1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vấn đề nâng cao trình độ nhận thức về hàng hoá tuyển mộ, khuyến khích vật chất và tinh thần và kỷ luật người lao động

75 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 334 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trên góc độ này mà xem xét thì sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế hiện nay là một tất yếu khách quan Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường việc xác định và phân tích hiệu quả kinh doanh đã không còn là điều mới mẻ đối với các Doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam Bởi hiệu quả kinh doanh cho ta biết việc sử dụng có hợp lý hay không các nguồn lực, đánh giá sự phát triển hay nguy cơ phá sản của doanh nghiệp Mục đích của đề tài là áp dụng các lý thuyết đã được trang bị để thực tập và giải quyết, Công ty TNHH Minh Quân được lấy làm cơ sở cho việc phân tích Kết quả của việc phân tích là dùa trên thực trạng của Công ty TNHH Minh Quân để đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh các mặt hàng chủ lực

Nội dung đề tài được chia làm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh và quy luật giá trị là cơ

sở lý lụân của hiệu quả kinh doanh

Chương II: Thực trạng hiệu quả kinh doanh các mặt hàng chủ lực tại Công ty TNHH CNP Minh Quân

Chương III: Biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh các mặt hàng chủ lực tại Công ty TNHH CNP Minh Quân

Bài viết khó tránh khỏi những đánh giá chưa sát thực hoặc phiến diện

do chưa đủ kiến thức và kinh nghiệm Tuy nhiên những vấn đề được nêu và đánh giá trên tinh thần của nguyên tắc khách quan căn cứ vào thực tiễn để tìm nguyên nhân và đưa ra biện pháp

Em xin đặc biệt cảm ơn thầy giáo Đặng Đình Đào vì đã hết sức tận tình giúp em thực hiện đề tài trong việc đưa ra những chỉ dẫn về phương pháp

và kinh nghiệm Xin chân thành cảm ơn các cô chú trong Công ty đã nhiệt tình cung cấp các số liệu và trả lời những vướng mắc trong thời gian thực tập

Trang 2

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG A

I QUAN NIỆM VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ LÀ

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HIỆU QUẢ KINH DOANH

s1 Hiệu quả kinh doanh

1.1 Khái niệm

Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dùa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ Cụ thể ra hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn ) nhằm đạt được các mục tiêu đã xác định tức là tối đa hoá lợi nhuận và tối thiểu hoá chi phí

1.2 Bản chất của hiệu quả kinh doanh

Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế Chính việc khan hiếm các nguồn lực và sử dụng chúng có tính chất cạnh tranh nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để các nguồn lực Để đạt được các mục tiêu kinh doanh, các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực hiện có của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm chi phí

Trang 3

Vì vậy, yêu cầu của việc nâng cao hiệi quả sản xuất kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu Chi phí ở đây hiểu theo nghĩa rộng là chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội Chi phí cơ hội là giá trị của việc lùa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là giá trị của việc hy sinh công việc kinh doanh khác để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh này Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán để thấy rõ lợi Ých kinh tế thật sự Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lùa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.

1.3 Những quan điểm về hiệu quả kinh doanh

- Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem xét Nếu hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Trên góc

độ này mà xem xét thì phạm trù hiệu quả có thể đồng nhất với phạm trù lợi nhuận Hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý trong doanh nghiệp

- Nếu đứng trên từng yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả là thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất kinh doanh

- Còng giống như một số chỉ tiêu khác, hiệu quả là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất, đồng thời là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hoá Sản xuất hàng hoá có phát triển hay không là nhờ đạt được hiệu quả cao hay thấp Biểu hiện của hiệu quả là lợi Ých mà thước đo cơ bản của lợi Ých là tiền tệ Vấn đề

cơ bản trong lĩnh vực quản lý là phải biết kết hợp hài hoà giữa lợi Ých trước

Trang 4

mắt và lợi Ých lâu dài, giữa lợi Ých trung ương và địa phương, giữa lợi Ých

cá nhân, lợi Ých tập thể và lợi Ých nhà nước

- Hiệu quả kinh doanh vừa là một phạm trù cụ thể vừa là phạm trù trừu tượng Nếu là phạm trù cụ thể thì trong công tác quản lý phải định lượng thành các con số, chỉ tiêu để tính toán so sánh; nếu là phạm trù trừu tượng phải định tính thành mức độ quan trọng hoặc vai trò của nó trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Có thể nói rằng phạm trù hiệu quả là kiến thức thường trực của mọi cán bộ quản lý, được ứng dụng rộng rãi vào mọi khâu, mọi bộ phận trong quá trình sản xuất kinh doanh

Trên các nội vừa phân tích, ta có thể chia hiệu quả làm hai loại:

- Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố riêng lẻ thì có phạm trù hiệu quả kinh tế hoặc hiệu quả kinh doanh

- Nếu đứng trên phạm vi xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem xét thì

có hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội

Cả hai loại hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh

tế xã hội của đất nước Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chỉ có doanh nghiệp nhà nước mới có điều kiện thực hiện được hai loại hiệu quả trên, còn các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác chỉ chạy theo hiệu quả kinh tế Đứng trên góc độ này mà xem xét thì sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế hiện nay là một tất yếu khách quan

Trong thực tế hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp đạt được trong các trường hợp sau:

- Kết quả tăng, chi phí giảm

- Kết quả tăng, chi phí tăng, nhưng tốc độ tăng của chi phí chậm hơn tốc

độ tăng của kết quả sản xuất kinh doanh Trường hợp thứ hai diễn ra chậm hơn và trong sản xuất kinh doanh có lúc chúng ta phải chấp nhận: thời gian đầu tốc độ tăng của chi phí lớn hơn tố độ tăng của kết quả sản xuất kinh

Trang 5

doanh, nếu không thì doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển được.Trường hợp này diễn ra vào thời điểm khi chóng ta đổi mới công nghệ, đổi mới mặt hàng hoặc phát triển thị trường mới Đây chính là bài toán cân nhắc giữa kết hợp lợi Ých trước mắt và lợi Ých lâu dài

Thông thường thì mục tiêu tồn tại của doanh nghiệp trong điều kiện tối thiểu nhất là các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải tạo ra thu nhập về tiêu thụ hàng hoá, cung cấp dịch vụ, đủ bù đắp chi phí bỏ ra sản xuất hàng hoá và dịch vụ Êy Còn mục tiêu phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi quá trình sản xuất kinh doanh vừa đảm bảo bù đắp chi phí bỏ ra vừa có tích luỹ để tiếp tục quá trình tái sản xuất mở rộng Sự phát triển tất yếu đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất Đây là mục tiêu cơ bản cuả doanh nghiệp

1.4.Mục tiêu của hiệu quả kinh doanh

Về kinh tế: các doanh nghiệp thực hiện tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh muốn tồn tại và phát triển phải đảm bảo mang lại hiệu quả kinh tế nhất định Hay nói cách khác là hoạt động có lợi nhuận và lợi nhuận ngày càng cao, Ýt nhất là thu nhập đủ bù đắp chi phí bỏ ra Nếu một doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả trong thời gian ngắn với lý do đặc biệt nào đó thì có thể chấp nhận được, ngược lại sẽ dẫn đến tình trạng đình trệ và phá sản Vì vậy bảo đảm và nâng cao hiệu quả hoạt động nhằm mục đích duy trì, mở rộng sản xuất, phát triển doanh nghiệp ngày một lớn mạnh không ngừng

Về xã hội: các doanh nghiệp hoạt động làm sao cho ngày càng thoả mãn nhu cầu và quyền lợi của mọi thành viên trong doanh nghiệp như thu nhập, việc làm và không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần Bảo vệ, duy trì, phát triển quyền lợi của các bạn hàng cũng như người tiêu dùng Thực hiện công tác từ thiện, an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên của đất nước

Trang 6

Về chính trị: đối với các doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả thì ngoài khoản nép ngân sách còn củng cố, tăng cường vai trò kinh tế của Nhà nước Nhà nước có đủ sức mạnh để điều tiết nền kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.

