Việc nghiên cứu về cá ở tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra từ khá sớm nhưng nhìn chung hầu hết các công trình nghiên cứu ở đây thiên về việc nghiên cứu các khu hệ cá riêng biệt hay về các đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài cá. Hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề định loại một phân bộ hay họ cá riêng biệt ở khu vực này. Việc điều tra nghiên cứu, thống kê và sắp xếp theo một hệ thống khoa học một bộ cá có giá trị cao như cá Vược rất cần được tiến hành. Để từ đó có thể khái quát nên thực trạng phân bố và khu trú một phân bộ hay một phân họ cá riêng biệt ở tỉnh Khánh Hoà dẫn đến đề xuất một số biên pháp bảo vệ và phát triển khả thi cho nguồn lợi.Điều tra về nguồn tài nguyên động vật không chỉ bổ sung những kiến thức quý báu cho khoa học mà đó còn là cơ sở quan trọng để khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên về cá nói chung và về bộ cá lớn như cá Vược nói riêng cho các mục tiêu kinh tế, xã hội ở tỉnh Khánh Hòa. Vì những lí do trên nên chúng tôi chọn đề tài Nghiên cứu thành phần loài Bộ Cá Vược (Perciformes ) ở các thủy vực nội địa tỉnh Khánh Hoà” trong luận văn thạc sĩ khoa học của mình.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Thu hà
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Võ Văn Phú-Trường Đại học Khoa học Huế Người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn
Xin chân thành cám ơn quý thầy, cô cùng tập thể cán bộ Khoa Sinh Trường Đại học Sư phạm Huế Phòng đào tạo sau Đại học Trường Đại học Sư phạm Huế Tập thể cán bộ tổ bộ môn Tài nguyên Môi trường trường Đại học Khoa học Huế, đã quan tâm giúp đỡ tận tình trong quá trình thực hiện đề tài
Xin tỏ lòng biết ơn đến những cơ quan, đơn vị cùng bà con ngư dân tỉnh Khánh Hòa đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá tình thu mẫu, phân tích mẫu để phục vụ cho bản luận văn
Xin trân trọng cám ơn
Tác giả
Lê Thị Thu Hà
Trang 3km có một cửa sông, có 8 cửa lạch, 10 đầm, vịnh Do điều kiện địa hình thuận lợi nênKhánh Hoà là nơi giao lưu giữa các loài cá nước ngọt và nước mặn tạo nên một khu hệ
cá rất phong phú, nhất là ở các loài cá thuộc bộ cá Vược Với điều kiện tự nhiên thíchhợp cho việc phát triển nguồn lợi cá như vậy nên cá Vược là một bộ cá có giá trị kinh
tế vào bậc nhất theo nguồn lợi kinh tế về cá ở Khánh Hòa Nhưng do tình hình khaithác chưa hợp lý kèm với sự ô nhiễm diễn ra ngày càng nghiêm trọng nên nguồn lợinày đang ngày càng bị suy giảm Trong những năm gần đây sản lượng khai thác vànuôi trồng thủy hải sản trong tỉnh ngày càng giảm sút Mặc dù số lượng tàu thuyền vàcông cụ đầu tư khai thác đã tăng lên, diện tích nuôi trồng và số lao động phục vụ trongnghề cá cũng tăng lên liên tục theo từng năm
Việc nghiên cứu về cá ở tỉnh Khánh Hòa đã diễn ra từ khá sớm nhưng nhìnchung hầu hết các công trình nghiên cứu ở đây thiên về việc nghiên cứu các khu hệ cáriêng biệt hay về các đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài cá Hầu như chưa cómột công trình nào nghiên cứu về vấn đề định loại một phân bộ hay họ cá riêng biệt ởkhu vực này Việc điều tra nghiên cứu, thống kê và sắp xếp theo một hệ thống khoahọc một bộ cá có giá trị cao như cá Vược rất cần được tiến hành Để từ đó có thể kháiquát nên thực trạng phân bố và khu trú một phân bộ hay một phân họ cá riêng biệt ởtỉnh Khánh Hoà dẫn đến đề xuất một số biên pháp bảo vệ và phát triển khả thi chonguồn lợi
Điều tra về nguồn tài nguyên động vật không chỉ bổ sung những kiến thức quýbáu cho khoa học mà đó còn là cơ sở quan trọng để khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn
Trang 4tài nguyên về cá nói chung và về bộ cá lớn như cá Vược nói riêng cho các mục tiêukinh tế, xã hội ở tỉnh Khánh Hòa
Vì những lí do trên nên chúng tôi chọn đề tài" Nghiên cứu thành phần loài Bộ
Cá Vược (Perciformes ) ở các thủy vực nội địa tỉnh Khánh Hoà” trong luận văn thạc
sĩ khoa học của mình
2 Mục đích nghiên cứu
1 Xác định được danh lục thành phần loài thuộc Bộ Cá vược (Perciformes) ở cácthuỷ vực nội địa thuộc tỉnh Khánh Hoà
2 Đánh giá được tính đa dạng về thành phần loài của Bộ Cá vược (Perciformes)
3 Bước đầu xây bựng bộ mẫu về cá Vược tỉnh Khánh Hòa
4 Đề xuất đưa ra các giải pháp bảo vệ khả thi nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lợi
cá ở vùng này
3 Nội dung nghiên cứu
1 Lập danh lục thành phần loài thuộc bộ cá Vược
2 Nghiên cứu số lượng và phân bố của các loài tại một số con sông chính ởKhánh Hòa
3 Nghiên cứu tính chất địa động vật về cá Vược tỉnh Khánh Hòa, so sánh với yếu
tố địa động vật trên thế giới, trong khu vực và ở vùng nghiên cứu
4 Xây dựng bộ mẫu về các loài trong bộ cá Vược ở tỉnh Khánh Hòa
5 Nghiên cứu thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá Vược từ đó đề xuấtviệc sử dụng hợp lý và các biện pháp bảo vệ
Trang 5Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở CÁC VÙNG NƯỚC NỘI ĐỊA
1.1 Tình hình nghiên cứu cá ở các thủy vực nội địa Việt Nam
Việt Nam nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp thềm lục địadài và rộng lớn Thêm vào đó là một hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá rộng lớnmang tính chất đặc trưng của các hệ sinh thái nhiệt đới Cho nên hệ sinh vật thủy sinhnói chung và khu hệ cá nói riêng rất được chú trọng nghiên cứu Thế nhưng, việcnghiên cứu về cá chỉ mới chú phát triển từ những năm đầu của thập niên 60 trở lại đây.Mặc dù, các công trình nghiên cứu cá nội địa ở nước ta được đề cập từ rất sớm nhưng
đa số các công trình nghiên cứu là của các tác giả người nước ngoài như Anh, Pháp,
Mỹ, Trung Quốc, Đặc biệt nhiều nhất là các tác giả người Pháp với mục đích nghiêncứu để khai thác thuộc địa nên hầu hết các mẫu vật nghiên cứu ở thời kỳ này được lưugiữ ở bảo tàng Paris Tuy nhiên từ sau khi miền Bắc giải phóng các tác giả người ViệtNam đã bắt tay vào nghiên cứu một cách mạnh mẽ và có hệ thống đã góp phần hoànthiện dần bản đồ khu hệ cá ở Việt Nam
Công trình đầu tiên nghiên cứu về phân loại cá nước ngọt ở Việt Nam là của H E.Sauvage được công bố năm 1881 với công trình “Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và
