1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa

56 514 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 831,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để góp phần tổng hợp lại kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm T

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

MA KHẮC VÕ

Tên đề tài:

ỨNG DỤNG KÍCH DỤC TỐ TRONG CHĂN NUÔI LỢN RỪNG SINH

SẢN TẠI CHI NHÁNH NC&PT ĐỘNG THỰC VẬT BẢN ĐỊA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y Khoa : Chăn nuôi Thú y Khóa học : 2011– 2015

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -  -

MA KHẮC VÕ

Tên đề tài:

ỨNG DỤNG KÍCH DỤC TỐ TRONG CHĂN NUÔI LỢN RỪNG SINH

SẢN TẠI CHI NHÁNH NC&PT ĐỘNG THỰC VẬT BẢN ĐỊA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Chăn nuôi Thú y

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để góp phần tổng hợp lại kiến thức đã học và bước đầu làm quen với thực tiễn, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi thú y - trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu

đề tài: “Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”

Trong quá trình học tập tại trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và thực hiện đề tài này em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ phía Nhà trường, thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi thú y Em xin được bày tỏ lòng biết ơn các thầy giáo trong Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa và toàn thể các thầy cô giáo đã dạy bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, dưới sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của thầy PGS TS Trần Văn Phùng, em đã hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình Qua đây em xin chân thành cảm ơn thầy đã giúp đỡ em

và truyền đạt cho em những kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu khoa học

Em xin được gửi lời cảm ơn tới Cán bộ, công nhân tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa đã tạo điều kiện thuận lợi cho

em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng em xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ

em hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Do trình độ bản thân có hạn nên bản khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đóng góp ý kiến để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2015

Sinh viên

Ma Khắc Võ

Trang 5

đẻ ít con… Hiện tượng này thường gặp đối với những người nuôi lợn rừng của Việt Nam hoặc lợn nái lai giữa lợn rừng Việt Nam với lợn địa phương miền núi

Thông thường, trong tự nhiên lợn rừng thường động dục từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau Mỗi lần động dục chỉ đẻ 5 - 6 con, Chính hiện tượng này đã làm cho nhiều người không thể phát triển chăn nuôi lợn rừng của Việt Nam được Trên thực tế, lợn rừng nhập từ Thái Lan ít gặp những trở ngại về sinh sản hơn so với lợn rừng Việt Nam Có nhiều thông tin cho rằng, lợn rừng Thái Lan đã được cải tiến nhiều về khả năng sinh sản Nhưng sản phẩm thịt của lợn rừng Thái Lan ở một góc độ nào đó vẫn chưa thực sự hấp dẫn người tiêu dùng như lợn rừng Việt Nam

Xuất phát từ vấn đề đó, em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề “Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được việc sử dụng kích dục tố để nâng cao sức sản xuất của lợn nái rừng, góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn rừng, tạo tiền đề phát triển chăn nuôi lợn rừng cho người dân khu vực miền núi

- Rèn luyện được tay nghề sau khi đã học xong lý thuyết

1.3 Ý nghĩa của đề tài

Trang 6

Ý nghĩa khoa học: Xác định được ảnh hưởng của việc sử dụng kích dục tố trong việc kích thích động dục, tăng số trứng rụng, tăng tỷ lệ thụ thai

và số con đẻ/lứa đối với lợn nái rừng

Ý nghĩa thực tiễn: Việc ứng dụng kích dục tố đối với lợn nái rừng góp phần giải quyết được khó khăn trong chăn nuôi lợn nái sinh sản của những người chăn nuôi lợn rừng Việt Nam, đẩy mạnh hiệu quả chăn nuôi, tạo ra một hướng đi mới cho đồng bào khu vực miền núi phía Bắc

Trang 7

PHẦN 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Tổng quan về lợn rừng

Loài lợn Rừng có tên khoa học là Sus scrofa (Common Wild Pig), tên địa phương là lợn lòi hay lợn kun bíu Lợn Rừng có 21 phụ loài sống trên phạm vi rất rộng gồm nhiều khu vực của Châu Âu, Bắc Á và nhiều vùng của Bắc Phi Nó chính là tổ tiên của các giống lợn ngày nay

Trên thế giới nhiều nước đã thuần hóa con lợn Rừng để đưa vào hệ thống chăn nuôi những con vật đặc sản của họ và với công nghệ cao Ngay

cả hai nước cạnh chúng ta là Trung Quốc và Thái Lan cũng đã phát triển chăn nuôi lợn rừng từ 12 – 18 năm nay, họ có những tài liệu chuẩn về quy trình chăn nuôi lợn rừng Vì vậy để phát triển chăn nuôi lợn Rừng ở nưới ta thì cần học hỏi kinh nghiệm từ hai nước này rất nhiều

Theo nghiên cứu của Trung tâm hợp tác nghiên cứu Quốc tế phát triển Nông nghiệp (Pháp) thì lợn rừng có tới 36 giống phân bố ở hầu khắp các lục địa trên thế giới Phân bố chủ yếu ở các vùng Bắc Phi; Châu Âu, phía nam nước Nga, Trung Quốc, vùng Trung Đông… và các đảo đảo nam Thái Bình Dương

Đây là loài động vật hoang rã thị thơm ngon và nhiều chất dinh dưỡng, nhu cầu của người dân đối với thịt lợn rừng ngày càng tăng Tuy nhiên có một điều thực tế là:

- Số lượng lợn Rừng ngoài tự nhiên có hạn

- Không được săn bắt

Vậy để đáp ứng nhu cầu của người dân về thịt lợn thơm ngon, từ những năm 1990 các nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu để biến lợn Rừng hoang dã thành đối tượng có thể nuôi thương phẩm được Các nội dung nghiên cứu tập trung chủ yếu ở một số vấn đề sau

Trang 8

- Nghiên cứu thuần hóa lợn Rừng

- Nghiên cứu nhân giống lợn rừng thuần

- Nghiên cứu lai, nhằm lai giữa lợn đực rừng với lợn cái bản địa của địa phương để ttaoj ra con lai gần giống lợn rừng