Như vậy, để đạt được các mục tiêu trên, doanh nghiệp phải bảo đảm và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh

1.5.ý nghĩa của hiệu quả hoạt động kinh doanh

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt góp phần thúc đẩy sự tiến

bộ của các doanh nghiệp cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Tuy nhiên để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dùng cho mình một phương thức hoạt động riêng, hoạch định chiến lược, phương án kinh doanh một cách phù hợp và có hiệu quả Cụ thể là doanh nghiệp phải xác định cho mình một cơ chế hoạt động trên cả hai thị trường đầu vào và đầu ra để tạo được một kết quả cao nhất và kết quả này phải không ngừng phát triển nâng cao cả về mặt chất và mặt lượng

Như vậy trong cơ chế thị trường việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó được thể hiện thông qua:

Trước hết ta xem xét ý nghĩa kinh tế xã hội của hiệu quả sản xuất kinh doanh trong phạm vi doanh nghiệp (tầm vi mô)

Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở đảm bảo tồn tại và phát triển cho doanh nghiệp Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự

có mặt của doanh nghiệp trên thị trường mà hiệu quả kinh doanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại này, vì khi hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt có nghĩa là hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả Điều đó cũng đồng nghĩa với tăng lợi nhuận Nó giúp doanh nghiệp tái đầu tư, mở rộng quy

mô sản xuất, thay đổi dây chuyền công nghệ, trang thiết bị, có điều kiện đào

Trang 7

tạo cán bộ quản lý và công nhân viên trong doanh nghiệp thích ứng với đòi hỏi của cơ chế mới, đời sống của cán bộ công nhân viên được nâng cao Hơn nữa nó giải quyết được một khối lượng công ăn việc làm cho chính lao động trong doanh nghiệp và cho xã hội.

Qua phân tích ta thấy rằng việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay Do yêu cầu của sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập phải không ngừng tăng lên Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh Như vậy hiệu quả kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là về mặt hàng mà về chất lượng, giá cả và các yếu tố khác Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố làm cho các doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể các doanh nghiệp không thể trụ vững trên thị trường Để đạt được mục tiêu trên thì doanh nghiệp phải có hàng hoá, dịch vụ chất lượng tốt, giá cả hợp lý Mặt khác hiệu quả kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, chất lượng không ngừng được cải thiện, nâng cao

Trang 8

Thứ ba, việc bảo đảm và nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là nhân tố

cơ bản tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp Muốn thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình Chính sự nâng cao hiệu quả kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp

Hiệu quả sản xuất kinh doanh còn có ý nghĩa quan trọng hơn nữa khi ta nhìn nhận nó ở giác độ toàn xã hội-tức ở tầm vĩ mô

Thực tế ngân sách của nhà nước chủ yếu từ việc thu thuế của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế Vì vậy khi nền kinh tế hoạt động không có hiệu quả (các doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả) cũng có nghĩa là ngân sách không thu đủ theo kế hoạch Điều này làm cho việc giải quyết những mục tiêu, kế hoạch mà nhà nước cần thực hiện cho xã hội trở nên khó khăn, thậm chí không thực hiện được

Ngược lại, khi nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì ý nghĩa của nó được thể hiện một cách cụ thể qua các kết quả thực hiện các mục tiêu nhất định của xã hội: giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế giảm số người thất nghiệp và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho người dân, đảm bảo mức sống hợp lý cho người lao động trên cơ

sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, bảo vệ sức khoẻ người lao động

và vệ sinh môi trường Trong trường hợp đó hiệu quả sản xuất kinh doanh thực sự là nhân tố cơ bản làm cho đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh

2 Quy luật giá trị - cơ sở lý luận của hiệu quả kinh doanh

Quy luật giá trị là quy luật căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hoá Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị

2.1 Nội dung của quy luật giá trị

Trang 9

Theo quy luật giá trị, sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dùa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Trong kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất

tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hoá không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất hàng hoá, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, muốn bán được hàng hoá, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được

Trao đổi hàng hoá cũng phải dùa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá

Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị Hàng hoá nào nhiều giá trị thì giá của nó sẽ cao và ngược lại Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trường tách rời giá trị và lên xuống xoay quoanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trường của hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó chính

là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng

2.2 Tác dụng của quy luật giá trị

a Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá

Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế Tác dụng của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xo vào ngành

Êy Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành Êy

Trang 10

tăng lên Ngược lại, khi cung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hoá sẽ giảm xuống, hàng hoá bán không chạy và có thể lỗ vốn Tình hình Êy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đàu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao.

Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường Sự biến động cảu giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hót luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt

Như vậy, sự biến động của giá cả trên thị trường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết kinh tế hàng hoá

b Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng xuất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh

Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động

xã hội của hàng hoá ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản,

họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng háo phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ

c Thực hiện sự lùa chọn tự nhiên và phân hoá người trong sản xuất hàng hoá thành kẻ giàu người nghèo

Trang 11

Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi, làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn tới phá sản trở thành nghèo khó.

