Ở Việt Nam, các vấn đề liên quan đến nhãn hiệu hàng hoá đã được quy định trong một số văn bản bản dưới luật trước đây như Điều lệ về mua bán quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết
Trang 1PGS.TS Lª Hång H¹nh *
ở hữu trí tuệ, đặc biệt là sở hữu công
nghiệp từ lâu đã trở thành yếu tố không
thể tách rời của thương mại hàng hoá và dịch
vụ Trong sở hữu công nghiệp thì nhãn hiệu
hàng hoá có mối liên hệ chặt chẽ nhất với
thương mại bởi vì nhãn hiệu hàng hoá gắn
với uy tín của doanh nghiệp và đương nhiên
là gắn với cơ hội chiếm lĩnh thị phần của nó
Chính vì vậy, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá được hệ thống pháp luật ở các nước đặt
ra từ lâu không chỉ ở tầm quốc gia mà cả tầm
quốc tế Nhiều quy định về nhãn hiệu hàng
hoá được xây dựng ở cấp quốc gia, được
nhất thể hoá trong các công ước quốc tế
nhằm tạo ra sự bảo hộ thống nhất và hiệu
quả đối với loại tài sản vô hình song hết sức
có giá trị này Ngay từ năm 1857, Pháp đã
ban hành Luật nhãn hiệu hàng hoá đầu tiên
trên thế giới Các luật về nhãn hiệu hàng hoá
của Italia (1868), Bỉ (1879), Mĩ (1881), Anh
(1883), Đức (1894), Nga (1896) đã được ban
hành để điều chỉnh việc xác lập quyền sở
hữu đối với nhãn hiệu hàng hoá Văn bản
pháp luật mang tính quốc tế đầu tiên về nhãn
hiệu hàng hoá là Thoả ước Madrid năm 1891
về chống các chỉ dẫn giả mạo hoặc lừa dối
về nguồn gốc hàng hoá Năm 1994, các quốc
gia kí Hiệp ước về luật nhãn hiệu hàng hoá
Ở Việt Nam, các vấn đề liên quan đến
nhãn hiệu hàng hoá đã được quy định trong
một số văn bản bản dưới luật trước đây như
Điều lệ về mua bán quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa và bí quyết kĩ thuật ban hành kèm theo Nghị định số 201/HĐBT ngày 28/12/1988; Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp
1990 Tuy nhiên, chỉ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với những cuộc cạnh tranh đầy kịch tính của các doanh nghiệp nhằm giành thị phần thì nhãn hiệu hàng hoá mới thực sự được chú ý Sau việc nhãn hiệu Vinataba và Trung Nguyên bị đánh cắp thì một số nhãn hiệu hàng hoá của một số doanh nghiệp Việt Nam khác đang bị sử dụng trái phép trong thị trường khu vực Việc nhại nhãn hiệu hàng hoá kiểu La Vie và La Vile, SUPERMAXILITEX và SUPERMAXILITE là những loại vi phạm khá phổ biến đối với quyền sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp Thực tế này chứng tỏ nhãn hiệu hàng hoá đang trở thành công cụ của cạnh tranh lành mạnh lẫn cạnh tranh không lành mạnh
và nó cũng dẫn đến hệ quả tất yếu là pháp luật nước ta đã phải chú trọng hơn tới việc bảo hộ có hiệu quả nhãn hiệu hàng hoá Sự
ra đời Bộ luật dân sự (BLDS) và các văn bản quy phạm pháp luật khác với các quy định khá cụ thể về nhãn hiệu hàng hoá là minh chứng khá đầy đủ cho tầm quan trọng của vấn đề đang nêu ở đây Bản thân các doanh nghiệp cũng đang tìm mọi cách để bảo hộ
S
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nhãn hiệu hàng hoá của mình Số liệu của
Phòng đăng kí nhãn hiệu hàng hoá Cục sở