- Nghiên cứu nuôi thương phẩm lợn rừng và lợn lai

Hiện nay vấn đề nuôi lợn rừng, lợn lai đã được phát triển rất mạnh, mang lại giá trị kinh tế rất cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Ai Cập, New Zealand Đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á nước Thái Lan đã tập t giống lợn rừng nghiên cứu phát triển từ những năm 2000, họ đã thuần hóa, nhân giống tạo ra giống lợn rừng Thái Lan rất phát triển, họ đã suất khẩu lợn rừng sang quốc gia khác trong đó có Việt Nam vẫn phải nhập khẩu lợn rừng của Thái Lan

Cùng với nghề lợn rừng phát triển trên thế giới đặc biệt là quốc gia Thái Lan Đông Nam Á, thì tại Việt Nam mới đầu tư nghiên cứu, phát triển

để tạo ra nghành chăn nuôi có hiệu quả tại Việt Nam

Để phát triển nghề nuôi lợn rừng ở Việt Nam được sự hỗ chợ của chính phủ Việt Nam, Viện Chăn nuôi cùng các nhà khoa học ngoài Viện có lĩnh vực chuyên môn Động vật rừng đã tập trung nghiên cứu về lợn rừng và nghiên cứu thành công

- Thuần hóa lợn rừng Việt Nam

- Lai lợn rừng Thái Lan với lợn rừng Việt Nam

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã xây dựng được nhiều quy trình kỹ thuật về thuần hóa, nhân giống và nuôi thương phẩm lợn rừng, lợn lai

Trên cả nước hiện nay đã có trên 50 trang trại chăn nuôi lợn rừng với quy mô lớn chưa kể các hộ gia đình chăn nuôi số lượng ít Hiện nay có rất nhiều công ty đang kinh doanh con giống và tiêu thụ thịt lợn rừng là: Công ty TNHH Khánh Giang (ở Bình Phước); Công ty Hương Tràm (ở quận Phú Thuận – Tp.HCM; Công ty ANFA (ở quận 10 – Tp.HCM) Giữa năm 2006, Công ty ANFA đã có hơn 400 đơn đặt hàng mua giống lợn rừng từ các tỉnh

Trang 9

miền nam Hiện nay nghề nuôi lợn rừng đã phát triển khắp các tỉnh thành trên cả nước

Hiện nay, ở Việt Nam có hai dòng lợn rừng nuôi chính là rừng Thái lan

và rừng Việt Nam Loại lợn rừng Thái Lan có thân ngắn, béo má phệ, chân xoạc, lông ngắn, ít bờm, nhiều con chân trắng Loại lợn rừng Việt Nam: người thon, mình dài, chân cao, mình lép, má gọn, có lông bờm dài, móng chụm và đen Khi mới sinh lợn rừng Việt Nam có sọc dưa vàng đậm nét hơn lợn rừng Thái Lan

Theo Tăng Xuân Lưu – 2009: tính cho tới tháng 8/2009 tổng đàn lợn rừng nái sinh sản cả nước ước tính khoảng 1600 con, tổng đàn lợn rừng có nguồn gốc từ Thái Lan là 4200 con Lợn rừng chủ yếu được nuôi ở các tỉnh phía nam khoảng 65% gồm các tỉnh: Bình Dương, Bình Phước, Tp Hồ Chí Minh Trang trại của công ty Khánh Gia được coi là lớn nhất phía nam với

200 con lợn rừng nái Ngoài ra còn còn các trang trại khác nữa: trang trại ở Long An có 60 nái, trang trại ở Vũng Tàu có 80 nái, trang trại ở Tây Nguyên

35 nái, trang trại ở Nha Trang có 30 nái… Ngoài ra các trang trại ở các tỉnh khác cũng phát triển rải rác với 5 – 15 nái được bắt nguồn từ trang trại của Viện Chăn nuôi từ năm 2008 tới nay

2.1.2 Đặc điểm sinh sinh lý sinh dục của lợn nái

* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái

Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài

- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 - 7g ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10mm (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [7] Buồng trứng thực hiện hai chức năng: Ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh hormone sinh dục cái)

Trang 10

- Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi

- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m

Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm

và có đường kính ngoài 2 - 3cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ (Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003) [7]

- Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12cm Đây là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc

tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ

- Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình

* Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị

Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc Tuy nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kì động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường Chu kì động dục của lợn nái được chia thành 4 giai đoạn khác nhau:

Trang 11

- Giai đoạn trước động dục: Lúc này buồng trứng của lợn nái bắt đầu

có các noãn phát triển, đồng thời buồng trứng tăng cường tiết Oestrogen, bầu

vú cũng dần phát triển Giai đoạn này kéo dài từ 2 - 3 ngày

- Giai đoạn động dục: Buồng trứng có các noãn bao, bắt đầu chín và chuẩn bị rụng Đồng thời kèm theo các triệu chứng bên ngoài như lợn bắt đầu kêu la, phá chuồng, bỏ ăn và đi tìm con đực Âm hộ dần dần sưng lên và xuất hiện màu cà chua chín và chuyển sang màu mận chín và lúc này trứng chín rụng xuống loa kèn Lợn ở vào trạng thái mê ì Thời gian này thường kéo dài từ 3 - 5 ngày

- Giai đoạn sau động dục: Lợn bắt đầu trở lại bình thường, các triệu chứng động dục giảm dần và hết động dục Thời gian kéo dài từ 1 - 2 ngày

- Giai đoạn yên tĩnh: Đây là giai đoạn lợn chuẩn bị cho một chu kì

tiếp theo Thời gian khoảng từ 8 - 9 ngày

Lợn nái khi thành thục về tính, chúng có chu kỳ động dục và mỗi chu

kỳ trung bình là 21 ngày (biến động từ 18 - 25 ngày) Chu kỳ của lợn nái phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau:

- Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau: Lợn ỉ, từ 19 - 21 ngày lợn Móng Cái từ 18 - 25 ngày

- Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành Theo Kralling, lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày, lứa 6 - 7 là 21,5 ngày; lứa 8 - 9 là 22,4 ngày Khi theo dõi sinh sản trên lợn ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2

là 20 ngày (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) [2] Theo Xignort thời gian động dục lần đầu thường ngắn hơn những lần sau, đồng thời thường không

có trứng rụng hoặc trứng rụng rất ít, kích thước tế bào trứng nhỏ hơn những lần sau Theo Lubeski thì đường kính của tế bào trứng lợn nái 6 tháng tuổi là

146 µm, 10 tháng tuổi là 157 µm, 4 năm tuổi là 166 µm

Trang 12

- Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại

- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan đến sự thụ thai, chửa và đẻ

Thời gian của động dục được chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ khi bắt đầu động dục đến lúc chịu đực (T1), đây là

giai đoạn các triệu chứng động dục bắt đầu xuất hiện, dưới tác động của các hormone sinh dục cái tế bào trứng phát triển và chuẩn bị chín và rụng Lợn nái ở giai đoạn này thường hoạt động mạnh, tìm kiếm con đực, bỏ ăn phá chuồng và kêu la Giai đoạn này kéo dài từ 1 -2 ngày

Giai đoạn 2: Từ khi chịu đực đến lúc hết chịu đực (T2)

Giai đoạn 3: Từ khi hết chịu đực đến khi hết biểu hiện động dục (T3)

Nghiên cứu của Lưu Kỷ (1976) trên lợn Ỉ cho biết: T1 = 58,25 h; T2 = 48,45 h; T3 = 27,95 h, tổng cộng 136,41 h (khoảng 5,5 ngày) Từ đặc điểm động dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định thời điểm phối tinh thích hợp cho chúng Biểu hiện của chu kỳ động dục: Khi động dục lợn nái biểu hiện không yên tĩnh: kêu la, phá chuồng, tìm đực, nhảy lên lưng con khác, âm hộ xung huyết đỏ tươi, thích gần con đực Nếu ta ấn tay lên lưng thì

nó đứng yên, đuôi cong lên thích giao phối Nhưng cũng có lợn nái biểu hiện động dục không rõ nét Đối với những trường hợp này phải theo dõi để quyết định thời điểm phối thích hợp Hoặc dùng lợn đực thí tình hay sử dụng

con đực để phát hiện thời điểm phối thích hợp, tránh nhỡ thời điểm phối

giống, để nâng cao khả năng sinh sản Qua hình biểu diễn các hàm lượng hormone ở dưới đây cho chúng ta thấy sự thay đổi của các hormone khác nhau qua các ngày trong chu kì động dục của lợn nái Trong thời kì động dục, hàm lượng hormone của lợn nái thay đổi, oestrogen tăng mạnh từ ngày thứ 10 và cao nhất ở ngày 20 - 21 (29 - 30pg/ml trong huyết thanh), sau đó giảm dần xuống 7 - 8 ở ngày thứ 8 sau động dục Hàm lượng prostaglandin trong tĩnh mạch tử cung thay đổi và đột nhiên tăng cao ở ngày 15 (6ng/ml),

Trang 13

trong khi bình thường tỷ lệ này 0,3 - 0,5 ng/ml Hormone progesterone tăng tiết từ ngày 1 đến 13 (32 ng/ml) trong huyết thanh và giảm dần và xuống tỷ

lệ thấp nhất ở ngày thứ 20, chỉ còn 0,8 - 1ng/ml Hàm lượng prolactin huyết thanh thay đổi liên tục từ ngày 13 đến ngày thứ 5 sau chu kì động dục biến động lên đến 15 ng/ml và sau 1 ngày xuống lại 1,5 - 1,8ng/ml, cứ thay đổi lên xuống theo chu kì 2 - 3 ngày nhưng ở ngày đầu chu kì từ 2 - 13 có hàm lượng thấp 1,8ng/ml FSH và LH thay đổi và khi động dục tỷ lệ FSH/LH = 1/3 Sau khi phối tinh được 15 phút, tinh trùng vận động đến tử cung lợn cái, sau 1 - 2 h tinh trùng sẽ vận chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) Thời gian sống của tinh trùng trong đường sinh dục của con cái khoảng 12 - 20 h Số tinh trùng cần cho lần phối tinh để có tỷ lệ thụ thai cao là 3 tỷ Tế bào trứng, sau khi xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên khoảng 40 - 48 h thì tế bào trứng bắt đầu rụng (cuối giai đoạn T1, đầu T2) lúc lợn cái biểu hiện "mê ì" Thời gian rụng trứng của lợn nái kéo dài 8 -

12 h Sau khi trứng rụng xuống loa kèn, chúng theo ống dẫn trứng di chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp mất khoảng 1 - 2 h tương ứng sau 24 - 36 h kể từ lúc xuất hiện hiện tượng chịu đực (Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) [10]

Số lượng tế bào trứng rụng trong 1 chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, và chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc Qua một số nghiên cứu cho biết, lợn nái Móng Cái có 15 - 30 tế bào Số lượng tế bào trứng rụng phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng Vì vậy, người ta thường tăng cường nuôi dưỡng lợn nái trước khi phối giống để tăng số tế bào trứng rụng nhưng đến lúc gần động dục cho giảm tiêu chuẩn ăn (Kiều Minh Lực và cs, 1976) [9] Trong thực tế sản xuất để xác định thời điểm phối tinh thích hợp, thì khi lợn nái động dục phải tăng cường theo dõi để biết giờ xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên, vì vậy, cần theo dõi ngày 2 lần (sáng sớm và chiều tối) Thời gian kéo dài động dục của lợn là 3 - 5 ngày tùy theo giống, thời gian phối thích hợp là cuối ngày thứ 2, đầu ngày thứ 3 Thời gian này lợn nái biểu hiện động dục cao độ nhất: "mê ì", âm hộ chuyển từ màu đỏ hồng (cà chua chín),

Trang 14

sang màu thâm tái (màu mận chín), lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, thích nhảy lên lưng con khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum của lợn thì thấy lợn đứng yên, cong đuôi và thích giao phối Đây là thời điểm phối tinh thích hợp nhất cho lợn nái