Tác dụng của quy luật giá trị có ý nghĩa: một mặt quy luật giá trị tri phối sự lùa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội

II HỆ THỐNG CHỈ TIÊU CƠ BẢN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC Ở CÁC DOANH NGHIỆP

- Mặt hàng chủ lực có thị trường kinh doanh ổn định:

+ Thị trường đầu vào: nguồn hàng chính có khả năng cung cấp thường xuyên, liên tục và có tính ổn định về mặt chất lượng

+ Thị trường đầu ra: lượng khách hàng ổn định và không có sự biến động hay thay đổi lớn về nhu cầu đối với mặt hàng chủ lực mà doanh nghiệp đang kinh doanh

2 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả

2.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế-xã hội

Trang 12

Các doanh nghiệp ngoài việc hoạt động kinh doanh có hiệu quả nhằm tồn tại và phát triển còn phải đạt hiệu quả về mặt kinh tế-xã hội Nhóm chỉ tiêu xét về mặt hiệu quả kinh tế xã hội bao gồm các chỉ tiêu sau:

-Tăng thu ngân sách: mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải có nhiệm vụ nép cho ngân sách nhà nước dưới hình thức các loại thuế như thuế GTGT, thuế lợi tức, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Nhà nước sử dụng những khoản thu này đầu tư phát triển nền kinh tế quốc dân, lĩnh vực phi sản xuất, xây dựng các công trình công cộng, góp phần phân phối lại thu nhập quốc dân

-Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động: để tạo ra nhiều công

ăn việc làm cho người lao động và nhanh chóng thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tìm tòi đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm

và kinh doanh tổng hợp

-Nâng cao đời sống người lao động: xét trên phương diện kinh tế, việc nâng cao mức sống của người dân được thể hiện qua các chỉ tiêu như gia tăng thu nhập bình quân trên đầu người, gia tăng đầu tư xã hội, mức tăng trưởng phóc lợi xã hội

-Tái phân phối lợi tức xã hội: sự phát triển không đồng đều về mặt kinh

tế xã hội giữa các vùng, các lãnh thổ trong nước yêu cầu phải có sự phân phối lợi tức xã hội nhằm giảm sự chênh lệch về mặt kinh tế giữa các vùng

Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện nay, hiệu quả kinh tế xã hội còn thể hiện qua chỉ tiêu: bảo vệ nguồn lợi môi trường, hạn chế gây ô nhiễm môi trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.2 Chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh

a Hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả tổng hợp:

Trang 13

- Mức doanh lợi của vốn cố định:

Lợi nhuận hoặc lãi thực hiện

Mức sinh lợi của vốn cố định = Vốn cố định bình quân

-Chỉ tiêu này phản ánh số tiền lãi hoặc số thu nhập thuần túy trên một đồng tiền vốn cố định hoặc số vốn cố định cần thiết để tạo ra một đồng lợi nhuận hoặc lãi thực hiện Chỉ tiêu này có thể so sánh với thời kỳ trước hoặc kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định Thường được sử dụng để phản ánh hiệu quả kinh tế tổng hợp nhất của vốn cố định

- Mức doanh lợi của vốn lưu động:

Lợi nhuận hoặc lãi thực hiện

Mức sinh lợi của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quânMức doanh lợi của vốn lưu động biểu thụ mỗi đơn vị vốn lưu động bỏ vào kinh doanh mang lại bao nhiêu lợi nhuận

- Sè vòng quay của vốn lưu động:

Trang 14

vốn lưu động hoặc số ngày của một kỳ luân chuyển vốn lưu động của doanh nghiệp.

365 ngày

Số ngày của một lần luân chuyển =

Sè vòng quay của vốn lưu độngTốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Mức doanh lợi của vốn lưu động:

Lợi nhuận hoặc lãi thực hiện

Mức doanh lợi của vốn lưu động = Vốn lưu động bình quânMức doanh lợi của vốn lưu động biểu thị mỗi đơn vị vốn lưu động bỏ vào kinh doanh mang lại bao nhiêu lợi nhuận

- Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:

- Mức sinh lợi của một đơn vị chi phí:

Lợi nhuận hoặc lãi thực hiệnMức sinh lợi của một đơn vị chi phí = - Chi phí

Mức sinh lợi của một đơn vị chi phí biểu thị mức lợi nhuận thu được khi một đồng chi phí được bỏ ra

b Hiệu quả sử dụng lao động

- Doanh thu bình quân một lao động:

Trang 15

Doanh thu trong kỳ

Doanh thu bình quân một lao động =

Lao động trong kỳ

Chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể làm bao nhiêu đồng doanh thu trong mét kú

- Mức sinh lợi của một lao động:

Lợi nhuận hay lãi thực hiện

Mức sinh lợi của một lao động =

1 Các nhân tố khách quan

Là các nhân tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được nó tác động liên tục đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau, vừa tạo ra cơ hội vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải thường xuyên nắm bắt được các nhân tố này, xu hướngvận động và sự tác động của các nhân tố đó lên toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 16

Các nhân tố khách quan bao gồm các yếu tố chính trị, luật pháp, văn hoá, xã hội, công nghệ, kỹ thuật, kinh tế, điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng và quan hệ kinh tế, đây là những yếu tố mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được đồng thời nó có tác động chung đến tất cả các doanh nghiệp trên thị trường Nghiên cứu những yếu tố này doanh nghiệp không nhằm để điều khiển nó theo ý kiến của mình mà tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó.

-Yếu tè chính trị và luật pháp:

Các yếu tố thuộc môi trường chính trị và luật pháp tác động mạnh đến việc hình thành và khai thác cơ hội kinh doanh và thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp ổn định chính trị là tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh, thay đổi về chính trị có thể gây ảnh hưởng có lợi cho nhóm doanh nghiệp này hoặc kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp khác Hệ thống pháp luật hoàn thiện và sự nghiêm minh trong thực thi pháp luật sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, tránh tình trạng gian lận, buôn lậu

Mức độ ổn định về chính trị và luật pháp của một quốc gia cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá được mức độ rủi ro, của môi trường kinh doanh

và ảnh hưởng của của nó đến doanh nghiệp như thế nào, nghiên cứu các yếu

tố chính trị và luật pháp là yêu cầu không thể thiếu được khi doanh nghiệp tham gia vào thị trường

Khi nghiên cứu các yếu tố chính rị luật pháp doanh nghiệp cần lưu ý :+ Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xã hội

+ Chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quan điểm, mục tiêu của chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ

+ Mức độ ổn định chính trị -xã hội

Trang 17

+ Hệ thống pháp luật với mức độ hoàn thiện của nó và hiệu lực thực hiện luật pháp trong đời sống kinh tế xã hội

+ Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát ảnh hưởng đến thu nhập, tích luỹ, tiêu dùng, kích thích hoặc kìm hãm đầu tư

+Sù thay đổi về cơ cấu kinh tế ảnh hưởng dến vị trí vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế kéo theo sù thay đổi chiều hướng phát triển của doanh nghiệp

+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Thể hiện xu hướng phát triển chung của nền kinh tế liên quan đến khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô kinh doanh của mỗi doanh nghiệp

+ Tiềm năng cuả nền kinh tế phản ánh các nguồn lực mà doanh nghiệp

có thể huy động và chất lượng của nó như tài nguyên, con người, vị trí địa lí

- Các yếu tố văn hoá xã hội:

Luôn bao quanh doanh nghiệp và khách hàng, có ảnh hưởng lớn tới khách hàng cũng như hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là yếu tố hình thành tâm lí, thị hiếu của người tiêu dùng và đặc điểm thị trường kinh doanh của doanh nghiệp Thông qua yếu tố này cho phép các doanh nghiệp hiểu biết

ở mức độ khác nhau về đối tượng phục vụ qua đó lưạ chọn các phương thức kinh doanh cho phù hợp

Trang 18

+ Thu nhập có ảnh hưởng đến sự lùa chọn loại sản phẩm và chất lượng đáp ứng

+ Nghề nghiệp tầng líp xã hội tác động đến quan điểm và cách thức ứng xử trên thị trường

