1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014

94 632 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 296,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng theo quy định luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiên:

ThS Huỳnh Thị Trúc Giang Huỳnh Ngọc Hạnh

Trang 2

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN 

Trang 4

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 3

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG 1.1 Khái quát chung về tài sản riêng của vợ, chồng 6

1.1.1 Khái niệm về tài sản riêng 6

1.1.1.1 Khái niệm về tài sản 6

1.1.1.2 Khái niệm về tài sản riêng của vợ, chồng 8

1.1.2 Đặc điểm về tài sản riêng của vợ, chồng 10

1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng 12

Trang 5

1.2 Khái quát chung về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 14

1.2.1 Khái niệm về quyền định đoạt tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 14

1.2.1.1 Khái niệm về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 14 1.2.1.2 Khái niệm về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng15

1.2.2 Đặc điểm của việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 17 1.2.3 Lược sử quá trình phát triển của việc ghi nhận hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng trong pháp luật hôn nhân gia đình nước ta 19

1.2.3.1 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 19 1.2.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 20 1.2.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2010) 22 1.2.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 25

1.2.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 27

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ

VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014 2.1 Quy định của pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 30

2.1.1 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng 30

2.1.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng

có trước khi kết hôn 31

Trang 6

2.1.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân 32 2.1.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân 33 2.1.1.4 Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của

vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng 38 2.1.1.5 Tài sản riêng là tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng 41

2.1.2 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 43

2.1.2.1 Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng 43 2.1.2.2 Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng 45

2.2 Quy định của pháp luật về hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 48

2.2.1 Hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình 49 2.2.2 Tài sản riêng là chỗ ở chính của gia đình 53

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ HẠN CHẾ QUYỀN

ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 3.1 Những điểm tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong việc ghi nhận tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng 56

Trang 7

3.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng hoàn thiện nhận quy dịnh pháp luật về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 64

3.2.1 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng hoàn thiện quy định pháp luật

về tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 201464 3.2.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng hoàn thiện quy định pháp luật

về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 70

KẾT LUẬN 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình được xây dựng dựa trên sợi dây liên kếtcủa quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, trong đó quan hệ hôn nhân làquan hệ nền tảng của gia đình Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống tìnhcảm, tình yêu thương lẫn nhau không thể không quan tâm tới đời sống vật chất.Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là một trong những tiền đề giúp vợ chồng xây dựng

Trang 8

cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình.Xuất phát từ bản chất quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản gắn liền với các chủ thểnhất định, không thể tách rời và đền bù ngang giá Chính sự ràng buộc này làm nảysinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể với nhau.

Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, diện mạocủa gia đình đã thay đổi đáng kể, chức năng kinh tế của gia đình đã chuyển từ sảnxuất sang tiêu dùng Cùng với điều đó, việc mỗi người có tài sản riêng để đặt cơ sởvật chất cho các hoạt động nghề nghiệp và các giao dịch do mình thực hiện phục vụnhu cầu của cá nhân mà không phụ thuộc nhiều vào người còn lại là rất cần thiết.Quy định pháp luật trong việc ghi nhận vợ chồng có quyền có tài sản riêng trongLuật Hôn nhân và gia đình là một giải pháp cho vấn đề vợ chồng được tự do dùngtài sản riêng của mình phục vụ cho nhu cầu cá nhân đồng thời góp phần vào sự ổnđịnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền, nghĩa

vụ về tài sản của vợ chồng

Ngoài ra, bên cạnh vai trò chủ sở hữu các quan hệ pháp luật, vợ chồng còn cócác quyền và nghĩa vụ của một thành viên trong gia đình, nên lợi ích của họ khôngthể tách rời lợi ích của gia đình Từ đặc điểm này mà quyền sở hữu riêng của vợchồng được quy định tại Điều 31 và khoản 4 Điều 44 của Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 mang đặc thù ngoại lệ so với quyền sở hữu cá nhân trong pháp luậtdân sự, đó là hạn chế quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản riêng vì lợi íchchung của gia đình

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ban hành thay thế Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 ngày càng hoàn thiện và đáp ứng được đòi hỏi của quá trình toàncầu hóa Các quy định đó từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điềuchỉnh, cũng cố quan hệ hôn nhân và gia đình cũng như đẩy mạnh đầu tư phát triểnkinh tế đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được của pháp luật điềuchỉnh vấn đề tài sản riêng và quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của

vợ chồng qua quá trình thực hiện và áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014cho thấy còn bất cập và vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó phải

kể đến một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về tài sản riêng và quy định vềhạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng mới chỉ dừng lại ở tính chất định

Trang 9

khung, nguyên tắc chung Các văn bản quy định chi tiết thi hành và hướng dẫn ápdụng tài sản của vợ chồng còn thiếu, chưa cụ thể, chưa theo kịp với sự phát triển kinh

tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Với

đề tài: "Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng

theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014", người viết mong muốn

làm sáng tỏ những quy định của pháp luật điều chỉnh liên quan đến tài sản riêng vàhạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng, cơ sở lý luận và thực tiễn và chỉ

rõ những điểm mới, hợp lý và bất hợp lý, chưa thống nhất, chưa cụ thể của pháp luậtđiều chỉnh về tài sản riêng và quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của

vợ chồng Từ đó có các kiến nghị xác đáng nhằm hoàn thiện quy định liên quan đếntài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng theo Luật LuậtHôn nhân và gia đình Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu đề tài “Tài sản riêng và việc hạn chế quyền định đoạt tài

sản riêng của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014”

là dựa trên cơ sở lý luận để nghiên cứu các quy định của luật thực định về tài sảnriêng của vợ chồng, tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực định để giải quyết các tranhchấp về tài sản giữa vợ và chồng trong hoạt động xét xử của Tòa án Từ đó, tìm hiểunhững qui định bất cập, chưa cụ thể, trên cơ sở đó có những nhận xét, kiến nghị vềhướng hoàn thiện pháp luật dự liệu về các quy định liên quan đến tài sản riêng và hạnchế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014, với mục đích trên, luận văn được thực hiện với các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạttài sản riêng của vợ, chồng với một số khái niệm khoa học trong các quy định về tàisản riêng của và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng; các đặc điểm,vai trò, ý nghĩa của tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ,chồng đối với sự tồn tại và phát triển của gia đình và xã hội

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về tài sản riêng của vàhạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng Với nhiệm vụ này, luận văn đisâu phân tích nội dung các quy định về chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theoLuật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tìm hiểu về mục đích, cơ sở của việc quy

Trang 10

định các điều luật điều chỉnh về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sảnriêng của vợ chồng; phân tích tính kế thừa và phát triển, cũng như những điểmmới quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014 để có cách hiểu đúng nhất, phù hợp với khoa học pháp lý về chế độ tàisản riêng của vợ chồng.

- Cuối cùng từ những phân tích đó, liên hệ đến thực tiễn xem có nhữngvướng mắc, khó khăn gì trong qúa trình áp dụng pháp luật để từ đó đề xuất nhữnggiải pháp, đưa ra hướng hoàn thiện pháp luật nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng trong Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêngcủa vợ, chồng

Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi nghiên cứu một khóa luận tốt nghiệp, đềtài nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu về tài sản riêng và hạn chế quyền địnhđoạt tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Đề tài được ngườiviết thực hiện trong khoản thời gian từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Việc nghiên cứu, đánh giá dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Lenin, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra người viết cònvận dụng những kiến thức đã thu được từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo chínhthống như: Giáo trình, các văn bản quy phạm pháp luật kết hợp với sách, báo, tạpchí, các bài viết có liên quan từ các trang mạng Sử dụng phương pháp tổng hợp,phân tích, đối chiếu

Trang 11

Chương 3: Thực tiễn và kiến nghị phương hướng hoàn thiện quy định phápluật ề tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo LuậtHôn nhân và gia đình năm 2014.

