nước phát triển
Ở các nước phát triển có nền kinh tế phát triển cho nên chế độ phúc lợi xã hội rất tốtđồng thời thu nhập của người dân cũng rất cao vì vậy mức đóng góp của họ cũng chiếm tỷtrọng lớn trong ngân sách quốc gia
Các nước phát triển có thể thực hiện chính sách tài khóa ngược chu kỳ thông qua cáccông cụ bình ổn tự động (autonomatic stabilizers) Gọi là công cụ bình ổn tự động bởi vì chính
cơ chế vận hành của các công cụ này “tự động” đảm bảo chính sách tài khóa ngược chu kỳ
Trang 12Chẳng hạn, khi suy thoái, thất nghiệp tăng lên, khiến bảo hiểm thất nghiệp và các khoảnchuyển nhượng xã hội tăng lên theo Để giúp đỡ người dân, chính phủ tăng các khoản trợ cấp,bảo hiểm, hỗ trợ người nghèo Có nghĩa là chi tiêu chính phủ đã tăng trong thời kỳ suy thoái,giúp kích thích nền kinh tế.
Tương tự, chính sách thuế cũng có thể ngược chu kỳ, chẳng hạn khi suy thoái thu nhập
cá nhân giảm làm doanh số thu được từ thuế của chính phủ cũng giảm theo
Như vậy ở các nước phát triển nhờ công cụ bình ổn tự động làm cho chính sách tài khóangược chu kỳ hơn
1.2.3 Đặc điểm chính sách tài khóa của các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, các nước đang phát triển thường không có các công cụ bình ổn tự động Bởi
vì, hiếm có các khoản bảo hiểm thất nghiệp Các khoản chuyển nhượng chỉ chiếm một phầnnhỏ trong ngân sách Chi tiêu thường xuyên của chính phủ và tiền lương chiếm phần lớn chitiêu trong một nước đang phát triển Thuế trong các nước đang phát triển cũng thường là thuếgián thu (thuế thương mại và thuế tiêu dùng) thay vì thuế trực thu (thuế thu nhập) Hơn nữa thunhập của người dân tại các nước này cũng thấp cho nên phần thuế thu nhập cá nhân cũngchiếm tỉ trọng nhỏ trong ngân sách nhà nước Chính vì thế chính sách tài khóa ở các các nướcđang phát triển rất thuận chu kỳ
Ở các nước đang phát triển, chính phủ chi tiêu nhiều hơn cho các khoản đầu tư và cáckhoản công ích xã hội vào thời thịnh, và cắt giảm chi tiêu vào thời suy Và chính phủ cũng rấtkhó cắt giảm nhu cầu chi tiêu cho y tế, giáo dục, và cơ sở hạ tầng vào những lúc kinh tế pháttriển
Có nhiều lý do khiến cho ở các nước đang phát triển, chính sách tài khóa có xu hướngthuận chu kỳ Ví dụ khi chi tiêu của chính phủ tăng (G tăng) khi tổng cầu AD đang rất cao.Một lý do lớn là do đầu tư nước ngoài Trong thời kỳ kinh tế phát triển, dòng vốn lớn đổ vàonền kinh tế, tạo áp lực cho tỷ giá tăng lên, thúc đẩy xuất khẩu Kết quả là, các nguồn đầu tưnày làm tăng doanh thu thuế cho Chính phủ
Chính phủ cảm thấy ngân sách “xông xênh hơn” do hiệu ứng của cải, tăng đầu tư công,
mở rộng các dự án nhà nước Trong thời thịnh, giá nhiên liệu tăng lên, tạo áp lực cho mức giá
Trang 13chung, thuế thu được cho chính phủ cũng tăng theo, và chính phủ tiếp tục tăng chi tiêu Áp lựcchính trị cũng tạo động cơ cho chính phủ tăng chi tiêu vào thời kỳ kinh tế phát triển tốt
Cho đến khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy yếu, câu chuyện ngược lại xảy ra khidòng vốn chạy ra khỏi nền kinh tế, dẫn tới một hiện tượng mà các nhà kinh tế gọi là “cú dừngđột ngột”(sudden stop) Chính phủ phải đối mặt với lượng vốn đầu tư giảm đột ngột, và buộcphải giảm thâm hụt bằng cách cắt giảm chi tiêu Chính vì vậy, khi nền kinh tế suy yếu, G giảm,chính sách tài khóa rất thuận chu kỳ
