1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy

189 320 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 7,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1 Lý do lựa chọn đề tài luận án Một  trong  các  thông  số  quyết  định  đến  chất  lượng  nước  là  lượng  oxi  hòa  tan  (Dissolved Oxygen – DO). Giá trị thông số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như  không  khí,  hệ  thủy  sinh  vật  trong  nước  và  bùn  đáy.  Bên  cạnh  đó,  DO  còn  tham  gia  vào  các  quá  trình  hóa  học,  sinh  hóa  trong  môi  trường  nước.  Vì  vậy,  DO  được  coi  là  một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nước và kiểm soát chất lượng môi trường,  đồng  thời  là  thước  đo  mức  độ  ô  nhiễm  các  chất  hữu  cơ  có  thể  phân  hủy  sinh  học  [1,  2].  Đồng  thời,  các  nghiên  cứu  liên quan  đến  DO  là  thực  sự  cần  thiết  trong  việc  đánh  giá, quản lý chất lượng môi trường nước.  Một  trong  những  hướng  nghiên  cứu  đang  được  quan  tâm  nghiên  cứu  hiện  nay  đó  là  sự  phân  bố  DO  trong  môi  trường  nước  khi  bị  tác  động  bởi  các  điều  kiện  môi trường trong đó có lớp bùn đáy. Lớp bùn đáy thường có hàm lượng chất hữu cơ  phân  hủy  sinh  học  rất  lớn,  và  cũng  là  đối  tượng  gây  ảnh  hưởng  mạnh  nhất  đến  sự  thay đổi hàm lượng DO trong nước, nhất là ở những vùng nước ô nhiễm hoặc vùng  nước  nuôi  trồng  thủy  sản  [3,  4].  Ví  dụ  trong  lĩnh  vực  nuôi  trồng  thủy  sản,  để  hạn  chế  quá  trình  DO  bị  tiêu  thụ  bởi  nhu  cầu  oxi  bùn  đáy  cũng  là  để  đảm  bảo  vệ  sinh  cho ao hồ thì việc cải tạo bùn đáy ao hồ là cần thiết và phải được tiến hành định kỳ.  Do  đó,  nghiên  cứu  về ảnh  hưởng của  bùn  đáy  đến  sự phân bố  DO  đang là  một  vấn  đề khá bức thiết và cần được quan tâm nghiên cứu.  Trong  các  phương  pháp  nghiên  cứu  sự  biến  đổi  nồng  độ  DO  dưới  tác  động  của  lớp  bùn  đáy,  phương  pháp  mô  hình  hóa  bằng  cách  sử  dụng  các  phương  trình  toán học là  một  hướng  nghiên cứu  còn khá mới.  Mô  hình hóa là  một công cụ mạnh  giúp  đưa  ra  những  đánh  giá,  dự  báo  sự  thay  đổi  của  nồng  độ  DO  cũng  như  các  thông  số  chất  lượng  nước  khác  dưới  tác  động  của  thiên  nhiên  cũng  như  các  hoạt  động của con người. Mô hình hóa cũng giúp cho việc khảo sát, đánh giá riêng rẽ các  yếu  tố  được  thuận  lợi  hơn;  điều  mà  thường  không  thể  thí  nghiệm  được  trong  môi  trường tự nhiên vì sự phức tạp và ảnh hưởng lẫn nhau của vô số các yếu tố khác lên  đối  tượng khảo  sát.  Trên thế giới,  hướng nghiên cứu  mô hình hóa sự biến  đổi nồng độ  DO  do  ảnh  hưởng  của  lớp  bùn  đáy  đã  có  những  kết  quả  nhất  định  [5-7].  Tuy  nhiên,  để  thu  được  những  kết  quả  đó  các  tác  giả  đã  sử  dụng  các  phương  trình  toán  học  đã được  công  bố  để  áp  dụng  cho  các  sông  hồ  hoặc  vùng nước cụ  thể,  mà  chưa  đưa ra một mô hình toán học mới hơn. Ở Việt Nam cho đến nay, hướng nghiên cứu  này  vẫn  còn  để  ngỏ  với  nhiều  thách  thức,  chưa  có  công  trình  nghiên  cứu  nào  được  công bố.   Từ  các lý do ở  trên, kết  hợp với kinh nghiệm  của tập thể  hướng dẫn,  luận án  hướng  đến  vấn  đề  “Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy” làm nội dung nghiên cứu.  

Trang 1

VIỆN HÓA HỌC

- - 

  

LÊ MINH THÀNH

   

MÔ HÌNH HÓA SỰ THAY ĐỔI NỒNG ĐỘ OXI TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA LỚP BÙN ĐÁY 

 Chuyên ngành: Hóa lý thuyết và Hóa lý 

Mã số: 62.44.01.19  

  

LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC

   

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS LÊ QUỐC HÙNG

2 TS PHẠM HỒNG PHONG

 

Trang 2

Hóa lý, khóa 2010-2014. Tôi xin cam đoan luận án tiến sĩ “Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy” là công trình 

nghiên cứu của riêng tôi, đây là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Lê Quốc Hùng và TS. Phạm Hồng Phong. Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án hoàn toàn thu được từ quá trình tính toán lý thuyết và đo đạc thực nghiệm của bản thân, được tiến hành một cách trung thực và không sao chép. Các tài liệu và thông tin trích dẫn trong luận án đã được ghi rõ nguồn gốc. 

Trang 3

Lê Quốc Hùng và TS. Phạm Hồng Phong, những người đã truyền cho tôi tri thức, cũng như tâm huyết nghiên cứu khoa học, người đã tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành bản luận án này!  

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Trường Đại học Thủy Lợi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi tham gia nghiên cứu sinh!   

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô, các anh chị và các em Phòng Ứng dụng  Tin  học  trong  Hóa  học,  Viện  Hóa  học  –  Viện  Hàn  lâm  Khoa  học  và  Công nghệ Việt Nam đã chia sẻ những kinh nghiệm quý báu và trợ giúp tôi thực hiện các nghiên cứu! 

Và  tôi  xin  gửi  lời  cảm  ơn  chân  thành  tới  các  đồng  nghiệp,  bạn  bè,  những người đã luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt thời gian qua!  

Cuối cùng, tôi xin dành tình cảm đặc biệt đến gia đình, người thân của tôi, những người đã luôn tin tưởng, động viên và tiếp sức cho tôi thêm nghị lực để tôi vững bước và vượt qua mọi khó khăn! 

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN i 

LỜI CẢM ƠN ii 

MỤC LỤC iii 

Danh mục kí hiệu vi 

Danh mục hình x 

Danh mục bảng xiii 

MỞ ĐẦU 1 

1   Lý do lựa chọn đề tài luận án 1 

2   Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án 2 

3   Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận án 3 

4   Nội dung nghiên cứu 3 

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5 

1.1   Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ oxi hòa tan trong nước 5 

1.1.1   Sự trao đổi oxi giữa không khí và nước 6 

1.1.2   Quá trình quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật 8 

1.1.3   Nhu cầu oxi sinh hóa 14 

1.1.4   Nhu cầu oxi bùn đáy 16 

1.1.5   Nhu cầu oxi hóa học 18 

1.1.6   Quá trình nitrat hóa 20 

1.1.7   Sự xáo trộn và lắng đọng chất hữu cơ giữa trầm tích và nước 21 

1.1.8   Các yếu tố khác ảnh hưởng đến oxi hòa tan 22 

1.2   Các tính chất của bùn đáy 28 

1.2.1   Thành phần hóa học của bùn đáy 29 

1.2.2   Độ xốp của bùn đáy 30 

1.2.3   Mật độ của bùn đáy 31 

1.2.4   Tỉ khối của bùn đáy 31 

1.3   Nghiên cứu về mô hình hóa các thông số chất lượng nước 31 

1.3.1   Phương trình lan truyền khuếch tán tổng quát 32 

Trang 5

Multiphysics 35 

1.4   Tình hình nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết 37 

1.4.1   Tình hình nghiên cứu 37 

1.4.2   Những vấn đề cần giải quyết 39 

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT, THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP  NGHIÊN CỨU 42 

2.1   Cơ sở lý thuyết xây dựng mô hình oxi hòa tan 42 

2.1.1   Các giả thiết trong xây dựng mô hình 42 

2.1.2   Các yếu tố trong mô hình oxi hòa tan 42 

2.1.3   Thiết lập và giải mô hình 49 

2.2   Thiết bị và phần mềm sử dụng 49 

2.2.1   Mô hình vật lý và thiết bị 49 

2.2.2   Phần mềm máy tính 52 

2.3   Phương pháp nghiên cứu 53 

2.3.1   Phương pháp số giải bài toán khuếch tán 53 

2.3.2   Phương pháp xây dựng và đánh giá mô hình 54 

2.3.3   Phương pháp đo đạc thực nghiệm 59 

2.4   Nhận xét chương 2 64 

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 65 

3.1   Bước đầu khảo sát khả năng mô phỏng của mô hình oxi hòa tan 65 

3.1.1   Thiết lập mô hình và phương trình mô tả 66 

3.1.2   Kết quả mô phỏng 72 

3.1.3   Nhận xét mô hình 1 83 

3.2   Mô hình oxi hòa tan do ảnh hưởng chủ đạo bởi bùn đáy 85 

3.2.1   Thiết lập mô hình và phương trình mô tả 86 

3.2.2   Đánh giá mô hình, so sánh kết quả mô phỏng và khảo sát sự biến thiên  nồng độ oxi hòa tan 90 

3.2.3   Nhận xét mô hình 2 99 

Trang 6

nồng độ oxi hòa tan 107 

3.3.3   Nhận xét mô hình 3 113 

3.4   Mô hình tổng hợp 116 

3.4.1   Thiết lập mô hình và phương trình mô tả 117 

3.4.2   So sánh kết quả mô phỏng và phân tích độ nhạy 121 

3.4.3   Nhận xét mô hình 4 127 

3.5   Nhận xét chương 3 129 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131 

1   Kết luận 131 

2   Những đóng góp mới của luận án 133 

3   Các kiến nghị, đề xuất 134 

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU ĐàCÔNG BỐ 135 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 136 

PHỤ LỤC 147 

PL.1   Một số mô hình toán học của oxi hòa tan theo lịch sử 147 

PL.2   Các dạng phương trình tham khảo tính hằng số k2 150 

PL.3   Các toán tử thường gặp trong phương trình PDE 152 

PL.4   Quy trình thực hiện giải số hệ phương trình PDE bằng phần mềm Comsol  Multiphysics 153 

PL.5   Thành phần và tính chất của một số mẫu bùn đáy nghiên cứu 164 

PL.6   Một số kết quả đo đạc nồng độ DO trong thực tế 164 

 

 

 

 

Trang 8

Oxyz Hệ tọa độ Descartes với trục Ox là chiều rộng (m); trục Oy là chiều dài 

(m); Oz là chiều sâu (m) của môi trường nước. 