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG

Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn1, Từ hành vi kết hôncủa nam và nữ sẽ hình thành quan hệ hôn nhân, mà biểu hiện của nó chính là quan

hệ giữa vợ và chồng Bởi lẽ, để có được sự bình đẳng giữa nam và nữ ngoài xã hộitrước hết phải đảm bảo được sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong phạm vi gia đình

Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 đã ghi nhận quyền bình

đẳng giữa vợ và chồng; Tại Điều 17 có quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau,

có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan” Trên cơ sở kế thừa tư tưởng cũng như quy định tiến bộ của Luật

Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Namnăm 2014 đã có những quy định mở để điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của quan hệhôn nhân Cùng với các quy định khác trong luật, quy định pháp luật về quan hệgiữa vợ và chồng được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn thể hiện sâu sắc quan điểm,

tư tưởng bình đẳng, bình quyền trong quan hệ giữa vợ và chồng; Đặc biệt là nhữngquy định liên quan đến quan hệ pháp luật về tài sản của vợ và chồng Bởi vì, quan

hệ về tài sản bao gồm quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng, nó đóng vaitrò trong việc điều chỉnh những quan hệ khác trong gia đình, là cơ sở pháp lý đểthực hiện các chức năng kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vật chất của vợ chồng vàcác thành viên khác trong gia đình2 Việc quy định chế độ tài sản của vợ chồngtrong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 còn là điều kiện để Nhà nướcđiều tiết và quản lý các quan hệ xã hội, đảm bảo các mục tiêu xây dựng và pháptriển xã hội vững mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Bên cạnh đó, việc quy địnhchế độ tài sản của vợ chồng còn là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền lợi của cácthành viên trong gia đình; tránh những tranh chấp xảy ra có thể làm tổn thương đến1

Luật Hôn nhân và gia đình 2014, điều 3, khoản 1

2 Viện khoa học pháp lý-Bộ tư pháp, Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nxb

Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2004, Tr 148-149.

Trang 13

tình cảm và sự đoàn kết của các thành viên trong gia đình; ngoài ra còn là cở sởpháp lý cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về tài sản của vợchồng được nhanh chóng và chính xác.

1.1 Khái quát chung về tài sản riêng của vợ, chồng

Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đã thừa nhận vợ và chồng có quyền vànghĩa vụ ngang nhau trong quan hệ pháp lý về tài sản Vì lẽ đó, việc quy định chế

độ tài sản của vợ chồng là vô cần thiết bao gồm việc xác định tài sản chung hayriêng của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân Vấn đề tài sản chung hay riêng còn là

cở sở để giúp mỗi bên vợ, chồng xác định được phần quyền mà mình phải có cũngnhư phần nghĩa vụ mà mình phải thực hiện Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã

kế thừa được điểm tiến bộ thể hiện một cách toàn diện và sâu sắc trong nguyên tắcbình đẳng nam nữ mà công ước Cedaw đề cập trên cở sở phù hợp với điều kiện kinh

tế, chính trị, xã hội nước ta: “Quyền như nhau của cả vợ và chồng đối với việc sở hữu, thu nhận kiểm soát, quản lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải trả tiền hay tài sản có giá trị lớn” Xã hội ngày càng phát triển kéo theo

đó là nhiều tình huồng xảy ra có thể luật không dự liệu trước được hoặc có dự liệutrước nhưng không giải quyết triệt để mang đến nhiều hệ lụy Bởi vậy, việc thừanhận vợ chồng có tài sản riêng cần được làm rõ ở cả khái niệm lẫn đặc điểm cũngnhư cả ý nghĩa mà quy định đó mang lại

1.1.1 Khái niệm về tài sản riêng

1.1.1.1 Khái niệm về tài sản

Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giản tàisản là công cụ của đời sống con người Phân loại tài sản có vai trò quan trọng trongviệc xác lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấp pháp lý Theo từđiển pháp luật thì tài sản riêng là tất cả những gì có thể sở hữu được, ở đây thì tàisản được hiểu theo nghĩa rộng hơn và đã có sự phân biệt giữa tài sàn là động sản vàbất động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình.Theo quy định tại Điều 163 của Bộ

luật Dân sự năm 2005 thì: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”, để hiểu rõ về khái niệm tài sản qua cách phân tích sau:

 Vật: vật là một bộ phận vật chất có thể đáp ứng nhu cầu nào đó của conngười hoặc vật còn có tính cách là tài sản nằm trong sự chiếm hữu của con người có

Trang 14

đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch dân sự Chính vì lẽ đó “ vật” trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thay thế cho cụm từ “vật có thật” trong Bộ luật Dân sự năm 1995 là hoàn toàn phù hợp và phản ánh đầy đủ vấn đề khái niệm “vật”

sẽ hiểu rộng hơn bao gồm vật đang có và vật sẽ hình thành trong tương lai Quyđịnh này làm cho đối tượng của tài sản trở nên phong phú, phù hợp với thực tiễn và

sự phát triển kinh tế hiện nay

 Tiền: Tiền là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy, do Ngân hàng nhànước phát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ Tiền đại diện cho giá trị thực của hàng hóa

và phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự, có tư cách đại diện cho chủ quyềncủa mỗi Quốc gia, mỗi chế độ nhà nước

 Giấy tờ có giá: Giấy tờ được coi là tài sản chuẩn hóa về tên gọi cũng nhưtính chất, các loại giấy tờ này trị giá bằng tiền và được đưa vào giao dịch dân sựnhư: cổ phiếu, trái phiếu, tính phiếu, tấm séc…quy định như thế đã góp phần làmcho định nghĩa tài sản trở nên phong phú và chính xác hơn về đối tượng Mặc khác

nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường và giai đoạn hội nhậpnước ta hiện nay

 Quyền tài sản: ngoài những vật, tiền, giấy tờ có giá thì quyền tài sản cũng

được coi là tài sản Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Đây là những quyền gắn liền với tài sản mà khi thực hiện

những quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tài sản: Đó là quyền đòi nợ, quyềnhưởng nhuận bút của tác giả văn học nghệ thuật, quyền sở hữu đối với phát minh,sáng chế, kiểu dáng công nghiệp…Bên cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu của một tàisản, quyền tài sản phải đáp ứng được hai yêu cầu sau:

- Quyền tài sản trị giá được bằng tiền

- Có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự

Bởi vai trò quan trọng của tài sản theo quy định pháp luật hay trên thực tế đờisống, nên tài sản có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và vô cùng phong phú, đadạng, có thể tài sản là động sản hay bất động sản; tài sản hữu hình hay vô hình…Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính riêng biệt, nên cần phải có quy chếpháp lý điều chỉnh riêng Rõ ràng, ở mỗi góc độ khác nhau, một sự vật hiện tượng

Trang 15

khác nhau sẽ nhìn nhận và đánh giá một cách khác nhau Do đó, ở mỗi tiêu chí khácnhau, tài sản lại được phân thành nhiều loại khác nhau Theo quy định pháp luật, tạiphần thứ hai các chương X, XI của Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản được phân loạinhư sau:

 Bất động sản: là tài sản không thể di dời được (đất đai, nhà ở)

 Động sản: là những tài sản không phải là bất động sản

 Hoa lợi: là những sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại

 Lợi tức: là những khoản thu được từ việc khai thác tài sản

 Vật chính: là vật độc lập có thể khai thác được theo tính năng

 Vật phụ: là vật trực tiếp phục vụ cho công dụng của vật chính và là một bộphận của vật chính

 Bên cạnh đó tài sản còn được phân loại là: Vật chia được, vật không chiađược; vật tiêu hao, vật không tiêu hao; vật cùng loại, vật đặc định, vật đồngbộ…

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết thì khái niệm tài sản có

thể hiểu một cách đơn giản đó là: tài sản là vật, lợi ích vật chất khác thuộc quyền của chủ thể.