2.1.3 Khả năng sinh sản của lợn

+ Tuổi động dục lần đầu

Là tuổi khi lợn cái có biểu hiện động dục lần đầu tiên Tuổi động dục lần đầu khác nhau về giống lợn, ví dụ: lợn nội có tuổi động dục lần đầu sớm hơn nái ngoại Lợn ỉ động dục ở 3 - 4 tháng tuổi (Trần Văn Phùng, và cs, 2004) [10]

+ Tuổi phối giống lần đầu

Là tuổi tại thời điểm phối giống lần đầu, thông thường người ta chưa tiến hành phối giống cho lợn động dục lần đầu tiên tại thời điểm này lợn chưa thành thục về thể vóc, số lượng trứng rụng còn ít, người ta thường phối giống cho lợn nái kỳ thứ 2 hoặc kỳ thứ 3 vì vậy chúng ta cần theo dõi tránh phối giông sớm hoặc muộn gây tổn thất về kinh tế

+ Tuổi đẻ lứa đầu

Là tuổi lợn mẹ đẻ lứa đầu tiên Tuổi đẻ lúa đầu phụ thuộc vào giống và chế độ nuôi dưỡng, ví dụ lợn Mẹo tuổi động hớn đầu tiên lúc 8 tháng tuổi (Phạm Hữu Doanh, và cs, 1996) [2]

+ Số con sơ sinh còn sống đến 24h/lứa đẻ: là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít con của giống, trình độ phối giống của người nuôi dưỡng chăm sóc, và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái chửa Trong 24 giờ sau khi sinh nhưng con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, dị dạng, thì sẽ bị loại thải Ngoài ra do lợn con chưa nhanh nhẹn bị lợn mẹ đé chết

+ Bình quân số lợn con đẻ ra còn sống/lứa: là tỷ lệ giữa tổng số lợn con đẻ ra còn sống trong 24 giờ kể từ khi lợn nái đẻ xong của tất cả các lứa

đẻ trên tổng số lứa đẻ Số con đẻ ra để lại nuôi: số lợn con đẻ ra còn sống để

Trang 15

lại nuôi, đối với lợn ngoại khối lượng lớn hơn 0,8 kg, đối với lợn nội khối lượng lớn hơn 0,3 kg

+ Tỷ lệ sống: tỷ lệ sống của lợn con sau 24 giờ là tỷ lệ số lợn con còn sống đến 24 giờ so với số con đẻ ra còn sống

+ Số con cai sữa/ lứa: đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng, quyết định năng suất trong chăn nuôi lợn nái, nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con Đó là số lợn con còn sống cho đến khi cai sữa, thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn và kỹ thuật nuôi Trong chăn nuôi đại trà thường cai sữa vào 35 hoặc 42 ngày tuổi

+ Số con cai sữa /nái/năm: là chỉ tiêu tổng quát nhất để đánh giá năng suất chăn nuôi lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào thời gian cai sữa lợn con

và số lợn con cai sữa trong mỗi lứa đẻ Nếu cai sữa sớm sẽ tăng số lứa đẻ/nái/năm, và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì số lượng lợn con cai sữa/nái/năm cao và ngược lại Số lượng lợn con cai sữa/nái/năm là tỷ

lệ giữa tổng số lợn con cai sữa trong năm so với tổng số lợn nái sinh sản trong năm

+ Khối lượng sơ sinh:

Là khối lượng lợn con được cân ngay sau khi đẻ, đã được căt rốn, lau khô và bấm số tai và trước khi cho bú ngày đầu tiên

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu nói lên khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, đặc điểm giống, kỹ thuật quản lý chăm sóc và phòng bệnh cho lợn nái chửa Do đó thành tích này phụ thuộc cả vào phần của lợn nái và phần nuôi dưỡng của con người

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là khối lượng của tất cả lợn con sinh ra còn sống và được phát dục hoàn toàn Nếu những lợn sinh ra khỏe mạnh mà bị lợn mẹ đè chêt thì đó thuộc về trách nhiệm của con người chứ không phụ thuộc vào năng suất của lợn nái

Trang 16

Khối lợn sơ sinh phụ thuộc vào giống, khối lượng sơ sinh của lợn nội (Ỉ, Móng Cái) thường từ 0,4 – 0,6 kg/con, khối lượng sơ sinh của lợn ngoại trung bình 1,1 – 1,2 kg/con

Lợn con có khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khôi lượng cai sữa sẽ cao

Đồng đều là chỉ tiêu quan trọng để dánh giá chất lượng của nái về khả năng sinh sản Bởi vì khi so sánh giữa 2 đàn lợn có thể khối lượng sơ sinh kém nhau không nhiều nhưng độ đồng đều của lợn con giữa các đàn là chênh lệch rất lớn

+ Khối lượng cai sữa toàn ổ:

Ngoài chỉ tiêu số con cai sữa trên lứa, khối lượng toàn ổ lúc cai sữa cũng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng suất của lợn nái

Hiện nay các cơ sở chăn nuôi thường áp dụng thời gian cai sữa khác nhau tùy thuộc vào khả năng chế biến thức ăn và trình độ kỹ thuật nuôi dưỡng, cho nên để đánh giá thành tích của lợn nái chúng ta thường xác định khối lượng lợn con lúc 56 hoặc 60 ngày tuổi, có như vậy chúng ta mới so sánh và đánh giá thành tích của lợn nái với nhau được Còn việc xác định khối lượng của lợn con lúc cai sữa ở thời điểm sớm hơn chỉ nhằm mục đích xác định mức dinh dưỡng cho lợn con một cách chính xác đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con ở giai đoạn sau cai sữa

Khối lượng lợn con cai sữa phụ thuộc rất lớn vào khối lượng sơ sinh và

là cơ sở cho việc nâng cao khối lượng xuất chuồng sau này

Trang 17

Khối lượng bình quân của lợn con khi cai sữa (kg) bằng tổng số khối lượng

lợn con cai sữa (kg) so với tổng số lợn con cai sữa

2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái

Trong quá trình sinh trưởng phát triển, lợn cái sẽ dần đi tới thành thục

về tính Tuy nhiên sự thành thục về tính của lợn phụ thuộc vào các yếu tố sau:

