1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá ở Việt Nam hiện nay

15 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 544 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hệ thống kinh tế Nhà nước chưa năng động, lại không tận dụng hết các nguồn lực tiềm năng và tài nguyên vốn có. Trong khi đó việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế tập trung hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhưng vẫn còn mang nặng tính bảo thủ, sự cố chấp và khả năng tiếp thu chập đã hạn chế rất đáng kể khả năng phát triển nền kinh tế nước ta. Nền kinh tế trong nước vẫn mang vai trò chủ đạo và được Nhà nước bảo hộ nhưng trong thực tế các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kinh doanh không hiệu quả trong thị trường thậm chí Nhà nước phải bù lỗ. Chính vì thế mà Đảng ta đã phải đổi mới hệ thống quản lý kinh doanh, phương thức kinh doanh, tận dụng hết nguồn lực trí thức, tiếp cận và áp dụng triệt để kiến thức cũng như kinh nghiệm của kinh tế phương Tây vào nền kinh tế Việt nam. Một trong các biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế là cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước. Do vậy ở Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ ba đã khẳng định : “ Đẩy mạnh cổ phần hoá những doanh nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước.” Nên việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đang được các ngành các cấp triển khai thực hiện. Mục đích của việc đó là duy trì, phát triển tài sản và tiền vốn thuộc sở toàn dân mà Nhà nước là người đại diện, người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước có thêm điều kiện để thực sự làm chủ doanh nghiệp huy động được vốn trong nhân dân để xây dựng và phát triển kinh tế có lợi cho Nhà nước cũng như bản thân người góp vốn. Tuy nhiên, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một vấn đề còn khá mới mẻ và không ít khó khăn, phức tạp vì thế Nhà nước đã phải tiến hành triển khai thí điểm ở một số doanh nghiệp để từ đó vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệp để có các giải pháp cũng như hoàn thiện hơn vấn đề này. Trên cơ sở đó đề tài “ Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá ở Việt Nam hiện nay” đã được nghiên cứu và xây dựng với mục đích giải quyết nhằm hoàn thiện hơn cho việc thúc đẩy cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước góp phần phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

Lời nói đầu

Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hệ thống kinh tế Nhà nớc cha năng động, lại không tận dụng hết các nguồn lực tiềm năng và tài nguyên vốn có Trong khi đó việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nền kinh tế tập trung hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trờng nhng vẫn còn mang nặng tính bảo thủ, sự cố chấp

và khả năng tiếp thu chập đã hạn chế rất đáng kể khả năng phát triển nền kinh tế nớc ta Nền kinh tế trong nớc vẫn mang vai trò chủ đạo

và đợc Nhà nớc bảo hộ nhng trong thực tế các doanh nghiệp nhà nớc hoạt động kinh doanh không hiệu quả trong thị trờng thậm chí Nhà nớc phải bù lỗ

Chính vì thế mà Đảng ta đã phải đổi mới hệ thống quản lý kinh doanh, phơng thức kinh doanh, tận dụng hết nguồn lực trí thức, tiếp cận và áp dụng triệt để kiến thức cũng nh kinh nghiệm của kinh

tế phơng Tây vào nền kinh tế Việt nam Một trong các biện pháp thúc đẩy phát triển kinh tế là cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc Do vậy ở Nghị quyết Đại hội IX của Đảng, Hội nghị Trung ơng lần thứ

ba đã khẳng định : “ Đẩy mạnh cổ phần hoá những doanh nhà nớc

mà Nhà nớc không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nớc.” Nên việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần là một chủ trơng lớn của Đảng và Nhà nớc, đang

