phải đối mặt với tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, lợn thường mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng và đặc biệt là bệnh sản khoa, trong đó những bệnh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K43 – CNTY - N01
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS La Văn Công
Thái Nguyên, Năm 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Lớp: K43 – CNTY - N01
Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2011 – 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS La Văn Công
Thái Nguyên, Năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Khóa Luận Tốt Nghiệp này ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được sự ủng hộ, động viên giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Ban lãnh đạo trại lợn ông Giáp Văn Dưỡng xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đã đồng ý, cho phép và tạo điều kiện cho tôi về thực tập tại trại Đặc biệt tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Ths La Văn Công, tập thể cán bộ, công nhân tại trại lợn ông Dưỡng là những người luôn theo sát, tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên và tạo điều kiện về vật chất, tinh thần giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, các đơn vị
và cá nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày… tháng… năm 2015
Sinh viên
Đinh Hữu Đức
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 20Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 34Bảng 4.1 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 37Bảng 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau của đàn lợn nái sinh sản tại trại 38Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo các lứa đẻ 39Bảng 4.5.Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo các tháng trong năm 40Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo giống, dòng 41Bảng 4.8: Sơ bộ hạch toán thuốc thú y 44Bảng 4.9 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 45
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PGF2α
Gr(+)
Gr(-)
E.coli
KgTT
Prostaglandin Gram dương Gram âm Escherichia coli Kilôgam thể trọng
Trang 6
MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý ngĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái 4
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái 8
2.1.3 Bệnh viêm tử cung, sát nhau ở lợn nái 14
2.1.4 Một số vi khuẩn thường gặp trong dịch tử cung 23
2.1.5 Thuốc kháng sinh trong phòng và điều trị bệnh sinh sản 26
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 30
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 32
3.2 Thời gian và địa điểm tiến hành 32
3.3 Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 32
3.3.1 Nội dung nghiên cứu 32
3.3.2.Các chỉ tiêu theo dõi 32
3.4 Phương pháp nghiên cứu 32
Trang 73.4.1 Xác định tình hình mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau của đàn lợn nái
sinh sản tại trại 32
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu lâm sàng 33
3.4.3 Phương pháp đánh giá hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị sử dụng trong đề tài 33
3.4.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 35
3.4.5 Phương pháp xử lí số liệu 35
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1 Nội dung, phương pháp và kết quả công tác phục vụ sản xuất 36
4.1.1 Nội dung phục vụ sản xuất 36
4.1.2 Phương pháp tiến hành 36
4.1.3 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 36
4.2 Kết quả nghiên cứu 38
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau của đàn lợn nái tại trại 38
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo các lứa đẻ 39
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo các tháng trong năm 40
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau theo giống, dòng 41
4.2.5 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung, sát nhau bằng một số phác đồ điều trị 42
4.2.6 Sơ bộ hạch toán thuốc thú y 44
4.2.7 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 44
PHẦN 5 KẾT LUẬN, VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Đề nghị 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8Hiện nay, cùng với sự hội nhập và phát triển kinh tế của Việt Nam với các nước trên thế giới, ngành chăn nuôi nước ta ngày càng đóng vai trò quan trọng đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn Sản phẩm của ngành chăn nuôi lợn mang lại giá trị lớn cho con người, đó là nguồn cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chất lượng cao cho chúng ta Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi lợn cũng cung cấp một lượng không nhỏ phân bón cho ngành trồng trọt và một số sản phẩm phụ như: da, lông, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến khác Chăn nuôi lợn không chỉ đáp ứng yêu cầu cung cấp thịt trong nước mà còn xuất khẩu ra thế giới mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho người chăn nuôi, ngoài ra nghề chăn nuôi lợn còn tận dụng được sức lao động nhàn rỗi, tận dụng được phế phẩm cho nông nghiệp… chính vì vậy lợn được nuôi nhiều và