1.1.1.2 Khái niệm về tài sản riêng của vợ, chồng

Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Vậy Nhànước sẽ làm gì để bảo vệ hôn nhân và gia đình? Có rất nhiều biện pháp mà một biệnpháp không thể thiếu được đó là việc ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnhquan hệ hôn nhân và gia đình Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng cùngchăm lo, gánh vác việc gia đình; những nhu cầu về đầu tư kinh doanh riêng haygiao kết hợp đồng với người thứ ba lại thường xuyên xảy ra hơn Do đó tài sản của

vợ, chồng không chỉ để phục vụ cho các thành viên trong gia đình mà còn đáp ứngnhu cầu cho bản thân mỗi cá nhân Luật Hôn nhân và gia đình trên cở sở xem xétmối liên hệ của tài sản và cuộc sống vợ chồng từ thực tiễn đã quy định quyền có tàisản riêng của vợ chồng Quy định về quyền có tài sản riêng của vợ chồng bắt đầuhình thành từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trước đó Luật Hôn nhân gia

Trang 16

đình năm 1959 không thừa nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng3, do vậy tất cảtài sản mà vợ chồng có được trước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung LuậtHôn nhân và gia đình năm 2014 trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân vàgia đình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã khẳng định chắc chắn

vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản riêng Theo quy định tại khoản 1 Điều 44Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 thì vợ chồng có toàn quyền chiếmhữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình phù hợp với quy định của phápluật4; Vợ, chồng có quyền tặng, cho, mua bán trao đổi tài sản riêng của mình với bất

kì chủ thể nào một cách độc lập và bình đẳng

Tuy nhiên trong pháp luật của Nhà nước ta cho đến nay vẫn chưa có một kháiniệm về tài sản riêng của vợ, chồng được quy định trong một văn bản cụ thể của cơquan nhà nước có thẩm quyền Cho nên, chỉ có thể dựa vào quy định của pháp luậtliên quan đến tài sản riêng để làm căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng cũngnhư quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng

Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì căn cứ

để xác định tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:

- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn

- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân

- Tài sản có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân

- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng

- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng

Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chỉ ra nguồn gốc phát sinhtài sản riêng và dựa vào đó làm căn cứ xác định tài sản riêng của mỗi bên vợ,chồng Những tài sản được luật quy định sẽ là tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm:tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản mà mỗi người được thừa kếriêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; Tài sản có được do chia tài sản

3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, điều 14 quy định: Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng

thụ và sử dụng ngang nhau đối với các tài sản có trước và sau khi cưới.

4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 44, khoản 1 quy định: Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử

dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

Trang 17

chung trong thời kì hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của gia đình (ăn,mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và các nhu cầu thiết yếu khác không thểthiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình) của vợ, chồng và tài sản khác5 màtheo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng; hay là tài sản đượchình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng đó có thể là: những tài sản do vợ, chồngtạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phátsinh từ tài sản riêng và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân saukhi chia tài sản chung.

Bên cạnh đó, cần xem xét quy định của pháp luật đối với căn cứ xác địnhtài sản riêng của vợ, chồng Luật Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014

quy định là: “Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn” bởi lẽ trước khi kết hôn

vợ và chồng là những chủ thể pháp lý độc lập với các quyền và nghĩa vụ hoàn toànkhông bị ràng buộc trong quan hệ hôn nhân gia đình Tài sản riêng đó có thể là thunhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của bản thân người tạo ra, cũng cóthể do họ được thừa kế hay tặng cho riêng Ngoài ra pháp luật còn quy định những

tài sản tạo ra “trong thời kỳ hôn nhân” cũng có thể được coi là tài sản riêng của vợ,

chồng; nếu tài sản đó họ có được do tặng cho riêng, được thừa kế riêng, nhận phầncủa mình từ việc chia tài sản chung, hoa lợi lợi tức nhận được do tài sản riêng của

họ mang lại Chính vì vậy, những tài sản tạo ra trong “thời kỳ hôn nhân” mới được xác định là tài sản chung hay riêng của vợ, chồng Ở đây có thể hiểu “thời kỳ hôn nhân” là thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng được tính từ ngày kết hôn đến ngày

chấm dứt hôn nhân6 Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp vợ chồng lấynhau không đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn thì đưa ra tòa xin ly hôn vàphân chia tài sản Để giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế còn tồn động từ trước,khi xem xét hậu quả của việc chia tài sản chung của vợ chồng theo hôn nhân thực tế

5 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 11 quy định tài sản riêng khác của vợ chồng bao gồm:

“1 Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.

2 Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan

Trang 18

sẽ theo quy định ở Nghị quyết số 35/2000/NQ10 của Quốc hội ngày 09/6/2000;Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPTANDTC của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhândân tối cao ngày 23/12/2000

Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết thì khái niệm tài

sản riêng của vợ, chồng có thể được hiểu như sau: Tài sản riêng của vợ, chồng là tài sản; mà mỗi bên vợ, chồng có quyền sở hữu đối với tài sản đó, nếu tài sản đó có được trước thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng, thừa kế riêng, phần tài sản được nhận sau khi chia tài sản chung hay tài sản theo quy định của pháp luật thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng cũng như hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó Theo đó mỗi bên vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt thuộc sở hữu riêng của mình

1.1.2 Đặc điểm về tài sản riêng của vợ, chồng

Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm hoànthiện pháp Luật Hôn nhân và gia đình cũng như xây dựng xã hội công bằng, dânchủ, văn minh Đảng và Nhà nước ta đã xác định tăng cường bình đẳng giới, lồngghép các vấn đề về giới với các chính sách, chương trình, dự án phát triển là nộidung quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện về tăng trưởng xóa đói, giảmnghèo và đảm bảo công bằng cho xã hội Để thực hiện điều đó pháp luật nói chung

và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng đã ban hành những quy định thể hiện quyềnbình đẳng của các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đó Trong Luật Hônnhân và gia đình năm 2014 đã quy định vợ, chồng có quyền có sở hữu riêng về tàisản, đây là quy định thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng khi tham gia vào quan hệhôn nhân ngoài việc có tài sản chung thì họ vẫn có quyền có tài sản riêng để thựchiện các giao dịch hay nhu cầu của bản thân, đồng thời đảm bảo cuộc sống của cánhân khi hôn nhân tan vỡ; bên cạnh đó, vợ chồng vừa là chủ thể trong quan hệ hônnhân và gia đình, vừa là chủ thể trong quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữucủa mình đối với tài sản riêng tham gia vào các giao dịch dân sự Cho nên, tài sảnriêng của vợ, chồng cũng có một số đặc điểm sau:

Một là, xuất phát tự vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát triển

của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật quy định về tài sản riêng của vợ, chồng đềuxuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyền lợi của gia đình,

Trang 19

trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng Theo đó, dù vợ chồng có quyền sở hữuđối với tài sản chung hay tài sản riêng thì họ đều có nghĩa vụ dùng tài sản riêng củamình đóng góp nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫnnhau, nuôi dưỡng và giáo dục con cái Do vậy, khi mỗi bên vợ, chồng có toànquyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với tài sản riêng của mình; nhưng nếu tàisản chung không đủ đáp ứng nhu cầu của cuộc sống chung thì một bên vợ hoặcchồng có tài sản riêng phải dùng tài sản đó đảm bảo cuộc sống chung của gia đình

Hai là, tài sản riêng cả vợ chồng có nguồn gốc từ sở hữu tư nhân trong luật

dân sự (sở hữu của cá nhân với tài sản hợp pháp của mình bao gồm thu nhập hợppháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợitức…) Góp phần đảm bảo cho sự độc lập và bình đẳng của vợ chồng trong quan hệgiữa họ với nhau và với người thứ ba Sau khi kết hôn vợ hoặc chồng có tài sảnriêng vẫn có tư cách độc lập trong xã hội, tự do tham gia vào xác lập giao dịch dânsự

Ba là, tài sản riêng của vợ, chồng cũng mang lại nét đặc thù riêng biệt trong

việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Vợ chồng với tư cách là chủ thểcủa khối tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt khối tài sản riêng mà không phụthuộc vào ý chí của người khác7 Tuy nhiên, trong một số trường hợp quyền sở hữuđối với tài sản riêng của vợ chồng bị hạn chế, theo quy định tại khoản 4 Điều 44 LuậtHôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 thì vợ chồng là chủ sở hữu tài sản riêngcủa mình nhưng khi hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản riêng của vợ chồng đã đượcđưa vào sử dụng là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêngcủa vợ chồng trong trường hợp liên quan đến tài sản này cần thiết phải có thỏa thuậncủa hai vợ chồng Như vậy quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trongtrường hợp này đã bị hạn chế ở một số trường hợp theo quy định của pháp luật