đ-ợc các ngành các cấp triển khai thực hiện Mục đích của việc đó là duy trì, phát triển tài sản và tiền vốn thuộc sở toàn dân mà Nhà nớc

là ngời đại diện, ngời lao động trong doanh nghiệp Nhà nớc có thêm

điều kiện để thực sự làm chủ doanh nghiệp huy động đợc vốn trong nhân dân để xây dựng và phát triển kinh tế có lợi cho Nhà nớc cũng

nh bản thân ngời góp vốn Tuy nhiên, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc là một vấn đề còn khá mới mẻ và không ít khó khăn, phức tạp vì thế Nhà nớc đã phải tiến hành triển khai thí điểm ở một số doanh nghiệp để từ đó vừa làm vừa tổng kết rút kinh nghiệp để có các giải pháp cũng nh hoàn thiện hơn vấn đề này Trên cơ sở đó đề

tài Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc và giải pháp đẩy mạnh cổ phần hoá ở Việt Nam hiện nay” đã đợc nghiên cứu và xây dựng với

mục đích giải quyết nhằm hoàn thiện hơn cho việc thúc đẩy cổ phần

Trang 2

hoá các doanh nghiệp Nhà nớc góp phần phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa

I khái niệm, đặc điểm, tính tất yếu phải cổ phần hoá

1.Khái niệm cổ phần hóa:

Cổ phần hoá là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp từ chỗ chỉ có một chủ sở hữu thành công ty cổ phần, tức là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.Cổ phần hoá nói chung có thể diễn ra tại các doanh nghiệp t nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh và tại các doanh nghiệp nhà nớc Cổ phần hoá là quá trình đa dạng hoá sở hữu tại doanh nghiệp

Trang 3

Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đối với những doanh nghiệp mà Nhà nớc thấy không cần nắm giữ 100% vốn đầu t nhằm tạo điều kiện cho ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần làm chủ thực sự doanh nghiệp, phát triển doanh nghiệp góp phần pát triển kinh tế trong đó Nhà nớc có thể vẫn giữ t cách là một cổ đông, tức là Nhà nớc vẫn có thể là chủ sở hữu một bộ phận tài sản của doanh nghiệp Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc không chỉ là quá trình chuyển sở hữu nhà nớc sang sở hữu các cổ đông, mà còn có cả hình thức doanh nghiệp nhà nớc thu hút thêm vốn thông qua hình thức bán cổ phiếu để trở thành công ty cổ phần

2 Đặc điểm của công ty cổ phần:

- Về thành viên công ty, trong suốt quá trình hoạt động phải có

ít nhất 7 thành viên tham gia Công ty cổ phần

- Vốn điều lệ của công ty đợc ghia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần đợc gọi là mệnh giá cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty đợc thực hiện bằng cách mua

cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phiếu

- Cổ phiếu đợc phát hành dới dạng hai hình thức: cổ phiếu có ghi tên và cổ phiếu không ghi tên Các cổ phiếu không ghi tên

đợc tự do chuyển nhợng, cca cổ phiếu có ghi tên là cổ phiếu của sáng lập viên thuộc Hội đồng quản trị công ty và chỉ đợc chuyển nhợng theo các điều kiện qui định

- Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần đợc phép phát hành các loại chứng khoán nh cổ phiếu, trái phiếu ra thị trờng

để huy động vốn

- Về chế độ trách nhiệm, công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng các tài sản của công ty Các cổ

đông chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty

đến hết giá trị các cổ phần mà họ sở hữu

3 Tính tất yếu phải cổ phần hoá:

Trang 4

Vào những thập niên cuối thế kỷ XX đặc biệt là trong thập niên 90, khu vực hoá và toàn cầu hoá là xu thế phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới Hoà chung với xu thế đó thì ở nớc ta,vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc đợc đặt ra từ năm 1992, dựa trên tình hình kinh tế của Việt nam trong đó khu vực kinh tế nhà nớc

đóng vai trò chủ đạo Nhng tại sao nhà nớc ta lại có chủ trơng tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc đó là do hiện nay ở Việt Nam có khoảng hơn 5000 Doanh nghiệp Nhà nớc nắm giữ 59% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhng hiệu quả kinh doanh còn thấp Chỉ khoảng 50% doanh nghiệp Nhà nớc làm