+ Các yếu tố về dân téc, nền văn hoá phản ánh quan điểm và cách thức

sử dụng sản phẩm, điều đó vừa yêu cầu đáp ứng tình riêng biệt vừa tạo cơ hội

đa dạng hoá khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp

+ Dân số: ảnh hưởng đến dung lượng thị trường, thông thường dân số càng đông thì quy mô thị trường càng lớn, nhu cầu về sản phẩm hàng hoá lớn, doanh nghiệp có nhiều cơ hội kinh doanh hơn

-Yếu tố kỹ thuật công nghệ:

Phản ánh yêu cầu đổi mới công nghệ trong thiết bị khả năng sản xuất sản phẩm với chất lượng khác nhau, Năng suất lao động và khả năng cạnh tranh, Yếu tố công nghệ làm cơ sở cho việc tạo ra các sản phẩm mới, tác động vào tiêu thức tiêu thụ và hệ thống bán hàng của doanh nghiệp, yếu tố công nghệ, kỹ thuật còn tác động đến cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân Yếu tố công nghệ công nghiệp phát triển nó ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong công nghiệp làm tăng năng suất lao động ,giảm hao hụt ,tận dụng được phụ phẩm giúp hạ giá thành sản phẩm

-Điều kiện tự nhiên và cơ sở ha tầng:

Các yếu tố điều kiện tự nhiên như khí hậu, thời tiết ảnh hưởng đến chu

kỳ sản xuất kinh doanh trong khu vực, hoặc ảnh hưởng đến hoạt động dự trữ, bảo quản hàng hoá Đối với cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các điều kiện phục vụ cho sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác

cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế, mặt khác nó cũng có thể gây hạn chế khả năng đầu tư, phát triển kinh doanh đặc biệt với doanh nghiệp thương mại trong quá trình vận chuyển, bảo quản, phân phối

Trang 19

-Yếu tố khách hàng:

Khách hàng là những người có nhu cầu và khả năng thanh toán về hàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh Khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Khách hàng có nhu cầu rất phong phú và khác nhau tuỳ theo từng lứa tuổi, giới tính mức thu nhập, tập quán Mỗi nhóm khách hàng có một đặc trưng riêng phản ánh quá trình mua sắm của họ Do đó doanh nghiệp phải có chính sách đáp ứng nhu cầu từng nhóm cho phù hợp

- Đối thủ canh tranh:

Bao gồm các nhà sản xuất, kinh doanh cùng sản phẩm của doanh nghiệp hoặc kinh doanh sản phẩm có khả năng thay thế Đối thủ canh tranh có ảnh hưởng lớn đến doanh nghiệp, doanh nghiệp có cạnh tranh được thì mới có khả năng tồn tại ngược lại sẽ bị đẩy lùi ra khỏi thị trường, Cạnh tranh giúp doanh nghiệp có thể nâng cao hoạt động của mình phục vụ khách hàng tốt hơn, nâng cao được tính năng động nhưng luôn trong tình trạng bị đẩy lùi

- Người cung ứng:

Đó là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước mà cung cấp hàng hoá cho doanh nghiệp, người cung ứng ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh cuả doanh nghiệp không phải nhỏ, điều đó thể hiện trong việc thực hiện hợp đồng cung ứng, độ tin cậy về chất lượng hàng hoá, giá cả, thời gian, điạ điểm theo yêu cầu

2.Các yếu tố chủ quan

Là toàn bộ các yếu tố thuộc tiềm lực của doanh nghiệp mà doanh nghiệp có thể kiểm soát ở mức độ nào đó và sử dụng để khai thác các cơ hội kinh doanh Tiềm năng phản ánh thực lực cuả doanh nghiệp trên thị trường,

Trang 20

đánh giá đúng tiềm năng cho phép doanh nghiệp xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh đúng đắn đồng thời tận dụng được các cơ hội kinh doanh mang lại hiệu quả cao

Các yếu tố thuộc tiềm năng của doanh nghiệp bao gồm : Sức mạnh về tài chính, tiềm năng về con người, tài sản vô hình, trình độ tổ chức quản lí, trình độ trang thiết bị công nghệ, cơ sở hạ tầng, sự đúng đắn của các mục tiêu kinh doanh và khả năng kiểm soát trong quá trình thực hiện mục tiêu

+ Sức mạnh về tài chính thể hiện trên tổng nguồn vốn (bao gồm vốn chủ

sở hữu, vốn huy động) mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng quản lí có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh Sức mạnh tài chính thể hiện ở khả năng trả nợ ngắn hạn, dài hạn, các tỉ lệ về khả năng sinh lời của doanh nghiệp

+ Tiềm năng về con người: Thể hiện ở kiến thức, kinh nghiệm có khả năng đáp ứng cao yêu cầu của doanh nghiệp, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đội ngò cán bộ của doanh nghiệp trung thành luôn hướng về doanh nghiệp có khả năng chuyên môn hoá cao, lao động giỏi có khả năng đoàn kết, năng động biết tận dụng và khai thác các cơ hội kinh doanh

+ Tiềm lực vô hình: Là các yếu tố tạo nên thế lực của doanh nghiệp trên thị trường, tiềm lực vô hình thể hiện ở khả năng ảnh hưởng đến sự lùa chọn, chấp nhận và ra quyết định mua hàng của khách hàng Trong mối quan hệ thương mại yếu tố tiềm lực vô hình đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác mua hàng, tạo nguồn cũng như khả năng cạnh tranh thu hót khách hàng, mở rộng thị trường kinh doanh Tiềm lực vô hình của doanh nghiệp có thể là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thị trường hay mức độ nổi tiếng cuả nhãn hiệu, hay khả năng giao tiếp và uy tín của người lãnh đạo trong các mối quan

hệ xã hội

Trang 21

+ Vị trí địa lí, cơ sở vật chất của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp thu hót sự chú ý cuả khách hàng, thuận tiện cho cung cấp thu mua hay thực hiện các hoạt động dự trữ Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp thể hiện nguồn tài sản cố đinh mà doanh nghiệp huy động vào kinh doanh bao gồm văn phòng nhà xưởng, các thiết bị chuyên dùng Điều đó thể hiện thế mạnh cho doanh nghiệp, quy mô kinh doanh cũng như lợi thế trong kinh doanh

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC TẠI CÔNG TY TNHH CNP MINH QUÂN

I ĐẶC ĐIỂM SẢN XUẤT KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC HIỆN NAY Ở CÔNG TY TNHH CNP MINH QUÂN

1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty TNHH Minh Quân được thành lập và hoạt động theo :

- Theo quyết định số 29 ngày 29 tháng 01 năm 2001 của Sở kế hoạch đầu tư Hà Nội

Trang 22

- Trô sở chính: Số 88 Phố Hoàng Văn Thái – Quận Thanh Xuân – Hà Nội

Từ khi thành lập đến nay Công ty đã không đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu thị trường để tạo được chỗ đứng trên thị trường

Ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH Minh Quân:

Công ty TNHH Công nghệ phẩm Minh Quân kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vô , buôn bán các loại sản phẩm như sữa, bia, bánh kẹo

Mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty TNHH Công nghệ phẩm Minh Quân đó là:

- Các loại sữa và sản phẩm từ sữa của Vinamilk: sữa chua, sữa tươi, sữa đặc, sữa bột…

- Các loại bia: bia Carlsberg, bia Hà Nội, bia Halida, bia Sanmiguel

Cơ cấu tổ chức bộ máy Công ty gồm có:

Thứ nhất: Ban giám đốc bao gồm: Một giám đốc và một Phó giám đốc.