ở hầu hết các tỉnh trên toàn quốc
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn nước ta có những bước phát triển như: tổng đàn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao… Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm thay vào đó là các trang trại với quy mô nhỏ
và vừa ngày càng tăng…
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn cũng gặp phải nhiều khó khăn, thử thách Ngoài các nguyên nhân như sự cạnh tranh với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn… ngành chăn nuôi lợn còn
Trang 9phải đối mặt với tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp, lợn thường mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng và đặc biệt là bệnh sản khoa, trong đó những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau Bệnh viêm tử cung, sát nhau ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi
sinh Bệnh do một số vi khuẩn như: Escherichia coli, Streptococcus,
Staphylococcus… gây ra Bệnh tuy không xảy ra ồ ạt như các bệnh truyền
nhiễm nhưng gây ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chăn nuôi lợn nái sinh sản như: gây xảy thai, chết thai, lưu thai… nghiêm trọng hơn nữa bệnh vẫn âm thầm làm hạn chế khả năng sinh sản của đàn lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng con giống
Với mục đích góp phần vào nâng cao khả năng sinh sản và giảm chi phí thuốc thú y cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn của ông Giáp Văn Dưỡng thuộc
xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang
Xuất phát từ thực tế sản xuất của trại chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: Xác định tình hình mắc bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau trên đàn lợn
nái sinh sản tại trại lợn ông Dưỡng, xã Quế Nham, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm một số phác đồ điều trị
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
- Xác định được tình hình mắc bệnh viêm tử cung, sát nhau trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại lợn ông Dưỡng
- Phát hiện, chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, điều trị bệnh một cách hiệu quả
- Đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn sản xuất góp phần nâng cao nâng suất sinh sản và giảm chi phí thuốc thú y cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
Trang 101.3 Ý ngĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Đánh giá hiệu quả của một số phác đồ điều trị
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Theo dõi tình hình mắc bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại
- Đưa ra biện pháp phòng và trị bệnh một cách có hiệu quả, giảm các thiệt hại do bệnh viêm tử cung, bệnh sát nhau gây ra, nâng cao năng suất sinh sản cho đàn lợn nái từ đó nâng cao năng suất trong chăn nuôi
Trang 11
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Đặc điểm giải phẫu cơ quan sinh dục lợn nái
Bộ phận sinh dục của lợn nái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo), và bộ phận sinh dục bên ngoài (âm môn, âm vật, tiền đình)
2.1.1.1 Buồng trứng (Ovarium)
Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng và còn được treo bởi các mạch quản nuôi dưỡng và bị giữ chặt lại ở hai đầu trước sừng tử cung nhờ một dây thừng gồm nhiều sợi cơ trơn gọi là dây chằng buồng trứng hay dây chằng tử cung – buồng trứng Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hay có hình ôvan dẹt, không có lõm rụng trứng [2] Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao
tử cái và tiết các hormone: oestrogen, progesterone, oxytoxin, relaxin,
inhibin
Các hormone này tham gia vào điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái
oestrogen cần thiết cho sự phát triển của tử cung và hệ thống ống dẫn của
tuyến vú, progesterone do thể vàng tiết ra duy trì sự mang thai do nó kích
thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú
Oxytoxin được tiết ra bởi phần sau của tuyến yên, nhưng cũng có thể