Ở các nước nghèo, chi tiêu chính phủ chủ yếu dành cho hai khoản: chi lương cho côngchức, và chi đầu tư Ở Indonesia, khi đất nước lâm vào suy thoái và chính phủ buộc phải cắtgiảm ngân sách, họ thà cắt giảm đầu tư còn hơn là cắt giảm lương, vì các lý do chính trị Đaphần các chính phủ sẽ thường bị ám ảnh và việc dễ nhất là cắt giảm đầu tư, đặc biệt ở các nướcđang phát triển
Trong dài hạn, chi tiêu chính phủ dưới dạng đầu tư, như là xây cầu đường, cơ sở hạtầng…, có quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng Nếu không có những dự án công này, thật khó cóthể tăng thuế trong dài hạn
Đôi khi cắt giảm đầu tư là cần thiết, nhưng ở các nước đang phát triển, điều tệ hại hơn làchính phủ cắt giảm các khoản chi tiêu có thể thúc đẩy tăng trưởng tương lai
Vậy, ở các nước đang phát triển do đặc điểm phát triển kinh tế, xã hội làm cho chínhsách tài khóa là rất thuận chu kỳ
1.2.4 Các nguyên tắc tài khóa
Chính sách tài khóa ngược chu kỳ là cần thiết để đưa nền kinh tế ra khỏi tình trạng suythoái hoặc lạm phát
Làm thế nào để các nước đang phát triển làm cho các chính sách tài khóa bớt theo chu
kỳ hơn?
Sau đây là bốn nguyên tắc tài khóa giúp chính sách tài khóa bớt thuận chu kỳ hơn
1.2.4.1 Cân bằng ngân sách:
Trang 14Cân bằng ngân sách là cách giữ cho thu và chi của chính phủ luôn cân bằng.Lợi thế của chính sách này là giữ ngân sách ổn định Chính phủ phải cân đối giữa cáckhoản thu và chi từ ngân sách nhà nước trong ngắn hạn và cũng cần dự báo và tạo ra các khoảnthu trong dài hạn (bởi vì nhu cầu chi luôn là vô tận còn các khoản thu luôn có giới hạn).
1.2.4.2 Nguyên tắc vàng:
Nguyên tắc vàng là dùng doanh thu từ thuế để tài trợ cho các khoản chi tiêu thườngxuyên của chính phủ, và vay mượn (dưới dạng phát hành trái phiếu) để tài trợ cho các khoảnđầu tư công
Ý tưởng của nguyên tắc này là chỉ vay mượn những gì có thể tự trả nợ trong tương lai.Việc thực hiện nguyên tắc này giúp chính phủ các nước cải thiện khả năng trả nợ vàgiảm áp lực trả nợ các khoản vay của chính phủ
Đối với các nước giàu, chính sách này có thể khả thi, mặc dù các nhà chính trị sẽ phải cực
kỳ tuân theo nguyên tắc và kỷ luật với chi tiêu của minh
Nhưng ở các nước nghèo, chính sách này rất khó thực hiện (như là lội ngược dòng), bởi
vì chính phủ phải cắt giảm bớt đầu tư vào thời kỳ kinh tế suy yếu Chi tiêu hiện tại của chínhphủ và doanh thu thuế trong một chu kỳ kinh tế cho phép chính phủ tiêu dùng nhiều hơn trongthời kỳ khủng hoảng Nhưng chính phủ ở các nước nghèo chỉ có thể vay nợ vào lúc kinh tếphát triển
1.2.4.3 Nguyên tắc: Các quỹ bình ổn
Nguyên tắc này nói rằng, các nguồn lợi nhuận thu được từ dầu có thể đầu tư vào các tráiphiếu quốc tế để tạo ra nguồn doanh thu dài hạn cho các chi tiêu công kể cả khi giá nguyên liệuthấp
Khi quỹ này lớn mạnh, có thể dùng tiền thu được từ đó để chi tiêu vào thời khó khăn, sẽkhiến chính sách tài khóa bớt thuận chu kỳ hơn
Tuy nhiên nguyên tắc này đòi hỏi phải rất nguyên tắc về tài khóa: các quỹ này phải ở ngoàitầm với của các nhà chính trị
1.2.4.4 Nguyên tắc 1% của Chile.
Trang 15Nguyên tắc này nói rằng chính phủ cần đều đặn theo chu kỳ điều chỉnh thặng dự ngânsách của mình phải ở mức ít nhất 1%GDP.