- Giống: Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái

Giống có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau

- Mùa vụ:

Mùa vụ có ảnh hưởng đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa và tuổi đẻ lứa đầu Số con sơ sinh sống và số con cai sữa ở mùa xuân đều cao hơn so với các mùa khác Tuổi đẻ lứa đầu ở mùa xuân sớm hơn mùa hạ

và mùa thu nhưng lại cao hơn so với mùa đông Kết quả này cho thấy, cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật tốt hơn nữa để nâng cao năng suất chăn nuôi trong mùa hạ (mùa nắng nóng)

- Chế độ dinh dưỡng:

Anderson (1967) [14] tiến hành 9 thí nghiệm mức ăn hạn chế về năng lượng đã làm chậm tuổi thành thục về tính dục 16 ngày Nhưng ở 5 thí nghiệm khác mức ăn hạn chế làm cho tuổi thành thục về tính dục sớm hơn

11 ngày Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau trong thực tiễn sản xuất người ta thấy cần nuôi dưỡng lợn nái sao cho không quá béo, không quá gầy, mức độ dinh dưỡng cho lợn cái tùy thuộc vào giống, tuổi, thời tiết mùa vụ (Từ Quang Hiển và cs, 2001) [6]

- Sự có mặt của lợn đực:

Sự có mặt của lợn đực đã đẩy nhanh sự xuất hiện chu kỳ động dục có trứng rụng Brooks (1976) [15] cho biết có thể sử dụng những con đực đã thành thục về tính dục để thúc đẩy sự thành thục về tính sớm hơn đối với

Trang 18

những lợn cái hậu bị Cole (1970) đã chứng minh hàng ngày nếu cho con đực vào chuồng lợn nái ở tuổi 165 - 190 ngày đã làm tăng nhanh hoạt động sinh dục của con cái

Như vậy, hầu hết các nhân tố giống, chế độ dinh dưỡng, mùa vụ, sự có mặt của lợn đực, đều có ảnh hưởng rõ rệt tới sự phát dục của lợn nái, từ đó sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản

2.1.5 Kích tố và ứng dụng trong chăn nuôi

2.1.5.1 Tác dụng của hormone

Hormone (Thuốc điều tiết sinh sản) là những chất có vai trò cực kỳ quan trọng, chúng có khả năng ức chế hoặc kích thích chức năng của các cơ quan sinh sản

Sử dùng hormone để điều tiết sinh sản là một biện pháp hiệu quả làm tang năng suất sinh sản của gia súc cái (trong điều trị vô sinh, chậm động dục, an thai, đẻ nhiều con/lứa, đẻ nhiều lứa/năm và dễ đẻ), làm tang chất lượng tinh trùng của gia súc đực, từ đó làm tang lợi nhuận cho người chăn nuôi

2.1.5.2 Cơ chế tác động của hormone

Hormone điều hòa tuyến sinh dục (Gonadotropin): Gồm hai loại

hormone FSH (Hormone kích thích nang noãn) và LH (Có tác dụng làm tế bào trứng chín và rụng)

Gonadotropin có tác dụng kích thích hoạt động bình thường của tuyến sinh dục và tiết hormone sinh dục của con đực và con cái

Trong chu kỳ động dục bình thường, FSH có tác dụng kích thích noãn nang trứng phát triển và thành thục Khi đó, sẽ kích thích buồng trứng tiết ra hormone oestrogen Giữa chu kỳ động dục, oestrogen kích thích giải phóng hormone LH, làm cho các tế bào noãn sẽ vỡ ra và rụng trứng Đồng thời tại chỗ rụng trứng, sẽ hình thành thể vàng Thể vàng tiết ra progesterone, có chức năng ức chế quá trình động dục của con cái và an thai (tạo điều kiện cho thai phát triển)

Trang 19

Đối với con đực, FSH có vai trò tạo tinh trùng, LH kích thích các tế bào tiết ra Testosteron (Là hormone có tác động trực tiếp lên ống sinh tinh để sản sinh tinh trùng)

Hormone prostaglandin: Có tác dụng thủy phân mạnh mẽ thể vàng,

kích thích phát triển buồng trứng, hoàn thiện chu kỳ động dục ở kỳ sinh sản tiếp theo Gây cảm ứng đồng bộ về động dục và cho nái đẻ đồng loạt để quản

lý sinh sản một cách hữu hiệu

Chủ động thời điểm cho lợn nái đẻ theo ý muốn (lợn nái đẻ tự nhiên sau khi dùng thuốc 20 - 30 giờ)

Điều tri rối loạn chức năng rụng trứng, chu kỳ dụng trứng không đều và không có trứng

Tác dụng chính là kích thích phát triển và gây biến đổi trong tử cung, chuẩn bị đón trứng đã thụ tinh, tạo điều kiện cho phôi và thai phát triển Progesterone làm mềm tử cung (Có tác dụng giữ thai nên còn được gọi là yếu tố trợ thai) Progesteron có tác dụng ức chế quá trình rụng trứng, tang cường kích thích tiết sữa, ảnh hướng đến quá trình trao đổi nước và muối khoáng trong cơ thể

Oxytocin:

Oxytocin theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “đẻ nhanh” Là hormone của động vật có vú, hoạt động như sự dẫn truyền các xung động thần kinh trong

Trang 20

não Oxytocin kích thích co bóp tử cung để làm giãn cổ tử cung ở lợn nái trước khi sinh và gây những cơn co bóp ở giai đoạn 2 và giai đoạn 3

Tác dụng hỗ trợ lợn nái đẻ khó, do co bóp tử cung yếu

Tác dụng làm tang tiết sữa của lợn nái sau đẻ

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Việc sử nghiên cứu và sử dụng kích dục tố đã được tiến hành cách nhiều năm và đạt hiệu quả tốt trong việc kích thích động dục, rụng trứng, tang tỷ lệ thụ thai ở lợn