P Tốc độ oxi sinh ra do quang hợp (mg L-1 h-1) 

PDE  Phương trình đạo hàm riêng. 

Trang 11

Hình 1.1.  Minh họa các nguồn sinh và tiêu thụ oxi trong tự nhiên [9] 6 

Hình 1.2.  Ngưỡng nồng độ oxi cho sự tồn tại và phát triển của thủy sinh vật 10 

Hình 1.3.  Ảnh hưởng của hàm lượng chất hữu cơ ô nhiễm đến nồng độ DO [32] 14 Hình 1.4.  Ảnh hưởng của dòng chảy tới nồng độ DO [32] 25 

Hình 1.5.  Sự biến đổi nồng độ DO theo ngày đêm ở môi trường nước 27 

Hình 1.6.  Minh họa các dạng điều kiện biên trên biên ∂Ω của miền xác định Ω 34 

Hình 2.1.  Mô hình vật lý nghiên cứu oxi hòa tan trong phòng thí nghiệm 50 

Hình 2.2.  Thiết bị đo DO đa kênh (MCDM) ghép nối máy tính 50 

Hình 2.3.  Các loại sensor dùng để đo oxi hòa tan 51 

Hình 2.4.  Cấu tạo sensor DO 51 

Hình 2.5.  Phần mềm đo đa kênh oxi hòa tan 52 

Hình 2.6.  Các bước cơ bản trong phương pháp FEM 54 

Hình 2.7.  Minh họa các bước để xây dựng một mô hình mô phỏng 56 

Hình 2.8.  Minh họa thiết kế các cột nước trong mô hình vật lý 59 

Hình 2.9.  Các vị trí lấy mẫu bùn đo đạc trong thực tế 60 

Hình 2.10.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trên mô hình vật lý 61 

Hình 2.11.  Hệ thống MCDM đo đạc DO trong phòng thí nghiệm 61 

Hình 2.12.  Vị trí các hồ vùng Hà Nội được đo nồng độ DO 62 

Hình 2.13.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trong hồ tự nhiên 63 

Hình 3.1.  Minh họa hệ khảo sát trong hệ tọa độ Descartes Oxyz (m) 67 

Hình 3.2.  Sự biến thiên nồng độ DO (mg/L) trong toàn bộ hệ 73 

Hình 3.3.  Nồng độ DO (mg/L) trong hệ theo mặt phẳng Oyz 74 

Hình 3.4.  Sự biến thiên nồng độ DO theo thời gian tại một số vị trí 75 

Hình 3.5.  Đường đồng mức nồng độ DO (mg/L) theo mặt phẳng Oyz (a, b); và  theo mặt phẳng Oxy (c, d) 76 

Hình 3.6.  Xu hướng biến đổi nồng độ DO (mg/L) theo mặt phẳng Oyz (a, b); và  theo mặt phẳng Oxy (c, d) 78 

Hình 3.7.  Kết quả tính thời gian hồi phục DO tại một số vị trí 79 

Trang 12

Hình 3.9.  Nồng độ DO (mg/L) trong hệ theo mặt phẳng Oyz 82 

Hình 3.10.  Các thành phần trong hệ nghiên cứu 86 

Hình 3.11.  So sánh kết quả mô phỏng và đo đạc sự biến thiên nồng độ DO, cùng  kết quả phân tích tương quan trong quá trình hiệu chỉnh 91 

Hình 3.12.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt)  sự biến thiên nồng độ DO trong cột nước 1,0 m (hình a, b), cột nước 0,5 m (hình c,  d), cùng kết quả phân tích tương quan trong quá trình kiểm chứng 92 

Hình 3.13.  Giá trị SR của một số tham số trong mô hình 2 94 

Hình 3.14.  Mô phỏng sự biến thiên nồng độ DO trong cột nước 0,5 m 95 

Hình 3.15.  Mô phỏng sự biến thiên nồng độ DO tại một số vị trí 97 

Hình 3.16.  Mô phỏng sự biến thiên nồng độ DO trong các môi trường nước khác  nhau của các vị trí A(0;0;-0.49), E(0;0;-0.99) và J(0;0;-1.99) 98 

Hình 3.17.  Các thành phần trong hệ khảo sát 102 

Hình 3.18.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt)  sự biến thiên nồng độ DO, cùng kết quả phân tích tương quan trong hiệu chỉnh, tại  vị trí cách bề mặt bùn 1,0 cm 107 

Hình 3.19.  Giá trị nồng độ DO mô phỏng (đường nét liền), DO đo đạc (đường nét  đứt) và kết quả phân tích tương quan trong quá trình kiểm chứng, tại vị trí cách bề  mặt bùn 1,0 cm 108 

Hình 3.20.  Giá trị SR của một số tham số trong mô hình 3 110 

Hình 3.21.  Mô phỏng sự biến thiên nồng độ DO gần ranh giới pha bùn – nước 111 

Hình 3.22.  So sánh kết quả mô phỏng (của mô hình 3, mô hình 2) và đo đạc sự  biến thiên nồng độ DO, cùng kết quả phân tích tương quan tương ứng 112 

Hình 3.23.  Minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới DO trong bài toán 117 

Hình 3.24.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt)  sự biến thiên nồng độ DO, cùng kết quả phân tích tương quan 122 

Hình 3.25.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt)  sự biến thiên nồng độ DO, cùng kết quả phân tích tương quan 125 

Trang 13

Hình PL.1.  Tọa độ Oyz trong mô hình của O’Connor 147 

Hình PL.2.  Miền khảo sát giả định 155 

Hình PL.3.  Chọn chiều không gian 156 

Hình PL.4 . Chọn module tính toán 156 

Hình PL.5.  Khai báo tên và số biến số 157 

Hình PL.6.  Chọn kiểu tính toán 157 

Hình PL.7.  Vẽ miền khảo sát 157 

Hình PL.8.  Chọn thuộc tính của miền khảo sát 158 

Hình PL.9.  Nhập các thông số cần sử dụng 158 

Hình PL.10.  Nhập hệ phương trình chủ đạo 159 

Hình PL.11.  Nhập điều kiện ban đầu 159 

Hình PL.12.  Tạo điều kiện biên Neumann cho mặt nước 160 

Hình PL.13.  Nhập điều kiện biên cho mặt nước 160 

Hình PL.14.  Tạo điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước 161 

Hình PL.15.  Nhập điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước 161 

Hình PL.16.  Điều kiện biên cho các mặt bên 162 

Hình PL.17.  Chia lưới cho miền khảo sát 162 

Hình PL.18.  Nhập khoảng thời gian cần mô phỏng 163 

Hình PL.19.  Thực hiện tính toán 163 

 

Trang 14

Bảng 1.1.  Giá trị BOD của một số nguồn nước [33] 15 

Bảng 1.2.  Độ hòa tan của DO trong nước (mg/L) phụ thuộc vào nhiệt độ, độ muối  tại điều kiện không khí ẩm, áp suất 760 mmHg [13] 23 

Bảng 1.3.  Ảnh hưởng của nhiệt độ và độ cao đến nồng độ DO (mg/L) [12] 28 

Bảng 1.4.  Phân loại trầm tích theo kích thước hạt [66] 29 

Bảng 1.5.  Thành phần hóa học của bùn đáy ao nuôi cá tra [4] 30 

Bảng 2.1.  Tọa độ các vị trí lấy mẫu bùn đo đạc 60 

Bảng 2.2.  Các vị trị đo nồng độ DO 62 

Bảng 3.1.  Nồng độ chất hữu cơ tại bề mặt nguồn thải theo các mốc thời gian 70 

Bảng 3.2.  Giá trị các tham số, hệ số sử dụng trong mô hình 1 71 

Bảng 3.3.  Giá trị các tham số, hệ số sử dụng trong mô hình 2 89 

Bảng 3.4.  Giá trị các tham số, hệ số sử dụng trong mô hình 3 105 

Bảng 3.5.  Giá trị các tham số, hệ số sử dụng trong mô hình 4 121 

Bảng 3.6.  Giá trị các tham số, hệ số sử dụng trong mô hình 4 124 

Bảng PL.1.  Một vài phương trình dự đoán k2 trong sông, suối 151 

Bảng PL.2.  Một vài phương trình dự đoán k2 cho ao, hồ, đầm 152 

Bảng PL.3.  Giá trị các tham số và hệ số giả định 155 

Bảng PL.4.  Thành phần cơ, lý, hóa của một số mẫu bùn đã sử dụng 164 

Bảng PL.5.  Nồng độ DO theo thời gian trong cột nước 2,0 m (số liệu được sử dụng  trong mô hình 2) 164 