ăn có lãi, trong đó thực sự làm ăn có lãi chiếm một tỷ lẹ thấp cha

đến 30% Trên danh nghĩa là nộp tới 70 – 80% tổng doanh thu cho ngân sách Nhà nớc nhng nếu trừ khấu hao tài sản cố dịnh và thuế gián thu thì các doanh nghiệp này chỉ nộp đợc khoảng 30% tổng doanh thu cho ngân sách Nhà nớc Chính là do các doanh nghiệp vẫn còn sử dụng các loại máy móc thiết bị cũ kỹ, lạc hậu về kỹ thuật

so với thế giới từ 3 đến 5 thế hệ trong khi đó còn có nhiều doanh nghiệp ở Trung ơng và địa phơng vẫn sản xuất bằng công nghệ thủ công Bên cạnh đó quy mô Danh nghiệp Nhà nớc còn nhỏ, vốn ít trong khi vốn hoạt thực tế chỉ bằng 2/3 vốn ghi trong danh sách riêng vốn lu động chỉ có 1/2 đợc huy động vào sản xuất kinh doanh còn lại là công nợ khó đòi nh tài sản, hàng hoá Một lý do nữa đó

là việc các doanh nghiệp Nhà nớc lại không chủ động tìm nguồn vốn bên ngoài, đối tác làm ăn, tìm tòi công nghệ mới mà lại ỉ lại chông chờ vốn của Nhà nớc dót xuống Với thực trạng kỹ thuật và tài chính

nh trên, Doanh nghiệp Nhà nớc hầu nh không có khả năng cạnh tranh trên thị trờng đã trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc Nhà nớc phải thờng xuyên sử dụng ngân sách trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp cho chúng, điều đó dẫn đến ngân sách Nhà nớc bị thiếu hụt

Theo các chuyên gia kinh tế thì xu thế hoà nhập ngày nay tạo cơ hội cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp với quy luật “ mạnh thắng, yếu thua” trong khi vai trò bảo hộ của nhà nớc sẽ không còn Họ đều nhận định rằng với thực trạng nh hiện nay thì các doanh nghiệp Nhà nớc không đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam gia nhập các tổ chức thơng mại khu vực và thế giới Vì vậy, để tạo chỗ

Trang 5

đứng trên thơng trờng, Việt Nam cần phải cải cách Doanh nghiệp nhà nớc để tìm ra con đờng mới cho sự phát triển

Do vậy chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc của

Đảng và nhà nớc ta nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả hơn, phù hợp với quá trình đổi mới, mở cửa, thực hiện mục tiêu Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc cho dù công việc này ở nớc ta diễn ra với tốc độ chậm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhng đó là quyết sách đúng đắn đợc thế giới ủng hộ

II.Quá trình cổ phần hoá của các doanh nghiệp nhà nớc

ở việt nam

1 Tình hình các doanh nghiệp nhà nớc trớc khi cổ phần hoá:

1.1 Những đặc điểm chung của doanh nghiệp nhà nớc trớc khi cổ phần hoá.

- Các doanh nghiệp Nhà nớc không phải lo về nguồn vồn vì vồn

do Nhà nớc cấp và chúng đợc lấy từ ngân sách Nhà nớc

- Các doanh nghiệp Nhà nớc đợc Nhà nớc bảo hộ dẫn đến đợc hởng rất nhiều u dãi nh: không phải góp vốn, không phải chụi rủi ro trong kinh doanh, đợc vay vốn ngân hàng mà không phải thế chấp tài sản, đợc khoanh nợ xoá nợ khi gặp rủi ro, đợc xét giảm miễn thuế xuất nhập khẩu

- Vị thế cũng nh tiếng nói của các doanh nghiệp này có trọng l-ợng cao hơn hẳn các doanh nghiệp không thuộc Nhà nớc