hữu công nghiệp cho thấy số lượng các
doanh nghiệp đăng kí nhãn hiệu hàng hoá
của mình để được bảo hộ tăng mạnh trong
những năm gần đây Năm 2001 số lượng các
nhãn hiệu hàng hoá được nộp đơn bảo hộ
quốc gia là 6345, năm 2002 là 8800 và 11
tháng của năm 2003 là 11082.(1) Các phương
tiện thông tin đại chúng cũng đã vào cuộc
với những bài viết sôi động về vấn đề nhãn
hiệu hàng hoá Tuy nhiên, cũng chính từ
trong sự sôi động về bảo hộ nhãn hiệu hàng
hoá nảy sinh những thuật ngữ mới, những
cách giải thích mới khá mâu thuẫn về nhãn
hiệu hàng hoá Trong phạm vi bài này, tác
giả đề cập các khái niệm “thương hiệu”,
“nhãn hiệu hàng hoá” và “tên thương mại”
1 Nội hàm của khái niệm nhãn hiệu
hàng hoá, tên thương mại và thương hiệu
Trong nhiều bài viết cũng như trong một
số báo cáo khoa học, thuật ngữ “thương
hiệu” được dùng khá phổ biến Vậy thương
hiệu là gì? Thương hiệu và nhãn hiệu hàng
hoá có phải là một hay là hai phạm trù khác
nhau? Nếu là một thì thuật ngữ nào cần được
sử dụng? Nếu là hai phạm trù khác nhau thì
sự khác biệt giữa chúng là gì? Câu trả lời
cho những vấn đề nêu trên không đơn thuần
mang tính học thuật về ngôn ngữ mà chủ yếu
là mang tính pháp lí Việc làm rõ những khái
niệm này không chỉ ảnh hưởng đến nhận
thức của công chúng, của doanh nghiệp về
vấn đề nhãn hiệu hàng hoá mà cả về vấn đề
giới hạn bảo hộ của pháp luật về sở hữu trí
tuệ, sự tương thích của pháp luật Việt Nam
với pháp luật quốc tế, nhất là với các quy
định của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về sở hữu trí tuệ Để xác định rõ nội hàm của khái niệm thương hiệu, trước tiên chúng ta thử xác định nó được hiểu như thế nào trên các phương tiện thông tin đại chúng
và trong các công trình nghiên cứu khoa học
Trong bài “Xây dựng thương hiệu quốc gia” đăng trên báo Pháp luật, tác giả Khắc
Hợp nhấn mạnh cần phải xây dựng và phát triển thương hiệu.(2) Song thế nào là thương hiệu quốc gia thì chưa được đề cập Tác giả
bài “Đi tìm một thương hiệu Việt Nam” còn
đi xa hơn nữa là phải có một thương hiệu
quốc gia Có tác giả coi “nhãn hiệu hàng hoá
là hình ảnh hữu hình của công ti, còn tên tuổi, uy tín của công ti là hình ảnh vô hình” Trong bài “Phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam” đăng trên Báo pháp luật số 283
ngày 26/11/2003 có một số giải thích, bình luận về thương hiệu Tuy có phần thiên về sử dụng khái niệm thương hiệu song các tác giả của những bài viết nêu trên không xác định
rõ thế nào là thương hiệu và ở mức độ nhất định đã đồng nhất thương hiệu với nhãn hiệu hàng hoá Ngược lại với những quan điểm đồng nhất thương hiệu với nhãn hiệu hàng hoá là những quan điểm phân biệt nhãn hiệu hàng hoá với thương hiệu Trong bài "Nhãn hiệu hàng hoá và thương hiệu", tác giả Nguyễn Thị Khế cho rằng đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về bản chất Thương hiệu là tên thương gia, còn nhãn hiệu hàng hoá là là dấu hiệu phân biệt hàng hoá của một nhà sản xuất này với nhà sản xuất khác.(3) Sự cần thiết phải xác định rõ nội dung khái niệm thương hiệu đã được đề cập trong một bình luận ngắn trên báo Pháp