mô tả một số loài mới ở Đông Dương” Thông qua tác phẩm này, Sauvage đã thống kêđược 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta.Đến năm 1884, ông thu thập và công bố thêm 10 loài cá nước ngọt ở Hà Nội, trong đó
có 7 loài mới [8] Năm 1891, L Vaillant đã thu thập ở Lai Châu được 6 loài cá và mô
tả 4 loài mới Năm 1904, ông đã thu thập ở sông Kỳ Cùng được 5 loài và công bố 1loài mới Năm 1907, kết quả phân tích mẫu cá thu thập ở Hà Nội của Đoàn thườngtrực Khoa học Đông Dương đã công bố 29 loài và mô tả 2 loài mới, đến năm 1934 đãcông bố thêm 33 loài mới Ngoài ra còn có các tác giả người nước ngoài khác như J.Henry (1856), Pellagin (1906, 1907, 1923, 1928, 1932, 1934), P Worman (1925),Gruvel (1925), P Chabanaud (1926), R Bourret (1927),… cũng đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về cá ở các sông suối và đầm phá ven biển nước ta
Tiếp đó, P Chevey (1930, 1932, 1935, 1936, 1937) đã có nhiều nghiên cứu về cá
ở các sông suối miền Bắc Việt Nam và phát hiện sự có mặt của cá Chình Nhật
Trang 6(Anguilla japonica) ở sông Hồng [56] Năm 1937, một công trình tổng hợp về cá nước
ngọt miền Bắc Việt Nam của P Chevey và J Lemasson - “Góp phần nghiên cứu vềcác loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” đã giới thiệu 17 họ, 98 loài Đây được xem
là công trình nghiên cứu tổng hợp đầy đủ nhất về cá lúc bấy giờ [49] Ở vùng nướcngọt miền Trung, công trình đầu tiên được biết đến là của G Tirant (1929) về khu hệ
cá sông Hương – Huế công bố 70 loài trong đó có 5 loài mới [8]
Việc nghiên cứu về cá ở trong thời gian này chỉ mới dừng lại ở mức độ mô tả,thống kê thành phần loài còn về nguồn lợi, phương pháp khai thác, phát triển và bảo
vệ chưa được thực hiện nghiên cứu
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), công tác nghiêncứu về sinh vật nói chung và nghiên cứu cá nói riêng bị gián đoạn
Trong giai đoạn 1955 - 1975, khi hòa bình lập lại, miền Bắc được hoàn toàn giảiphóng, công tác nghiên cứu lại được tiếp tục và tập trung chủ yếu ở miền Bắc do chínhcác nhà khoa học Việt Nam tiến hành Ở giai đoạn này công tác điều tra cơ bản sinhvật nước ngọt do các cơ quan như Trạm nghiên cứu Thủy sản nước ngọt Đình Bảngthuộc Tổng cục Thủy sản (nay là Bộ Thủy sản), khoa Sinh vật trường Đại học Tổnghợp Hà Nội và trường Đại học Thủy sản Hải Phòng thực hiện [8] Các cơ quan này đãtiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái Đông bắc, Tây bắc và Khu IV cũ thuộccác loại hình thủy vực khác nhau như sông, suối, hồ chứa, đầm, ao, ruộng…Các thủyvực sông Đà, sông Cầu, sông Chảy, sông Lô, sông Gấm, sông Châu Giang, sông Ninh
Cơ, sông Cần Thao, sông Bắc Hưng Hải…được điều tra kĩ hơn Tiếp đến là các đầm,
hồ chứa như Thác Bà, Ba Bể, hồ Tây, Cấm Sơn, Suối Hai, Đại Lãi, Vân Trục…; còncác hồ nhỏ, ruộng lúa được điều tra ít hơn [5] Một số vùng còn có các điểm trắngchưa điều tra như Lai Châu, Móng Cái, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế…
Ở thời kỳ này, các công trình nghiên cứu tiêu biểu về khu hệ ở miền Bắc gồm cáctác giả: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1959): “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông Bôi”;
“Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia” (1960); Đào Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, MaiĐình Yên (1961): “Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ Tây”; Mai Đình Yên (1962): “Sơ bộđiều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng”; NguyễnVăn Hảo (1964): “Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba Bể”; Hoàng Duy Hiệp, Nguyễn Duy
Trang 7điểm sinh học một số loài cá ruộng ở đồng bằng miền bắc Việt Nam”, Đoàn Lệ Hoa,Phạm Văn Doãn (1971): “Sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã”[5]; P Bananescu(1967, 1970, 1971): “Nghiên cứu phân họ cá Mương (Cultrinae)” [56]
Ở miền Nam cũng có một số công trình do các cán bộ người Việt Nam và ngườinước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964); Fourmanvir(1965); M Yamamura (1966), Nguyễn Viết Trường và Trần Thị Túy Hoa (1972), Y.Taki (1975) [8],…
Sau năm 1975, kế thừa thành quả của những giai đoạn trước ở giai đoạn này côngtác nghiên cứu cá được phát triển trên cả nước Nhiều công trình nghiên cứu về thànhphần loài cũng như đặc điểm sinh học đã được triển khai nên đã lấp dần các điểm trắngchưa được điều tra
Các kết quả nghiên cứu khu hệ cá miền Bắc tiêu biểu gồm: Nguyễn Hữu Dực(1982): “Thành phần loài cá sông Hương” đã thống kê được 58 loài; Nguyễn Thái Tự(1983): “Khu hệ cá sông Lam” đã thống kê được 157 loài;
Nghiên cứu về khu hệ cá miền Nam tiêu biểu có các công trình của Mai ĐìnhYên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992):
“Thành phần loài cá sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn và sông ĐồngNai” (255 loài) Đây được xem như là công trình đầy đủ nhất về cá miền Nam ViệtNam vào cuối thế kỷ XX [5]
Ở vùng nước ngọt miền Trung, Tây Nguyên đã có một số công bố của DươngTuấn (1979): “Đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá đầm Châu Trúc” (39 loài); NguyễnVăn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994): “Thành phần loài ở một số sông suối TâyNguyên” (82 loài) [7]; Võ Văn Phú (1995, 1997): “Thành phần các loài cá ở đầm pháThừa Thiên Huế” đã thống kê được 163 loài thuộc 95 giống nằm trong 60 họ và 17 bộ[21] Trong đó bộ cá Vược có thành phần loài phong phú nhất với 86 loài chiếm52,76% tổng số loài Đây được xem là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về khu hệ cáđầm phá vào thời gian này; Nguyễn Thị Thu Hè (1999): “Thành phần loài cá ở sôngsuối Tây Nguyên” (138 loài) [11]; Vũ Trung Tạng (1999): “Thành phần loài cá ĐầmTrà Ô” (67 loài) [46]; Nguyễn Thái Tự (1999): “Khu hệ cá Phong Nha” (72 loài);
Từ năm 2000 đến nay rất nhiều công trình khoa học đã được công bố đã góp phần
bổ sung để hoàn thiện về các khu hệ cá trên cả nước, tiêu biểu như: Võ Văn Phú, Trần