Giám đốc là người lãnh đạo cao nhất trong Công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đảm bảo việc làm thường xuyên cho nghười lao động trong Công ty Giám đốc là người sắp xếp

Trang 23

điều hành quản lí mọi hoat động của Công ty cơ sở pháp luật, quy chế điều hành của nhà nước Trợ giúp cho giám đốc gồm:

Phó giám đốc là người được giám đốc bổ nhiệm và uỷ quyền đảm nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh về mặt đối ngoại của Công ty như:

Ký kết hợp đồng liên doanh liên kết, hợp đồng mua bán vật tư tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà Công ty kinh doanh

Kế toán trưởng được giám đốc giao cho quyền đảm trách toàn bộ công tác tài chính kế toán trong công ty và có vị trí như một phó giám đốc

Thứ hai: Phòng kinh doanh có nhiệm vụ lập các kế hoạch, thực hiện và

quản lí các kế hoạch kinh doanh, tham mưu cho giám đốc trong việc tổ chức

kí kết các hợp đồng kinh tế Tổ chức nghiên cứu thị trường, nắm bắt nhu cầu

dể xây dựng kế hoạch kinh doanh, lùa chọn phương thức kinh doanh phù hợp cho từng thị trường, lùa chọn tìm kiếm nguồn hàng, phục vụ cho hoạt động kinh doanh, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, giữ chữ tín, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh

Thứ 3: Bộ phận tài chính kế toán:

Thực hiện các chức năng về chế độ tài chính, kế toán do nhà nước và các cơ quan có chức năng quy định Xử lí các nghiệp vụ kế toán trong quá trình kinh doanh, quản lí vốn, tham gia xác định giá, quản lí các nguồn thu thuộc phòng kinh doanh và cửa hàng Phản ánh tình hình sử dụng tài sản và nguồn vốn, lập ngân sách và xác định nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty, cũng như xây dựng các kế hoạch sử dụng vốn và huy động vốn cho hoạt động kinh doanh

Thứ 4: Bé phận tổ chức hành chính :

Bộ phận hành chính có nhiệm vụ quản lí và tổ chức những nhiệm vụ quản trị của Công ty như xây dựng mô hình tổ chức, xây dựng các kế hoạch về lao động, chế độ lương thưởng Tham mưu cho giám đốc trong việc xét bậc

Trang 24

lương thưởng cho cán bộ công nhân viên của Công ty, sắp xếp bố trí lao động, giải quyết các chế độ chính sách cho người lao động Soạn thảo các công văn, quyết định, quy định của Công ty, quản lí hành chính, văn thư lưu trữ, đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động kinh doanh của Công ty.

Thứ 5: Cửa hàng kinh doanh:

Cửa hàng số 1: Chuyên cung cấp hàng hoá của Công ty cho khu vực Quận Thanh Xuân, Đống Đa, Cầu Giấy

Cửa hàng số 2: Chuyên cung cấp hàng hoá của Công ty cho khu vực Quận Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng

Hai cửa hàng có chức năng giới thệu sản phẩm, bán buôn, bán lẻ các loại hàng hoá của Công ty phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng thông qua

đó nắm bắt thị hiếu, nhu cầu, mức tiêu dùng của khách hàng

Thứ 6: Bé phận kho :

- Thực hiện chức năng tiếp nhận hàng vào kho tổ chức bảo quản hàng hoá trong kho đảm bảo chất lượng giảm chi phí, hao hụt, mất mát, hư háng hàng hoá

- Tổ chức dự trữ hàng hoá để duy trì hoạt động kinh doanh đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách kip thời, đồng bộ

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY

Phßng tæ chøc hµnh chÝnh

Trang 25

2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh tại công ty

2.1 Mặt hàng kinh doanh

Cũng như các doanh nghiệp kinh doanh thương mại khác Để có thể tồn tại trên thị trường doanh nghiệp phải không ngừng đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Nắm bắt được thị hiếu tiêu dùng của khách hàng công ty đã lùa chọn cung cấp 3 nhóm sản phẩm sau:

- Sữa và các sản phẩm từ sữa: đối với dòng sản phẩm này Minh Quân

đã quyết định chọn mặt hàng sữa của công ty Vinamilk để cung cấp ra thị trường

Sữa và các sản phẩm từ sữa là nguồn bổ sung vitamin tốt cung cấp cho nhu cầu phát triển của cơ thể con người từ khi trong bụng mẹ cho tới lúc về già Sữa giúp bổ xung canxi tăng chiều cao cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể, bồi hoàn nhanh phần sức lực bị tiêu hao trong công việc Đây là những thông tin đã được y học chứng minh và được các tạp chí về sức khoẻ cũng như các phương tiện đại thông tin đại chúng cung cấp Vì vậy, đây là dòng sản phẩm

mà người tiêu dùng rất am hiểu trong việc lùa chọn tiêu dùng Nên khi kinh

Trang 26

doanh dòng sản phẩm này công ty có một lợi thế là không cần phải giới thiệu nhiều về công dụng của dòng sản phẩm này Điều quan trọng ở đây là công ty phải lùa chọn sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng trong thị trường tiêu thụ của mình

Vinamilk là một công ty chuyên sản xuất sữa hàng đầu tại Việt Nam Vinamilk có các dòng sản phẩm rất phong phú và đa dạng luôn được cải tiến, đổi mới và nâng cao chất lượng nên đã được người tiêu dùng trong nước biết đến và tin dùng

Các sản phẩm từ sữa của Vinamilk mà công ty kinh doanh chiếm khoảng 70%, có thời điểm đạt tới 90% doanh số bán ra bao gồm:

+ Các loại sữa tươi được đóng theo các dạng bao bì khác nhau: dạng bịch fino 200ml, dạng hộp với các kích cỡ: 200ml & 1L Mỗi dạng bao gói lại

có các loại sản phẩm rất đa dạng: sữa tươi có đường, sữa tươi không đường, sữa tươi Ýt béo,sữa tươi dâu, sữa tươi cam… Với các mức giá khác nhau dùa trên từng loại sản phẩm và loại bao bì đóng gói là hộp giấy hay bịch fino

+ Các loại sữa chua Cũng giống như các sản phẩm từ sữa tươi chủng loại sản phẩm sữa chua mà công ty kinh doanh cũng rất đa dạng: sữa chua có đường, không đường, Ýt béo và sữa chua hoa quả đóng theo hộp đạng vỉ với kích cỡ là 110ml, hay dạng hộp với sữa chua uống 110ml Và cũng tuỳ vào mỗi loại sữa chua mà công ty bán ra với các mức giá khác nhau

+ Các loại sữa đặc, sữa đậu nành: sữa đặc ông thọ trắng, ông thọ đỏ, sữa đặc cacao hay sữa ngôi sao phương nam xanh, đỏ và vàng được đóng dưới dạng hộp sắt chống gỉ với kích cỡ 390g/hép Hay ở dạng vỉ 25g Mặt hàng sữa đặc rất phong phú đáp ứng mọi mức độ tiêu dùng từ Ýt đến nhiều… Sữa đậu nành thường đươc đóng dưới dạng bịch fino 200ml, hộp giấy 1L Đây là sản phẩm mới của công ty nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng

Trang 27

của khách hàng Sữa đậu nành rất mát, bổ lại có công dụng chống ung thu nên cũng là sản phẩm rất được ưa chuộng hiện nay nhất là vào dịp hè.