1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng

Đối với pháp luật của nước ta, việc quy định tài sản riêng của vợ, chồng có ýnghĩa sau:

7 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 184 Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu: Trong trường hợp chủ sở hữu

chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, quản lý tài sản nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội; Việc chiếm hữu của chủ sở hữu không bị hạn chế, gián đoạn về thời gian, trừ trường hợp chủ sở hữu chuyển giao việc chiếm hữu cho người khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Trang 20

Trước tiên, việc quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng nhằm mục

đích xóa bỏ sự bất bình đẳng về mặt tài sản giữa vợ và chồng đồng thời đáp ứngđược mong muốn của hàng triệu phụ nữ Việt Nam là muốn có địa vị bình đẳng vớingười chồng trong gia đình Điều này hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp của nướcCộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là mong muốn mọi người đều bình đẳngtrước pháp luật8, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng thừanhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Điều 212 Bộ luật Dân sự năm 2005 ghi

nhận tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm: “Thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân” Nhờ vậy trong quan hệ hôn nhân người vợ và người chồng

có thể độc lập tham gia vào các quan hệ xã hội bằng cách dùng tài sản thuộc sở hữuriêng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh và cácmục đích khác phù hợp với quy định của pháp luật9; họ có thể chủ động tham giavào các giao dịch dân sự và kinh tế để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu vật chất của cácthành viên trong gia đình cũng như của cá nhân người vợ, người chồng Ngoài ra,việc quy định trên còn tạo điều kiện để cho vợ, chồng tự do tham gia vào các hoạtđộng kinh doanh riêng nhưng vẫn đảm bảo sự bền chặt của hai người bằng quan hệhôn nhân, ổn định hạnh phúc gia đình Gia đình tồn tại thì xã hội mới phát triểnđược, theo triết học Mác-Lênin thì vật chất quyết định ý thức vì thế nếu nền kinh tếkhông phát triển được, dẫn đến gia đình sẽ không hạnh phúc cũng như xã hội sẽkhông phồn thịnh được Bởi vậy, khi mỗi công dân tham gia vào các hoạt động sảnxuất kinh doanh tạo ra nhiều của cải, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững Quyđịnh này đã tạo điều kiện tạo cho người phụ nữ có chổ đứng ngang hàng với namgiới trong việc đóng góp vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Thứ hai, do Việt Nam đang trên đà phát triển đã chịu phần nào sự ảnh

hưởng của nền kinh tế thị trường và lối sống Phương Tây Cho nên hiện nay tìnhtrạng ly hôn ở nước ta xảy ra ngày càng nhiều Chính vì vậy, nhiều quan hệ hônnhân không được thiết lập trên yếu tố tình cảm chân thành mà được dựa trên yếu tốvật chất hôn nhân thực dụng - kết hôn vì của cải của nhau Nên việc quy định tài sản

8 Hiến pháp năm 2013, điều 16, khoản 1: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật

9 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 213, khoản 1

Trang 21

riêng của vợ, chồng có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo được đời sống củamỗi bên vợ, chồng sau khi hôn nhân tan rã

Thứ ba, việc quy định tài sản riêng còn nhằm bảo vệ lợi ích với người thứ

ba khi có quan hệ tài sản với một bên vợ hoặc chồng Vì thế, trên cơ sở quy địnhcủa pháp luật, người thứ ba sẽ xác định được quyền hạn của người vợ, người chồngtrong việc thực hiện xác lập các giao dịch làm cho quyền lợi của họ được bảo đảmhơn

Thứ tư, trong thực tế để đáp ứng quyền lợi của gia đình, nghĩa vụ nuôi dạy,

chăm sóc, giáo dục con cái trong suốt thời kỳ hôn nhân Người vợ, người chồngphải ký rất nhiều hợp đồng với những người khác liên quan đến tài sản riêng của

vợ, chồng Do vậy vợ chồng sẽ dùng phần tài sản riêng của mình để thỏa mãnnhững nhu cầu riêng, thực hiện những nghĩa vụ dân sự riêng mà không ảnh hưởngđến chồng hoặc vợ mình Xét ở phương diện này quy định về việc vợ, chồng cóquyền có tài sản riêng không những không làm mất đi tính chất cộng đồng trongquan hệ hôn nhân; trái lại, nó còn góp phần củng cố và ổn định quan hệ hôn nhân vàgia đình Ghi nhận quyền có tài sản riêng của vợ chồng cũng thể hiện tính linh hoạt

và mềm dẻo của pháp luật hôn nhân và gia đình khi cho phép vợ, chồng tự quyết

định số phận pháp lý của tài sản riêng: “Vợ, chồng có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”10 Như vậy, bình thường cuộc sống của vợchồng hòa thuận, hạnh phúc thì vợ chồng thường không phân biệt tài sản chung, tàisản riêng Trong trường hợp cần thiết phải phân định tài sản chung, tài sản riêng của

vợ, chồng, quy định về căn cứ xác định của các loại tài sản của vợ chồng mới thực

sự có ý nghĩa khi giải quyết các tranh chấp; Nhiều tranh chấp sẽ phát sinh giữa vợ,chồng liên quan đến quyền lợi của những người khác theo từng trường hợp cụ thể

Do đó, quy định tài sản riêng của vợ, chồng là căn cứ để giải quyết các tranh chấp

về tài sản chung hay tài sản riêng giữa vợ và chồng

Như vậy, việc quy định tài sản riêng của vợ, chồng có ý nghĩa hết sức quantrọng đối với hệ thống pháp luật nói riêng và đối với sự phát triển của xã hội nóichung; góp phần rất lớn đảm bảo lợi ích của cá nhân bên cạnh lợi ích của gia đình.Bên cạnh lợi ích của gia đình thì lợi ích của cộng đồng xã hội cũng được đảm bảo

10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 44, khoản 1

Trang 22

và duy trì

1.2 Khái quát chung về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

1.2.1 Khái niệm về quyền định đoạt tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

1.2.1.1 Khái niệm về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

Theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc trừ bỏ quyền sở hữu đó”, quyền định đoạt là một trong ba quyền năng quan trọng của quyền sở hữu11,quyền định đoạt tài sản được hiểu là quyền quyết định số phận pháp lý của tài sản;nói như vậy, vì có quyền định đoạt tài sản thì có thể thực hiện các hành vi để quyếtđịnh sự tồn tại của vật Tuy nhiên, việc thực hiện các hành vi này phải nằm trongkhuôn khổ pháp luật cho phép; quyền này được thể hiện ở hai góc độ sau:

Thứ nhất, là định đoạt về số phận thực tế của tài sản, tức là chủ thể có

quyền định đoạt tài sản làm cho nó không còn trên thực tế nữa như: Tiêu hủy, dùnghết, hủy bỏ, từ bỏ quyền sở hữu (vứt bỏ hoặc tiêu hủy tài sản) Bằng hành vi củamình, các chủ thể tác động trực tiếp lên tài sản, làm cho tài sản không còn tồn tạinữa Như đã phân tích ở trên, việc thực hiện hành vi này phải nằm trong khuôn khổpháp luật cho phép

Thứ hai, là định đọat về số phận pháp lý của vật, là việc chuyển giao

quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Thông thường việcđịnh đoạt pháp lý của tài sản phải thông qua các giao dịch dân sự phù hợp với ý chícủa chủ sở hữu Các hình thức định đoạt số phận pháp lý rất đa dạng, có thể địnhđoạt đối với tài sản như bán, trao đổi, tặng cho, chuyển nhượng, góp vốn kinhdoanh Cho nên, chủ thể có quyền định đoạt tài sản thông thường là chính chủ sởhữu, nhưng trong một vài trường hợp các chủ thể khác cũng có quyền định đoạt tàisản khi được chủ sở hữu ủy quyền12 Việc định đoạt tài sản của chủ thể khác khôngphải là chủ sở hữu của tài sản đó thì phải tuân theo những điều kiện quy định tại

Điều 196 Bộ luật Dân sự năm 2005 là: “Việc định đoạt tài sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật Trong trường hợp

11 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 173 quy định: Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử

dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

12 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 198

Trang 23

pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó” Như vậy quyền định đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm

2005 thì quyền định đoạt là một quyền năng của chủ thể sở hữu để quyết định về

“số phận” của vật; chủ sở hữu có quyền chuyển giao quyền, từ bỏ quyền sở hữu đó.