Nguyên tắc này được tạo ra để phá vỡ tính thuận chu kỳ của các chính sách
Từ năm 2001 Chile đã đều đặn theo chu kỳ điều chỉnh thặng dự ngân sách của mìnhphải ở mức ít nhất 1% GDP
Vấn đề của Chile là chi tiêu và vay mượn cao khi giá đồng tăng cao, và giảm khi giáđồng giảm – giá nguyên liệu đồng thường ở mức 3-34% doanh thu ngân sách trong thời kỳ1990-2006
Các điều chỉnh theo chu kỳ có nghĩa là giá đồng cố định được dùng để tính toán doanhthu chính phủ từ đồng, sao cho khi kinh tế bùng nổ chính phủ không thể mặc định rằng có thểphung phí tiền của
Ngoài ra cũng phải điều chỉnh chi tiêu để tính cả các khoản chi phí xã hội tăng lên trongthời kỳ suy thoái
Việc thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi phải có một hệ thống cơ quan tài khóa mạnh sửdụng các chuyên gia để ước lượng những doanh thu dài hạn mà không khuyến khích nhà nướcchi tiêu quá nhiều
Chất lượng của các định chế tài khóa là tối cao: Quy tắc nào trong số này phát huy tácdụng hay không phụ thuộc vào mức độ minh bạch và rõ ràng của các định chế này
PHẦN 2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA Ở VIỆT NAM
Trang 162.1 Chính sách tài khóa giai đoạn 2000 - 2007
Từ năm 2000 - 2007, kinh tế Việt Nam tăng trưởng bình quân 7,63%, cao nhất là8.46% (năm 2007) và thấp nhất 6.79% (năm 2000)
Thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ tăng trưởng GDP
0.00 1.00 2.00 3.00 4.00 5.00 6.00 7.00 8.00 9.00
mở cửa thu hút vốn đầu tư và thúc đẩy thương mại quốc tế; đẩy mạnh tự do hóa hệ thống tàichính và phát triển thị trường tài chính năng động
Những năm này việc chi cho đầu tư xây dựng cơ bản liên tục tăng qua các năm: Năm
2000 chỉ có 29624 tỷ đồng đã tăng lên 112160 vào năm 2007 tăng gần 4 lần Trong khi đó chiphát triển sự nghiêp kinh tế xã hội tăng từ 61.823 tỷ đồng năm 2000 lên 211.940 tỷ đồng năm
2007 tăng gần 3.4 lần
Trang 17Biểu đồ chi ngân sách qua các năm theo mục
đích
050000
Chi phát triển sự nghiệpkinh tế xã hội
Số liệu tổng cục thống kê
Như vậy, vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam từ năm 2000 đến nay không thể chỉ giảithích ở biến số chính sách tài khóa duy nhất Có điều cần lưu ý, sự thay đổi tỷ lệ tăng trưởng từnăm “đáy” của suy thoái đến năm sau đó là lớn hơn khi có những thay đổi cơ bản của chính
TỔNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC từ 2000-2007
Trang 18sách tài khóa như: giảm mức huy động nguồn thu thuế thông qua chương trình cải cách thuế;đặc biệt gia tăng chi đầu tư công thông qua các chương trình kích cầu từ nguồn vốn ngân sách
và phát hành trái phiếu chính phủ Tuy vậy, điều này cũng chưa đủ cơ sở khoa học để khẳngđịnh, chính sách tài khóa có hiệu ứng tốt đến ổn định chu kỳ và khắc phục suy thoái kinh tế,
mà cần có sự đo lường bằng phương pháp định lượng
2.2 Chính sách tài khóa giai đoạn 2007 - 2008
Đây là giai đoạn mà kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng có nhiềubiến đổi đáng kể Trong giai đoạn này, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện quyết liệt 8 nhómgiải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tăng trưởng bền vững và thực thichính sách an sinh xã hội mà Nghị quyết số 10/2008/NĐ-CP ngày 17- 4-2008 đã đề ra: Trongtháng 8-2008 đã có hai lần điều chỉnh giảm giá bán xăng và dầu hỏa, bảo đảm hài hòa lợi íchcủa Nhà nước, doanh nghiệp và người sử dụng; tăng cường công tác thu ngân sách để bảođảm nhiệm vụ được giao, kết hợp với việc rà soát nợ đọng thuế, chống thất thu; tiếp tục ràsoát lại chi ngân sách, yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cắt giảm, đình hoãn các dự án đầu