Năm 1974 tại nông trại An Khánh tiêm huyết thanh ngựa chửa (HTNC) cho 14 nái hậu bị chậm động dục (với liều lượng 20 đvc/kg) gây động dục 100%, thụ thai 64,30% - 75% và 21 nái phối giống nhiều lần không thụ thai kết quả 52,4% nái động dục, tỷ lệ thụ thai đạt 80% (Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Lê Văn Thọ và cs, (1979) [13] cho biết: năm 1975 – 1976, trại lợn ngoại Phú Lãm (Hà Sơn Bình) sử dụng kích dục tố tiêm lợn Đại Bạch vô sinh cũng đạt kết quả tốt.Tiêm HTNC cho 9 nái tơ chậm động dục, số nái động dục là 81,8% tỷ lệ thụ thai đạt 77,7%

Lợn nái sinh sản sau khi cai sữa tác động bằng HTNC và HCG + HTNC đã cho kết quả là: tỷ lệ động dục đạt từ 62 – 75% thời gian gian suất hiện động dục sau khi tiêm là 11 - 16 ngày và tỷ lệ thụ thai là 66 – 80% Trên đàn lợn nái phối giống nhiều lần không thụ thai, sau khi tiêm HTNC đã có 55,5% lợn động dục, thời gian suất hiện động dục sau khi tiêm

Trang 21

Ở trại Đông Á (Thành phố Hồ Chí Minh) đã tiêm HTNC cho 30 lợn nái chậm sinh sản Sau khi tiêm từ 5 – 8 ngày có 80 – 85% lợn nái động dục, tỷ

lệ thụ thai đạt 75 – 77% (Lê Văn Thọ và cs, 1979) [13]

Nguyễn Như Hiển và cs, (1978) [5] khi dùng PMSG dạng đông khô tiêm cho 140 nái cơ bản sau khi tiêm 10 ngày đã có 74,9% lợn động dục và khi dùng kích tố HTNC dạng lỏng tiêm cho 542 nái sau khi cai sữa có 76,5% lợn động dục trong vòng 10 ngày, tỷ lệ thu thai đạt 93,6% (tại trại lợn Dân Quyền – Triệu Sơn)

Đinh Hoàng Căn (1976) tại công ty gia súc Hài Nam Ninh dùng PMSG tiêm cho 150 con lợn cái tỷ lệ động dục đạt 75 – 85% thụ thai ở chu kỳ I là 80%

Lê Xuân Cương, Lê Quang Phiệt, Đỗ Kim Liên, đã tiến hành tiêm PMSG trên đàn lợn ngoại quận Gò Vấp – thành phố Hồ Chí Minh, ở đàn lợn cái tơ sau khi tiêm 4 – 7 ngày thì xuất hiện động dục tỷ lệ thụ thai đạt 75 – 87% còn đàn lợn nái sinh sản động dục trở lại sau khi tiêm 1 – 3 ngày kết quả phối giống thụ thai đạt 86 – 92% (Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Nguyễn Mạnh Hà (1997) [3], tiêm kích dục tố HTNC với liều 15 đvc/kg P cho 11 lợn nái tơ chậm động dục và 14 lợn nái sinh sản sau khi tách con trên 15 ngày chưa động dục trở lại thì thu được kết quả như sau: ở đàn lợn nái tơ có 81,82% lợn cái động duc, tỷ lệ thụ thai 77,78% Đàn nái sinh sản có 85,71% nái động dục trở lại, tỷ lệ thụ thai đạt 91,66%

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hà, Phan Văn Kiểm, Nguyễn Khánh Quắc (2005) [4] tiến hành thí nghiệm tiêm PMSG cho 109 lợn nái tơ chậm động dục, tỷ lệ động dục là 85,52% (với liều là 15 đvc/kg P)

1.2.2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tình trạng chậm sinh ở lợn nái là một vấn đề bức thiết đối với nhiều nhà chăn nuôi trên thế giới, nó ảnh hưởng tới sự sinh sản của lợn nái và ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kinh tế trong ngành chăn nuôi Do đó nhiều

Trang 22

nhà khoa học đã quan tâm và nghiên cứu để khắc phục bệnh này Họ đã thu được những kết quả đáng chú ý như sau:

Konhiucava (1973) đã nghiên cứu sử dụng PMSG trên lợn Đại Bạch chậm động dục (14 -15 tháng tuổi chưa thành thục sinh dục) với liều 2000 đvc HTNC/con, và 4 ngày sau khi tiêm đã có 77% lợn nái động dục và rụng trứng Về sau không cần tiêm HTNC lặp lại những lợn nái đó vẫn hoạt động sinh dục bình thường ( Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Đối với những lợn nái chậm động dục trở lại sau tách con (15-20 ngày) E.S Chilling và F.Corner (1972) sử dụng hỗn hợp HTNC + HCG (với liều 400UI HTNC + 200HCG trong một lần trên một con) đạt tỷ lệ 92% (Nguyễn Mạnh Hà, 1997) [3]

Klinxki (1970) nghiên cứu trên hai đàn lợn nái vô sinh (lợn nái cơ bản tiêm 3000 đvc HTNC/con, lợn kiểm định 3200 đvc HTNC/con) sau khi tiêm

7 ngày thì có 72,1% nái cơ bản động dục và 81% lợn kiểm định động dục (Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Ngoài ra Konhiucova và Klinxki đã dùng PMSG + HCG cho 28 lợn nái sau cai sữa chậm động dục thì có 89% lợn nái động dục trở lại và tỷ lệ thụ thai đạt 92% và tiêm 15 nái tơ chậm động dục, sau khi tiêm 3 – 7 ngày có 87% lợn nái động dục, tỷ lệ thụ thai đạt 84,6% so với số con phối giống (Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Kotovski (1978) tiêm PMSG cho lợn nái sau khi tách con 21 – 35 ngày chưa động dục tỷ lệ động dục đạt 78,6%, sau khi tiêm 6 ngày xuất hiện động dục (Lê Xuân Cương, 1986) [1]

Trang 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Lợn nái rừng (Lợn nái rừng lai F1 (Đực rừng x nái ĐP))

3.2 Điạ điểm và thời gian tiến hành

Địa điểm: Đề tài được tiến hành triển khai tại Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động thực vật bản địa (Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa) Thời gian: Từ 15/12/2014 đến 24/05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.2 Chuyên đề nghiên cứu