- Công ăn việc làm và thu nhập của ngời lao động trong các doanh nghiệp Nhà nớc rất ổn định và họ không lo bị mất việc

1.2 Những vấn đề nổi cộm của doanh nghiệp nhà nớc trớc khi thực hiện cổ phần hoá

- Các doanh nghiệp Nhà nớc phát triển tràn lan, lại không đợc

tổ chức và quản lý tốt, chúng đợc hình thành và phát triển trên cơ sở nguồn vốn cấp phát của ngân sách Nhà nớc do đó tất cả

Trang 6

các hoạt động đều chịu sự kiểm soát, chi phối trực tiếp của Nhà nớc Do vậy, không phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của các doanh nghiệp dẫn tới hậu quả là hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc đều hoạt động hết sức kém hiệu quả

- Do hoạt động kém hiệu quả dẫn đến làm ăn thua lỗ nên các doanh nghiệp Nhà nớc đã trở thành gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc Nhà nớc phải thờng xuyên sử dụng ngân sách trợ cấp trực tiếp hay gián tiếp cho chúng, điều đó dẫn đến ngân sách Nhà nớc bị thiếu hụt hay bội chi ngân sách cũ kỹ, lạc hậu về

kỹ thuật so với thế giới từ 3 đến 5 thế hệ

- Các doanh nghiệp vẫn còn sử dụng các loại máy móc thiết bị nên đã tạo ra những mặt hàng có chất lợng kém, mẫu mã không phong phú do đó đã không bán đợc chúng trên thị trờng

- Hầu hết các doanh nghiệp Nhà nớc đều có cơ cấu bộ máy quản lý cồng kềnh, chồng chéo nhau cũng nh không biết khai thác tận dụng nguồn trí thức sẵn có hay lại sử dụng họ vào những công việc không phù hợp

2 Quá trình cổ phần doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam:

Từ khi có chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc của

Đảng và Chính phủ đến nay, quá trình cổ phần hóa chia làm 3 giai

đoạn: giai đoạn thí điểm cổ phần hoá, giai đoạn mổ rộng cổ phần hoá và giai đoạn thúc đẩy cổ phần hoá

2.1 Giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (từ 6/1992 đến 5/1996):

Sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986), thực hiện sự nghiệp đổi mới, Chính phủ đã ban hành một loạt Pháp lệnh, Nghị định nhằm thúc đẩy sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp Nhà n-ớc.Trong Quyết định 21/HĐBT ngày 14-7-1987 về đổi mới kế hoạch hoá và hạch toán kinh doanh xã hội, quyền tự chủ đối với doanh nghiệp Nhà nớc, tại Điều 22 đã đề cập tới việc thí điểm tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc và giao cho Bộ Tài chính chủ trì Tại thời điểm này, mặc dù chủ trơng đúng đắn nhng cha thực hiện đ-ợc

Trang 7

Đến đầu năm 1990, trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm

đổi mới, Hội đồng Bộ trởng ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 về chủ trơng thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà

n-ớc, thực hiện mô hình khoán, cho thuê xí nghiệp quốc doanh Đến năm 1992, cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nớc có phần chững lại, lúng túng Nhằm tiếp tục cải cách doanh nghiệp Nhà nớc và giải quyết các vấn đề nêu trên, ngày 8-6-1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ tr-ởng (nay là Thủ tớng Chính phủ) ra quyết định số 202/CT, chỉ đạo tiếp tục khai triển việc tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc

Nh vậy, thời gian này có thể đợc coi là cái mốc để nớc ta bớc vào giai đoạn thí điểm cổ phần doanh nghiệp Nhà nớc Đến 4-1996 sau hơn 5 năm kể từ khi có Quyết định 143/HĐBT cả nớc có 5 doanh nghiệp Nhà nớc đợc chuyển thành công ty cổ phần:

- Công ty đại lý liên hiệp vận tải cổ phần hoá xong 7-1993

- Công ty cơ điện lạnh cổ phần hoá xong 10-1993

- Nhà máy giầy Hiệp An cổ phần hoá xong 10-1994

- Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc

- Công ty xuất nhập khẩu Long An cổ phần hoá xong 7-1995 Năm doanh nghiệp Nhà nớc đã chuyển sang công ty cổ phần

đều là những doanh nghiệp Nhà nớc mới đợc thành lập, có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong những lĩnh vực không quan trọng Việc triển khai thí điểm cổ phần hoá còn quá chậm, không đạt yêu cầu mông muốn Đây là giai đoạn khó khăn vì cơ chế vận hành của công ty cổ phần và cổ phần hoá là vấn đề rất mới ở Việt Nam

2.2 Giai đoạn mở rộng cổ phần hoá (từ cuối năm1996 đến 6/1998):

Qua 4 năm thực hiện thí điểm cổ phần hoá, tuy kết quả còn

ít, nhng đã có kinh nghiệm bớc đầu cho việc mở rộng cổ phần hoá trong thời gian tiếp theo Để đẩy mạnh cổ phần hoá, ngày 7-5-1996 Chính phủ ban hành Nghị định 28/Chính phủ với những quy định cụ thể, rõ ràng, đầy đủ hơn về chuyển một số doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cổ phần thay thế Quyết định 202/Chính phủ Nghị

Trang 8

định 28/Chính phủ ra đời đã giải toả đợc một số vớng mắc gặp phải trong giai đoạn cổ phần hoá thí điểm Lần đầu tiên các vấn đề nh mục đích, yêu cầu, đối tợng, phơng thức tiến hành cổ phần hoá, thủ tục chuyển đổi công ty thành công ty cổ phần, chế độ đối với doanh nghiệp cổ phần hoá và ngời lao động trong doanh nghiệp cổ phần hoá đợc thể hiện một cách có hệ thống, cụ thể hơn Vì vậy, cổ phần hoá đã đợc các cấp,các ngành quan tâm hơn trong việc triển khai Sau khi Nghi định 28/CP ra đời đã có hơn 200 doanh nghiệp

ở các tỉnh, thành phố đăng ký thực hiện cổ phần hoá, chiếm trên 3% tổng số doanh nghiệp Nhà nớc Tính đến 6-1998, cả nớc ta đã chuyển đợc 25 doanh nghiệp Nhà nớc thành công ty cở phần Kết quả trên cho thấy, cổ phần hoá bớc đầu đã đợc mở rộng Ngành công nghiệp và xây dựng có số doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều nhất là 12 doanh nghiệp; ngành giao thông vận tải là 3 doanh nghiệp; ngành chế biến nông, lâm, thuỷ sản là 3 doanh nghiệp; ngành dịch vụ là 7 doanh nghiệp

2.3 Giai đoạn đoạn thúc đẩy cổ phần hoá (từ 7/1998 đến nay):

Từ kinh nghiệm cổ phần hoá trong các giai đoạn trớc, để hoàn thiện một bớc về cơ chế, chính sách và đẩy mạnh hơn nữa cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc, ngày 29-6-1998 Chính phủ ban hành Nghị định 44/1998/NĐ-CP về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc thay thế cho các Nghị định và Nghị quyết trớc đó

Chỉ trong 6 tháng cuối năm 1998 đã có 90 doanh nghiệp Nhà nớc đợc cổ phần hoá, gấp 3 lần so với kết quả của cả thời gian trớc

đó Năm 1999 đợc xem là một năm “bội thu” của cuộc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc, đã cổ phần hoá đợc 250 doanh nghiệp Nh vậy, sau 2 năm kể khi Nghị định 44/1998/CP ra đời đã có gần 400 doanh nghiệp cổ phần hoá, trong khi đó 8 năm trớc chỉ cổ phần hoá

đợc 30 doanh nghiệp Các đơn vị triển khai cổ phần hoá mạnh nhất

là Hà nội (71 doanh nghiệp), thành phố Hồ Chí Minh (45 doanh nghiệp), Nam Định (22 doanh nghiệp), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (20 doanh nghiệp), v.v