Bảng PL.6.  Nồng độ DO theo thời gian trong cột nước 1,0 m (số liệu được sử dụng  trong mô hình 2) 166 

Bảng PL.7.  Nồng độ DO theo thời gian trong cột nước 0,5 m (số liệu được sử dụng  trong mô hình 2) 168 

Bảng PL.8.  Nồng độ DO theo thời gian trong cột nước 2,0 m (số liệu được sử dụng  trong mô hình 3) 170 

Bảng PL.9.  Nồng độ DO theo thời gian (số liệu được sử dụng trong mô hình 3) 170 

Trang 16

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Một trong các thông số quyết định đến chất lượng nước là lượng oxi hòa tan (Dissolved Oxygen – DO). Giá trị thông số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như không khí, hệ thủy sinh vật trong nước và bùn đáy. Bên cạnh đó, DO còn tham gia vào các quá trình hóa học, sinh hóa trong môi trường nước. Vì vậy, DO được coi là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nước và kiểm soát chất lượng môi trường, đồng thời là thước đo mức độ ô nhiễm các chất hữu cơ có thể phân hủy sinh học [1, 2]. Đồng thời, các nghiên cứu liên quan đến DO là thực sự cần thiết trong việc đánh giá, quản lý chất lượng môi trường nước. 

Một  trong  những  hướng  nghiên  cứu  đang  được  quan  tâm  nghiên  cứu  hiện nay đó là sự phân bố DO trong môi trường nước khi bị tác động bởi các điều kiện môi trường trong đó có lớp bùn đáy. Lớp bùn đáy thường có hàm lượng chất hữu cơ phân hủy sinh học rất lớn, và cũng là đối tượng gây ảnh hưởng mạnh nhất đến sự thay đổi hàm lượng DO trong nước, nhất là ở những vùng nước ô nhiễm hoặc vùng nước nuôi trồng  thủy sản  [3, 4].  Ví  dụ  trong  lĩnh vực nuôi trồng thủy  sản, để hạn chế quá trình DO bị tiêu thụ bởi nhu cầu oxi bùn đáy cũng là để đảm bảo vệ sinh cho ao hồ thì việc cải tạo bùn đáy ao hồ là cần thiết và phải được tiến hành định kỳ. 

Do đó, nghiên cứu về ảnh hưởng của bùn đáy đến sự phân bố DO đang là một vấn 

đề khá bức thiết và cần được quan tâm nghiên cứu. 

Trong các phương pháp nghiên cứu sự biến đổi nồng độ DO dưới tác động của  lớp  bùn  đáy,  phương  pháp  mô  hình  hóa  bằng  cách  sử  dụng  các  phương  trình toán học là một hướng nghiên cứu còn khá mới. Mô hình hóa là một công cụ mạnh giúp  đưa  ra  những  đánh  giá,  dự  báo  sự  thay  đổi  của  nồng  độ  DO  cũng  như  các thông  số  chất  lượng  nước  khác  dưới  tác  động  của  thiên  nhiên  cũng  như  các  hoạt động của con người. Mô hình hóa cũng giúp cho việc khảo sát, đánh giá riêng rẽ các yếu  tố  được  thuận  lợi  hơn;  điều  mà  thường  không  thể  thí  nghiệm  được  trong  môi trường tự nhiên vì sự phức tạp và ảnh hưởng lẫn nhau của vô số các yếu tố khác lên đối tượng khảo sát. Trên thế giới, hướng nghiên cứu mô hình hóa sự biến đổi nồng 

Trang 17

độ  DO  do  ảnh  hưởng  của  lớp  bùn  đáy  đã  có  những  kết  quả  nhất  định  [5-7].  Tuy nhiên, để thu được những kết quả đó các tác giả đã sử dụng các phương trình toán học đã được công bố để áp dụng cho các sông hồ hoặc vùng nước cụ thể, mà chưa đưa ra một mô hình toán học mới hơn. Ở Việt Nam cho đến nay, hướng nghiên cứu này vẫn còn để ngỏ với nhiều thách thức, chưa có công trình nghiên cứu nào được công bố.  

Từ các lý do ở trên, kết hợp với kinh nghiệm của tập thể hướng dẫn, luận án 

hướng  đến  vấn  đề  “Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy” làm nội dung nghiên cứu.  

2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Mục  đích  của  luận  án  nhằm  xây  dựng  và  phát  triển  mô  hình  toán  học  mô phỏng sự biến đổi nồng độ DO trong nước dưới tác động chủ yếu của bùn đáy và một số yếu tố khác như: sự khuếch tán, tiêu thụ oxi bởi vi khuẩn tham gia phân hủy chất  hữu  cơ  chất  hữu  cơ,  quá  trình  trao  đổi  oxi  giữa  không  khí  và  nước   Đồng thời, khảo sát sự biến đổi nồng độ DO dưới tác động của lớp bùn đáy.  

DO – đối tượng nghiên cứu của bản luận án, là thông số chịu tác động của nhiều  quá  trình  như:  hóa  học,  vật  lý,  sinh  học,  thủy  lực,  khuếch  tán  trong  môi trường nước. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong bản luận án chỉ tập trung vào các quá trình hóa học và khuếch tán, bởi đây là các quá trình thuộc lĩnh vực Hóa lý thuyết 

và Hóa lý. Để đạt được mục đích đó, các phương trình toán học mô phỏng sự biến đổi nồng độ DO cũng như quá trình liên quan là khuếch tán cũng đã được tập trung nghiên cứu. 

Phạm vi nghiên cứu của luận án được giới hạn trong môi trường nước ngọt, trong đó quá trình thực nghiệm chủ yếu được tiến hành với hệ thống nước cấp sinh hoạt và nước trong các hồ tự nhiên khu vực Hà Nội và Hòa Bình, trong đó các hồ tự nhiên  đều  được  giả  thiết  là  hồ  tĩnh  (không  có  dòng  chảy  trong  môi  trường  nước). Đồng thời, quá trình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tác động lên DO (đã nêu trong phần mục đích luận án ở trên) được tiến hành dưới góc độ Hóa lý thuyết 

và Hóa lý. Việc xây dựng các bài toán biên được xuất phát từ các phương trình toán 

Trang 18

3 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học:  

o Đã đưa ra được dạng phương trình động học mô tả tổng quát hơn sự tiêu thụ oxi bởi phản ứng sinh hóa với các chất hữu cơ trong môi trường nước. 

o Đã xây dựng được mô hình toán học mô phỏng sự biến đổi nồng độ DO trong môi trường nước, trong đó đã kết nối được các kiến thức toán học, vật lý, hóa học vào việc mô phỏng.  

o Luận  án đã  kết hợp được giữa  nghiên  cứu cơ  bản, nghiên  cứu  lý  thuyết với thực tế. 

Ý nghĩa thực tiễn:

o Đưa  ra  được  mô  hình  toán  học  mô  phỏng  sự  biến  đổi  nồng  độ  DO,  mô hình  được  sử  dụng  như  một  công  cụ  để  dự  đoán,  so  sánh,  đánh  giá  sự biến  đổi  hàm  lượng  DO  trong  nguồn  nước  theo  thời gian  dưới tác động của các yếu tố như bùn đáy, chất hữu cơ phân hủy tiêu thụ oxi   

o Tạo  được  cơ  sở  cho  định  hướng  nghiên  cứu  chuyên  sâu  giải  quyết  các vấn đề của thực tiễn chăn nuôi thủy sản. 

cơ tiêu thụ oxi. 

o Thiết  lập  các  bài  toán  biên  nhằm  khảo  sát  sự  biến  đổi của  nồng  độ  DO trong  một  số  trường  hợp  cụ  thể:  khảo  sát  lý  thuyết  khả  năng  mô  phỏng 

Trang 19

của mô hình, xây dựng mô hình DO do ảnh hưởng chủ đạo của bùn đáy, xây dựng mô  hình khảo  sát DO tại khu vực ranh giới  pha  bùn nước, và xây dựng mô hình DO theo độ sâu. 

o Giải các bài toán biên đặt ra bằng phương pháp phần tử hữu hạn (FEM), 

sử dụng phần mềm Comsol Multiphysics. 

o Xây dựng mô hình vật lý để khảo sát thực nghiệm ảnh hưởng chủ đạo của bùn  đáy  lên  quá  trình  tiêu  thụ  DO  trong  nước,  đồng  thời  để  so  sánh  và kiểm nghiệm mô hình toán học đã thiết lập. 

o Ứng dụng thiết bị đo đa kênh oxi hòa tan (MCDM) do Phòng Ứng dụng Tin  học  trong  Nghiên  cứu  Hóa  học  thuộc  Viện  Hóa  học  tự  chế  tạo,  và phần mềm điều khiển thiết bị đo (MultiDO) để nghiên cứu sự biến thiên nồng độ DO trong nước theo thời gian. 

o Khảo sát thực nghiệm sự biến đổi nồng độ DO do ảnh hưởng của bùn đáy trên mô hình vật lý trong phòng thí nghiệm. Đo khảo sát hiện trường sự biến đổi nồng độ DO theo độ sâu tại các hồ tự nhiên vùng Hà Nội và Hòa Bình. 

o So sánh, kiểm tra và phân tích sự tương quan giữa kết quả mô phỏng với các số liệu đo thu được theo mô hình vật lý và trong các hồ tự nhiên. 

o Đánh  giá  sự  phù  hợp  kết  quả  nghiên  cứu,  từ  đó  đề  xuất  khả  năng  ứng dụng của mô hình đã xây dựng trong lĩnh vực nghiên cứu, dự báo sự biến đổi nồng độ DO trong môi trường nước. 