Trang 8Hồng Đĩnh (2001): “Khu hệ cá Đầm Lăng Cô” (151 loài); Nguyễn Xuân Huấn,Nguyễn Việt Cường, Thạch Mai Hoàng (2003): “Cá khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà –Núi Chúa” (78 loài); Võ Văn Phú, Trương Thị Thu Hà (2003): “Cấu trúc thành phầnloài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình” (169 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Thu Hà(2003): “Đa dạng sinh học về thành phần loài cá hồ thủy điện Yaly (Gia Lai – KomTum)” với 98 loài; Võ Văn Phú, Hồ Thị Hồng (2003): “Khu hệ cá ở vùng cửa sôngven biển tỉnh Hà Tĩnh” (131 loài); Võ Văn Phú (2004): “Khu hệ cá vườn Quốc giaBạch Mã” đã thống kê được 57 loài cá nước ngọt thuộc 48 giống, 17 họ và 6 bộ cákhác nhau Danh lục này đối chiếu với kết quả nghiên cứu năm 1998 của Võ Văn Phúthì đã bổ sung thêm 22 loài mới chiếm 38,59% tổng số loài Trong đó cá Vược có 13loài chiếm 22,81% tổng số loài, 12 giống và 5 họ Qua đây cho thấy tính chất ngọt hóa
do nằm sâu trong lục địa của khu hệ [24]; Võ Văn Phú (2005): “Đa dạng sinh học cásông Hương, tỉnh Thừa Thiên Huế” (121 loài) [29]; Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh,Nguyễn Ngọc Hoàng Tân (2005): “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sôngTam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” [30]; Võ Văn Phú, Nguyễn Minh Ty (2005): “Thành phầnloài khu hệ cá Sông Ba, Phú Yên” thống kê được 71 loài cá thuộc 54 giống, 37 họ và
11 bộ trong đó cá Vược có 22 loài chiếm 30,99% [27]; Võ Văn Phú, Hoàng Trọng Tú,Hoàng Đình Trung, Văn Ngọc Cương (2006): “Đa dạng Sinh học thành phần loài cá ởkhu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, tỉnh Quảng Trị” đã ngiên cứu được 100 loài thuộc
65 giống, 19 họ và 8 bộ Trong đó ưu thế nhất thuộc về bộ cá chép với 62 loài chiếm62,00%, bộ cá Vược với 26 loài chiếm 26,00% [28]; Võ Văn Phú, Hồ Thị Thanh Tâm(2006): “Khu hệ cá sông Hàn, thành phố Đà Nẵng” (108 loài) [31]; Võ Văn Phú,Nguyễn Vinh Hiển (2007): “Nghiên cứu Thành phần loài cá ở sông Bến Hải, tỉnhQuảng Trị”; Võ Văn Phú, Hoàng Thị Long Viên (2007): “Nghiên cứu đa dạng thànhphần loài cá ở sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế” (145 loài); Võ Văn Phú, Hồ Thị NhiMin (2007): “Nghiên cứu đa dạng sinh học về thành phần loài cá ở hệ thống sông Nhật
Lệ, tỉnh Quảng Bình” (216 loài); Võ Văn Phú và Nguyễn Thanh Đăng (2008): “Đadạng thành phần loài cá hệ thống sông Truồi, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế”;
Võ Văn Phú và Trần Thuỵ Cẩm Hà (2008) [34]: “Đa dạng thành phần loài cá ở vùngcảnh quan hành lang xanh của hai tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị” (79 loài);
Trang 9thống sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” đã xác định được 148 loài cá thuộc 101 giống
59 họ và 17 bộ Trong đó cá vược có 26 họ chiếm 44,07% tổng số họ, 41 giống chiếm40,59% tổng số giống và 71 loài chiếm 47,30% tổng số loài; Võ Văn Phú, DươngTuấn Hiệp (2009): “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cá ở sông Đại Giang, tỉnhThừa Thiên Huế”; Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Thuận (2009): “Nghiên cứu thành phầnloài cá sông Ô Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế” thống kê 109 loài thuộc 76 giống, 31 họ và
11 bộ Trong đó bộ cá Vược có 38 loài chiếm 34,86% [39]; Võ Văn Phú, Nguyễn ThịPhi Loan (2010): “Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của cá Tráp gai vàng và cá Đối lá ởĐầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” gồm 138 loài cá với 87 giống nằm trong 55 họ, thuộc 16
bộ Trong đó ưu thế thuộc về bộ cá Vược với 25 họ chiếm 45,45% tổng số họ, 40giống chiếm 45,97% và 73 loài chiếm 52,90% Nghiên cứu này đã bổ sung thêm 24loài mới cho khu hệ cá đầm Ô Loan của cùng nhóm tác giả nghiên cứu vào năm 2003[15]; Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Minh Ty (2010): “Nghiên cứu khu hệ cá sông Ba, tỉnhPhú Yên”; Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú: “Nghiên cứu Khu hệ cá ở hệ thống sông
Vu Gia – Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam” (197 loài) [36]; Võ Văn Phú, Lê Văn Quảng,Dương Tuấn Hiệp, Nguyễn Duy Thuận (2011) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài
cá rạn san hô ven bờ đảo Cồn cỏ tỉnh Quảng Trị” xác định được 103 loài nằm trong 62giống thuộc 35 họ và 10 bộ; Võ Văn Phú và cộng sự 2011:”Nghiên cứu đánh giá hiệntrạng môi trường các hệ sinh thái thuỷ sinh đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, những tácđộng các công trình trên dòng chính sau thực hiện quy hoạch đến điều kiện tự nhiênmôi trường vùng đầm phá và đề xuất biện pháp giảm thiểu” nghiên cứu được 199 loàithuộc 106 giống nằm trong 17 họ Trong đó cá Vược chiếm ưu thế nhất với 35 họ 59giống và 116 loài chiếm lần lượt 54,69%, 55,66%, 58,29%; Võ Văn Phú và Trần ĐạiNghĩa (2011), “Nghiên cứu khu hệ cá sông Roòn, tỉnh Quảng Bình” thống kê được
135 loài trong đó cá Vược có 64 loài chiếm 47,41%; Võ Văn Phú và Nguyễn GiangNam (2011), “Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình”thống kê được 101 loài thuộc 69 giống trong 32 họ và 10 bộ Trong đó cá Vược gồm
16 họ chiếm 50.00% tổng số họ, 23 giống chiếm 33,33% tổng số giống và 35 loàichiếm 34,65% [18]; Võ Văn Phú, Nguyễn Tuấn (2011) “Nghiên cứu thành phần loài
và đặc điểm phân bố của cá ở hệ thống sông Hội An, tỉnh Quảng Nam” đã xác định
141 loài nằm trong 99 giống thuộc 58 họ và 18 bộ Trong đó cá Vược với 72 loài
Trang 10chiếm 51,06% tổng số loài, 46 giống chiếm 46,47% tổng số giống và 30 họ chiếm51,72% tổng số họ Qua đây cho thấy tính chất mặn hóa của hệ thống sông Hội Antỉnh Quảng Nam là rất cao Tạ Thị Thủy, Đỗ Văn Nhượng, Trần Đức Hậu và NguyễnXuân Tuấn (2011) “Thành phần và phân bố các loài các sông Ba Chẽ thuộc địa phậntỉnh Quảng Ninh” đã thống kê được 123 loài thuộc 102 giông, 58 họ và 13 bộ Trong
đó cá Vược có 29 họ, 40 giống và 52 loài chiếm lần lượt 50,00%, 39,20%, 43,20%[53]; Nguyễn Hữu Dực và Tống Xuân Tám (2012) “ Nghiên cứu về thành phần loài,đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông Sài Gòn” thống kê được
264 loài thuộc 155 giống nằm trong 68 họ của 16 bộ [44]; Võ Văn Phú, Phạm Thanh