Trang 9

Có thể nói rằng 3 giai đoạn triển khai cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc ở Việt Nam trong thời gian qua là quá trình đi từ thử nghiệm đến triển khai và thúc đẩy nhằm tạo ra tốc độ cổ phần hoá theo hớng ngày càng nhanh hơn, quy mô cổ phần hoá ngày càng rộng rãi hơn

3 Thựctrạng của các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá:

3.1 Những kết quả đạt đợc:

Đối với doanh nghiệp đã cổ phần hoá:

- Huy động đợc lợng vốn lớn, thay đổi phơng thức quản lý, điều hành doanh nghiệp Nhà nớc; tạo sự đồng tình ủng hộ cao của ngời lao động và các nhà đầu t trong, ngoài nớc

- Nâng cao tính tự chủ, đổi mới quản trị trong doanh nghiệp

- Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tăng lên rõ rệt Sau một thời gian kinh doanh thì vốn cổ đông tăng 45%/năm, lợi nhuận trớc thuế tăng 70%/năm, nộp ngân sách Nhà nớc tăng 90%/năm

- Hình thành cơ chế phân phối mới ở các doanh nghiệp Nhà nớc

cổ phần hoá theo hớng phát huy các nguồn lực trong điều kiện kinh tế thị trờng

- Phát huy đợc vai trò làm chủ thực sự của ngời lao động với t cách là cổ đông, thể hiện rõ ở tinh thần hăng say, tự giác làm việc ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần tiết kiẹn trong sản xuất

- Thu nhập của ngời lao động tăng 22%, số ngời lao động tăng 5.1%

Đối với Nhà nớc:

- Sở hữu Nhà nớc bớc đầu đợc cấu trúc lại theo yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trờng, tăng cờng vai trò chủ đạo của kinh

tế Nhà nớc

Trang 10

- Do có vốn, cải tiến, thay đổi máy móc thiết bị cho nên sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần phát triển doanh thu ngày càng tăng, nộp thuế ngày càng nhiều hơn dẫn đến Nhà nớc không phải mất một khoản ngân sách để hỗ trợ vốn hoặc bù lỗ hàng năm nữa

- Góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trờng chứng khoán

- Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong khu vực và thế giới, thúc

đẩy quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa

3.2 Những hạn chế tồn tại trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc

Tốc độ tiến hành cổ phần hoá còn chậm: Xuất phát từ những

nguyên nhân sau: Thứ nhất, các nguyên nhân khách quan bao gồm: trình độ phát triển của lực lợng sản xuất còn thấp, nền kinh

tế thị trờng ở Việt Nam đang trong quá trình hình thành, trình độ dân trí thấp, mang nặng tâm lý sản xuất nhỏ Thứ hai, các nguyên nhân chủ quan bao gồm: nhận thức về vai trò của doanh nghiệp Nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng cha thống nhất, cha làm tốt việc tuyên truyền về chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc của Đảng và Chính phủ, các doanh nghiệp còn đặt lợi ích cá nhân trên lợi ích quốc gia, tâm lý sợ mất việc làm của đại

bộ phận ngời lao động trong doanh nghiệp Nhà nớc vốn đã quen sống dựa vào chế độ bao cấp, việc điều hành triển khai cổ phần hoá còn chậm và lúng túng, một số cơ chế chính sách còn cha thông thoáng, thiếu tính thực tế, thủ tục còn phiền hà

Việc tiến hành cổ phần hoá không đông đều giữa các ngành và địa

ph-ơng.

Mục tiêu huy động vốn của toàn xã hội vào đầu t phát triển.

Mục tiêu tạo điều kiện để ngời lao động các doanh nghiệp cổ phần hoá

có cổ phần, đợc mua cổ phiếu với giá u đãi.

Ngày đăng: 21/12/2015, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w