Trang 20

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

Oxi hòa tan (Dissolved Oxygen – DO) trong nước rất cần thiết cho sự hô hấp của các thủy sinh vật như cá, tôm, động vật lưỡng cư, côn trùng v.v  Nồng độ DO trong các nguồn nước có thể dao động từ 0-18 mg/L, và đối với môi trường nước sạch  tự  nhiên  giá  trị  này  trong  khoảng  8-10  mg/L  [8].  Mức  độ  dao  động  này  phụ thuộc vào cấu tạo địa chất của hồ, điều kiện địa lý tự nhiên, nhiệt độ, sự phân hủy chất vô cơ, hữu cơ trong nước, và một số tác nhân khác. 

Oxi có mặt trong nước thông quá các quá trình như khuếch tán từ không khí, sản  phẩm  của quá trình  quang hợp,  và một phần nhỏ do  quá trình hòa tan  oxi  khi dòng nước chảy qua các khu vực như thác ghềnh  Bất kể sự thay đổi nào về hàm lượng oxi hòa tan trong nước, dù cao hay thấp đều có ảnh hưởng đến sự phát triển bình  thường  của động vật thủy  sản.  Khi  nồng độ DO trở  nên  quá  thấp  sẽ dẫn đến hiện tượng khó hô hấp, giảm hoạt động ở các loài động thực vật dưới nước, dẫn đến các tác động xấu lên hệ sinh thái.  

DO  không  chỉ  có  vai  trò  là  nguồn  dưỡng  khí  cần  thiết  cho  hoạt  động  sống của sinh vật nuôi trồng, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của vi sinh vật hiếu khí, sự phân giải các chất hữu cơ, với việc đảm bảo hàm lượng DO phù hợp còn có tác dụng làm giảm các chất độc hại, ức chế hoạt động của vi sinh vật yếm khí có hại 

và tăng cường sức miễn dịch của các loài động vật thủy sản. 

1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ oxi hòa tan trong nước

Các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng đến nồng độ DO trong môi trường nước có thể được phân chia thành hai nhóm chính là nguồn sinh và nguồn tiêu thụ oxi. Các nguồn này được diễn ra nhờ các quá trình như: quang hợp của thực vật thủy sinh, trao đổi oxi giữa không khí và nước, suy giảm do bị bùn hấp thu, do hô hấp của sinh vật  thủy  sinh,  hay  DO  tham  gia  phản  ứng  oxi    hóa  với  các  chất  hữu  cơ  hoặc  chất khử khác  như được minh họa ở hình 1.1. 

Trang 21

Hình 1.1.  Minh họa các nguồn sinh và tiêu thụ oxi trong tự nhiên [9] 

1.1.1 Sự trao đổi oxi giữa không khí và nước

Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra rằng hàm lượng oxi từ không khí vào nước là nguồn sinh lớn nhất của DO trong môi trường nước [10, 11].  

Oxi không khí hòa tan vào nước khi nồng độ oxi trong nước ở trạng thái dưới mức bão hòa và sẽ thoát lại vào khí quyển khi nồng độ oxi trong nước ở mức quá bão hòa. Động lực của quá trình hòa tan oxi chính là sự chênh lệch oxi tại thời điểm 

đó. Theo định luật Henry thì nồng độ của DO tỷ lệ với áp suất riêng phần của oxi trong không khí:  

Tốc độ hòa tan khí oxi vào nước còn phụ thuộc vào một vài yếu tố khác. Thứ nhất, phụ thuộc vào diện tích của ranh giới pha nước – không khí, diện tích tiếp xúc này càng lớn thì lượng oxi khuếch tán vào nước càng lớn. Thứ hai, sự chuyển động của  không  khí  gây  ra  sóng  và  tạo  ra  các  dòng đối  lưu,  làm  tăng  tiết  diện  tiếp  xúc 

Trang 22

giữa không khí và mặt nước. Thứ ba, điều kiện thủy lực của nước, nếu nguồn nước tĩnh thì tốc độ hòa tan oxi vào nước sẽ phụ thuộc vào quá trình khuếch tán phân tử nên sự hòa tan oxi xảy ra chậm; nếu nguồn nước bị khuấy trộn (do các dòng nước nội tại, hoặc do đối lưu nhiệt) thì quá trình hòa tan khí sẽ phụ thuộc vào quá trình đối  lưu.  Tốc  độ  khuếch  tán  của  oxi  trong  nước  chỉ  bằng  khoảng  1/10000  tốc  độ khuếch tán của oxi trong khí quyển, chính vì vậy môi trường nước là môi trường có tốc độ khuếch tán oxi thấp [12]. 

Nghiên  cứu  khác cũng  đã cho  thấy, quá trình  hòa tan  oxi từ  khí quyển  vào nước  đóng vai  trò  là  nguồn  sinh oxi chủ yếu    trong một  vài  trường hợp điển  hình sau [13]: 

o Trường hợp các hoạt động sinh hóa trong ao hồ xảy ra chậm (mật độ tảo, mật độ vật nuôi thấp). Khi đó nồng độ DO hầu như không đổi, đạt mức gần bão hòa do lượng oxi hòa tan từ không khí xuống tuy chậm nhưng đều. 

o Trong điều kiện gió to tạo ra sóng, làm cho nguồn nước được khuấy trộn mạnh, khi đó nồng độ DO tương đối đồng đều theo chiều sâu của nước, 

kể cả khi nguồn nước đó có các hoạt động sinh hóa xảy ra mạnh.   

o Trường hợp  sục khí cơ  học, hoạt  động này vừa  có  tác dụng  tăng cường khả  năng  tiếp  xúc  giữa  không  khí  với  nước,  vừa  tăng  cường  khả  năng khuấy trộn. 

Để hiểu rõ sự khuếch tán của oxi diễn ra tại ranh giới pha nước – không khí, 

đã có nhiều nghiên cứu sử dụng các dạng khác nhau của phương trình mô phỏng sự trao  đổi  oxi  tại  ranh  giới  pha  giữa  nước  và  không  khí.  Trong  đó  hai  dạng  thường gặp là:  

Trang 23

hòa trong nước (mg/L); CDO: nồng độ oxi hòa tan trong nước (mg/L), thường 

là hàm số của (x, y, z, t), tức là CDO = CDO(x, y, z, t)  [14]. 

1.1.2 Quá trình quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật

1.1.2.1 Vai trò của oxi hòa tan trong quá trình quang hợp và hô hấp

a) Với thực vật thủy sinh

Nguồn  sinh  oxi  ngoài  sự  khuếch  tán  từ  không  khí  như  đã  trình  bày  ở  trên, còn do sự quang hợp của các thực vật thủy sinh. Đây vừa là đối tượng tiêu thụ oxi cũng vừa là đối tượng tạo ra oxi cho môi trường nước, trong các loài thực vật thủy sinh thì tảo là yếu tố đóng vai trò tạo ra oxi chủ yếu nhất trong nước. Nhiều công trình khảo sát chỉ ra rằng, quá trình sinh hóa của tảo là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến lượng oxi hòa tan có trong ao hồ. Với mật độ tảo có trong các ao hồ tự nhiên hiện  nay  thì quá trình quang  hợp là nguồn  sản  sinh  oxi  chính và quá trình  hô  hấp của tảo là nguồn tiêu thụ oxi chính [13].  

Quá  trình  quang  hợp  có  thể  được  chia  thành  hai  phần:  giai  đoạn  "sáng"  và giai  đoạn  "tối".  Giai  đoạn  sáng  diễn  ra  trong  hệ  thống  màng  thylakoid  của  tế  bào thực vật, ở  đó hidro  trong nước được tách  ra  và chuyển  vào  trong  ion  nicotinamit adenin  dinucleotit  phosphat  (NADP+),  tạo  thành  NADPH2 và  giải  phóng  oxi.  Giai đoạn tối diễn ra trong chất đệm của lục lạp ở tế bào thực vật, khi này NADPH2 sẽ khử  CO2  tạo  thành  hợp  chất  hữu  cơ  dạng  cacbonhidrat  (CH2O)n. Cả  hai giai  đoạn này  có  sự  tham  gia  xúc  tác  của  adenosin  diphosphat  (ADP),  adenosin  triphosphat (ATP) và inorganic orthophosphate (Pi). Hai giai đoạn này có thể được tóm tắt như sau [10]: 

NA PHP

D4AT

Trang 24

  CO2 + H2O 8hv(CH2O) + O2  (1.6) 

Bên cạnh quá trình quang hợp, ở thực vật còn diễn ra sự hô hấp và quá trình 

đó làm tiêu thụ oxi. Sự quang hợp và hô hấp ở thực vật đều liên quan đến các quá trình chuyển hóa dạng nitơ và photpho, như biểu diễn tóm tắt dưới đây [19]: 

Khi mật độ tảo thấp, tốc độ quang hợp trên một đơn vị sinh khối tảo cao do 

đủ dinh dưỡng và ánh sáng, nhưng tổng lượng oxi thấp do mật độ thưa. Khi mật độ tảo tăng sẽ gây ra hiện tượng dư thừa oxi vào ban ngày do quang hợp nhiều và thiếu oxi vào  ban  đêm  do  hô  hấp  nhiều,  làm  ảnh  hưởng  đến  quá  trình  hô  hấp  của  động vật. Đồng thời, hàm lượng lớn của tảo trong nước sẽ dẫn đến khi tảo chết làm tăng lượng  mùn  đáy,  kéo  theo  quá  trình  phân  hủy  bởi  vi  sinh  vật  tại  bùn  đáy  tăng  lên, làm hàm lượng chất hữu cơ tiêu thụ DO tăng theo. Hơn nữa, khi tảo chết sẽ gây hiện tượng bùn lắng làm ao hồ ngày càng nông hơn, kết quả là làm thay đổi cấu trúc của môi trường sinh thái nước. 