tư chưa thực sự cấp bách và dự án đầu tư không có hiệu quả; không tăng chi ngoài dự toán,dành nguồn kinh phí cho bảo đảm an sinh xã hội; xem xét điều chỉnh giảm mức thuế xuấtkhẩu, nhập khẩu nhằm bình ổn thị trường, hạn chế nhập siêu Năm 2007, tốc độ tăng trưởngGDP là 8,5%, tổng thu ngân sách Nhà nước tăng 16,4% so với năm 2006 và bằng 106,5% dựtoán cả năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 107%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩubằng 108,1%; thu viện trợ bằng 156,7% Riêng thu từ dầu thô ước tính chỉ bằng 102,1% sovới dự toán năm và thấp hơn năm trước, do sản lượng khai thác dầu thô giảm Tổng chi ngânsách Nhà nước năm 2007 ước tính tăng 17,9% so với năm trước và bằng 106,5% dự toán năm,trong đó chi đầu tư phát triển tăng 19,2% và bằng 103,2; chi thường xuyên tăng 15,1% vàbằng 107,2%; chi trả nợ và viện trợ tăng 20,5% và đạt kế hoạch năm Bội chi ngân sách Nhànước năm 2007 ước tính bằng 14,8% tổng số chi và bằng mức bội chi dự toán năm đã đượcQuốc hội thông qua đầu năm, trong đó 76,1% được bù đắp bằng nguồn vay trong nước và23,9% từ nguồn vay nước ngoài
Năm 2008 mặc dù kinh tế tăng trưởng chậm hơn 2007,tốc độ tăng trưởng chỉ đạt6,2% Nhưng các nguồn thu có yếu tố nước ngoài như dầu thô, thu từ cân đối xuất, nhập khẩu
Trang 19tăng mạnh nên thu ngân sách Nhà nước năm nay vẫn tăng tương đối khá so với năm 2007 vàvượt kế hoạch cả năm Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách Nhà nước năm
2008 ước tính tăng 26,3% so với năm 2007 và bằng 123,8% dự toán năm, trong đó thu nội địabằng 110,9%; thu từ dầu thô bằng 143,3%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩubằng 141,1% Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 101,5%; thu từdoanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 102,1%; thu thuế công,thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 105,9%; thuế thu nhập đối với người có thunhập cao bằng 122,4%; thu phí xăng dầu bằng 99,3%;thu phí, lệ phí bằng116,5%.Tổng chingân sách Nhà nước năm 2008 ước tính tăng 22,3% so với năm 2007 và bằng 118,9% dự toánnăm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 118,3% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng114,7%); chi sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoànthể bằng 113,3%; chi trả nợ và viện trợ bằng 100% Các khoản chi thường xuyên đều đạt hoặcvượt dự toán năm, trong đó chi sự nghiệp kinh tế bằng 145,3% dự toán năm; chi thể dục thểthao bằng 123%; chi lương hưu và bảo đảm xã hội bằng 120,7%; chi giáo dục, đào tạo,dạynghề bằng104,6%; chi y tế bằng 104,1%
Bội chi ngân sách Nhà nước năm 2008 ước tính bằng 13,7% tổng số chi và bằng97,5% mức bội chi dự toán năm đã được Quốc hội thông qua đầu năm, trong đó 77,3% được
bù đắp bằng nguồn vay trong nước và 22,7% được bù đắp từ nguồn vay nước ngoài
Nhờ những chính sách tài khóa quyết liệt trên của Chính phủ mà kinh tế Việt Nam đã
có kết quả tích cực Những biện pháp điều hành của Chính phủ đã phát huy hiệu quả bướcđầu Tuy nhiên, nền kinh tế còn đối mặt với nhiều thách thức đòi hỏi Chính phủ phải có nhữngđiều hành quyết liệt hơn nữa bảo đảm ngăn chặn đà suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô, hướngtới mức tăng trưởng cao hơn
2.3 Chính sách tài khóa giai đoạn 2009 đến nay
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái, kinh tế trong nước đang đối mặt với nhiềukhó khăn và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thị trường Việt Nam có độ mở cao (xuất, nhập khẩutrên 150% GDP); khu vực FDI tuy chỉ chiếm trên 27% tổng đầu tư xã hội, nhưng luôn đạt từ