Hà (2012) “ Đa dạng về thành phần loài cá ở hệ thống sông Hiếu tỉnh Quảng Trị” đãthống kê được 170 loài thuộc 110 giống nằm trong 56 họ của 16 bộ cá khác nhau Đadạng nhất là bộ cá Vược với 24 họ chiếm 42, 86% tổng số họ, 41 giống chiếm 37.27%tổng số giống và 72 loài chiếm 42,35% tổng số loài [6]; Võ Văn Phú và Lê Thị ThuPhương (2012) “Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Gianh, tỉnh Quảng Bình” đã xác địnhđược 157 loài thuộc 97 giống, 55 họ và 18 bộ Bộ cá Vược chiếm ưu thế với 24 họchiếm 43, 64% tổng số họ, 37 giống chiếm 38,26% tổng số giống và 68 loài chiếm43,30% tổng số loài [42]; Võ Văn Phú và cộng sự (2013) “Nghiên cứu thành phần loàikhu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền” đã thống kê được 67 loài thuộc 44 giống nằmtrong 18 họ thuộc 6 bộ Trong đó bộ cá vược có 17 loài chiếm 25,37%, 11 giống chiếm25,00% và 6 họ chiếm 33,33%., thể hiện tính chất ngọt hóa của khu hệ này…
Nhìn chung, những nghiên cứu về cá đang được đẩy mạnh và có những bước tiếnvững chắc Tuy nhiên, trong các công bố chưa có một công trình nào nghiên cứu toàndiện về thành phần loài cá Nam Trung Bộ Trước đó Nguyễn Hữu Dực (1995) đã công
bố 134 loài cá thuộc khu hệ cá Nam Trung Bộ nhưng chưa được xem là đầy đủ
3.2 Tình hình nghiên cứu cá nội địa ở tỉnh Khánh Hoà
Khánh Hoà là tỉnh có địa hình phân hóa khá phức tạp cùng với sự ảnh hưởng sâusắc của khí hậu nhiệt đới gió mùa đã tạo cho tỉnh này sự phong phú về sinh cảnh, đó làtiền đề cho sự đa dạng về hệ Động - Thực vật Vì vậy việc nghiên cứu về Động - Thựcvật nói chung và về cá nói riêng đã được tiến hành từ rất sớm và đã có công trình khoahọc đã công bố như: Mai Đình Yên, Nguyễn Hữu Dực (1991): “Thành phần loài cá
Trang 11sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25 loài [60] Tuy nhiên kể từ năm 1991 thìhầu như chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu đầy đủ về thành phần loài cá ởđây Gần đây công tác nghiên cứu đã tiếp tục được tiến hành và diễn ra ngày càngmạnh mẽ hơn, đã có một số công trình khoa học đã được công bố như: Nguyễn DuyHoan (1999), “ Biện pháp giải quyết giống cá nuôi tại các xã của huyện miền núiKhánh Sơn - Khánh Hòa”; Nguyễn Phi Uy Vũ, Hồ Bá Đỉnh, Lê Thị Thu Thảo, TrầnThị Hồng Hoa, Võ Văn Quang (2007), “Thành phần loài cá thường gặp của một số
nghề khai thác cá đáy và gần đáy ở vùng biển ven bờ tỉnh Khánh Hòa”, Báo cáo khoa
học, Hội nghị khoa học quốc gia “Biển Dông 2007” đã thống kê được 263 loài thuộc
161 giống, 92 họ và 19 bộ Trong đó bộ cá Vược chiếm ưu thế nhất với 44 họ chiếm47,83% tổng số họ, 82 giống chiếm 50,93% tổng số giống, 158 loài chiếm 60,08%tổng số loài [55]; Cao Xuân Dũng (2010) “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
cá Nghạnh” và “ Nghiên cứu các thông số kỹ thuật, xây dựng quy trình kỹ thuật sảnxuất giống nhân tạo cá Dìa ( Siganus guttatus) tại Khánh Hòa (2011 - 2013); Trần VănPhước (2011) “ Hiện trạng nguồn lợi thủy sản khai thác bằng nò sáo tại thôn Tân Đảo -đầm Nha Phu - tỉnh Khánh Hòa đã thống kê được 55 loài cá trong đó bộ cá Vược gồm
có 33 loài chiếm 52,38% Thể hiện tính chất mặn hóa trong đầm là rất cao
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về cá ở tỉnh Khánh Hoà vẫn còn ít, đặcbiệt do tiềm năng về cá biển rất lớn nên các công trình nghiên cứu gần đây chú trọngnhiều hơn về cá biển Do vậy chưa đánh giá đúng mức về tiềm năng về nguồn lợi cá ởsông ngòi và các thủy vực nội địa khác Tuy nhiên nguồn lợi về cá ở Khánh Hoà vẫnđang được đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển trên nhiều lĩnh vực khác nhau
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước ta thấy rằng cá Vược là một
bộ cá rất lớn, rất đa dạng về thành phần loài, giống cũng như về bậc họ Ngoài ra đâycũng là một bộ cá có sự phân bố rất rộng từ sâu trong thủy vực đến ra ngoài biển khơi.Ngay cả những khu hệ sâu trong đất liền hay nằm trên núi cao thì cá Vược vẫn là một
bộ cá chính với số lượng lớn và sự đa dạng về loài rất cao Nhất là ở Khánh Hòa vớinhững đặc trưng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác biệt hơn những tỉnh khácthì nguồn lợi về cá Vược nổi bậc hơn hẳn những bộ cá còn lại Vì vậy việc nghiên cứuriêng về bộ cá này là rất cần thiết
Trang 12Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
TỈNH KHÁNH HÒA2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Khánh Hòa là một tỉnh nằm ở vùng duyên hải cực Nam Trung Bộ của Việt Namcách thành phố Hồ Chí Minh 447 km và cách thủ đô Hà Nội 1.278 km đường bộ PhíaBắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc, phía Nam giáp tỉnh Ninh Thuận,phía Tây Nam giáp tỉnh Lâm Đồng và phía Đông giáp biển Đông
Tổng diện tích đất toàn bộ Khánh Hòa lên tới 5.217 km2, kéo dài từ tọa độ địa lý12°52’15" đến 11°42’50" vĩ độ Bắc và từ 108°40’33" đến 109°27’55" kinh độ Đông.Ngoài phần lãnh thổ trên đất liền khánh Hòa còn có thêm phần thềm lục địa, các đảo,bán đảo và huyện đảo Trường Sa Điểm cực Đông của Khánh Hòa nằm trên bán đảoHồng Gấm thuộc huyện Vạn Ninh và đây cũng chính là điểm cực Đông trên đất liềncủa Việt Nam [4]
2.1.2 Địa hình, địa mạo
Khánh Hòa là một tỉnh vừa giáp biển Đông đồng thời cũng chạy dọc theo dãy núiTrường Sơn Diện tích đất liền trong tỉnh đa số là núi non, miền đồng bằng rất nhỏ hẹp
và bị chia cắt chiếm khoảng 400km chưa đến 1/10 diện tích toàn tỉnh
Đây là tỉnh tương đối cao so với Việt Nam, độ cao trung bình so với mực nướcbiển khoảng 60m Đa số núi ở Khánh Hòa là những dãy núi có độ cao trung bình gắnliền với dãy Trường Sơn thường cao dưới 1000m Các dãy núi đa số nằm ở sát biển vàđâm ngang ra biển nên tạo cho tỉnh một địa hình với nhiều đồng bằng nhỏ bị chia cắt
và nhiều cảnh quan độc đáo, đẹp mắt Nên Khánh Hòa là một trong những tỉnh pháttriển du lịch bậc nhất ở Việt Nam Do ảnh hưởng của địa hình và sự phân bố của cácđỉnh núi nên Khánh Hòa là tỉnh không thuận lợi cho quá trình lắng đọng phù sa để bồi
tụ nên những đồng bằng Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang do phù sa sông Cái bồiđắp có diện tích 135km2 và đồng bằng Ninh Hòa do sông Dinh bồi đắp có diện tích là100km2 là hai đồng bằng lớn nhất tỉnh Ngoài ra tỉnh còn có hai vùng đồng bằng nhỏ
Trang 13Khánh Hòa là tỉnh có đường bờ biển đẹp, dài và khá khúc khuỷu kéo dài khoảng385km tính theo mép nước với nhiều cửa lạch, đầm, vịnh cùng hơn 200 hòn đảo lớnnhỏ ven bờ.