  Một trong những nguyên nhân góp phần vào sự phát triển vượt trội của thực vật thủy sinh thường gặp ngày nay đó là sự phú dưỡng ở các ao hồ. Đây là một dạng biểu hiện của ao hồ bị ô nhiễm do dư thừa các chất dinh dưỡng, với hàm lượng nitơ (N)  lớn  hơn  500  µg/L  và  photpho  (P)  lớn  hơn  20  μg/L  [20].  Sự  dư  thừa  các  chất dinh dưỡng này sẽ thúc đẩy sự phát triển của các loài tảo, rong, rêu và các thực vật thân mềm trong nước.  

Hiện tượng phú dưỡng có thể làm DO vượt quá giá trị DO bão hòa từ 1,5 đến 

2 lần do sự quang hợp của rong tảo diễn ra mạnh vào ban ngày, trong khi đó quá trình  hô  hấp  của  chúng  vào  ban  đêm  có  thể  tiêu  thụ  hoàn  toàn  lượng  oxi  hòa  tan trong nước. Sự biến động quá lớn của nồng độ oxi hòa tan giữa ngày và đêm như vậy 

Trang 25

có  thể  làm  cho  các  loài  thủy  sinh  vật  không  kịp  thích  nghi  với  môi  trường,  sẽ  ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh học của môi trường sinh thái nước [20].  

b) Với động vật thủy sinh

Bên  cạnh  việc  vai  trò đối  với  thực  vật  thủy  sinh  ở  trên,  DO  cũng  là  yếu  tố cần  thiết  để  duy  trì  và  phát  triển  sự  sống  cho  động  thực  vật  thủy  sinh.  Vì  tốc  độ khuếch tán của oxi trong nước rất chậm, khoảng 5 × 10-5 cm2/s [21], và độ tan của oxi nhỏ, khoảng 8 mg/L, nên nếu như tốc độ tiêu thụ oxi của sinh vật lớn hơn tốc độ khuếch tán của oxi thì sẽ hình thành các vùng nước có lượng oxi thấp (hypoxia, độ tan  của  oxi  nhỏ hơn  2  mg/L) hay thiếu  oxi (anoxia, vùng nước gần  như  không  có oxi) như minh họa trên hình 1.2. Hiện tượng lượng oxi thấp hoặc thiếu oxi như trên xảy  ra  phổ  biến  nhất  vào  mùa  hạ  khi  nước  bị  phân  tầng  theo  nhiệt  độ.  Các  vùng nước thiếu oxi đó sẽ là nơi sống và phát triển của các vi sinh vật kị khí quang dưỡng 

và hóa dưỡng. Hệ quả của việc thiếu oxi là làm ô nhiễm nguồn nước, mất đi nguồn tài nguyên nước sạch, và đặc biệt là ảnh hưởng đến hệ sinh thái thủy sinh cũng như sinh hoạt và các hoạt động sản xuất của con người [21].  

 

Hình 1.2.  Ngưỡng nồng độ oxi cho sự tồn tại và phát triển của thủy sinh vật 

Hình 1.2. cho thấy quá trình tồn tại và phát triển của các dạng sinh vật hiếu khí  trong  nước  luôn  đòi  hỏi  mức  độ  oxi  đầy  đủ.  Đối  với  động  vật  thủy  sinh,  khi 

Trang 26

độ oxi ở mức dưới 1-2 mg/L trong một vài giờ có thể dẫn đến hiện tượng cá và các động vật khác trong nước chết hàng loạt [13]. 

Lượng  oxi  tiêu  thụ  do  hô  hấp  của  các  động  vật  trong  nước  phụ  thuộc  vào loài,  kích  cỡ,  nhiệt  độ  và  mức  độ  hoạt  động  của  chúng.  Về  loài,  trong  cùng  điều kiện môi trường và mức độ hoạt động bơi lội giống nhau thì mức độ tiêu thụ oxi rất khác nhau.  Cùng  một  loài  cá, nhưng với các kích  cỡ khác  nhau  thì lượng  oxi tiêu thụ trên đơn vị khối lượng cơ thể cũng khác nhau. Trên cùng một khối lượng cơ thể của cùng một loài cá, loại cá bé tiêu thụ oxi nhiều hơn loại cá to. Cá cho ăn no sẽ tiêu thụ nhiều oxi hơn là loại cá đói, do quá trình sinh hóa, tiêu hóa thức ăn xảy ra mạnh hơn [13]. 

Do đó trong lĩnh vực chăn nuôi thủy sản, lượng oxi hòa tan trong nước là yếu 

tố quan trọng cần được liên tục theo dõi, bởi sẽ ảnh hưởng đến khả năng chịu đựng của các vật nuôi trước các yếu tố bất lợi của môi trường (như NH3, NO2-…). Những động vật sống trong môi trường oxi thấp kéo dài, sức miễn dịch sẽ giảm, khả năng kháng bệnh kém. Các nghiên cứu cho thấy rõ, khi tình trạng thiếu oxi hòa tan trong nước kéo dài, nguy cơ phát sinh bệnh do vi khuẩn rất dễ dàng tăng lên [20]. 

c) Với vi sinh vật

Song song với vai trò của oxi đối với động thực vật thủy sinh đã được đề cập 

ở trên, thì DO cũng có vai trò rất quan trọng đối với các vi sinh vật hiếu khí trong các  quá  trình  phân  giải  chất  hữu  cơ  trong  nước.  Trong  điều  kiện  đủ  oxi,  các  chất thải  động  vật,  thức  ăn  dư  thừa,  xác  sinh  vật  cùng  với  cặn  bã  hữu  cơ,  sẽ  được  các enzim ngoại bào do vi sinh vật sản sinh ra phân giải thành các chất hữu cơ có tính hòa tan, cuối cùng sẽ trở thành những chất vô cơ đơn giản tham gia vào tuần hoàn vật chất mới, từ đó loại bỏ được ô nhiễm hữu cơ trong nước. 

Trong  điều  kiện  môi  trường  nước  thiếu  oxi  hoặc  nồng  độ  oxi  quá  thấp,  vi sinh vật yếm khí sẽ phát triển vượt trội, thúc đẩy các quá trình lên men yếm khí các chất  hữu  cơ  làm  sản  sinh  ra  các  chất  trung  gian  có  mùi  hôi  thối  như:  cadaverine, hydrosunfit,  metan,  ammoinac…  rất  nguy  hiểm  đối  với  động  thực  vật.  Đồng  thời, 

Trang 27

bùn  đáy  và  nước  sẽ  bị  đen  và  có  mùi  hôi,  chủ  yếu  là  do  hợp  chất  của  sunfua  tác dụng với các ion sắt tạo ra chất kết tủa có màu đen. Do vậy nếu duy trì và đảm bảo được nồng độ oxi trong nước đủ lớn, sẽ giúp ức chế hoạt động của các loại vi sinh vật yếm khí có hại, hỗ trợ cải thiện môi trường nước sạch hơn. 

1.1.2.2 Phương trình mô phỏng sự quang hợp và hô hấp của thủy sinh vật

Có nhiều nghiên cứu đã công bố các dạng phương trình khác nhau mô phỏng 

sự biến đổi hàm lượng oxi sinh ra và tiêu thụ bởi sự quang hợp và hô hấp của sinh vật thủy sinh. Hầu hết các nghiên cứu đều mô phỏng hàm lượng oxi sinh ra và tiêu thụ thông qua việc mô phỏng hoạt động sống của tảo [15, 22]. Một vài dạng thường được sử dụng như: 

o Phương  trình  dựa  vào  thời  gian  chiếu  sáng  trong  ngày,  biểu  diễn  theo hàm lượng giác sin-cos [15, 16, 23]: 

I I

với I là cường độ ánh sáng mặt trời tại thời điểm t (lx); Io là cường độ ánh 

sáng mặt trời bão hòa ban đầu (lx); P cons là tốc độ oxi tiêu thụ do hô hấp (mg L-1 ngày-1).   

Trang 28

o Phương trình dựa vào sinh khối của tảo (được tính theo tỉ lệ hàm lượng diệp lục Chlorophyll-a) trong nước [10, 27, 28]: 

o Trong  mô  hình  chất  lượng  nước  QUAL2K  (Mỹ)  [29],  nồng  độ  DO  do quang hợp và hô hấp của thực vật được biểu diễn bởi công thức: 

hấp của tảo (1/s); CAlg là nồng độ tảo (mg/L). 