Trang 2055% đến 70% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu, nên sau khi khủng hoảng nổ ra, thị trườngxuất khẩu và đầu tư thế giới giảm sút đột ngột, nền kinh tế Việt Nam đã lập tức rơi vào suygiảm, từ mức tăng trưởng trên 7% (năm 2008) xuống còn 3,1% vào quý I-2009 Giá một sốmặt hàng xuất khẩu chính giảm mạnh, như giá gạo trong tháng 10-2009 giảm tới 20%; cà phêgiảm tới 34,5%; cao su giảm gần 50% Một vấn đề nữa là, với quy mô nền kinh tế còn nhỏ,xuất phát điểm thấp nhưng đã hội nhập sâu, rộng vào khu vực và thế giới trên tất cả các cấp
độ, kèm theo đó, trong năm 2008 và 2009, thiên tai, dịch bệnh lại liên tiếp xảy ra với cường
độ và mức độ lớn Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, lạm phát tăng, thất nghiệp cao Nền kinh tế yếu đi, các doanh nghiệp rơi vào tình trạng suy kiệt Một số doanh nghiệp bị phásản, số còn lại liên tục gặp khó khăn
Cùng với xu hướng chung của thế giới, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp điềuhành quyết liệt nhằm chặn đà suy giảm kinh tế, ổn định vĩ mô và hướng tới tăng trưởng bềnvững Một trong những giải pháp chủ yếu là Chính sách tài khóa mở rộng, gồm các gói kíchcầu Gói kích cầu thứ nhất đã được triển khai nhằm hỗ trợ lãi suất khoảng 17.000 tỉ đồng, góikích cầu thứ hai, với tổng nguồn vốn khoảng 8 tỉ USD, hỗ trợ lãi suất trong trung và dài hạnnhằm kích cầu đầu tư, phát triển sản xuất Ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô và tạo việc làm, đây làhai điều quan trọng nhất thể hiện khá rõ vai trò của Nhà nước thông qua các gói kích cầu Bêncạnh đó, năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã tập trung chỉ đạo kích cầu đầu tư, tạm hoãn thuhồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước, đồng thời ứng trước từ ngân sách để thực hiện một
số dự án cấp bách; tăng vốn đầu tư từ nguồn ngân sách và trái phiếu Chính phủ, tập trung xâydựng kết cấu hạ tầng giao thông, năng lượng, nông nghiệp, nông thôn, các công trình y tế, giáodục, an sinh xã hội; tăng cường các biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài và vốn viện trợ pháttriển Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các thành viên Chính phủ thường xuyên làm việc vớicác Tập đoàn, Tổng công ty lớn; thực hiện giao ban trực tuyến với các địa phương về các biệnpháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, ngăn chặn suy giảm, ổn định kinh tế vĩ mô
Tổng thu ngân sách năm 2009 tiếp tục tăng, đạt khoảng 390,65 nghìn tỷ, bằng 100,2%
kế hoạch dự toán, trong đó các khoản thu nội địa bằng 102,5%; thu từ dầu thô bằng 86,7%; thucân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu bằng 101,6% Trong thu nội địa, thu từ khuvực doanh nghiệp Nhà nước bằng 106,2%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 21(không kể dầu thô) bằng 88,8%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng95,6%; thuế thu nhập cá nhân bằng 87%; thu phí xăng dầu đạt 157,5%; thu phí, lệ phí bằng90,8% Tổng chi ngân sách Nhà nước năm đến 2009 ước tính đạt 96,2% dự toán năm, trong đóchi đầu tư phát triển đạt 95,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 93,4%); chi phát triển sựnghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể đạt 99,6%; chitrả nợ và viện trợ đạt 102,7% bội chi ngân sách khống chế dưới 7% GDP, thực hiện được mứcbội chi Quốc hội đề ra, trong đó 81,2% mức bội chi được bù đắp bằng nguồn vay trong nước;18,8% bù đắp bằng nguồn vay nước ngoài.