được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi lợn gần sinh Nó làm co thắt tử cung trong lúc đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn của tuyến vú để thải sữa Ở lợn
relaxin do thể vàng tiết ra để gây dãn nở xương chậu, làm giãn và mềm cổ tử
cung do đó mở rộng cơ quan sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng ức chế
Trang 12sự phân tiết kích tố noãn (FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển của
nang noãn theo chu kỳ (Trần thị Dân, 2004) [4]
Buồng trứng được bao bọc bởi một màng liên kết sợi chắc như màng bao
dịch hoàn Bên trong gồm hai phần miền vỏ ở bên ngoài và miền tuỷ ở trong, miền vỏ chứa các noãn nang, thể vàng và thể trắng, miền tuỷ gồm có các
mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết
Miền vỏ có tác dụng sinh dục vì ở đó xảy ra quá trình chín và rụng trứng
Trên buồng trứng có các noãn bao ở các giai đoạn khác nhau, tầng ngoài cùng là
những noãn bao sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bao thứ
cấp đang sinh trưởng Khi noãn bao chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thuỷ nhỏ nhất
và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy Noãn nang nguyên thuỷ được phát
triển thành noãn nang bậc 1, nó được bao bọc bởi một lớp tế bào biểu mô
hình lập phương (tế bào nang), khi gia súc sinh ra buồng trứng đã có sẵn
hai loại nang này
Noãn nang bậc I có thể bị thoái hoá hoặc phát triển thành noãn nang bậc
II hoặc có nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang (là khoảng trống
chứa dịch nang) Noãn nang có xoang nang được xem như noãn nang bậc ba,
chứa dịch nang, và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn (nang Graff)
(Nguyễn Xuân Tịnh và cs, 1996) [16]
Theo Trần Thị Dân (2004) [4], khi nang Graaff xuất noãn, những
mạch máu nhỏ bị vỡ gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn phần còn lại
của noãn nang cùng với vết xuất huyết gọi là thể xuất huyết với kích thước
nhỏ hơn noãn nang nhiều lần Sau đó tế bào trong biệt hoá thành tế bào thể
vàng để tạo nên thể vàng
Trang 132.1.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)
Ống dẫn trứng hay còn gọi là vòi fallop có đường kính rất nhỏ, nó chỉ to lên về kích thước vào thời kỳ con cái động dục và đón nhận trứng Phần đầu của nó loe ra như cái phễu nên gọi là loa kèn có chức năng hứng trứng khi trứng rụng và hứng trứng vào trong ống dẫn trứng Ống dẫn trứng tiết ra dịch tiết và nhu động của lông mao thành ống dẫn trứng giúp tinh trùng và trứng tiến gần nhau và nó giúp hoạt hoá hai tế bào ở đó Ống dẫn trứng là nơi thụ tinh (1/3 phần trên ống dẫn trứng) Khả năng nhu động của cơ thành ống dẫn trứng giúp trứng đã thụ tinh di chuyển đến tử cung và làm tổ ở đó
2.1.1.3 Tử cung (Uterus)
Tử cung nằm trong xoang chậu dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung và được giữ bởi các dây chằng
Tử cung lợn thuộc loại tử cung kép Gồm hai tử cung trái và phải mỗi bên đều có một cổ tử cung, hai cổ tử cung thông vào đầu trước của âm đạo Sừng tử cung dài như một đoạn ruột (50 – 100cm) thông với ống dẫn trứng Thân tử cung rất ngắn (3 – 5cm), cổ tử cung dài (10 – 18cm) có thành dày, có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược [2]
Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: Lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc
- Lớp tương mạc: Là lớp màng sợi dai, chắc, phủ mặt ngoài tử cung và
nối tiếp vào hệ thống dây chằng
- Lớp cơ trơn: Có chức phận chủ yếu trong việc đảm bảo dinh dưỡng và
phát triển của bào thai Đây là lớp cơ trơn dày và rất khoẻ trong cơ thể có cấu tạo phức tạp, bên trong là một khung liên kết với nhiều sợi đàn hồi, có nhiều mạch máu đặc biệt là những tĩnh mạch lớn Ngoài ra là các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành một mạng vừa chắc vừa dày
Trang 14Theo Trần Thị Dân (2004) [4], trương lực co càng cao (tử cung trở nên
cứng), khi có nhiều oestrogen trong máu và trương lực co giảm (tử cung mềm) khi có nhiều progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp
phần vào sự di chuyển của tinh trùng và chất nhày trong tử cung đồng thời đẩy thai ra ngoài khi sinh đẻ Khi mang thai sự co bóp của cơ tử cung được
giảm đi nhờ tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc
vào tử cung
- Lớp nội mạc: Là một lớp niêm mạc màu hồng phủ lên trên bằng một tế
bào biểu mô hình trụ xen với những tuyến chất nhày Nhiều tế bào biểu mô lại kéo thành lông rung Khi lông rung rung động thì gạt những chất nhày về phía
cổ tử cung, lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết ra các chất vào lòng tử cung