Tuy nhiên, vấn đề quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng chỉ có quyđịnh về quyền định đoạt và các căn cứ thực hiện quyền đó, nhưng vẫn chưa có quyđịnh nào làm rõ về khái niệm định đoạt tài sản riêng của vợ chồng theo pháp luậthiện hành Vì vậy, qua các phân tích, đánh giá và tổng hợp ở trên thì theo người viết

khái niệm quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng có thể hiểu là: Quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng là việc vợ, chồng quyết định số phận tài sản riêng thuộc sở hữu của mình mà không cần sự thỏa thuận, đồng ý của người còn lại.

1.2.1.2 Khái niệm về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì trong quan

hệ hôn nhân vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản, tài sản đó có thể là tàisản chung hoặc tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Đối với tài sản riêng của vợ,chồng, về nguyên tắc, vợ chồng có quyền định đoạt đối với tài sản riêng; vợ chồng

có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung; vợ chồng có quyềnquản lý tài sản riêng của mình để tham gia, trong trường hợp vợ, chồng không thể

tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thìkhi đó bên kia có quyền quản lý đó; tài sản riêng của vợ, chồng được đảm bảo thanhtoán cho nghĩa vụ về tài sản riêng của vợ chồng13

Tuy nhiên, do tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân cho nên việcđịnh đoạt tài sản riêng của vợ chồng có thể bị hạn chế, đó là trường hợp tài sảnriêng mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc giaodịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng, thì việc định đoạt tài sảnriêng đó phải có sự đồng ý, thỏa thuận của chồng, vợ14; Nếu không có sự đồng ý củangười còn lại trong giao dịch liên quan đến tài sản có hoa lợi, lợi tức là nguồn sốngduy nhất hay đến nhà ở duy nhất của cả gia đình thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu theoquy định của pháp luật15 Điều này có nghĩa là người có tài sản riêng bị hạn chế

13 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 44

14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 3 và điều 44, khoản 4

15 Bộ luật Dân sự năm 2005, điều 127

Trang 24

quyền định đoạt tài sản đó: vợ chồng không có quyền đơn phương định đoạt tài sảnriêng của mình nếu điều đó dẫn đến hậu quả ảnh hưởng đến nguồn sống duy nhấtcũng như là nơi ở duy nhất của gia đình; quy định này mang tính nhân đạo và bảo

vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình, là cơ sở ràng buộc trách nhiệmcủa vợ chồng với gia đình Đây là một ngoại lệ của quyền chiếm hữu, sử dụng vàđịnh đoạt đối với tài sản riêng của vợ hoặc chung

Trên cơ sở phân tích tổng kết từ những quy định của pháp luật về tài sảnriêng cũng như về quyền định đoạt tài sản riêng đã đề cập, theo quan điểm củangười viết khái niệm về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng có thể

hiểu là: tài sản riêng phát sinh hoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy nhất của gia đình hay giao dịch liên quan đền nhà là nơi ở duy nhất của gia đình, là những trường hợp do pháp luật quy định; Trong những trường hợp đó quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng sẽ bị hạn chế khi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình; hay việc xác lập, thực hiện, chăm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là nơi ở duy nhất của gia đình, thì vợ (chồng) cần phải có

sự đồng ý của người còn lại.

1.2.2 Đặc điểm của việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: đối với tài sảnriêng của mình thì vợ, chồng được quyền định đoạt tài sản đó16 Quyền định đoạt đóthể hiện ở chỗ vợ, chồng có thể tự do chuyển giao quyền sở hữu tài sản riêng củamình cho chủ thể khác thông qua hợp đồng hoặc thông qua giao dịch một bên; chủ

sở hữu còn có thể bằng ý chí, hành vi của mình chấm dứt quyền sở hữu của mìnhđối với một tài sản nhất định thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng Pháp luật tôn trọng

và bảo vệ quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng cũng

là tôn trọng quyền tự do của cá nhân Quyền tự do định đoạt có thể được thực hiện

mà không cần đến sự đồng ý của một chủ thể khác Tuy nhiên, quyền tự do của cá

16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 44, khoản 1

Trang 25

nhân là cái cá biệt, cái đơn nhất của các cá nhân, nhưng cái cá biệt không thể tồn tạibên ngoài cái chung được; cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cáiriêng Vì vậy, pháp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trong quan hệhôn nhân vợ, chồng được tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình;nhưng quyền tự do định đoạt này lại không luôn được thực hiện nếu quyền này ảnhhưởng đến cuộc sống và lợi ích chung của gia đình Vì thế quyền tự do định đoạttrong một số trường hợp sẽ bị hạn chế, chủ sở hữu không thể làm tất cả những gìmình muốn một cách tự do nữa mà lúc này bị ràng buộc bởi những quy định củapháp luật cũng như trong mối quan hệ với gia đình Cho nên, quy định về hạn chếquyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 có những đặc điểm:

Một là, pháp luật nước ta một mặt luôn tôn trọng quyền tự do định đoạt tài

sản riêng của vợ, chồng; mặt khác luôn đặt quyền đó trong một khuôn khổ nhấtđịnh, nhằm tạo ra một khung hành lang pháp lý để xác định rõ người có quyền sởhữu tài sản riêng có quyền gì, những quyền đó bị hạn chế trong những trường hợpnào Có thể nói việc pháp luật vừa ghi nhận vừa hạn chế quyền định đoạt tài sảnriêng của chủ sở hữu là hai phạm trù đối lập nhau những cũng tồn tại thống nhất vớinhau: Đối lập ở chỗ một bên là quy định và bảo đảm quyền tự do định đoạt tài sảnriêng được thực hiện, một bên lại hạn chế thực hiện quyền tự do định đoạt ấy;chúng thống nhất ở chổ quy định về quyền tự do và hạn chế định đoạt đều dựa vàobản chất của Nhà nước ta là nhằm bảo vệ quyền tự do của cá nhân, thể hiện sự bìnhđẳng trong cộng đồng xã hội Vì vậy, dù cho pháp luật quy định vợ chồng đượcquyền tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng hay hạn chế quyền định đoạt tàisản đó thì đều nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo đời sống của các thành viêntrong gia đình, mang lại lợi ích cho gia đình và xã hội

Cũng giống như quyền định đoạt tài sản riêng được quy định trongLuật Hôn nhân và gia đình hiện hành, thì quy định về hạn chế quyền định đoạt tàisản riêng thì tài sản riêng thuộc sở hữu duy nhất của người có tài sản đó, nếu khôngphải là chủ sở hữu duy nhất của tài sản đó thì không nằm trong phạm vi điều chỉnhcủa điều luật, chủ sở hữu phải có năng lực pháp luật và là chủ thể trong quan hệLuật Hôn nhân và gia đình

Trang 26

Hai là, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của Luật

Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định.Khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản riêngthuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật thì quy định về hạn chế quyền định đoạt tàisản riêng mới được áp dụng Để trở thành đối tượng điều chỉnh của điều luật thì tàisản riêng của chủ sở hữu phải là những tài sản mà có hoa lợi, lợi tức phát sinh lànguồn sống duy nhất của gia đình; hay tài sản là nhà là nơi ở duy nhất của gia đình.Những tài sản này vợ, chồng phải là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng và đãđược đưa vào sử dụng chung Khi một bên thực hiện giao dịch dân sự liên quan đếncác tài sản này thì không có một tài sản nào khác để thay thế được, khi đó vợ, chồng

là chủ sở hữu tài sản riêng không thể tự mình quyết định số phận của tài sản đóđược mà cần có sự đồng ý của người còn lại