+ Nước Ðp hoa quả cũng có rất nhiều loại: xoài, ổi, đào, táo… được đóng dưới dạng hộp giấy hay dạng chai nhựa với các kích cỡ 200ml cho đến 1L

+ Các loại kem: kem dâu, kem khoai môn, kem đậu xanh… được đóng dưới dạng hộp nhựa 1L và được bán với các mức giá khác nhau tuỳ thuộc vào loại kem mà khách hàng lùa chọn Kem chính là sản phẩm tiêu dùng theo mùa, vào dịp hè kem được tiêu thụ rất mạnh

Tuy các loại sản phẩm về sữa của công ty Vinamilk rất đa dạng nhưng vẫn chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của khách hàng Đặc biệt là đối với dòng sản phẩm sữa Cô Gái Hà Lan hiện nay cũng được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng Rất nhiều người đánh giá rằng chất lượng sữa Cô Gái Hà Lan thơm ngon hơn hẳn so với sữa của Vinamilk Nhưng do giá thành

rẻ hơn nên sữa Vinamilk vẫn được đa số khách hàng lùa chọn tiêu dùng Nhưng do nằm trong kênh phân phối Horeca nên công ty không được kinh doanh thêm bất kỳ một loại sản phẩm về sữa nào khác ngoài các sản phẩm sữa của Vinamilk

- Ngoài các nhóm sản phẩm từ sữa của công ty Vinamilk công ty còn kinh doanh thêm cả một số mặt hàng về đồ uống có cồn và có ga khác như bia, rượu, nước ngọt… Nhưng chủ yếu là các loại bia được công ty đẩy mạnh tiêu thụ hơn cả Bởi loại sản phẩm này ngày càng được tiêu dùng mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam do nó có tính giải khát rất cao lại được nam giới ưa chuộng như một loại đồ uống có cồn nhẹ Các loại bia được công ty kinh doanh được đóng gói dưới dạng chai hoặc lon Bao gồm: Bia Halida, bia Calsberg, bia Hà Nội, bia Heiniken, bia Tiger, bia Sanmiguel…

Trang 28

Ngoài ra công ty còn kinh doanh thêm một số mặt hàng khác nhưng chiếm tỉ trong không nhiều trong tổng số mặt hàng kinh doanh chỉ khoảng 3 - 7%: các loại bánh kẹo, mú ăn liền, cà phê…

Dưới đây là bảng tổng hợp tỷ trọng các mặt hàng kinh doanh tại Minh Quân từ năm 2002 - 2005

Biểu 1: Tỷ trọng các mặt hàng của Công ty trong giai đoạn 2002 - 2005

(Nguồn: phòng kinh doanh)

Dùa vào bảng tỷ trọng sản phẩm kinh doanh tại công ty qua các năm

2002 - 2005, ta thấy các sản phẩm sữa chiếm tỉ trọng cao nhất luôn chiếm > 60% tỉ trọng các mặt hàng kinh doanh tại công ty Nhóm mặt hàng này lại luôn có xu hướng tăng qua các năm, với mức tăng ổn định Do đó, các sản phẩm về sữa được coi là mặt hàng tiêu thụ chính trong công ty

2.2 Nguồn hàng kinh doanh

Như được giới thiệu ở trên, mặt hàng mà công ty kinh doanh nhiều nhất

là các loại sản phẩm từ sữa của công ty Vinamilk, do đó nguồn hàng lớn nhất của công ty cũng chính là nguồn hàng từ công ty Vinamilk Là một doanh nghiệp thương mại chuyên cung cấp hàng hoá bán buôn và bán lẻ trên thị trường Hà nội, cho nên hàng hoá kinh doanh tại công ty phải có một nguồn hàng ổn định, lâu dài Nguồn hàng đó không chỉ ổn định về số lượng, về chất lượng mà phải ổn định cả thị trường tiêu thụ Vinamilk đã được Minh Quân lùa chọn bởi nó đã đáp ứng được tất cả các điều kiện trên, phù hợp với lĩnh

Trang 29

vực hoạt động kinh doanh của công ty Là một công ty đã được thị trường trong nước thừa nhận về thương hiệu về giá cả và về cả chất lượng sản phẩm Vinamilk ngày càng khẳng định hơn vị thế của mình trên thị trường sữa Việt Nam cũng như trên thị trường tài chính về sự phát triển của mình bằng sự gia nhập thị trường chứng khoán năm 2005 Đây là điều kiện thuận lợi để Minh Quân có thể tận dụng làm lợi thế cho hoạt động kinh doanh của mình Kinh doanh dòng sản phẩm đã được khẳng định về thương hiệu là một tấm bằng tốt nhất đảm bảo cho tên tuổi cũng như uy tín của công ty trên thị trường Tuy nhiên, để đạt được lợi thế đó không phải là dễ mà công ty đã phải trải qua một quá trình phấn đấu không ngừng: nâng cao chất lượng phục vụ, đảm bảo chất lượng và số lượng hàng hoá bán ra một cách tốt nhất Chất lượng dịch vụ tốt, lượng hàng bán ra lớn nên công ty đã được Vinamilk chọn vào kênh tiêu thụ Horeca Đây chính là lợi thế mà không phải bất kỳ công ty nào cũng có được

Công ty đại diện cho Vinamilk như một đại lý tiêu thụ đặc biệt Dó đó, hàng hoá nhập từ Vinamilk được ưu đãi về giá nhập, số lượng hàng hoá nhập hơn các đại lý khác Các chương trình khuyến mãi thường xuyên được áp dụng tại công ty với số lượng hàng khuyến mãi lớn… Với hình thức bán buôn

là chính nên lượng hàng được tiêu thụ tại công ty tương đối lớn vì vậy việc xác định lượng hàng nhập, thời gian nhập luôn được công ty chó trong để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng Đặc biệt là trong dịp hè này, nhu cầu của khách hàng đối với các sản phẩm về sữa: sữa tươi, sữa chua sẽ tăng lên

Do đó, đối với các mặt hàng này công ty đã chú trọng tăng lượng hàng nhập

về, đồng thời giảm bớt một số mặt hàng khác tiêu thụ kém vào mùa hè như bia lon, bánh kẹo hay mú ăn liền…, tránh lãng phí diện tích kho hàng, vốn kinh doanh cho những mặt hàng tiêu thụ chậm

Ngoài nguồn hàng chính trên công ty còn có một số nguồn hàng khác về bánh kẹo, rượu bia, nước giải khát và mú ăn liền Tuy số lượng hàng nhập về

Trang 30

đối với các nhóm sản phẩm trên tại công ty không lớn nhưng cũng góp phần tăng doanh thu không nhỏ trong công ty Việc đảm bảo nguồn hàng đối với công ty cũng không kém phần quan trọng Cùng với việc tạo lập kênh tiêu thụ đối với các sản phẩm sữa, công ty cũng có một lượng khách hàng ổn định với những mặt hàng trên Do đó, công ty vẫn không ngừng nâng cao chất lượng nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng.