Với những thuận lợi về địa hình và khí hậu nên hệ sinh vật Khánh Hòa rất pháttriển nhất là thủy sinh vật Ở đây có sự phát triển đầy đủ của hệ thủy sinh nước ngọt,nước lợ cũng như nược mặn Ngoài ra còn có rất nhiều nguồn tài nguyên và khí hậuthuận lợi trong việc khai thac và nuôi trồng thủy hải sản
2.2 Điều kiện khí hậu
Điều kiện khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống mọi sinh vật Mặc dù cá làmột loài sống ở môi trường nước nhưng cũng không thể không chịu ảnh hưởng mạnh
mẽ của điều kiện khí hậu ảnh hưởng lên chính cơ thể và sự sống hằng ngày Là mộttrong tỉnh nằm ở khu vực cực nam của Nam Trung Bộ thuộc khí hậu savan nhiệt đớinhưng do địa hình phân bố tương đối phức tạp nên khí hậu ở Khánh Hòa có những nétbiến dạng độc đáo với các đặc điểm riêng biệt So với các tỉnh thành phía bắc từ đèo
Cả trở ra và phía nam từ Ghềnh Đá Bạc trở vào thì khí hậu ở Khánh Hòa tương đối ônhòa hơn do ảnh hưởng của khí hậu hải dương từ biển thổi vào
ra làm hai mùa rõ rệt Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổidần Những tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng
8 trời nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (Nha Trang) và 37-38 °C (Cam Ranh).Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhưng nền nhiệt không xuống quáthấp, nhiệt độ chỉ thay đổi từ 20-27 °C (Nha Trang) và 20-26 °C (Cam Ranh )
Trang 14Bảng 2.1 Bảng thống kê nhiệt độ ở Khánh Hòa năm 2011
Tháng Nhiệt độ (0C)
Hình 2.1 Biểu đồ thể hiện nhiệt độ các tháng tỉnh Khánh Hòa năm 2011
Tương ứng với mức nhiệt độ trung bình cao thì tỷ lệ số giờ nắng trong năm ở tỉnhKhánh Hòa cũng khá cao Tổng số giờ nắng được khảo sát ở năm 2011 có giảm đi sovới các năm trước nhưng so với mức trung bình của cả nước thì vẫn giữ ở mức cao là2.370 giờ Trong đó số giờ nắng ít rơi vào các tháng mùa mưa như tháng 12 chỉ thống
kê được 45 giờ nắng, tháng 1có 83 giờ nắng còn những tháng còn lại thì có số giờnắng rất cao tất cả đều trên 150 giờ Đặc biệt có những tháng số giờ nắng lên rất caonhư tháng 8 tới 293 giờ, tháng 5 có 286 giờ
Bảng 2.2 Bảng thống kê số giờ nắng trong năm ở Khánh Hòa
Trang 15Mùa khô từ tháng 1-8 đặc biệt có những tháng lượng mưa xuống rất thấp nhưtháng 2 lương mưa xuống quá thấp nên không đo được lưu lượng nước, tháng 4 chỉ đođược 4,8mm Do vậy vào mùa khô lưu lượng nước ở sông ngòi Khánh hòa rất it đa sốgiảm đi khoảng 1/3 lượng nước so với mức bình thường, ngoài ra một số sông suốinhỏ cạn khô hết nước.
Bảng 2.3 Bảng thống kê lượng mưa các tháng trong năm 2011 ở Khánh Hòa
Trang 160 50 100 150 200 250 300 350 400
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện lượng mưa các tháng trong năm 2011
Trang 17Vậy Khánh Hòa là một tỉnh có thời tiết tương đối ôn hòa rất thuận lợi để pháttriển kinh tế, xã hội và đặc biệt với khí hậu và nhiệt độ phù hợp như vậy thì hệ sinh vật
ở trong tỉnh rất phát triển
2.2.4 Chế độ thủy văn
Do Khánh Hòa thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình lần lượt là núi,đồi, đồng bằng ven biển và biển nên hệ thống sông suối chịu ảnh hưởng sâu sắc từ địahình của tỉnh Sông ngòi trong tỉnh nhìn chung ngắn và dốc, cả tỉnh có khoảng 40 consông dài từ 10 km trở lên, tạo thành một mạng lưới sông ngòi phân bố khá dày Hầuhết, các con sông đều bắt nguồn tại vùng núi phía Tây trong tỉnh và chảy xuống biểnphía đông Dọc bờ biển, cứ khoảng 5 - 7 km có một cửa sông
Mặc dù hướng chảy cơ bản của các sông là hướng Tây - Đông, nhưng tùy theohướng của mạch núi kiến tạo hoặc do địa hình cục bộ, dòng sông có thể uốn lượn theocác hướng khác nhau trước khi đổ ra biển Đông Đặc biệt là sông Tô Hạp, bắt nguồn
từ dãy núi phía Tây của huyện Khánh Sơn Đây là con sông duy nhất của tỉnh chảyngược dòng về phía Tây ngoài ra vào mùa mưa lũ có xảy ra hiện tượng chuyển dòngrất nguy hiểm Hai con sông lớn nhất tỉnh là sông Cái và sông Dinh Sông Cái có độdài 79 km, bắt nguồn từ hòn Gia Lê cao 1.812 m chảy qua Khánh Vĩnh, Diên Khánh,Nha Trang rồi đổ ra biển qua Cửa Bé (Tiểu Cù Huân) và Cửa Lớn (Đại Cù Huân).Sông Dinh bắt nguồn từ vùng núi Chư H'Mư (đỉnh cao 2.051 m) thuộc dãy Vọng Phu,
có tổng diện tích lưu vực 985 km2, chảy qua thị xã Ninh Hòa và đổ ra đầm Nha Phu
2.2.5 Tài nguyên thiên nhiên
Khánh Hòa được đánh giá là một tỉnh có nhiều tài nguyên khoáng sản như thanbùn, cao lanh, sét, sét chịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặngilmênit, nước khoáng, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác.Ngoài ra còn có nhiều tài nguyên biển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữlượng hải sản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điềukiện thuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản Theo đánh giá nguồnlợi, vùng biển Khánh Hòa có tổng trữ lượng hải sản khoảng 150.000 tấn, cho phépkhai thác ở mức 70.000 tấn/năm Nhưng do những năm gần đây sản lượng hải sảnđánh bắt được ngày càng giảm sút nên cần có những biện pháp khắc phục và hiện tạicần có những biện pháp phát triển nuôi trồng thủy hải sản
Trang 182.3 Tình hình kinh tế - xã hội
2.3.1 Dân số và lao động
Theo kết quả điều tra đến cuối năm 2011 tổng dân số trên toàn tỉnh là 1.174.136người trong đó nữ là 593.681 người chiếm 50,56% Số người lao động trong lĩnh vựcnông - lâm nghiệp và thủy sản là 633.580 người chiếm 53,96% Mật độ dân số khôngphân bố đồng đều ở trong tỉnh có sự chênh lệch mật độ giữa thành phố và huyện miềnnúi là rất lớn Mật độ cao nhất ở thành phố Nha Trang với 1.568 người/km2 thấp nhất ởhuyện Khánh Vĩnh chỉ có 30 người/km2 Nhìn chung lượng lao động khá đồi dào nhất
là lao động phụ vụ trong lĩnh vực nông - lâm - thủy sản Nhưng hầu hết là lao độngphổ thông , chưa qua trường lớp đào tạo nên khó khăn trong việc vân dụng các tiến bộkhoa học vào sản xuất để phát triển nền kinh tế tỉnh Khánh Hòa
2.3.2 Tình hình kinh tế
Dưới chính sách lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà Nước tình hình kinh tế tỉnhKhánh Hòa ngày càng ổn định và đang đần được nâng cao Tỷ lệ thất nghiệp trongnăm 2011 là 3,54% , thu nhập bình quân trên đầu người được nâng cao Ở thành thị từmức thu nhập bình quân năm 2010 là 1.375,2 nghìn đồng lên 1.450,4 nghìn đồng năm