Ba là, để những tài sản riêng có hoa lợi, lợi tức

phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình; hay tài sản là nhà là nơi ở duy nhấtcủa gia đình có thể tham gia vào giao dịch dân sự với người thứ ba, hay chủ sở hữuthực hiện các giao dịch liên quan đến sự tồn tại của tài sản thì cần phải có sự đồng ýcủa vợ, chồng Quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng sẽ

bị gỡ bỏ nếu một bên vợ chồng đồng ý với ý kiến đã nêu của chủ sở hữu tài sảnriêng đối với số phận của tài sản Sự đồng ý đó nếu pháp luật buộc phải tuân theohình thức nhất định thì phải tuân theo quy định pháp luật Trong trường hợp chưa có

sự đồng ý của một bên vợ (chồng) mà chủ sở hữu thực hiện gaio dịch với người thứ

ba liên quan đến tài sản đó thì giao dịch đó sẽ bị Tòa án tuyên là vô hiệu theo quyđịnh tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 200517

1.2.3 Lược sử quá trình phát triển của việc ghi nhận hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng trong pháp luật hôn nhân gia đình nước ta

1.2.3.1 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959

Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội Khóa I Kỳ họpthứ 11 thông qua ngày 32/12/1959 và Chủ tịch nước ký lệnh công bố ngày

01/01/1960 Điều 24 Hiến pháp quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng

17 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 13.

Trang 27

hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Từ quy định

mang tính nguyên tắc đó, các giải pháp chi tiết của vấn đề hoàn thiện chế độ hônnhân và gia đình đã được xây dựng và ghi nhận tại Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủCộng hòa được Quốc hội thông qua vào ngày 29/12/1959 và được công bố ngày13/01/1960, một trong những đạo luật được ban hành sớm nhất giữ vị trí quan trọngtrong hệ thống pháp luật Việt Nam18

Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là công cụ pháp lý của Nhà nước tađược xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản là: xóa bỏ những tàn tích củachế độ phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới xã hội chủ

nghĩa: “hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người đoàn kết thương yêu nhau giúp đỡ nhau tiến bộ” 19

Ở miền Nam, sau năm 1945, nhà nước chế độ cũ cũng đã ban hành một số vănbản điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình:

- Luật Gia đình ngày 02/01/1959

- Sắc lệnh 15/64 ngày 23/07/1964

- Bộ dân luật ngày 2012/1972

Những văn bản pháp luật mà quy định bãi bỏ chế độ đa thê, song quan hệ vợchồng vẫn là sự bất bình đẳng, người vợ phụ thuộc vào người chồng Trong gia đìnhvai trò của người chồng là quyết định Về tài sản, người chồng là người quản lý tài

sản chung và riêng của hai vợ chồng: “Người chồng quản trị tài sản cộng đồng và tài sản riêng của hai vợ chồng Nếu người chồng không có năng lực pháp lý, thất tung, đi xa lâu ngày hay bị cản trở vì một duyên cớ chánh đáng nào khác người vợ

sẽ thay thế trong quyền quản trị” 20

Về quan hệ vợ, chồng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định quyềnbình đẳng giữa vợ và chồng, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, chăm sóclẫn nhau, v.v , vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau Do hầu hết các tư liệu

18 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, năm 2007, Tr.118-116.

19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, điều 1

20 Bộ Dân luật 1972 của Việt Nam cộng hòa, điều 153

Trang 28

sản xuất đều thuộc sở hữu Nhà nước hoặc được tập thể hóa, sở hữu tư nhân chỉ baogồm các tư liệu tiêu dùng, vợ chồng hầu như chỉ có các tài sản phục vụ nhu cầu sinhhoạt Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ trong quan hệ gia đình về tàisản, trong bối cảnh đấu tranh xóa bỏ tàn dư của chế độ phong kiến Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1959 quy định: “vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”21; Luật Hôn nhân và giađình năm 1959 không quy định về việc vợ, chồng có quyền có tài sản riêng mà tất

cả tài sản có trước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung Như vậy, Luật Hôn nhân

và gia đình 1959 chỉ quy định một chế định về tài sản của vợ, chồng đó là tài sảnchung hợp nhất Điều đó nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, bảo vệquyền lợi của người phụ nữ trong gia đình Khi hôn nhân được xác lập, không kể tàisản có được từ nguồn gốc nào đều được coi là tài sản chung của vợ chồng và từ đómỗi bên vợ hoặc chồng không có tài sản thuộc sở hữu riêng

1.2.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986

Sau ngày 30/04/1975, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, Quốc hộikhóa 11 trong kỳ họp thứ nhất tháng 7 năm 1976 đã quyết định đặt tên nước là

“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Với nhà nước thống nhất nên đòi hỏi

pháp luật phải có sự thống nhất, ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ đã ban hànhNghị quyết số 76-CP quy định về việc thực hiện thống nhất pháp luật trên toànquốc Ngày 18/12/1980 Quốc hội khóa VI đã chính thức thông qua Hiến pháp mớilàm nền tảng cho bước phát triển mới của đất nước

Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: Phụ nữ và nam giới có quyềnngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước cóchính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ và nam giới có việclàm như nhau thì tiền lương ngang nhau; Gia đình là tế bào của xã hội; Nhà nướcbảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợmột chồng, vợ chồng bình đẳng Trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Hônnhân và gia đình năm 1959, nhưng có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hìnhthực tế của đất nước và yêu cầu đặt ra từ xã hội Ngày 29/12/1986 Quốc hội ViệtNam đã ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 để thay thế luật Luật Hôn

21 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, điều 15

Trang 29

nhân và gia đình năm 1959 Luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 khẳng định:Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đìnhcàng tốt Trong gia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình đẳng, thương yêu, giúp đỡnhau tiến bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ

Tổ quốc, cùng nhau nuôi dạy con cái thành những công dân có ích cho xã hội Đối

với quan hệ vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 khẳng định: “Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch ” 22 Điều 16 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 đã thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản riêng của vợ chông” 23 Như vậy Luật Hôn nhân

và gia đình năm 1986 đã ghi nhận quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêngbên cạnh quyền sở hữu chung của vợ, chồng Tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ,chồng bao gồm: Những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản đượcthừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân Xét về bản chấtnhững loại tài sản này phải do lao động của vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân

Vì vậy, nó thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng Vợ, chồng có quyền độc lậptrong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, không phụ thuộcvào người kia, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu của nhau24; cần thừanhận rằng, tài sản riêng của vợ, chồng trước hết là để giúp cho vợ chồng thực hiệnnghĩa vụ riêng về tài sản mà không phụ thuộc và ảnh hưởng đến kinh tế chung củagia đình Song trong cuộc sống chung, vợ, chồng có nghĩa vụ giúp đỡ, chăm sóc lẫnnhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dạy các con trưởng thành Điều đó đòi hỏi vợchồng phải cùng chung công sức, ý chí, tình cảm để thực hiện đầy đủ và tốt nhấttrách nhiệm của mình cũng đồng thời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tinh thầncủa chính mình Do đó trong trường hợp tài sản chung không đủ thì vợ chồng có tàisản riêng có nghĩa vụ đóng góp tài sản của mình vào khối tài sản chung nhằm đáp

22 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, điều 10

23 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, điều 16

24 Nguyễn Phương Lan, Về Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1896, Tạp chí Luật học, số

10/2002, Tr 57-61.