Việc  tiêu  thụ oxi của các loài động vật  thủy sinh, ví dụ  như  loài cá,  bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm nhiệt độ, hàm lượng oxi, hàm lượng cacbon đioxit trong nước, kích thước và hoạt động của cá, thời gian chiếu sáng. Sử dụng thiết bị 

đo lượng oxi cần thiết cho quá trình hô hấp, các nhà nghiên cứu đã thiết lập được mối  quan  hệ  giữa  nhiều  yếu  tố  khác  nhau  với  nhu  cầu  oxi  hòa  tan  tối  thiểu  trên nhiều loài cá (Davis, 1975), Andrews và Matsuda (1975) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước, trọng lượng cá và lượng oxi hòa tan trên hô hấp cá; Boyd (1979) 

đã  đưa  ra  một  phương  trình  biểu  diễn  hàm  lượng  oxi  bị  tiêu  thụ  ở  loài  cá  da  trơn trong đó sử dụng các biến số là trọng lượng trung bình của cá, nhiệt độ nước và oxi hòa tan [30, 31] có dạng như sau: 

Trang 29

DO, một phần chất hữu cơ được loại bỏ bởi quá trình lắng đọng, tuy nhiên lại được tăng cường từ các nguồn ô nhiễm mới, hoặc do sự xáo trộn chất hữu cơ trong lớp bùn  đáy  vào  nước.  Mối  tương  quan  giữa  hàm  lượng  chất  hữu  cơ  và  nồng  độ  DO theo không gian và thời gian được thể hiện trên hình 1.3. 

 

Hình 1.3.  Ảnh hưởng của hàm lượng chất hữu cơ ô nhiễm đến nồng độ DO [32] 

Các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học trong môi trường nước thường được đại diện bởi nhu cầu oxi sinh hóa (Biochemical Oxygen Demand – BOD) [14, 33]. 

Để  đánh  giá  nhu  cầu  oxi  sinh  hóa  trong  các  nguồn  nước,  người  ta  thường  dùng thông số BOD5 (chỉ tiêu phân tích BOD trong 5 ngày đầu ở nhiệt độ 20 oC). Giá trị của BOD5 dao động trong khoảng rất rộng, tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi nguồn nước. Ví dụ, nước dùng để sinh hoạt thường có BOD5 nhỏ hơn 1,5 mg/L, các con sông bị ô nhiễm ở mức độ nhẹ sẽ có giá trị BOD5 trong khoảng 2-8 mg/L, với nước thải  sinh  hoạt  chưa  xử  lý  giá  trị  này  thường  vào  khoảng  200-400  mg/L  [33].  Tùy 

Trang 30

  Hợp chất hữu cơ + O2  oxi hóa hiếu khí vi sinh vật  CO2 + H2O + tế bào vi khuẩn  (1.14) 

Đã cĩ nhiều nghiên cứu đưa ra các dạng phương trình khác nhau để biểu thị 

sự  tiêu  thụ  DO  bởi  các  chất  hữu  cơ.  Những  nghiên  cứu  đầu  tiên  thường  sử  dụng phương trình động học bậc nhất. Vài thập kỷ gần đây xuất hiện một số nghiên cứu 

sử dụng dạng động học bậc hai, hoặc bậc tổng quát. Trong các phương trình đĩ đều giả sử BOD đại diện cho các chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học tham gia tiêu thụ oxi [11]. Khi đĩ các dạng của các phương trình đĩ như sau: 

Trang 31

(mg/L),  được  tính  thông  qua đại  lượng  BOD;  k1  là  hằng  số  tốc  độ  phản ứng tiêu thụ oxi bởi các chất hữu cơ, có đơn vị đo tùy thuộc vào dạng của 

phương trình (1.15)-(1.18); kset là hằng số tốc độ của quá trình lắng đọng chất hữu cơ (1/s) từ nước vào lớp bùn đáy (đây là quá trình lắng đọng vật 

lý và làm suy giảm hàm lượng chất hữu cơ có trong nước); m là bậc tổng 

quát của phản ứng tiêu thụ chất hữu cơ. 

Dấu  trừ  (-)  trong  các  phương  trình  (1.15)-(1.18)  thể  hiện  sự  suy  giảm  của nồng độ DO và chất hữu cơ trong quá trình phản ứng với nhau. Trong các tài liệu đã trích dẫn cho các phương trình (1.15)-(1.18) ở trên, cũng như trong luận án này, giá trị BOD được giả sử đại diện cho hàm lượng các chất hữu cơ tiêu thụ oxi, nên khi các chất hữu cơ phản ứng oxi hóa sinh học với oxi thì hàm lượng cả chất hữu cơ và oxi đều bị tiêu giảm. Do vậy, đại lượng thể hiện sự biến đổi hàm lượng chất hữu cơ 

và oxi tham gia phản ứng sẽ cùng dấu (-) như đã biểu diễn ở trên. 

1.1.4 Nhu cầu oxi bùn đáy

Cùng với việc tiêu thụ oxi bởi thủy sinh vật và các chất hữu cơ trong nước như đã trình bày ở  trên,  DO  cũng bị tiêu  thụ  một phần  bởi các sinh  vật hoặc  chất khử có trong lớp bùn đáy, thể hiện qua đại lượng nhu cầu oxi bùn đáy. Nhu cầu oxi bùn đáy (Sediment Oxygen Demand – SOD) là đại lượng bao gồm tổng lượng oxi tham gia vào các quá trình sinh học và quá trình hóa học xảy ra trong lớp bùn đáy. Như vậy giá trị này sẽ bao gồm cả lượng oxi tham gia vào quá trình oxi hóa sinh học  các  chất  hữu  cơ  trong  lớp  bùn  [21, 42].  Nhiều  nghiên  cứu  đã  chỉ  ra  rằng  bùn đáy là nhân tố chủ yếu tiêu thụ oxi hòa tan trong nước [6, 43]. 

Có thể thấy, sự khác nhau cơ bản giữa BOD và SOD đó là BOD là thông số đại diện cho nhu cầu oxi sinh hóa phân hủy các chất hữu cơ trong nguồn nước, thì SOD là thông số có đại diện cho nhu cầu oxi trong lớp bùn đáy. Trong đó SOD bao gồm cả lượng oxi tham gia vào các quá trình oxi hóa sinh học các chất hữu cơ (dưới 

Trang 32

Trong lớp bùn đáy, oxi bị tiêu thụ bởi hai nguồn tiêu thụ chủ yếu là các vi sinh vật tham gia phản ứng sinh hóa phân hủy các chất hữu cơ, và các phản ứng hóa học. Trong môi trường nước có giá trị pH thấp thì sự tiêu thụ oxi bởi các phản ứng hóa học trở nên chiếm ưu thế, do các ion có tính khử như Fe2+, Mn2+, HS-  tham gia các phản ứng oxi hóa trong nước. Trong các điều kiện khác thì tiêu thụ oxi bởi các vi sinh vật trong lớp bùn đáy trở nên chiếm ưu thế. Bởi các chất hữu cơ như tảo chết, thức ăn dư thừa, phân thải  khi lắng xuống bùn đáy, trong điều kiện không đủ oxi sẽ bị phân hủy yếm khí (tương tự quá trình lên men) và sản phẩm của các quá trình yếm khí thường là các chất có tính khử cao, chất có mùi hôi, hay hiđro sunfua. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, tốc độ tiêu thụ oxi của bùn đáy nằm trong khoảng 50-

500 mg O2/(m2 giờ). Giá trị này phụ thuộc vào đặc điểm tự nhiên của nguồn nước, thành phần của bùn đáy cũng như hệ sinh vật sống trong bùn đáy [13].  

Các chất hóa học tiêu thụ oxi trong bùn đáy thường gặp là Fe2+, Mn2+, HS-  Chúng tiêu thụ oxi qua các phản ứng hóa học như: 

  Fe2+ + ½O2 + 2H2O  Fe2O3 + H+  (1.19) 

Như  vậy  có  thể thấy DO  đóng vai  trò  là  thành  phần  chủ đạo  trong  các quá trình oxi hóa xảy ra ở lớp bùn đáy, giúp cho quá trình tự dưỡng của vi sinh vật hiếu khí và phản ứng oxi hóa chất hữu cơ, vô cơ xảy ra nhanh hơn, thuận lợi hơn. 

(*) Phương trình mô phỏng sự tiêu thụ oxi bởi bùn đáy

Sự tiêu thụ oxi bởi lớp bùn đáy trong các nghiên cứu trước đây đã được mô phỏng với nhiều dạng phương trình khác nhau: 

o Phương  trình  phụ  thuộc  vào  đạo  hàm  diện  tích  bề  mặt  phân  chia  bùn  – nước theo độ sâu [11, 44, 45]: 

Trang 33

1.1.5 Nhu cầu oxi hóa học

Bên  cạnh  các  thông  số  chất  lượng  nước  phổ  biến  như  DO,  BOD,  SOD  đã giới thiệu ở trên, nhu cầu oxi hóa học (Chemical Oxygen Demand – COD) cũng là một trong những chỉ tiêu được dùng để xác định gián tiếp tổng hàm lượng các chất hữu cơ có trong nước.  

Trang 34

Cơ sở cho việc phân tích chỉ tiêu COD là hầu như tất cả mọi hợp chất hữu cơ đều  có  thể  bị  oxi  hóa  hoàn  toàn  bằng  các  chất  oxi  hóa  mạnh  (thường  là  kali đicromat) trong môi trường axit. Khối lượng oxi cần thiết để oxi hóa một hợp chất hữu cơ thành đioxit cacbon, amoniac và nước được thể hiện dưới dạng tổng quát là:  

với a là hệ số thực nghiệm tùy thuộc mỗi nguồn nước, ví dụ, nước thải sinh hoạt giá trị a thường nằm trong khoảng 1,25-2,50, với nước thải công nghiệp giá trị này có thể dao động trong khoảng 5,0-15 [53]. Một trong những hạn chế nữa của phân tích COD là không cho biết tốc độ phân hủy sinh học của các chất hữu cơ có trong nước dưới điều kiện tự nhiên. 

Ưu  điểm  chính  của  phân  tích  chỉ  tiêu  COD  là  cho  biết  kết  quả  trong  một khoảng thời gian ngắn hơn nhiều (3 giờ) so với chỉ tiêu BOD (5 ngày). Do đó trong nhiều  trường  hợp,  COD  được  dùng  để  đánh  giá  mức  độ  ô  nhiễm  của  chất  hữu  cơ thay cho BOD [53].  