2011 Ở nông thôn thu nhập bình quân từ 702,8 nghìn đồng năm 2010 lên đến 1.136nghìn đồng năm 2011 Tỷ lệ hộ ngèo năm 2011 giảm xuống còn 8,8%, đa phần tậptrung ở nông thôn và các huyện miền núi Ngoài ra do điều kiện tự nhiên thuân lợi vàcác chính sách đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài nên Khánh Hòa là một tỉnh cómức đầu tư và phát triển các dự án nước ngoài rất cao
2.3.3 Giáo dục
Nền giáo dục ở Khánh Hòa đang ngày càng được mở rộng về quy mô và nâng cao
về chất lượng Ngoài huyện Trường sa thì tất cả các thành phố, thị xã và các huyện cònlại đều đã có đầy đủ trường học từ mẫu giáo đến trung học phổ thông Nâng mức tốtnghiệp bậc trung học phổ thông lên mức rất cao là 99,65% Ngoài ra trong toàn tỉnhcòn có 3 trường trung học chuyên nghiệp, 7 trường cao đẳng, đại học và một số trườngkhác đang trong thời gian hoàn thiện để đi vào hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chokhánh hòa nói riêng và cho cả nước nói chung
Trang 192.3.4 Y tế
Mức đầu tư về sức khỏe cho con người ở Khánh Hòa ngày càng được chú trọng
Cở sở vật chất cũng như nguồn lực cán bộ y tế trong tỉnh ngày càng được quan tâmđầu tư để nâng cao chất lượng phục vụ sức khỏe cho nhân dân 100% các huyện trongtỉnh đều có trạm y tế Ngoài huyện Trường Sa thì tất cả các huyện, thành phố và thị xãcòn lại đều có bệnh viện đa khoa Nâng mức số bác sĩ trên van dân lên mức 5,2 bác sĩ/vạn dân
Trang 20Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loài cá thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở một số sông chính thuộc tỉnh
Khánh Hòa
Tình hình hoạt động, khai thác nuôi thả cá Vược trong các thủy vực
3.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ tháng 9 năm 2012 đến cuối tháng 9 năm 2013
- Tháng 9 đến tháng 10 năm 2012 thu thập số liệu, khảo sát vùng nghiên cứu
- Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 9 năm 2013:
+ Nghiên cứu thực đia: Tiến hành thư mẫu theo định kỳ 2 tháng 1 lân
+ Phân tích số liệu và xử lý mẫu
+ Làm bộ mẫu
Những mẫu đã định loại được lưu giữ tại phòng Tài nguyên - Môi trường, khoaSinh học, trường đại học Khoa học Huế
3.3 Địa điểm nghiên cứu
- Tiến hành thu mẫu cá trên các con sông: Sông Dinh, sông Chò, sông Giang,sông Cái, sông tô hạp và các thủy vực nội địa khác
- Trên mỗi sông sẽ tiến hành 4 - 6 vùng thu mẫu như đã xác định trên sơ đồ.+ Sông Dinh sẽ thu mẫu trên các vùng thuộc các xã: Ninh Xuân, Ninh Bình, NinhGiang, Ninh Hồ, Ninh Quang thuộc Huyện Ninh Hòa
+ Sông Cái sẽ tiến hành thu mẫu ở các vùng: thị trấn Khánh Hiêp Huyện KhánhVĩnh và các xã Diên Xuân, Diên Thọ, Diên Phước, Diên Lạc, Diên Phú huyện DiênKhánh Xã Khánh Tây, Khánh Nam huyện Khánh Vĩnh Xã Vĩnh Thạnh, Vĩnh Ngọcthành phố Nha Trang
+ Sông Tô Hạp sẽ tiên hành thu trên các xã Sơn Lâm, Sơn Hiệp, Ba Cụm Bắc, BaCụm Nam huyện Khánh Sơn
Trang 21Hình 3.1 Sơ đồ vùng thu mẫu tỉnh khánh hòa
Trang 223.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
3.4.1 Thu thập, xử lý và bảo quản mẫu cá
- Trực tiếp đánh bắt với ngư dân, mua mẫu của ngư dân đánh cá tại các địa điểmnghiên cứu
- Đặt các thẩu bằng nhựa plastic có pha sắn hóa chất định hình tại các địa điểmthu mẫu để nhở bà con ngư dân thường xuyên thu mẫu giùm trong thời gian nghiêncứu Mẫu cá ở ngư dân được thu thập 2 tháng một lần
- Thu mua và kiểm tra mẫu cá các khu vực xung quanh các địa điểm nghiên cứu.Khi tiến hành thu mua chúng tôi đặc biệt chú ý đến nguồn gốc (được đánh bắt ở đâu )
để đảm bảo độ chính xác về các loài cá sống trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
- Mẫu cá khi còn tươi sống được xử lý bằng formol nguyên chất để chụp ảnh.Tiếp theo sẽ được định hình trong dung dịch formol 10% Sau đó ngâm mẫu cá vàodung dịch formol 4-5 % Nếu cá lớn thì tiêm formol nguyên chất và ổ bụng, cơ
- Ghi nhãn những thông tin: Số thứ tự của mẫu, tên địa phương, địa điểm thumẫu, thời gian thu mẫu và người thu mẫu
3.4.2 Điều tra, phỏng vấn nhân dân địa phương vùng nghiên cứu
Điều tra phỏng vấn những thông tin liên quan đến những loài cá trong vùngnghiên cứu Tiệp cận và điều tra ngư dân (người kinh và người dân tộc, người đánh bắt
cá chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp) trong vùng nghiên cứu về tên các loài cá(tên địa phương, tên phổ thông), kích thước và khối lượng tối đa của các loài cá mà họ
đã gặp, tập tính sinh học, sinh thái, phân bố, di cư Số lượng, kích thước của nhữngloài cá khai thác chính (loài kinh tế), mùa vụ khai thác, giá bán các loài cá, số lượngcủa các loài cá trước đây và bây giờ, nguyên nhân tăng giảm số lượng
3.4.3 Khảo sát, thu thập và tổng hợp tài liệu
Quan sát, chụp ảnh các cảnh quan xung quanh vùng nghiên cứu, ghi chép các sựviệc, hiên tượng có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong quá trình đi thu mẫu.Thu thập thông tin và tổng hợp tất cả các tài liệu có liên quan đến đề tài ở Sở Tàinguyên Môi trường, Cục Thống Kê, viện Hải Dương Học tỉnh Khánh Hòa
Trang 233.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
3.5.1 Phương pháp phân loại cá
- Định loại cá bằng phương pháp so sánh hình thái, chủ yếu theo các khoá địnhloại của Vương Dĩ Khang (1963) [13]; Nguyễn Khắc Hường, Nguyễn Nhật Thi(1992); Mai Đình Yên (1978, 1992) [47], [48]; W.J.Rainboth (1996) [58] Nguyễn VănHảo (2001, 2005) [8], [9], [10] và FAO (1998) [53],[54], Eschermeyer (1998, 2005)[52]
- Mỗi loại cá được nêu tên khoa học và tên Việt Nam Trình tự các bộ, họ, giống,loài được sắp xếp theo hệ thống phân loại của T.R.Rass, G.U.Lindberg (1971) [57],FAO (1998) [53], Eschermeyer (1998, 2005) [52],
* Đo các chỉ tiêu hình thái:
- Đo kích thước các chỉ số đo hình thái (mm) của cơ thể và trọng lượng (g) cơ thể
cá (hình 3.2)
Hình 3.2 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo hình thái ở cá Vược của W.J.Rainboth(1996)