Trang 30

ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình Việc đóng góp tài sản riêng của mỗi bên vợ,chồng vào đời sống chung của gia đình khi gặp khó khăn thường xuất phát từ ý thức

tự nguyện, tự giác trên cơ sở đạo đức, do tình cảm yêu thương gắn bó lẫn nhau giữacha mẹ với con cái và giữa vợ chồng với nhau Tuy nhiên không phải lúc nào vợ,chồng cũng đều gắn bó, tự nguyện gánh chịu trách nhiệm đó bằng tài sản riêng củamình, điều đó đòi hỏi về đạo đức và cả về nghĩa vụ pháp lý

Vì thế, tuy là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định về quyền

có tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhưng lại chưa quy định rõ ràng vợ, chồng

có tài sản riêng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để đảm bảo những nhucầu thiết yếu của gia đình và thực hiện những nghĩa vụ chung về tài sản trongtrường hợp tài sản chung không đủ đáp ứng Vì vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 chỉ mới bước đầu quy định về quyền sở hữu tài sản riêng của vợ, chồng nhưngnhững quy định về tài sản liên quan đến nghĩa vụ, cùng như trách nhiệm về tài sảnriêng đối với cuộc sống chung của gia đình vẫn chưa đề cập đến, cho nên vẫn chưa

có ghi nhận về quy định hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ chồng nhằm mụcđích ràng buộc trách nhiệm của vợ, chồng đối với đời sống chung của gia đình

1.2.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (đã sử đổi bổ sung năm 2010)

Xuất phát từ vị trí của gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thân yêunuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống và hình thànhnhân cách, xây dựng con người mới, đưa con người tham gia tích cực vào sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc và để khẩn trương nghiên cứu sữa đổi, bổ sung chínhsách, pháp luật về hôn nhân và gia đình nhằm mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam

no ấm, tiến bộ, bình đẳng và hạnh phúc, Chính phủ đã có chỉ thị về tổng kết việc thihành Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trình Quốc hội, xem xét, quyết định sữađổi luật này25 Ngày 09/06/2000, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Hôn nhân vàgia đình mới thay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2000 xác định nhiệm vụ: Góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế

độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên

25 Chỉ thị số 482-TTg ngày 08/09/194 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổng kết 08 năm Luật Hôn nhân và gia đình 1986.

Trang 31

trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thông đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Hiến

pháp 1992 Hiến pháp này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam khoá VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4năm 1992, tại Điều 57 của Hiến pháp quy định: Mọi người có quyền tự do kinhdoanh theo quy định của pháp luật So với luật Luật Hôn nhân và gia đình năm

1986 thì Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bổ sung thêm những quy định mới

về quan hệ vợ chồng: Liên quan đến nghĩa vụ và quyền nhân thân của vợ và chồng;liên quan đến nghĩa vụ và quyền tài sản của vợ, chồng Điều 32 của Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 (2010)căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng rộng hơn, cụthể hơn so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 tài sản riêng của vợ chồng baogồm:

“1.Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng; Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản

mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.

2.Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung”.

Đặc biệt là những điều luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ chồng

cũng như việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản riêng trong thời kì hôn nhân đểthực hiện kinh doanh riêng cũng như việc quy định vợ chồng có quyền có tài sảnriêng và toàn quyền trong vệc định đoạt tài sản riêng Điều 33 Luật Hôn nhân và gia

đình năm 2000 (2010) quy định về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng:

“1 Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.

2 Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản

lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.

3 Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4 Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu

Trang 32

của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.

5 Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng”

Như vậy việc quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong quan hệ hônnhân ngày càng được quy định một cách cụ thể và chi tiết hơn Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 (2010) đã quy định vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt tài sản riêng của mình Đồng thời cũng xuất phát từ yêu cầu chung của xã hội

là đảm bảo cuộc sống ổn định cho tất cả các công dân Tuy nhiên quyền định ddoatjtài sản riêng của vợ chồng trong một số trường hợp vẫn có ngoại lệ được pháp luậtquy định và được ghi nhận tại khoản 4 và khoản 5 Điều 33 luật này Bên cạnh đó,hình thức của việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đếntài sản của vợ, chồng được quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghi định

70/2001/NĐ-CP như sau:

“1 Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân

sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung

là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất định, thì sự thoả thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực )

2 Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng”

Trang 33

Việc quy định hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong Luật Hônnhân và gia đình năm 2000 (2010) là điểm mới hơn so với Luật Hôn nhân và giađình năm 1986 đó là căn cứ pháp lý giúp Tòa án có giải quyết những vụ tranh chấpliên quan đến quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng Tuy nhiên, trong thực tếcuộc sống gia đình, để có hạnh phúc trọn vẹn thì giữa hai bên vợ chồng không nhấtthiết phải phân định quá rạch rồi vấn đề tài sản này là của riêng hay chung thì chỉnên áp dụng vào những trường hợp thật cần thiết, để góp phần xây dựng một giađình hạnh phúc

1.2.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình 2014

Hiến pháp năm 1992 được ban hành trong bối cảnh những năm đầu thựchiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng(năm 1986) đề ra và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá

độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở chính trị –pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộc đổi mới Qua 20 năm thực hiệnHiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩalịch sử26 Trong đó, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2000 (2010) đã bảo đảm cho Luật Hôn nhân và gia đình đi vàocuộc sống, thống nhất trong áp dụng pháp luật, quyền, lợi ích hợp pháp của ngườidân về hôn nhân và gia đình được thực hiện và bảo vệ Tuy nhiên, một số quy địnhcủa Luật Hôn nhân và gia đình còn chậm được hướng dẫn thi hành hoặc các vănbản hướng dẫn thi hành vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn tới có nhiều cáchhiểu khác nhau trong thực tiễn áp dụng Do đó, hiệu quả áp dụng các văn bản quyphạm pháp Luật Hôn nhân và gia đình chưa cao về chế độ tài sản của vợ chồng,Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (2010) chỉ dự liệu một chế độ tài sản phápđịnh, do đó Luật quy định chung cho tất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tàisản chung, tài sản riêng, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tài sảncủa vợ chồng khi ly hôn; Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hôn nhân duynhất được pháp luật thừa nhận Việc áp đặt một chế độ tài sản trong hôn nhân nhưvậy là cứng nhắc, không đáp ứng được những nhu cầu khác nhau của các cặp vợ

năm 1992.

Trang 34

chồng trong việc thực hiện các quan hệ tài sản Thực tế, quy định của Luật, mộtmặt, không đảm bảo được quyền tự định đoạt của người có tài sản được quy địnhtrong pháp luật dân sự (Quyền về tài sản là quyền cơ bản của cá nhân được Hiếnpháp, Bộ luật Dân sự bảo hộ: mỗi cá nhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạttài sản thuộc quyền sở hữu của mình theo ý chí của mình, miễn sao không xâmphạm lợi ích của người khác, không trái với đạo đức xã hội), mặt khác, không phù

hợp với hoàn cảnh của từng cặp vợ chồng, từng gia đình “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhất là đối với những trường hợp vợ, chồng có nhiều tài sản riêng,

tiến hành các hoạt động kinh doanh, thương mại mà cần có một chế độ tài sản tronghôn nhân phù hợp27

Chính vì vậy, kế thừa và phát triển những điểm tiến bộ trong Hiến pháp 1992

và Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 6 - Quốc hội khóa XIII gồm

11 chương, 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992) cóhiệu lực từ ngày 1-1-2014 Hiến pháp 2013 có nhiều điểm mới cả về nội dung và

kỹ thuật lập hiến; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước

và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo khoản 2 Điều 32 Hiến

pháp năm 2013: “mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bên

cạnh việc quy định chế độ tài sản theo pháp định còn bổ sung thêm chế độ tài sản

ước định; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau: “vợ chồng

có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”28 Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏathuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản cócông chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xáclập kể từ ngày đăng ký kết hôn29 Đối với tài sản riêng của vợ chồng: Quy định cụthể tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của

27 Báo cáo 153/BC-BTP ngày 15/07/2013 về tổng kết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 28, khoản 1

29 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 47 quy định: Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn

chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Trang 35

vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được

thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này; Bên

cạnh đó, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng, như: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ,chồng có trước khi kết hôn; nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, địnhđoạt tài sản riêng; trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tusửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và

gia đình năm 2014: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”; hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng

để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình” của Luật này Đây là quy định mang tính ngoại lệ về quyền định đoạt đối

với tài sản riêng của vợ chồng mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 kế thừa vàphát triển bên cạnh những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000(2010)