Phương trình mô phỏng COD được giới thiệu trong một số nghiên cứu [54, 55] có dạng như sau: 

Trang 35

Có thể thấy rằng, việc phân tích COD sử dụng chất oxi hóa mạnh trong môi trường axit ở điều kiện nhiệt độ cao để oxi hóa các chất hữu cơ và chất khử, điều đó không hoàn toàn giống với các điều kiện tiêu thụ oxi của chất hữu cơ và chất khử trong  môi  trường  nước  tự  nhiên,  như  vậy  với  các  nguồn  nước  mà  đo  được  giá  trị COD cao thì chưa hẳn nguồn nước đó COD sẽ gây ảnh hưởng lớn đến lượng oxi bị tiêu thụ [56]. Do đó trong luận án này, để phù hợp với thực tế thì yếu tố COD sẽ chưa được tính đến trong việc thiết lập mô hình. 

1.1.6 Quá trình nitrat hóa

Ngoài  các  yếu  tố  tiêu  thụ  DO  như  động  thực  vật  thủy  sinh,  BOD,  SOD  và COD đã trình bày ở trên. Một trong những nguồn tiêu thụ oxi nữa cũng cần được quan  tâm  là  quá  trình  nitrat  hóa  các  hợp  chất  hữu  cơ  chứa  nitơ.  Hợp  chất  hữu  cơ chứa nitơ trong nước thường gặp như protein, ure, amoniac, nitrit, nitrat, cùng với các  sản  phẩm  trung  gian  của  quá  trình  phân  hủy  protein  như  amino  axit,  amit, amin  Theo thời gian, các protein bị phân hủy bởi quá trình thủy phân trở thành các amino axit, trong quá trình đó amoniac (NH3) được giải phóng và dễ dàng kết hợp với  ion  hidro  trong  nước  trở  thành  ion  amoni  (NH4+).  Do  đó,  amoniac  và  amoni thường gặp trong nước tự nhiên có thể có nguồn gốc trực tiếp từ nước thải, hoặc do 

sự phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa nitơ [57]. 

Các  ion  amoni  có  thể  bị  oxi  hóa  sinh  học  trong  điều  kiện  hiếu  khí  bởi  vi khuẩn nitrosomonas; ion nitrit sinh ra sau đó tiếp tục bị oxi hóa sinh học tạo thành nitrat bởi vi khuẩn nitrobacter [13], theo các phản ứng sau: 

Trang 36

hữu cơ chứa nitơ (NBOD) [10, 58]. CBOD được sử dụng chủ yếu khi trong nguồn nước  thải  chứa nhiều  vi  khuẩn  dị  dưỡng;  còn  NBOD  được  tính  đến  khi  nước  thải chứa nhiều protein, ure  và có các vi khuẩn nitrat hóa thực hiện quá trình chuyển hóa đạm thành dạng nitrit và nitrat. 

Phương trình mô phỏng quá trình nitrat hóa trong một số mô hình thường có dạng như sau [59, 60]: 

1.1.7 Sự xáo trộn và lắng đọng chất hữu cơ giữa trầm tích và nước

Bên cạnh các nguồn sinh và tiêu thụ oxi hòa tan như đã trình bày ở trên, sự xáo trộn và lắng đọng của các chất hữu cơ giữa trầm tích (bùn đáy) vào nước cũng 

là  một  trong  những  quá  trình  quan  trọng  đóng  góp  vào  sự  thay  đổi  nồng  độ  DO trong nước. Sự xáo trộn và lắng đọng này là những quá trình vật lý thường xảy ra ở môi trường nước tự nhiên như ao, hồ, đầm  Các quá trình này gây ảnh hưởng đến quá  trình  tuần  hoàn  của  chất  dinh  dưỡng,  sự  lắng  đọng  của  trầm  tích  trong  nước, quá trình phân hủy của hợp chất hữu cơ trong lớp bùn đáy, và lên dòng chảy của các chất tan giữa lớp bùn đáy và nước.  

Khi bùn đáy xáo trộn vào nước sẽ làm tăng nồng độ chất hữu cơ trong nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho vi sinh hiếu khí hoạt động, do đó làm tăng tốc 

độ tiêu thụ oxi [61, 62], và sự lắng đọng của chất hữu cơ từ nước vào bùn gây ra ảnh hưởng ngược lại. Đã có một số nghiên cứu đưa ra được phương trình mô tả sự xáo trộn và lắng đọng của các chất hữu cơ giữa bùn vào nước, thường gặp dưới hai dạng chủ yếu như sau: 

o Dạng phương trình dựa vào ứng suất của bùn [25, 61, 63]: 

Trang 37

  BOD rese s c BOD

về vật lý, thủy lực, thủy văn cũng gây ảnh hưởng đến nồng độ DO như: nhiệt độ, độ muối,  độ  sâu  môi  trường  nước,  lưu  lượng  dòng  chảy,  cấu  trúc  dòng  chảy,  áp  suất không khí, phân hủy chất hữu cơ, hàm lượng các chất khác hòa tan trong nước  

1.1.8.1 Nhiệt độ và độ muối ảnh hưởng đến độ tan của oxi

Hai yếu tố vật lý thường gặp nhất có liên quan trực tiếp đến khả năng hòa tan của oxi là nhiệt độ và độ muối của môi trường nước. Theo quy luật chung, nhiệt độ hoặc độ muối (độ mặn) của nước tăng thì độ hòa tan của oxi trong nước sẽ giảm. Độ hòa  tan  của  oxi  phụ  thuộc  vào  nhiệt  độ  và  độ  muối  được  trình  bày  đại  diện  trong bảng 1.2.  

Oxi hòa tan vào nước dễ dàng hơn khi hàm lượng muối tan ở mức độ thấp. Khi hàm lượng muối tăng lên thì hàm lượng oxi hòa tan giảm đi. Ví dụ, với nguồn nước  với  hàm  lượng  muối  cao  chẳng  hạn  như  nước  đại  dương  (khoảng  35  gam muối/1000  gam  nước)  thì  nồng  độ  DO  khá  thấp.  Các  hồ  nước  ngọt,  sông  suối  và nước máy thường chứa rất ít muối, vì vậy nồng độ DO cao hơn.  

Trang 38

Quá trình tăng hàm lượng muối hoặc chất rắn lơ lửng trong nước thường bắt nguồn từ hai nguyên nhân: thứ nhất, quá trình bốc hơi nước tự nhiên ở môi trường nước  sẽ  làm  gia  tăng  nồng  độ  muối;  thứ  hai,  dòng  nước  chảy  trên  mặt  đất  hoặc trong lòng đất cũng thường hòa tan thêm muối và trầm tích, theo mạch nước ngầm chảy vào sông suối, kết quả cũng làm tăng hàm lượng chất rắn hòa tan và lơ lửng trong nước. Việc gia tăng hàm lượng chất rắn hòa tan hoặc chất rắn lơ lửng đó kết quả là làm giảm nồng độ DO [65]. 

Bảng 1.2.  Độ hòa tan của DO trong nước (mg/L) phụ thuộc vào nhiệt độ, độ muối 

tại điều kiện không khí ẩm, áp suất 760 mmHg [13] 

Độ muối (‰, g/L) Nhiệt độ ( o C)

Trang 39

3 2

trong  đó,  CDO,S=0  là  nồng  độ  DO  bão  hòa  trong  nước  khi  độ  mặn  bằng  không 

(mg/L);  CDOsat  nồng  độ  DO  bão  hòa  trong  nước  (mg/L)  tương  ứng  với  độ  mặn  S  (‰); T là nhiệt độ của nước (oC) [51].   

Độ mặn S có liên hệ với nồng độ clorua như sau: 

trong đó CClo là nồng độ ion clorua trong nước (mg/L). 

Với oxi hòa tan trong nước, nhiệt độ càng cao thì độ tan của oxi càng giảm. Một trong các công thức thực nghiệm đưa ra mối liên hệ giữa nhiệt độ và nồng độ oxi bão hòa [51]: 

1.1.8.2 Độ sâu môi trường nước ảnh hưởng đến độ tan của oxi

Cùng với yếu tố nhiệt độ và độ muối như đã trình bày ở trên, thì độ sâu của môi  trường  nước  cũng  tác  động  vào  độ  tan  của  oxi.  Có  thể  thấy  lớp  nước  bề  mặt tiếp xúc trực tiếp với không khí nên có oxi hòa tan nhiều hơn so với lớp nước dưới sâu hơn. Bên cạnh đó, độ sâu còn tạo nên những tác động khác như: 

Thứ nhất, độ sâu tạo nên sự phân tầng nhiệt của lớp nước, tức là theo chiều sâu các lớp nước khác nhau sẽ có nhiệt độ khác nhau, dẫn đến tỉ trọng của các lớp nước khác nhau. Nếu lớp nước dưới sâu có nhiệt độ cao hơn thì sẽ chuyển động đối lưu lên trên và trộn lẫn với nước lạnh ở phía trên, kết quả là DO được hòa trộn đều; ngược lại, nếu lớp nước dưới sâu có nhiệt độ thấp hơn (thường gặp vào mùa hè) thì quá trình đối lưu không xảy ra.  

Trang 40

Thứ hai, độ sâu ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của thực vật trong nước. Khi  có  ánh  sáng,  quá  trình  quang  hợp  của  thực  vật  xảy  ra  mạnh  ở  lớp  nước  phía trên, kết quả là lớp nước này thường có nồng độ oxi cao so với lớp nước phía dưới.  