Giá cả thị trường tương đối ổn định Kiềm chế lạm phát phi mã (từ 19,89%) năm
2008, xuống còn khoảng 7%, trong bối cảnh áp dụng nhiều biện pháp kích cầu đầu tư, đã miễn,giảm, giãn hoãn thời gian nộp một số loại thuế, với tổng số khoảng 20.000 tỷ đồng; bảo lãnh1.110 dự án với tổng mức vốn hơn 8.360 tỷ đồng Các mặt hàng xăng dầu, điện, than đượcchuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường theo lộ trình, không gây xáo trộn
Chi an sinh xã hội tăng 62% so với năm 2008; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn khoảng 11%.Tổng số chi cho an sinh xã hội năm 2009 ước khoảng 22.470 tỷ đồng, tăng 62% so với năm
2008 Trợ cấp cứu đói giáp hạt và khắc phục thiên tai hơn 41,5 nghìn tấn gạo Các doanhnghiệp hỗ trợ 62 huyện nghèo trên 1.600 tỷ đồng Tổng dư nợ của 18 chương trình cho vay hộnghèo và các đối tượng chính sách do Ngân hàng Chính sách xã hội thực hiện ước tăng 45,3%
so với năm 2008 Tỷ lệ hộ nghèo giảm đến cuối năm còn khoảng 11%
Thu hút đầu tư nước ngoài và viện trợ chính thức đạt mức cao Chính phủ tăng cườngnội dung hợp tác kinh tế trong các chuyến thăm nước ngoài của lãnh đạo Chính phủ; tập trungđẩy mạnh xúc tiến kinh tế đối ngoại; đàm phán và đưa vào thực hiện Hiệp định khu vực mậudịch tự do (FTA) với một số nước; hoàn thành việc phân giới cắm mốc biên giới trên bộ vớiTrung Quốc, tạo điều kiện rất quan trọng để xây dựng biên giới Việt – Trung hoà bình, hữunghị, hợp tác phát triển bền vững, lâu dài; tổ chức thành công Hội nghị người Việt Nam ở nướcngoài lần thứ nhất; ký kết và đưa vào thực thi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản(VJEPA)
Trang 22Các nhà tài trợ trên thế giới đã cam kết hỗ trợ ODA cho Việt Nam năm 2010 trên 8 tỷUSD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay Thu hút đầu tư nước ngoài đạt hơn 21 tỷ USD
Năm 2009, mặc dù có nhiều khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính và suythoái kinh tế nhưng thương mại của Việt Nam với các nước vẫn đạt khoảng 130 tỷ USD ViệtNam cũng có 457 dự án đầu tư đang thực hiện ở 50 nước và vùng lãnh thổ, với số vốn khoảng7,2 tỷ USD ; đặc biệt hợp tác đầu tư với Lào, Campuchia, LB Nga ngày càng đi vào chiều sâu,hiệu quả, thiết thực
Việc thực hiện một cách linh hoạt và đồng bộ các chính sách tài khóa và các chínhsách vĩ mô khác đã giúp nền kinh tế Việt Nam vượt qua khủng hoảng và tốc độ tăng trưởngkinh tế năm 2009 đạt 5,3%, là 1/12 nước có GDP tăng trưởng dương của thế giới và là nướctăng trưởng cao nhất trong khu vực Đông Nam Á Theo IMF (công bố tháng 10/2009): Năm
2009 Indonesia: 4,0%; Malaysia: - 3,6%; Philippines: 1%; Thailand: -3,5%; Việt Nam: 4,6%
tỷ lệ lạm phát đã giảm còn 6,88% (từ 23% năm 2008), thị trường chứng khoán và các hoạtđộng dịch vụ tài chính, ngân hàng được phục hồi từng bước
Năm 2010, kinh tế nước ta đã khắc phục được đà suy thoái nhưng vẫn tiềm ẩn nhiềuyếu tố gây bất ổn vĩ mô Yếu tố bất ổn dễ nhận thấy nhất là nguy cơ lạm phát cao quay trở lại
do độ trễ của lượng cung tiền khá lớn được Nhà nước bơm vào thị trường trong các năm 2008
-2009 để thực hiện các giải pháp phục hồi tăng trưởng kinh tế Tiếp đến là nguy cơ thâm hụt cáncân thanh toán, mà một trong những nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng nhập siêu Trongnăm 2008, quy mô nhập siêu của nước ta lên tới 17,5 tỉ USD, và năm 2009 nhập siêu khoảng