Tiến hành chuyên đề nghiên cứu: “Ứng dụng kích dục tố trong chăn

nuôi lợn rừng sinh sản tại Chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa”

Bao gồm:

(1)Ảnh hưởng của việc sử dụng kích dục tố đến một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái như tỷ lệ động dục, thời gian động dục trở lại của lợn nái sau cai sữa, số con đẻ/lứa…

(2)Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng nái sinh sản

3.3 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Trang 24

− Thí nghiệm tiến hành theo phương pháp phân lô so sánh, đảm bảo đồng đều các yếu tố về giống, tuổi, lứa đẻ, tình trạng sinh sản các lứa trước đó, chăm sóc nuôi dưỡng…

− Thí nghiệm được phân thành 2 lô:

Lô thí nghiệm (TN): Lợn nái sau khi tách con được tiêm kích dục tố, bao gồm:

5 Yếu tố thí nghiệm Tiêm kích dục tố Không tiêm

Chuồng trại: nhốt mỗi con nái vào một ô chuồng, hàng ngày vệ sinh sạch sẽ chuồng nuôi (hót phân, rửa chuồng)

Trang 25

cây chuối) Khi lợn nái động dục giảm lượng thức ăn xuống còn 0,6 kg thức

ăn tinh + 2 kg thân lá cây ngô non hoặc thân lá chuối

Chửa kỳ I: Cho ăn 0,6 kg thức ăn tinh (0,42 kg ngô + 0,12 kg cám mỳ + 0,06 kg đậm đặc + 6 g muối ăn) + thức ăn xanh: 2 kg thân lá cây chuối/ cỏ voi/cây ngô (1kg/con/bữa)

Chửa kỳ II: Cho ăn 1,0 kg thức ăn tinh (0,7 kg ngô + 0,2 kg cám mỳ + 0,1 kg đậm đặc + 10 g muối ăn) + thức ăn xanh: 2 kg thân lá cây chuối/ cỏ voi/cây ngô (1kg/con/bữa)

Chú ý: Nếu lợn nái quá gầy, yếu nên cho ăn thêm khoảng 0,3 kg thức ăn tinh/ngày (0,15 kg/bữa)

- Chế biến thức ăn:

Thức ăn tinh nấu chín, pha loãng cho ăn trước khi cho ăn thức ăn thô xanh

Thức ăn xanh: Thái nhỏ, cho ăn sống

- Cách cho ăn: Thức ăn tinh hòa loãng, trộn thức ăn xanh cho ăn ngày 2 bữa (sáng: từ 9-10 giờ; chiều: từ 16-17 giờ)

Tiêm phòng và phòng trị ký sinh trùng:

- Vaccine dịch tả: Tiêm ngày chửa thứ 70

- Vaccine FMD: Tiêm ngày chửa thứ 84

- Vaccine PRRS: Tiêm toàn đàn một năm 2 lần (tháng 4 và tháng 10) Đối tượng: lợn nái chửa tuần 1 – 11, lợn nái đẻ, cai sữa Lợn nái chửa tuần 12-16 không tiêm mà sẽ tiêm khi đẻ 1 tuần trở ra

- Vaccine Farrowsure: Nếu chưa tiêm trước khi cai sữa 7 ngày, thì tiêm lúc chửa 90 ngày

- Phòng nội ngoại ký sinh trùng: Tiêm hanmectin vào ngày chửa thứ 100 – 105

- Dụng cụ: sử dụng xi lanh sắt Kim tiêm: dùng mũi kim 16 dài

Trang 26

- Trước khi tiêm cần kiểm tra xi lanh về dung tích, mức độ kín của gioăng cao su… để đảm bảo yêu cầu khi tiêm

- Vị trí tiêm: Cần tiêm đúng vị trí Khoảng cách từ gốc tai trở ra khoảng 3 ngón tay (3cm), từ lừng xuống 5 ngón tay (5cm) Vị trí thứ 2 là bắp thịt chân sau Đảm bảo tiêm đúng vào bắp thịt, không nên tiêm quá cao hoặc quá thấp, gây đau cho vật nuôi

- Tiến hành tiêm như sau: Tiêm cùng một lúc 3 mũi sau:

+ Hormone Prostagladin: 1ml vào gốc tai bên trái

+ Hormone Gonadotropin + Oestradiol: 4 ml vào gốc tai bên phải + Tiêm Vitamin ADE: 4 ml vào bắp đùi sau

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi

- Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái

+ Tỷ lệ động dục trở lại của lợn nái từ lúc cai sữa (%)

+ Thời gian động dục trở lại của lợn nái từ cai sữa (ngày)

+ Thời gian động dục

+ Tỷ lệ phối giống thụ thai

+ Khoảng cách đến hai lứa đẻ

- Các chỉ tiêu về năng suất sinh sản:

+ Số con đẻ ra/ lứa

+ Số con còn sống sau 24h/ổ

+ Số con còn sống sau 21 ngày

+ Số con còn sống sau 35 ngày

+ Số con còn sống sau 56 ngày

+ Khối lượng sơ sinh, 21, 35 và 56 ngày tuổi/con

+ Sản lượng sữa của lợn mẹ

+ Các chỉ tiêu về kinh tế: Tiêu tốn và chi phí thức ăn/1 kg lúc cai sữa (35 ngày tuổi)

3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Trang 27

Số liệu được xủ lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2002) và bằng máy tính cá nhân FX-500 với máy tính chưng trình Excel

- Tiến hành xử lý số liệu thu được theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2002) với các tham số thống kê sau:

n : Là dung lượng mẫu

- Sai số trung bình (m x):

1

S X mx

n

= ±

−Trong đó:

m x : Sai số của số trung bình

S X : Độ lệch tiêu chuẩn

2 1

X X

Trang 28

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất

4.1.1 Kết quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng các loại lợn tại Chi nhánh

Tại trại lợn nái được phối giống theo phương pháp nhảy trực tiếp, khi lợn động dục cuối ngày thứ 2, cho lợn nái vào ô chuồng lợn đực để phối trực tiếp Thực hiện chế độ phối lặp vào buổi sáng hôm sau Ghi chép đầy đủ sổ sách các thông số như thời gian động dục, thời điểm phối giống, lợn đực, số lần phối giống… Trong quá trình thực tập tại cơ sở, em đã tiến hành ghép đôi giao phối cho 15 con lợn nái, số nái phối đạt là 13, tỷ lệ phối đạt là 86,66%