để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di
chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của oestrogen, các tuyến tử cung
phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của
progesterone Sự phân tiết của các tuyến tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn
của chu kỳ lên giống
2.1.1.4 Âm đạo (Vagina)
Là ống đi từ cổ âm hộ Đầu trước âm đạo dính vào cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, có màng trinh đậy lỗ âm đạo
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ, và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo cấu tạo gồm 3 lớp:
- Lớp liên kết ở ngoài
- Lớp cơ trơn với dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Các lớp cơ âm đạo liên kết với các lớp cơ ở cổ tử cung
Trang 15- Lớp niêm mạc âm đạo
Theo Đặng Đình Tín (1986) [13], âm đạo của lợn dài 10 – 12cm
2.1.1.5 Tiền đình (Vestibulum vaginac sinusinogenitalis)
Tiền đình là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ, tiền đình bao gồm:
- Màng trinh: Là một nếp gấp gồm có hai lá niêm mạc Ở giữa có sợi
đàn hồi, ở trước nhìn vào âm đạo, ở sau liên quan với âm hộ
- Lỗ niệu đạo: Ở sau màng trinh
- Hành tiền đình: Là hai tạng cương ở hai bên lỗ niệu đạo, tương tự như
thể hổng dương vật của con đực, nhưng bị âm đạo tách ra làm đôi, ngoài ra tiền đình còn có một số ít tuyến tiền đình ở phần bụng Tuyến này sắp thành hai hàng chéo, hướng về dương vật
2.1.1.6 Âm vật (Clitoris)
Tương tự như dương vật nhưng thu nhỏ lại Dài khoảng 4 – 5cm, trên âm vật có nếp da tạo thành mũ âm vật, phía dưới bẻ quặp xuống là nơi tập trung nhiều đầu mút dây thần kinh
Về cấu tạo âm vật có lớp da, lớp tế bào và lớp niêm mạc âm vật
2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn cái
2.1.2.1 Sự thành thục về tính
Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể con cái, đặc biệt là cơ quan sinh dục đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết con
Trang 16vật xuất hiện các phản xạ về sinh dục, khi đó trên buồng trứng trứng chín và
có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ
Tuy nhiên sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng
- Giống
Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống
có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn, những giống thuần hoá sớm thành thục sớm hơn các giống thuần hóa muộn Tuổi thành thục về tính của các lợn cái ngoại và lợn cái lai muộn hơn các loại nội thuần chủng (Ỉ, Móng cái…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục về tính vào khoảng 4 – 5 tháng tuổi, lợn ngoại là 6 – 8 tháng thuổi, lợn lai F1 (nội x ngoại) thường động dục lần đầu vào lúc 6 tháng tuổi
- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý
Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sớm thành thục và ngược lại
- Điều kiện ngoại cảnh
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm
Trong điều kiện chăn thả chung giữa gia súc đực và gia súc cái cũng ảnh hưởng tới tính thành thục sớm của gia súc cái Theo Paul Hughes và James Tilton (1966) [21], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực hai lần/ngày với thời gian 15- 20 phút thì 83% lợn nái ngoài 90kg động dục ở 165 ngày tuổi
Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục lần đầu dài hơn lợn nuôi chăn thả Vì lợn nuôi có thời gian chăn thả sẽ tăng cường trao đổi
Trang 17chất, tổng hợp được sinh tố và có dịp tiếp xúc với lợn đực nên có tuổi động dục lần đầu sớm hơn
- Tuổi thành thục về tính của gia súc
Tuổi thành thục về tính ở gia súc thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính vẫn tiếp tục sinh trưởng, lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm để đảm bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của lợn
mẹ và phẩm chất giống của đời sau Nên cho gia súc phối giống khi đã đạt khối lượng nhất định tuỳ theo từng giống Và cũng không nên phối giống quá muộn vì sẽ ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của một nái và ảnh hưởng tới thế hệ sau của chúng
2.1.2.2 Chu kỳ tính và thời điểm phối giống thích hợp
Chu kỳ sinh dục bắt đầu khi gia súc đã thành thục về tính, nó tiếp tục xuất hiện và chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể đã già yếu Chu kỳ sinh dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn chỉnh,
cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì ở bên trong buồng trứng có quá trình noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Sau khi thành thục về tính gia súc cái bắt đầu hoạt động sinh sản, dưới