1.2.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

Việc thừa nhận vợ chồng có quyền sở hữu riêng về tài sản là phù hợp vớitình hình kinh tế - xã hội hiện nay khi nền kinh tế của nước ta ngày càng mở rộng cả

về số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh Ngoài việc đảm bảo cho vợ, chồngthực hiện những nghĩa vụ riêng về tài sản một cách độc lập, quyền sở hữu riêng vềtài sản tạo ra khả năng để vợ, chồng chủ động tham gia vào các hoạt động sản xuấtkinh doanh mà không làm ảnh hưởng đến tài sản chung, lợi ích chung của gia đình.Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc hạn chế định đoạttài sản riêng của vợ, chồng là một quy định mang tính ngoại lệ của quyền định đoạttài sản riêng của vợ, chồng trong điều kiện kinh tế xã hội của Nhà nước ta cũngmang lại những ý nghĩa nhất định:

Quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng mangtính nhân đạo và bảo vệ các gia trị truyền thống đạo đức trong gia đình, không chophép cá nhân vợ hoặc chồng vì lợi ích riêng mà làm thiếu trách nhiệm đối với giađình Bởi vì, trong nhiều gia đình người phụ nữ không có tài sản riêng, cuộc sống

Trang 36

gia đình phải phụ thuộc vào khối tài sản chung của vợ chồng tạo lập trong thời kỳhôn nhân; đôi khi cuộc sống của gia đình gặp nhiều khó khăn vì tài sản chungkhông đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Vì thế quy định nàynhằm ngăn chặn hành vi có tính chất gia trưởng từ người chồng, tránh cho phụ nữ

và trẻ em lâm vào hoàn cảnh phụ thuộc vào người chồng, vào cha và để đảm bảocuộc sống cho gia đình

Bên cạnh đó cuộc sống của vợ, chồng đòi hỏi sự gắn kết lâu dài, bền vững,hạnh phúc Trách nhiệm vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình, nghĩa vụ chăm sóclẫn nhau, nuôi dưỡng giáo dục con cái vì lợi ích của xã hội thuộc về cả hai vợchồng Nếu tài sản đã đưa vào vào sử dụng chung khi phát sinh hoa lợi, lợi tức haykhi xác lập, thực hiện các giao dịch thuộc sở hữu khối tài sản riêng đó lại ảnh hưởngđến đời sống chung của gia đình; khi đó vợ, chồng không thể bỏ mặc lợi ích chungcủa gia đình muốn ra sao thì ra cũng được Xét về chuẩn mực đạo đức xã hội và cácnghĩa vụ pháp lý theo quy định pháp luật; thì vợ, chồng phải sử dụng tài sản riêngcủa mình đảm bảo cho cuộc sống chung của gia đình là hoàn toàn hợp lý Như vậy,pháp luật ghi nhận việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng đã đónggóp một phần vào việc đảm bảo lợi ích chung của gia đình và cũng là lợi ích chungcủa toàn xã hội, vì gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Sựtồn tại bền vững của gia đình là cơ sở tạo cho xã hội ổn định và phát triền và cũnggóp phần thúc đẩy nền kinh tế của Nhà nước ta ngày càng phát triển

Trang 38

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ

VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, mỗi chế độ xã hội đều quy địnhmột chế độ xã hội giữa vợ chồng cho phù hợp với phong tục, tập quán và hoàn cảnh

xã hội Trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ 1936 đã quy địnhcho vợ chồng được tự do lập hôn ước trước khi kết hôn, chế độ tài sản pháp định chỉđặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước Theo chế độ này, tài sản chung của vợ chồngbao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng như của vợ, không kể tài sản đó được

có trước, được tạo ra trước hay trong thời kỳ hôn nhân

Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 của Nhà nước ta đã quy địnhchế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do vợ, chồng

có được hoặc tạo ra từ trước khi kết hôn hay trong thời kỳ hôn nhân đều thuộc tài sảnchung của vợ chồng

Đối với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, do được ban hành vào thời kỳđầu của sự nghiệp đổi mới, lần đầu ghi nhận vợ, chồng có tài sản riêng, đây là bước độtphá mới, công nhận quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân Theo Điều 16 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 1986 thì: "Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng" Quy định này có tính chất "mở", "tùy nghi", cho phép vợ, chồng lựa chọn trong việc nhập

hay không nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng30 Khoản 1Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (2010) đã ghi nhận với tính chất chắc

chắn, khẳng định: "Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng" Đây là quy định nhằm bảo

đảm cho vợ chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, khôngphụ thuộc vào ý chí của bên kia Điều 32, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2000 (2010) đã quy định chế độ sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng cụ thể hơn,

đã tạo được cơ sở pháp lý thống nhất trong thực tế áp dụng

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, Điều 43 của luật này đã công

30 Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Tập 2, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, năm 2012.

Trang 39

nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Bao gồm: Những căn cứ xác định tài sảnriêng của vợ, chồng; cũng như quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng khi thực hiện quyền

sở hữu đối với tài sản riêng; bên cạnh đó luật cũng ghi nhận ngoại lệ trong quy định

về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng

2.1 Quy định của pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân

và gia đình 2014

2.1.1 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng

Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.

Như vậy, theo điều luật trên, để xác định một tài sản nào đó là tài sảnchung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng phải căn cứ vào haidấu hiệu: Thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản Thời kỳ hôn nhân được quy

định tại khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”, có thể hiều là: được tính từ khi hai bên nam nữ

được ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận kết hôn đến khi hôn nhân chấm dứt

do vợ chồng ly hôn theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án31;hoặc do một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết Xác định nguồn gốc tàisản là xác định tài sản do đâu mà có: Từ hợp đồng tặng cho, mua bán hay để thừa

kế Như vậy, quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa

ra các căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng là dựa vào thời kỳ hôn nhân vànguồn gốc của các loại tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng Những quy

31 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, điều 3, khoản 14

Trang 40

định này có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của

vợ, chồng đối với tài sản riêng

2.1.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng

có trước khi kết hôn

Trước khi kết hôn: là thời điểm chưa phát sinh quan hệ vợ chồng của haibên nam nữ, giữa họ chưa có mối quan hệ về tài sản Do đó, họ có toàn quyền sởhữu khối tài sản mà họ có được do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh hoặcđược tặng cho, thừa kế; đó là quyền cơ bản của công dân được quy định tại khoản 1

và khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013:

“1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các

tổ chức kinh tế khác.

2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”.

Trước khi kết hôn vợ chồng đều là những chủ thể độc lập với các quyền vànghĩa vụ hoàn toàn không có sự ràng buộc pháp lý trong mối quan hệ hôn nhân vàgia đình bằng tài sản và họ tạo ra được là tài sản riêng là một quy định hợp lý Tàisản riêng có được trước khi kết hôn có thể là tài sản thu nhập do lao động; do chínhcông sức của vợ, chồng tạo ra theo tính chất nghề nghiệp hay công việc của mình;cũng có thể tài sản đó có được do chuyển quyền sở hữu của mình cho vợ, chồngthông qua các giao dịch dân sự32

Ví dụ: đầu năm 2013 Hùng dùng tiền thưởng cuối năm của mình để mua một

chiếc xe ô tô, giấy đăng ký quyền sở hữu ghi tên Hùng; năm 2014 Hùng kết hôn;đến cuối năm 2014 Hùng lại làm thủ tục ly hôn Vậy khi chia tài sản ly hôn thì sẽ ô

tô vẫn là tài sản riêng của Hùng Bởi vì xe ô tô là Hùng dùng tiền riêng của mình đểmua trước khi kết hôn và giấy đăng ký quyền sở hữu xe vẫn chỉ đứng tên Hùng

Ngoài ra, tài sản riêng của vợ, chồng có thể đucợ xác lập dựa vào các căn cứxác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự như sau: trước khi kết hôn

32 Bộ luật Dân sự 2005, điều 121 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn

phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự.

Ngày đăng: 21/12/2015, 01:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w