2.3 Khách hàng

Kênh tiêu thụ Horeca đối với các sản phẩm về sữa đã tạo cho công ty có một điều kiên thuận lợi là có một lượng khách hàng tương đối ổn định Bởi lẽ đây là kênh tiêu thụ đặc biệt mà Vinamilk dành cho Minh Quân Với kênh tiêu thụ đó, công ty tránh được việc cạnh tranh khách hàng với các đại lý nhỏ lẻ có kinh doanh cùng các mặt hàng của Vinamilk

Đối thủ cạnh tranh duy nhất đối với Minh Quân trong kinh doanh các sản phẩm của công ty Vinamilk chính là kênh phân phối truyền thống của nó Nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo chất lượng hàng bán ra là điều kiện tiên quyết trong cạnh tranh đối với nhóm sản phẩm này Tuy nhiên, công ty Vinamilk chỉ chuyên cung cấp các sản phẩm về sữa, trong khi đó Minh Quân còn cung cấp thêm một số mặt hàng khác: bánh kẹo, rượu bia nên đôi khi nó lại chính là lợi thế trong cạnh tranh với kênh phân phối truyền thống của Vimamilk Bởi lẽ, nếu khách hàng muốn tiêu dùng nhiều loại mặt hàng lấy từ các địa chỉ cung cấp khác nhau sẽ dẫn tới việc tăng giá do mỗi nơi đều phải tính cước vận chuyển Nếu chỉ tính một lần cước vận chuyển sẽ giảm đi được

Ýt nhất là một lần cước Nhưng để giữ được khách hàng thì chất lượng dịch

vụ vẫn là điều kiện tiên quyết tạo nên lợi thế cho Minh Quân trong cạnh tranh

Nếu chỉ nói đến các dòng sản phẩm sữa của Vinamilk, Minh Quân rất

có lợi thế trên thị trường Nhưng với nền kinh tế hội nhập hiện nay thị trường Việt Nam có rất nhiều sản phẩm sữa đa dạng của các công ty khác nhau như:

Trang 31

Cô Gái Hà Lan, Elovi…mà đặc biệt là các sản phẩm sữa từ Cô Gái Hà Lan, thị phần của Vinamilk đã bị giảm xuống rất nhiều nên cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Minh Quân.

Trên đây là nhóm khách hàng tiêu thụ dòng sản phẩm chính là sữa của công ty Vinamilk Còn đối với các sản phẩm khác như: bánh kẹo, rượu bia…

do không được ưu đãi như đối với kênh tiêu thụ Horeca của Vinamilk nên việc cạnh tranh tìm kiếm khách hàng trở nên khó khăn hơn Công ty phải cạnh tranh với tất cả các công ty hay đại lý khác có sản xuất, cung cấp các mặt hàng này Việc giữ lượng khách hàng truyền thống gia tăng khách hàng mới cũng hoàn toàn phụ thuộc vào chiến lược giá cả, chất lượng dịch vụ tại công ty

Khách hàng của công ty khá đa dạng và phong phú: cá nhân, tập thể, tổ chức hay là các đại lý Nhưng chủ yếu là nhóm khách hàng trong kênh tiêu thụ

ăn ngay là các khách sạn, nhà hàng, trường học, bệnh viện, quán cà phê…trên toàn bộ thị trường Hà Nội

Nói chung các khách hàng của Công ty hiện nay đều là những khách hàng có quan hệ vững chắc và lâu dài với công ty Trong số khách hàng này

có cả khách hàng trung gian và khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng Nhưng dù là khách hàng trung gian hay người tiêu dùng cuối cùng thì những khách hàng này đến với Công ty qua các hình thức sau:

Khách hàng quen biết qua các thương vụ buôn bán các mặt hàng của công ty

Khách hàng được giới thiệu qua các đại lý

Khách hàng mà công ty tìm đến thông qua sự gặp gỡ ở các cuộc hội chợ

Khách hàng tự tìm đến công ty qua quảng cáo

Hiện nay Công ty đang phát huy mối quan hệ tốt đẹp và thường xuyên

để giữ các khách hàng này mặt khác tích cực tìm kiếm thêm bạn hàng mới

Trang 32

2.4 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Kinh doanh trong kênh tiêu thụ bán buôn là chính nên cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty vẫn chưa được chú trọng đầu tư Hệ thống văn phòng làm việc và cửa hàng kinh doanh đều được thuê theo hợp đồng ngắn hạn từ 1 - 3 năm Do đó, ngoài một số máy tính thiết bị văn phòng phục vụ cho quản lý kinh doanh: máy tính, bàn, ghế… công ty còn trang bị thêm 1 hệ thống kho lạnh nhằm bảo quản sữa Như phần trước đã nói đến, mặt hàng chính mà công

ty đang kinh doanh chủ yếu là sữa Đây là những sản phẩm đòi hỏi phải được đảm bảo ở nhiệt độ thích hợp để giữ nguyên được chất lượng Ngoài ra những mặt hàng khác như rượu, bia, bánh kẹo… đều là những sản phẩm được bao gói và chỉ cần bảo quản ở điều kiện bình thường nên không gây khó khăn trong việc bảo quản chất lượng Nên hệ thống nhà kho đã được cải tạo lại cho thông thoáng chống nấm mốc, côn trùng phá hoại làm hư hại đến chất lượng sản phẩm

Hiện nay, các phương tiện vận chuyển để chuyên chở hàng hoá cho khách hàng vẫn dùa vào đội ngò nhân viên giao hàng với các phương tiện cá nhân của họ là xe máy Do đó, tốc độ vận chuyển hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng xe và mức độ bảo dưỡng xe của từng nhân viên giao hàng Nếu khách hàng lấy với số lượng hàng lớn công ty sẽ phải vận chuyển làm nhiều lần hoặc cần nhiều nhân viên giao hàng hơn

2.5 Nguồn vốn

Mới đi vào hoạt động kinh doanh được hơn 5 năm, quy mô hoạt động vẫn còn nhỏ nên nguồn vốn kinh doanh của công ty vẫn còn rất hạn hẹp Nguồn vốn chủ yếu của công ty là nguồn vốn lưu động Chúng tồn tại chủ yếu