Công tác chọn lợn giống được tiến hành trên những cá thể khỏe mạnh cân đối, lợn cái chân đi móng, vai nở, mông nở, phàm ăn, da lông bóng mượt, 2 hàng vú đều, khoảng cách rộng, âm hộ to vừa phải Lợn đực khỏe mạnh, phàm ăn, tính hăng cao, cà đều, to, mắt sáng, chân khỏe

Trong quá trình thực tập, em đã tham gia tuyển chọn được 14 lợn đực giống và 20 lợn nái hậu bị cung cấp cho các cơ sở chăn nuôi trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc

4.1.1.2 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn

Nhằm nâng cao trình độ và tay nghề với mỗi sinh viên trong quá trình học tập tại giảng đường, sinh viên cần vận dụng các kiến thức đã học, không ngừng học hỏi, chăm chỉ thực hành tại nơi thực tập Em đã tiến hành tham

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Cương (1986), năng suất sinh sản của lợn cái, Nxb khoa học kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: năng suất sinh sản của lợn cái
Tác giả: Lê Xuân Cương
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1986
2. Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996. Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con. Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
3. Nguyễn Mạnh Hà (1997), Nghiên cứu tách triết huyết thanh ngựa chửa để sản xuất kích dục tố sử dụng trong chăn nuôi. Luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tách triết huyết thanh ngựa chửa để sản xuất kích dục tố sử dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà
Năm: 1997
4. Nguyễn Mạnh Hà, Phan Văn Kiểm, Nguyễn Khánh Quắc (2005), “Sử dụng kích dục tố huyết thanh ngựa chửa kích thích sinh sản đối với lợn nái Móng Cái nuôi tại khu vực miền núi phía bắc”, Tạp chí chăn nuôi, hội chăn nuôi Việt Nam trang 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sử dụng kích dục tố huyết thanh ngựa chửa kích thích sinh sản đối với lợn nái Móng Cái nuôi tại khu vực miền núi phía bắc”
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà, Phan Văn Kiểm, Nguyễn Khánh Quắc
Năm: 2005
5. Nguyễn Như Hiển, Lê Xuân Cương (1978), Ảnh hưởng của kích dục tố đến hình thái và cấu trúc vi thể của buồng trứng lợn nái, tạp chí khoa học kỹ thật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của kích dục tố đến hình thái và cấu trúc vi thể của buồng trứng lợn nái
Tác giả: Nguyễn Như Hiển, Lê Xuân Cương
Năm: 1978
6. Từ Quang Hiển, Phan Đình Thắm, Ngôn Thị Hoán, 2001. Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
7. Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm (2003). Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi, NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Đức Hùng, Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huê Viên, Phan Văn Kiểm
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
8. Tăng Xuân Lưu (2010), một số đặc điểm sinh học của lợn rừng. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: một số đặc điểm sinh học của lợn rừng
Tác giả: Tăng Xuân Lưu
Năm: 2010
9. Kiều Minh Lực và cs, 1976. Chăn nuôi lợn nái sinh sản. Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
10. Trần Văn Phùng, Trần Thanh Vân, Từ Quang Hiển, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Trần Thanh Vân, Từ Quang Hiển, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006. Giáo trình sinh lý học vật nuôi. Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý học vật nuôi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
12. Nguyễn Văn Thiện (2002), phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: phương pháp nghiên cứu trong chăn nuôi
Tác giả: Nguyễn Văn Thiện
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
13. Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương (1979), kích tố ứng dụng trong chăn nuôi, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội.II.Tài liệu tiếng nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: kích tố ứng dụng trong chăn nuôi
Tác giả: Lê Văn Thọ, Lê Xuân Cương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1979
14. Anderson L.L, R.M.Melapy, 1967. Reproduction in the female mammal (Edition by Camming and E.C Amoroso), London Butter worth Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reproduction in the female mammal
15. Brook P.H, Cole P.J.A, 1976. The affection of boar present on age at puberty of gilts. Repsch Agr. Uni Sách, tạp chí
Tiêu đề: The affection of boar present on age at puberty of gilts

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1. Kết quả công tác tiêm phòng - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.1. Kết quả công tác tiêm phòng (Trang 34)
Bảng 4.2. Kết quả công tác điều trị bệnh - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.2. Kết quả công tác điều trị bệnh (Trang 36)
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi về động dục trở lại của lợn nái thí nghiệm - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.3 Kết quả theo dõi về động dục trở lại của lợn nái thí nghiệm (Trang 37)
Bảng 4.4  Kết quả theo dõi về thời gian động dục trở lại của lợn nái thí - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.4 Kết quả theo dõi về thời gian động dục trở lại của lợn nái thí (Trang 38)
Bảng 4.5 Kết quả nghiên cứu biểu hiện động dục của lợn nái thí nghiệm - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.5 Kết quả nghiên cứu biểu hiện động dục của lợn nái thí nghiệm (Trang 42)
Bảng 4.6 Số lượng lợn con đẻ ra/lứa - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.6 Số lượng lợn con đẻ ra/lứa (Trang 44)
Bảng 4.7 Khối lượng lợn con thí nghiệm - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.7 Khối lượng lợn con thí nghiệm (Trang 45)
Bảng 4.8 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.8 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con thí nghiệm (Trang 46)
Bảng 4.9 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.9 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (Trang 47)
Bảng 4.10 Tiêu tốn và chi phí  thức ăn + kích dục tố/kg lợn con lúc cai sữa - Ứng dụng kích dục tố trong chăn nuôi lợn rừng sinh sản tại chi nhánh NCPT động thực vật bản địa
Bảng 4.10 Tiêu tốn và chi phí thức ăn + kích dục tố/kg lợn con lúc cai sữa (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w