sự điều hoà của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục, chín
và rụng Mỗi lần xuất hiện trạng thái rụng trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung
và đặc biệt là cơ quan sinh dục phát sinh hàng loạt các biến đổi về hình thái, cấu tạo, chức năng sinh lý Các biến đổi trên lặp đi lặp lại theo chu kỳ được gọi là chu kỳ động dục (chu kỳ tính)
Một chu kỳ tính ở lợn thường dao động trong khoảng 18 – 22 ngày, trung bình 21 ngày và được chia làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi
Trang 18
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ đến lần động dục tiếp theo, chuẩn bị điều kiện cho cơ quan sinh dục lợn cái và trứng để tiếp nhận tinh trùng, đón trứng và thụ tinh Giai đoạn này có các đặc điểm sau:
+ Bao noãn phát triển về khối lượng và chất lượng, nổi lên trên bề mặt
buồng trứng và tăng tiết oestrogen, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh,
đầu giai đoạn này kích thước của noãn bao có đường kính là 4mm, đến cuối giai đoạn kích thước của noãn bao có đường kính 10 -12mm
+ Dưới ảnh hưởng của oestrogen, cơ quan sinh dục có nhiều biến đổi
như: tế bào vách ống dẫn trứng có nhiều vách tăng sinh, mạch quản cung cấp nhiều máu, Tử cung, âm hộ, âm đạo bắt đầu sung huyết, các tuyến sinh dục phụ tiết dịch nhày, loãng làm trơn cơ quan sinh dục
- Giai đoạn động dục:
Khi gia súc đã có biểu hiện tính dục thì đây là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là: hưng phấn, chịu đực, và hết chịu đực Động dục là giai đoạn quan trọng nhưng thời gian lại ngắn Đối với lợn là 2 –
3 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là:
- Lượng oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất do đó gây hưng phấn mạnh
vi khuẩn
- Các biểu hiện về thần kinh: Thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ
ăn, bồn chồn không yên tĩnh hoặc kêu rít phá chuồng, nhảy lên lưng con khác
Trang 19lúc đầu chưa cho con đực nhảy lên sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy
- Trứng rụng: Ở lợn sau động dục 24 – 30 giờ thì trứng rụng và thời gian rụng trứng kéo dài 10 – 15 giờ vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao
- Các biến đổi khác về sinh lý khi trứng rụng: thân nhiệt tăng 0,8 – 1,2ºC, nhịp tim tăng, bạch cầu trung tính tăng Sau khi trứng rụng mà được thụ tinh thì chuyển sang thời kỳ chửa, nếu không được thụ tinh thì chuyển sang giai đoạn sau động dục
- Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này bắt đầu sau khi kết thúc động dục và kéo dài vài ngày Thể
vàng được hình thành, tiết progesterone ức chế trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi dẫn đến làm giảm tiết oestrogen, do đó làm giảm các hưng phấn thần
kinh Sự tăng sinh và tiết dịch tử cung ngừng lại Biểu hiện về hành vi sinh dục là không muốn gần con đực, không cho con đực nhảy, con vật dần trở lại trạng thái bình thường
- Giai đoạn yên tĩnh
Giai đoạn này kéo dài nhất, thường bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi trứng rụng nếu không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ, con vật không có biểu hiện về sinh lý sinh dục Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Đây là giai đoạn nghỉ ngơi, yên tĩnh để khôi phục lại cấu tạo, chức năng cũng như năng lượng cho chu kỳ tiếp theo
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ quản lý, chăm
Trang 20sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản cho lợn nái
- Thời điểm phối giống thích hợp
Thời gian tinh trùng lợn đực sống trong tử cung lợn cái khoảng 45 – 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, do vậy phải tiến hành phối giống kịp thời, đúng thời điểm Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực Đối với lợn nái ngoại, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 – 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ khi bắt đầu chịu đực Đối với lợn nái nội, nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn có biểu hiện chịu đực vào buổi sáng thì cho phối vào buổi chiều, nếu thấy lợn có biểu hiện chịu đực vào buổi chiều thì cho phối vào sáng hôm sau Khi phối thường phối hai lần cho lợn để đạt hiệu quả thụ thai cao nhất
2.1.2.3 Sinh lý đẻ
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], gia súc cái mang thai trong một
thời gian nhất định, tuỳ từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh – thể dịch, gia súc mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn đẻ để đẩy bào thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi
là quá trình sinh đẻ
Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: Trước đẻ 1 – 2 tuần nút niêm dịch ở cổ tử cung lỏng, sánh, dính và chảy ra ngoài Trước đẻ 1 – 2 ngày, cơ quan sinh dục của lợn cái bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra
và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, và có sữa đầu
Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:
Trang 21- Trước đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong
- Trước đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu
- Trước đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt được sữa đầu
- Trước đẻ 2 – 3 giờ, hàng vú sau vắt được sữa đầu
- Nội tiết: Đến kỳ chửa cuối dưới ảnh hưởng của hormone cocticosteroit
của tuyến thượng thận, nhau thai sản sinh PGF2α làm thoái hoá thể vàng dẫn
đến hàm lượng progesterone trong máu giảm xuống rất thấp (chỉ còn 0,22%) Đồng thời nhau thai tăng tiết relaxin làm dãn dây chằng xương chậu, mở cổ
tử cung và tăng tiết oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của tử cung với oxytocin
mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài
2.1.3 Bệnh viêm tử cung, sát nhau ở lợn nái
2.1.3.1 Bệnh viêm tử cung ở lợn nái
* Nguyên nhân:
Theo Đặng Thanh Tùng (2006) [17], viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục của lợn nái sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn
Trang 22đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản của lợn nái
Cũng theo Đặng Thanh Tùng (2006) [17], lợn bị viêm tử cung thường do các nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng quản lý:
- Khẩu phần thiếu hoặc thừa protein trước hoặc trong thời kỳ mang thai ảnh hưởng đến viêm tử cung
- Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó phải can thiệp bằng tay gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng viêm
tử cung kế phát
- Ngược lại, thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm, không chống lại được sự xâm nhập của vi trùng cũng gây viêm tử cung
*Tiểu khí hậu chuồng nuôi:
Thời tiết quá nóng hay quá lạnh trong thời gian đẻ cũng dễ đưa đến viêm
- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực bị viêm bao dương vật hoặc mang
vi khuẩn từ những con nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho con khoẻ
- Lợn nái sau khi đẻ bị sát nhau, xử lý không triệt để dẫn tới viêm tử cung
Trang 23- Do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm phó thương hàn gây viêm
- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước, và sau khi đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ, cổ tử cung mở, vi sinh vật có điều kiện xâm nhập vào gây viêm
Ngoài các nguyên nhân trên, viêm tử cung có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm, 1997) [11]
Theo Madec.F và Neva.C (1995) [19], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây viêm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra… Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối đã bị viêm
* Hậu quả của bệnh viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được bảo đảm mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], Trần Thị Dân (2004) [4], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:
- Khi lợn nái bị viêm tử cung dẫn tới sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai sự co thắt
của cơ tử cung dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt
vào tử cung
Trang 24Khi bị viêm tử cung cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều PGF2α, PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đến thể vàng
Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng
progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực cơ của tử cung
tăng nên gia súc dễ bị sảy thai
- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng
progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung
giảm theo, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng
từ mẹ nên thai phát triển kém hay thai chết lưu
- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa, nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị viêm tử cung trong đường sinh dục thường có mặt của vi
khuẩn E.coli Vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích
thích tố tạo sữa, thành phần sữa bị thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu bị viêm tử cung mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng
vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone Progesterone ức chế thuỳ trước
tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại và không thải trứng được
* Các thể viêm tử cung