Các chỉ số đo hình thái (mm): Chiều dài cá tính từ mút mõm đến hết vây đuôi (L),Chiều dài thân (L0), Chiều dài đầu (T), Chiều dài gốc lưng, Chiều dài cuống đuôi,Chiều cao lớn nhất của thân (H), Chiều cao cuống đuôi, Đường kính mắt (O), Khoảngcách giữa 2 ổ mắt (OO)
Đếm một số chỉ tiêu số lượng tia, vây, gai ở các loại vây chẵn, vây lẻ của cơ thể
cá (hình 3.3)
Trang 24-+ Các chỉ số đếm: Số lượng tia và gai vây lưng (D), Số lượng tia và gai vây bụng(V), Số lượng tia và gai vây ngực (P), Số lượng tia và gai vây hậu môn (A), Số lượngtia và gai vây đuôi (C), Số vẩy đường bên (Sq)
+ Số lượng các tia gai cứng của các vây kí hiệu bằng chữ số La Mã Số lượng cáctia đơn không hóa xương hay các tia vây phân nhánh kí hiệu bằng chữ số Ả rập Hailoại gai này cách nhau bởi dấu phẩy (,)
3.5.2 Đánh giá mức quan hệ thành phần loài với cá khu hệ cá khác theo công thức gần gũi của Sorencen (1984)
Chúng tôi sử dụng công thức Sorencen (1948) để xác định hệ số gần gũi:
- Xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel
Hình 3.3 Sơ đồ các chỉ số đo đếm trong phân loại cá
Trong đó: S: Hệ số gần gũi giữa 2 khu hệ
A: Số loài riêng của khu hệ cá AB: Số loài riêng của khu hệ cá BC: Số loài chung của hai khu hệ
Trang 25Chương 4 THÀNH PHẦN LOÀI THUỘC BỘ CÁ VƯỢC (PERCIFORMES) Ở
CÁC SÔNG THUỘC TỈNH KHÁNH HÒA4.1 Danh lục thành phần loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) ở các sông thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Qua quá trình thu thập, phân tích và định loại thành phần loài bộ cá Vược(Perciformes) ở các sông thuộc tỉnh Khánh Hòa Chúng tôi đã xác định được 62 loài cáthuộc 38 giống nằm trong 21 họ khác nhau
Ở bảng 4.1 thể hiện thành phần các loài cá thuộc bộ cá Vược (Perciformes) phân
bố trên những con sông chính thuộc tỉnh Khánh Hòa Danh lục thành phần loài cáđược sắp xếp theo hệ thống phân loại của W.N Eschemayer (2005), chuẩn tên loài theoFao (1998, 2001)
Các con sông chính ở Khánh Hòa có sự đa dạng về thành phần loài trong bộ cáVược khá cao
Sông Cái ở Nha Trang là con sông lớn nhất tỉnh Khánh Hòa, nó nhận nước từ haiphụ lưu lớn là sông Chò và sông Giang ở thị trấn Khánh Vĩnh Thành phần loài cá ở hệthống sông Cái khá đa dạng, hầu hết các loài trong bộ cá Vược đã được tìm thấy ởtrong tỉnh đều có mặt ở hệ thống sông Cái Theo chúng tôi nghiên cứu thành phần loàisông Cái gồm có 61 loài trong 37 giống thuộc 21 họ cá khác nhau chiếm 98,38% tổng
số loài trên toàn tỉnh
Sông Dinh ở Ninh Hòa là côn sông lớn thứ hai trong toàn tỉnh Thành phần loàitrong bộ cá vược ở con sông này cũng khá phong phú Chúng tôi đã xác định được 58loài nằm trong 35 giống thuộc 21 họ trong bộ cá Vược ở tỉnh Khánh Hòa, chiếm93,45% tổng số loài trong toàn tỉnh
Sông Tô Hạp là một dòng sông rất đặc biệt Sông này chảy ngược về phía tây củatỉnh nên không thông ra biển Vì vậy thành phần loài trong bộ cá Vược được tìm thấy
ở con sông này rất hạn chế Chúng tôi đã xác định được 16 loài nằm trong 9 giốngthuộc 6 họ, chiếm 25,80% tổng số loài Qua kết quả ngiên cứu này cho thấy tính chấtngọt hóa đặc trưng ở khu hệ sông Tô Hạp
Trang 26Bảng 4.1 DANH LỤC THÀNH PHẦN LOÀI BỘ CÁ VƯỢC (PERCIFORMES)
Ở CÁC SÔNG THUỘC TỈNH KHÁNH HÒA
STT
(1)
Tên khoa học (2)
Tên Việt Nam (3)
Phân bố theo sông Nguồn
thu thập (7)
Cái (4)
Tô Hạp (5)
Dinh (6)
1 Lates calcarifer (Bloch,1790) Cá Chẽm 3(++) 3(+) TM,TL
2 Psammoperca waigiensis (Cuvier, 1828) Cá Vược cát 3(++) 3(+) TL,PV
3 Ambassis kopsi Bleeker, 1858 Cá Sơn kôpsô 2,3(+
7 Terapon theraps (Cuvier, 1829) Cá Căng 3(++) 3(+) TM,TL
8 T jarbua (Forsskăl, 1775) Cá Ong Căng 3(++) 3(+) TM
9 Pelates quadrilineatus (Bloch, 1790) Cá Căng bốn sọc 3(++) 3(+) TM
10 P sexlineatus (Quoy & Gaimard, 1825) Cá Căng sáu sọc 3(++) 3(+) TM
11 Apogon amboinensis Bleeker,1858 Cá Sơn ambôi 3(++) 3(++) TM
12 A lineatus Temminck & Schlegel, 1843 Cá Sơn sọc 3(++) TL,PV
13 Sillago sihama (Forsskăl, 1775) Cá Đục bạc 2,3(+) 3(++) TM
14 S japonica Temminck & Schlegel, 1842 Cá Đục nhật 3(+) TL
18 Lutjanus erythropterus Bloch,1790 Cá Hồng đỏ 3(++) 3(+) TM
19 L russellii (Bleeker, 1849) Cá Hồng chấm đen 3(+) 3(+) TM
(VIII
Trang 2721 S ruconius (Hamilton, 1822) Cá Liệt vân lưng 3(++) 3(++) TM,TL
22 Leiognathus equilus (Forsskăl, 1775) Cá Liệt lớn 2,3(+
+) 3(++) TM,TL
23 L bindus (Valenciennes, 1835) Cá Liệt mõm ngắn 2,3(++) 3(+) TL
24 Gazza minuta (Bloch, 1797) Cá Ngãng nhỏ 3(+) TL,PV
27 G limbatus Cuvier, 1830 Cá Móm xiên 2,3(+) 3(++) TM,TL
28 Gerreomorpha decacanthus (Bleeker,
29 Pomadasys hasta (Bloch, 1970) Cá Sạo hata 3(+) TM
30 Argyrosomus argentatus (Houttuyn, 1782) Cá Đù bạc 3(++) 3(+) TM,TL
31 Monodactylus argenteus (Linnaeus, 1758) Cá Chim trắng mắt
(XIII
32 Oreochromis aureus Steindachmer, 1864 Cá Rô phi xanh 1,2,3
(+++)
2,3(+
+)
1,2,3 (+++) TM
33 O mossambicus (Peters, 1852) Cá Rô phi đen 2.3(+
36 Pomacentrus nigricans (Lacépède, 1802) Cá Rô biển 3(++) 3(+) TM
38 Eleotris fusca (Schneider & Forster,1801) Cá bống mọi 2,3(+) 3(+) TM
39 E melanosoma Bleeker, 1852 Cá Bống đen lớn 1,2,3(
Trang 2851 Siganus guttatus (Bloch,1790) Cá Dìa sọc 3(++) 3(++) TL
52 S oramin (Bloch & Schneider, 1801) Cá Dìa cam 3(++) 3(++) TL,PV
53 S fuscescens (Houttuyn, 1782) Cá Dìa tro 3(++) 3(+) TM
54 Anabas testudineus (Bloch, 1927) Cá Rô đồng 1,2,3
(+++)
2,3(+
+)
1,2,3 (++) TM
55 Macropodus yeni Dực & Hảo Cá Đuôi cờ đen 1(+) TM
56 Betta taeniata Regan, 1910 Cá Thia ta 1(+) 1,2,3(
60 Trichopsis vittatus (Cuvier, 1831) Cá Bã trầu 1(+) TM
61 Channa striata (Bloch, 1797) Cá Lóc 1,2,3(
++)
1,2,3 (++)
1,2,3 (++) TM
62 C orientalis Sechesder, 1801 Cá Chành đục 1(++) 1(++
+) 1(++) TM
58
Trang 291 : Thượng lưu 2 : Trung lưu 3 : Hạ lưu+ : Ít gặp ++ : Thường gặp +++ : Gặp nhiều
TM : Thu mẫu PV : Phỏng vấn TL : Tài liệu
Trang 30Sông Dinh ở thị xã Ninh Hòa có thành phần loài cá Vược cũng khá đa dạng Có
58 loài cá Vược thuộc 35 giống trong 21 họ đã xác định được ở khu hệ sông này Bình
Trang 31Vì vậy tỷ lệ (%) giống và loài của hai con sông này tương tự với tỷ lệ chung củatoàn khu hệ đã được trình bày ở bảng 4.2.