Thứ ba, độ sâu ảnh hưởng đến sự khuấy trộn tự nhiên của môi trường nước. Với môi trường nước nông, trong điều kiện có gió thì oxi dễ dàng hòa tan đều giữa các lớp nước. Với nguồn nước sâu, sự khuấy trộn bởi gió ít gây ảnh hưởng đến sự hòa tan oxi ở lớp nước phía dưới hơn so với lớp nước phía trên. 

Cuối  cùng,  độ  sâu  tác  động  vào  hoạt  động  của  vi  sinh  vật.  Ở  lớp  nước  sâu hơn, hoạt động của vi sinh vật hiếu khí mạnh hơn, sinh ra sản phẩm của phân hủy vi sinh yếm khí như ammoniac, nitrit, hidro sunfua, cacbonic   làm nồng độ DO ở lớp nước dưới thấp hơn.  

Do  vậy,  để  đảm  bảo  phản  ánh  chính  xác  giá  trị  hàm  lượng  DO  trong  mỗi nguồn nước thì khi đo nồng độ DO thì cần phải lấy mẫu ở các độ sâu khác nhau. 

1.1.8.3 Thể tích khối nước và vận tốc dòng chảy

 a) Khi có dòng chảy rối  

trong môi trường nước 

 b) Khi không có dòng chảy, chỉ có chuyển động bởi khuếch tán phân tử 

Hình 1.4.  Ảnh hưởng của dòng chảy tới nồng độ DO [32] 

Bên cạnh yếu tố độ sâu của môi trường nước, thì thể tích khối nước cùng với vận tốc dòng chảy cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến khả năng hòa tan của oxi. Có thể thấy rằng, với các dòng suối có dòng chảy nhanh, các bong bóng khí xuất hiện nhiều hơn do va chạm của dòng nước với lớp đá có trong lòng suối hoặc 

Ngày đăng: 21/12/2015, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.  Donald  L.  Kramer,  Dissolved  oxygen  and  fish  behavior,  Environmental Biology of Fishes, 1987, 18 (2), 81-92.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environmental Biology of Fishes", 1987, "18" "(2)
3.  Claude  E.  Boyd,  Bottom  Soils,  Sediment,  and  Pond  Aquaculture,  Springer Science & Business Media, 1995, 113-240.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Springer Science & Business Media
4.  Trương  Quốc  Phú  &  Trần  Kim  Tính,  Thành  phần  hóa  học  của  bùn  đáy  ao  nuôi cá tra, Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Cần Thơ, 2012, 22A, 290- 299.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học - Trường Đại học Cần Thơ", 2012, "22A
5.  Cynthia  B.  Price,  Carl  Cerco  &  Douglas  Gunnison,  Sediment  Oxygen  Demand  and  Its  Effects  on  Dissolved  Oxygen  Concentrations  and  Nutrient  Release; Initial Laboratory Studies, U.S. Army Corps of Engineers, 1994.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: U.S. Army Corps of Engineers
6.  Wei-Bo Chen, Wen-Cheng Liu & Li-Ting Huang, Measurement of sediment oxygen  demand  for  modeling  the  dissolved  oxygen  distribution  in  a  Subalpine  lake,  International Journal of Physical Sciences,  2012,  7  (27),  5036-5048.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Physical Sciences", 2012, "7" "(27)
7.  Makoto  Higashino,  Oxygen  consumption  by  a  sediment  bed  for  stagnant  water: Comparison to SOD with fluid flow, Water Research, 2011, 45  (15),  4381-4389.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water Research", 2011, "45" "(15)
8.  O.G.  Palanna,  Engineering  Chemistry,  Tata McGraw-Hill Education,  2009,  276-290.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tata McGraw-Hill Education
9.  Dilip Kumar, Fish culture in undrainable ponds: A manual for extension, In FAO Fisheries Technical Papers,  Vol.  325,  Food and Agriculture Organization, 1992, 9-17.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: FAO Fisheries Technical Papers",  Vol.  325,  "Food and Agriculture Organization
10.  Brian A. Cox, Dynamic modelling of dissolved oxygen: A case-study for the River Thames, Ph.D. thesis, University of Reading, 2002, 96-206.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: University of Reading
11.  Heinz  G.  Stefan  &  Xing  Fang,  Dissolved  oxygen  model  for  regional  lake  analysis, Ecological Modelling, 1994, 71, 37-68.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ecological Modelling", 1994, "71
12.  Joanne  M.  Willey,  Linda  M.  Sherwood  &  Christopher  J.  Woolverton,  Prescott, Harley, and Klein's Microbiology, 7th edition, McGraw-Hill Higher Education, 2008, 1-167.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: McGraw-Hill Higher Education
13.  Lê Văn Cát, Đỗ Thị Hồng Nhung & Ngô Ngọc Cát, Nước nuôi thủy sản, chất lượng và giải pháp cải thiện chất lượng, NXB Khoa học Kỹ thuật, 2006, 49- 111.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Khoa học Kỹ thuật
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
14.  Harold Warner Streeter & Earle Bernard Phelps, A study of the pollution and natural  purification  of  the  Ohio  river.  (III.  Factors  concerned  in  the  phenomena of oxidation and reaeration), Public Health Bulletin, 1925,  146,  5-66.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Health Bulletin", 1925, "146
15.  Donald  J.  O’Connor  &  Dominic  M.    Di  Toro,  Photosynthesis  and  Oxygen  Balance in Streams, Journal of the Sanitary Engineering Division, 1970, 96  (2), 547-571.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of the Sanitary Engineering Division", 1970, "96" "(2)
16.  S. Chapra & D. Di Toro, Delta Method For Estimating Primary Production, Respiration,  And  Reaeration  In  Streams,  Journal of Environmental Engineering, 1991, 117 (5), 640-655.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Environmental Engineering", 1991, "117" "(5)
17.  W. Snodgrass, Reaeration and Vertical Diffusion of Lake Oxygen, Journal of Environmental Engineering, 1983, 109 (6), 1419-1423.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Environmental Engineering", 1983, "109" "(6)
18.  P. S. Liss & P. G. Slater, Flux of Gases across the Air-Sea Interface, Nature Journal, 1974, 247 (5438), 181-184.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nature Journal", 1974, "247" "(5438)
19.  Werner  Stumm  &  James  J.  Morgan,  Aquatic  chemistry:  an  introduction  emphasizing chemical equilibria in natural waters, 3rd edition, Wiley, 1995, 206-251.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Wiley
20.  Phương  Thảo,  Tầm  quan  trọng  của  oxi  trong  nuôi  cá,  Tạp chí Thương mại Thủy sản, 2003, 158 (02/2013), 84-87.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thương mại Thủy sản", 2003, "158" "(02/2013)
21.  Tara  A.  Macpherson,  Sediment  oxygen  demand  and  biochemical  oxygen  demand:  patterns  of  oxygen  depletion  in  tidal  creek  sites,  M.S.  thesis,  University of North Carolina at Wilmington, 2003, 1-21.  Sách, tạp chí
Tiêu đề: University of North Carolina at Wilmington

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1.  Minh họa các nguồn sinh và tiêu thụ oxi trong tự nhiên [9] - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 1.1.  Minh họa các nguồn sinh và tiêu thụ oxi trong tự nhiên [9] (Trang 21)
Hình 2.1.  Mô hình vật lý nghiên cứu oxi hòa tan trong phòng thí nghiệm - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 2.1.  Mô hình vật lý nghiên cứu oxi hòa tan trong phòng thí nghiệm (Trang 65)
Hình 2.7.  Minh họa các bước để xây dựng một mô hình mô phỏng - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 2.7.  Minh họa các bước để xây dựng một mô hình mô phỏng (Trang 71)
Hình 2.10.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trên mô hình vật lý - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 2.10.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trên mô hình vật lý (Trang 76)
Hình 2.11.  Hệ thống MCDM đo đạc DO trong phòng thí nghiệm - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 2.11.  Hệ thống MCDM đo đạc DO trong phòng thí nghiệm (Trang 76)
Hình 2.13.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trong hồ tự nhiên - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 2.13.  Sơ đồ bố trí hệ thống MCDM đo đa tầng trong hồ tự nhiên (Trang 78)
Hình 3.2.  Sự biến thiên nồng độ DO (mg/L) trong toàn bộ hệ - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 3.2.  Sự biến thiên nồng độ DO (mg/L) trong toàn bộ hệ (Trang 88)
Hình 3.5.  Đường đồng mức nồng độ DO (mg/L) theo mặt phẳng Oyz (a, b); và - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 3.5.  Đường đồng mức nồng độ DO (mg/L) theo mặt phẳng Oyz (a, b); và (Trang 91)
Hình 3.23.  Minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới DO trong bài toán - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 3.23.  Minh họa các yếu tố ảnh hưởng tới DO trong bài toán (Trang 132)
Hình 3.24.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt) - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
Hình 3.24.  So sánh kết quả mô phỏng (đường nét liền) và đo đạc (đường nét đứt) (Trang 137)
Hình PL.13.  Nhập điều kiện biên cho mặt nước - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
nh PL.13.  Nhập điều kiện biên cho mặt nước (Trang 175)
Hình PL.15.  Nhập điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
nh PL.15.  Nhập điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước (Trang 176)
Hình PL.14.  Tạo điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
nh PL.14.  Tạo điều kiện biên cho ranh giới bùn – nước (Trang 176)
Hình PL.17.  Chia lưới cho miền khảo sát - Mô hình hóa sự thay đổi nồng độ oxi trong môi trường nước dưới tác động của lớp bùn đáy
nh PL.17.  Chia lưới cho miền khảo sát (Trang 177)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w