Trang 33

dưới dạng hàng hoá tồn kho và tiền gửi ngân hàng Vì là một công ty thương mại chuyên bán buôn nên tốc độ luân chuyển hàng hoá tương đối lớn Đồng nghĩa với nó là tốc độ luân chuyển của tiền cũng phải tương xứng với tốc độ luân chuyển của hàng hoá Tuy nhiên, hình thức thanh toán sau mua - bán của nước ta vẫn chưa được thuận tiện và nhanh chóng và chủ yếu là thu tiền mặt cho nên nguồn vốn bị chiếm dụng của công ty khá lớn Vì vậy, khi phải nhập hàng nhiều phục vụ cho dịp hàng tiêu thụ mạnh công ty luôn gặp phải vấn đề

về vốn nên cũng thường sử dụng vốn vay ngân hàng Nguồn vốn lưu động còn lại nằm trong quỹ tiền mặt và hàng hoá tồn kho tại công ty Hệ thống nhà cửa được dùng làm văn phòng và cửa hàng của công ty toàn bộ là đi thuê do đó nguồn vốn cố định gần như không có Chủ yếu là hệ thống máy lạnh để bảo quản hàng hoá Tất cả nguồn vốn cố định của công ty chỉ chiếm 10 - 15% tổng nguồn vốn kinh doanh Hàng năm, công ty vẫn trích khoản lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh để bổ xung thêm vào nguồn vốn kinh doanh Khoản này thường chiếm từ 55 - 70% lợi nhuận thu được sau thuế Vì quy mô hoạt động của công ty còn nhỏ, quy mô nguồn vốn vẫn còn thấp do đó trong những năm gần đây tỉ lệ nguồn vốn bổ xung từ lợi nhuận chưa phân phối vẫn còn cao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về vốn kinh doanh Do đó, công ty dự kiến trong năm tới sẽ huy động thêm từ nguồn vốn góp để tăng nguồn vốn kinh doanh, tạo bược đột phá mới, mở rông quy mô kinh doanh

2.6 Lao động

Lao động tại công ty được cơ cấu như sau:

Biểu 2: Cơ cấu lao động của công ty năm 2005

+ Theo giới tính

Trang 34

Biểu 3: Phân bố lao động theo phòng ban năm 2005

Trang 35

(Nguồn: phòng TCHC)

Việc quản lý lao động thuộc phạm vi, trách nhiệm của phòng TCHC Trong Công ty việc phân bố nhân sự do Ban giám đốc quyết định và phòng TCHC thi hành quyết định đó

Hàng năm, công ty có những chính sách tuyển dụng thêm lao động cho phù hợp với đòi hỏi của công việc Ngoài việc tuyển dụng thêm lao động mới, công ty Minh Quân còn có chính sách đào tạo lao động hiện có của mình, như gửi công nhân viên đi đào tạo thêm để nâng cao trình độ chuyên môn, tổ chức các líp học cho cán bộ trong công ty,…

II THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH DOANH CÁC MẶT HÀNG CHỦ LỰC HIỆN NAY TẠI CÔNG TY TNHH MINH QUÂN

1 phân tích thực trạng tình hình hoạt động kinh doanh mặt hàng chủ lực của công ty trong thời gian qua

Tuy mới chỉ hoạt động kinh doanh được 5 năm công ty đã đạt được một

số thành công đáng khích lệ Không ngừng đổi mới một cách toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Đặc biệt là đối với nhóm sản phẩm về sữa, hàng năm nhóm mặt hàng này đều có sự tăng trưởng rõ rệt và đem lại không Ýt thành công cho công ty Dưới đây sẽ là biểu kết quả hoạt động kinh doanh của công

ty đối với nhóm mặt hàng sữa chủ lực này từ năm 2002 - 2005 Do hoạt động kinh doanh không tách rời doanh thu, chi phí và lợi nhuận… giữa các mặt hàng đang kinh doanh tại công ty Cho nên số liệu của bảng tổng hợp dưới đây được thể hiện theo tỉ trọng của mặt hàng sữa so với tổng lượng hàng kinh doanh tại công ty từ năm 2002 - 2005

Trang 37

Minh Quân là công ty tuy còn rất non trẻ nhưng đã có những sách lược kinh doanh đúng đắn nên đã thu được nhiều thành công trên thị trường Qua biểu tổng kết hoạt động kinh doanh mặt hàng sữa chủ lực của công ty từ 2002 -2005 ta thấy công ty đã đạt được một số chỉ tiêu như sau:

- Doanh thu về sữa liên tục có sự tăng trưởng qua các năm Năm 2003 tăng 442.568 nghìn đồng tương ứng 7,5% so với năm 2002 và đến năm 2005

đã là 1.907.456 nghìn đồng hay tăng 27,53% so với năm 2004 Sở dĩ doanh thu luôn đạt mức tăng trưởng qua các năm như vậy vì đây là mặt hàng công ty kinh doanh trong kênh tiêu thụ độc quyền Ở kênh tiêu thụ này, công ty được độc quyền phân phối sữa cho các đại lý, các tổ chức hành chính sự nghiệp, nhà hàng…, cho nên khách hàng của công ty rất ổn định và tăng trưởng đều như vậy Hơn nữa, do công tác tiếp thị tìm kiếm thêm khách hàng, hỗ trợ bán hàng nên lượng khách hàng tìm đến công ty ngày một nhiều hơn Ngoài ra, đối với mức thu nhập trung bình của thành phố Hà nội thì các sản phẩm sữa của Vinamilk vẫn là sự lùa chọn phù hợp hơn cả Do đó, thị phần của công ty nhờ

đó cũng ngày một tăng lên

- Về giá vốn của hàng bán: nằm trong kênh phân phối độc quyền, công

ty chịu sự chi phối về giá nhập và giá bán đối với mặt hàng sữa này Để khuyến khích công ty bán hàng, Vinamilk đã có chính sách tăng tỉ lệ chiết khấu nếu công ty bán được nhiều hơn Đồng nghĩa với việc đó là tỉ lệ tăng giá vốn của hàng bán chậm hơn so với tỉ lệ tăng doanh thu Điều đó càng kích thích công ty mở rộng hơn nữa thị phần của mình trong thị trường sữa này Năm 2003 doanh thu tăng 442.568 nghìn đồng so với năm 2002 thì giá vốn chỉ tăng 434.208 nghìn đồng tương ứng với mức tăng doanh thu tương đối là 7,5% so với tỉ lệ tăng giá vốn là 7,497% Cho đến năm 2005 mức doanh thu đạt tỉ lệ tăng trưởng cao nhất 1.907.456 nghìn đồng hay 27,53% so với năm

2004 trong khi đó tỉ lệ tăng giá vốn hàng bán là 1.869.805 nghìn đồng tức

Ngày đăng: 21/12/2015, 20:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY - vấn đề nâng cao trình độ nhận thức về hàng hoá tuyển mộ, khuyến khích vật chất và tinh thần và kỷ luật người lao động
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w