12 tỉ USD Cùng với nguy cơ tái lạm phát cao, nếu tỷ lệ nhập siêu tiếp tục tăng cao trong nămnay sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát kép, tức là vừa lạm phát trong nước, vừa nhập khẩu lạmphát Một rủi ro tiềm ẩn khác trong chính sách tiền tệ là tính thanh khoản của các ngân hàngthương mại tại thời điểm này đang được cho là có vấn đề, do các ngân hàng thương mại có thểchạy đua nâng cao lãi suất để huy động vốn
Vì vậy, thời gian sau đó Chính phủ đã thực hiện 6 nhóm giải pháp đồng bộ cùng vớigói kích cầu thứ hai để nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó, tập trung vốn đầu tư cho phát triểncác dự án, công trình có hiệu quả, có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng sớm trong năm
Trang 232010 - 2011, thay vì mở rộng đầu tư trong bối cảnh khan hiếm vốn, tỷ lệ vốn đầu tư trên GDPcao và hệ số ICOR cao Để thực hiện tốt các mục tiêu này, cần chọn lọc hơn khi triển khai góikích thích kinh tế bổ sung, chỉ ưu tiên hỗ trợ những ngành, lĩnh vực trực tiếp sản xuất tiêu thụtrong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Ngoài ra, gói kích thích kinh tế bổ sung đặt trọng tâm vàochính sách tài khóa (chính sách thuế, tài chính, ngân sách ) và cải cách hành chính nhằm làmcho chính sách dễ đi vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.4 Đánh giá tác động của chính sách tài khóa đối với nền kinh tế nước ta
Một trong các phương pháp để đánh giá trạng thái tài khóa hiện được nhiều nhà kinh
tế và Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) sử dụng là đo lường xung lực tài khóa đối với sản lượng/GDPtrong một khoảng thời gian nhất định Một sự đo lường dương (hay âm) của xung lực tài khóa
sẽ hàm ý trạng thái tài khóa mở rộng (thu hẹp) hơn so với năm trước
Kết quả đo lường cho thấy, từ năm 1994 đến nay, trạng thái tài khóa Việt Nam liên tụcđược mở rộng, đặc biệt kể từ sau năm 2000 Nếu như giai đoạn 1994 - 2000, xung lực tài khóa
ở mức bình quân 3%, thì từ năm 2001 đến nay xung lực tài khóa bình quân là 5%
Tuy nhiên, tình trạng tài khóa phản ứng không phù hợp với trạng thái chu kỳ kinh tế.Nền kinh tế có dấu hiệu suy thoái vào cuối năm 1997, nhưng tài khóa lại thắt chặt Cụ thể, năm
1999 tăng trưởng ở mức dưới tiềm năng, thì trạng thái tài khóa chỉ thay đổi ở mức 1% GDP.Đến những năm 2000 - 2002, nền kinh tế chỉ mới đang trên đà phục hồi (vẫn còn ở mức thấphơn tiềm năng), thì trạng thái tài khóa liên tục kiềm chế ở mức 3% GDP Bắt đầu từ năm 2005,nền kinh tế tăng trưởng nhanh (trên mức tiềm năng), thì trạng thái tài khóa lại liên tục mở rộng
ở mức rất cao từ 4% đến 6% GDP Kết quả, trong 3 năm từ năm 2005 đến năm 2007, lượngtiền trong lưu thông tăng tới 135%, trong khi tăng trưởng GDP của Việt Nam chỉ ở mức 27%.Điều này có nghĩa, Nhà nước đã phát hành thêm một lượng tiền lớn hơn gấp nhiều lần trị giácủa cải mà xã hội làm ra được trong 3 năm trên
Giai đoạn 2005 - 2007, hệ số ICOR của Việt Nam tăng rất cao (>5), cho thấy khả nănghấp thụ vốn đầu tư cho tăng trưởng rất thấp Nghĩa là, tổng cầu đầu tư càng cao do kích thíchtài khóa, cuối cùng chỉ cho thấy giá cả càng cao chứ không làm gia tăng sản lượng Tình trạngđiều hành chính sách tài khóa Việt Nam đúng như nhận định của IMF: “ trong các nền kinh