Do nằm sâu trong lục địa, không tiếp giáp với biển nên sông Tô Hạp kém đa dạng
về thành phần các loài cá Vược Trong 62 loài đã xác định trong toàn tỉnh sông TôHạp có 16 loài thuộc 10 giống và 6 họ Bình quân mỗi họ có 1,66 giống và 2,66 loài.Mỗi giống có 1,60 loài Điều này thể hiện tính chất ngọt hóa đặc trưng của khu hệ này
Bảng 4.3 Số lượng, tỷ lệ (%) giống, loài của bộ cá Vược ở sông Tô Hạp
Về taxon bậc họ: Bộ cá Vược ở tỉnh Khánh Hòa theo thống kê có 21 họ thể hiện
sự đa dạng cao về số họ có trong bộ Trong đó có 9 họ đa giống chiếm 42,86%, 12 họđơn giống chiếm 57,16% Trong đó sông Cái và sông Dinh đều có 21 họ cá Vược đãxác định Riêng sông Tô Hạp chỉ xác định được 6 họ đặc trưng cho các loài cá Vượcsống ở các khe suối hay phân bố sâu trong môi trường nước ngọt
Về taxon bậc giống: Nghiên cứu và thu thập trong toàn bộ đã xác định được 38
giống Số lượng giống trong các họ không có sự dao động lớn Họ có số giống nhiềunhất là 5 giống trong khi họ có số giống ít nhất là 1 giống Trong đó họ cá Bống đen(Eleotridae) có số giống nhiều nhất là 5 giống chiếm 13,17% Tiếp đến là họ cá Sặc(Blontidae) với 4 giống chiếm 10,53% Có 3 họ là họ cá Khế (Carangidae), họ cá Liệt(Leiognathidae) và họ cá Bống trắng (Gobiidae) cùng có 3 giống chiếm 7,90% Họ cáChẽm Centropomidae), họ cá Sơn (Ambassidae), họ cá Căng (Teraponidae) và họ cáMóm (Gerridae) cùng có 2 giống chiếm 5,26% Còn 12 họ cá còn lại mỗi họ chỉ chứa
1 giống chiếm 2,63% Vậy nhìn chung sự phân bố các giống trong từng họ ở bộ cáVược tương đối đồng đều nhau Hơn 50% các họ chỉ chứa 1 giống nên độ đa dạng vềbậc họ cao hơn độ đa dạng về bậc giống trong bộ cá Vược
Trang 32Ở các sông lớn trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa theo chúng tôi nghiên cứu khá đadạng về bậc giống Sông Cái đã xác định được 37 giống chiếm 97,36% tổng số giốngtoàn tỉnh, chỉ kém hơn so với toàn bộ khu hệ sông suối 1 giống Điều này khẳng địnhmột lần nữa tầm quan trọng và vị trí của sông Cái trong tỉnh khánh Hòa Ở sông Dinh
đã thống kê được 35 giống chiếm 92,10% tổng số giống trong toàn tỉnh Sông Tô Hạpkém đa dạng hơn về bậc giống chỉ xác định được 9 trong 38 giống trong toàn tỉnhchiếm 23,86%
Về taxon bậc loài: Thành phần loài thuộc bộ cá Vược (Perciformes) gồm 62 loài.
Trong đó họ cá Bống trắng (Gobiidae) có số lượng loài nhiều nhất là 7 loài, chiếm11,29% tổng số loài thu được; Họ cá Bống đen (Eleotridae) và họ cá Sặc (Blontidae)
có số lượng loài bằng nhau là 6 loài, chiếm 9,67%; Họ cá Liệt (Leiognathidae) có sốlượng là 5 loài, chiếm 8,06%; Họ cá Sơn (Ambassidae), họ cá Căng (Teraponidae), họ
cá Móm (Gerridae) và họ cá Rô phi (Cichlidae) có số lượng loài bằng nhau là 4 loài,chiếm 6,45%; Họ cá Khế (Carangidae) và họ cá Dìa (Siganidae) có số lượng loài bằngnhau là 3 loài, chiếm 4,83%; Họ cá Chẽm (Centropomidae), họ cá Sơn biển(Apogonidae), họ cá Đục (Sillaginidae), họ cá Hồng (Lutjanidae) và họ cá Quả(Channidae) có số lượng loài bằng nhau là 2 loài, chiếm 3,23% Ngoài ra còn 6 họ có
số loài là 1 loài chiếm 1,61% Như vậy họ cá Bống trắng là họ chiếm ưu thế về số loài.Sông Cái và sông Dinh có sự tương đồng về thành phần số loài trong toàn tỉnh Riêngsông Tô hạp lại có sự khác biệt rất rõ rệt trong sự đa dạng về thành phần loài Cónhững họ chiếm số loài rất cao trong các sông thì sông Tô Hạp lại thiếu như Họ cá Sơn(Ambassidae), Họ cá Móm (Gerridae), Họ cá Liệt (Leiognathidae)
Trong tổng số 38 giống đã nghiên cứu được ở Khánh Hòa Glossogobius, Oreochromis là giống ưu thế, mỗi giống có 4 loài chiếm 10,53% Các giống Parambassis, Gerres, Siganus, Trichogaster mỗi giống có 3 loài chiếm 7,90% Có 10 giống là Terapon, Pelates, Apogon, Sillago, Lutjanus, Secutor, Leiognathus, Eleotris, Acentrogobius, Channa mỗi giống có 2 loài chiếm 5,26%, 22 giống còn lại mỗi giống
có 1 loài chiếm 2,63%
Bảng 4.4 Cấu trúc thành phần loài bộ cá Vược tỉnh Khánh Hòa
Tỷ lệ