Theo Đặng Đình Tín (1986) [13], bệnh viêm tử cung thường được chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung
Trang 25- Viêm nội mạc tử cung:
Viêm nội mạc tử cung là viêm tầng trong cùng, lớp niêm mạc của tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái và các bệnh ở đường sinh dục Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm cho niêm mạc tử cung bị tổn thương Sau đó các vi khuẩn
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Brucella, Salmonella tác động gây
viêm nội mạc tử cung
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [12], bệnh viêm nội mạc tử cung có thể chia làm hai loại:
+ Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ, chỉ gây tổn thương ở niêm mạc tử cung: ở thể này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn tỏ vẻ không yên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch, lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày nhiều hơn
+ Viêm nội mạc tử cung thể màng giả, tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử
Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử, con vật có triệu chứng toàn thân rõ: Thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm có khi mất hẳn, kế phát viêm vú, ăn uống giảm Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong Từ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
- Viêm cơ tử cung
Viêm cơ tử cung là viêm tầng giữa, lớp cơ vòng và lớp cơ dọc tử cung Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung: niêm mạc bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập, viêm phát triển sâu làm các tế bào tổ
Trang 26chức bị phân giải, hệ thống mạch quản và lâm ba quản bị tổn thương Các lớp
cơ và một ít lớp tương mạc bị hoại tử
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [12], lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ ăn uống giảm, lượng sữa giảm hay mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng, màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục thải ra hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn
mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Thể viêm này thường ảnh hưởng đếm quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh
+ Viêm tương mạc tử cung
Viêm tương mạc tử cung là viêm tầng ngoài cùng của tử cung, thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ và toàn thân điển hình Lúc đầu lớp tương mạc này có màu hồng sau đó chuyển sang màu đỏ sẫm, rồi trở nên sần sùi, mất tính trơn bóng Các tế bào hoại tử bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết.Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm mô tử cung, viêm phúc mạc (Trần Tiến Dũng, 2002) [5]
Theo Đặng Đình Tín (1986) [13], lợn nái bị bệnh này có biểu hiện triệu chứng toàn thân điển hình và nặng như: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ chảy ra rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử có màu nâu, mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn mạnh hơn, từ âm hộ dịch chảy
ra nhiều hơn Trường hợp nặng một số vùng của tương mạc đã dính với các
Trang 27bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc hai buồng trứng
Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
* Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Để chẩn đoán bệnh viêm tử cung thường dựa vào các triệu trứng lâm sàng điển hình ở cục bộ cơ quan sinh dục và triệu trứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt Ngoài ra theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [10], lợn nái bị viêm tử cung còn có những biểu hiện mất sữa, âm đạo
có những dịch tiết không bình thường 3 – 4 ngày sau khi đẻ, nếu sau khi đẻ, kiểm tra âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hay thai chết lưu ở tử cung, mùi hôi đặc biệt
Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau để chẩn đoán
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung
Viêm tương mạc
2 Màu dịch viêm Trắng xám, sữa Hồng, nâu đỏ Nâu, rỉ sắt
5 Phản ứng co cơ
tử cung Phản ứng co giảm
Phản ứng co rất yếu
Phản ứng co mất
Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Bỏ ăn hoàn toàn
Đối với lợn nái sau đẻ có thể dựa vào cách tính điểm sau:
Trang 28- Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ năm sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm
- Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1điểm, nếu bỏ
đẻ song thai, thai quá to, nước thai quá nhiều… vì thế tử cung phải dãn quá mức dẫn tới khi đẻ rặn yếu Sảy thai, đẻ khó là nhân tố gây nên trương lực toàn thân yếu làm cho tử cung co bóp yếu và phát sinh sát nhau