Trang 3luật số ra gần đây Tác giả hoàn toàn đúng
khi nêu vấn đề này.(4) Khái niệm nhãn hiệu
hàng hoá được chính thức ghi nhận trong
pháp luật dân sự và thương mại của nước ta,
Điều 785 BLDS đã nêu rõ khái niệm này.(5)
Tiếp đó, trong Nghị định số 63/CP ngày
24/10/1996 của Chính phủ quy định chi tiết
về sở hữu công nghiệp, Nghị định số
06/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 63/CP
ngày 24/10/1996 đã quy định cụ thể nhiều
vấn đề về nhãn hiệu hàng hoá So với pháp
luật một số quốc gia khác và so với Hiệp
định TRIP thì khái niệm nhãn hiệu hàng hoá
được quy định trong pháp luật hiện hành cơ
bản là tương thích Chẳng hạn, khoản 1 Điều
15 TRIP định nghĩa về nhãn hiệu hàng hoá
như sau: "Bất cứ dấu hiệu nào hay sự tổng
hợp các dấu hiệu có khả năng phân biệt
hàng hóa hay dịch vụ của một bên cam kết
với hàng hoá và dịch vụ của một bên cam kết
khác đều có thể trở thành nhãn hiệu hàng
hoá Những dấu hiệu này, kể cả chữ viết bao
gồm tên người, chữ cái, số, các hoạ tiết hay
tổ hợp các màu sắc hay tổ hợp toàn bộ các
dấu hiệu như vậy có thể được đăng kí như là
nhãn hiệu hàng hoá" Luật về nhãn hiệu
hàng hóa của Malaixia năm 1976 (Trade
Mark Act 1976) có các quy định tương tự về
nhãn hiệu hàng hoá Bên cạnh đó, đạo luật
này còn quy định thêm rằng nhãn hiệu hàng
hoá bao gồm cả dấu hiệu được dùng hoặc có
ý định dùng trong quá trình giao dịch nhằm
xác định mối quan hệ giữa hàng hoá, dịch vụ
với người có quyền sử dụng dấu hiệu này
với tư cách là chủ doanh nghiệp hay với tư
cách là người có quyền cho dù trên dấu hiệu
đó có thể chỉ rõ hoặc không chỉ rõ tên người
đó.(6) Pháp luật Hoa Kì định nghĩa nhãn hiệu hàng hoá là bất cứ từ, tên, biểu tượng hay công cụ nào hoặc sự liên kết của chúng được nhà sản xuất hay thương nhân chấp nhận và
sử dụng nhằm xác định hàng hoá của mình
và phân biệt chúng với những hàng hoá được sản xuất hoặc mua bán trên thị trường.(7) Như vậy, xét về nội hàm thì nhãn hiệu hàng hoá là dấu hiệu để phân biệt hàng hoá và dịch vụ của một nhà sản xuất này với hàng hoá, dịch vụ của nhà sản xuất khác Nhãn hiệu hàng hoá vì vậy chỉ thuộc về doanh nhân chứ không thuộc về các cơ quan công quyền và không thể thuộc về quốc gia bởi quốc gia không phải là thương nhân Vì mục đích của nhãn hiệu hàng hoá là để cá biệt hoá hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau nên yêu cầu của nhãn hiệu hàng hoá là không được trùng hoặc gây nhầm lẫn Nhãn hiệu hàng hoá thực hiện chức năng chính là phân biệt hàng hoá, dịch
vụ song đó không phải là chức năng duy nhất của nó Nhãn hiệu hàng hoá còn có một
số tác dụng quan trọng khác mà trước tiên cần kể đến vai trò của nó đối với việc quảng cáo Quảng cáo được thực hiện chủ yếu thông qua nhãn hiệu hàng hoá Một tác dụng khác của nhãn hiệu hàng hoá là vai trò trong việc xác định chất lượng hàng hoá Khi chúng ta mua một sản phẩm, chẳng hạn mì ăn liền mang nhãn hiệu Miliket thì chúng ta có quyền được giả định rằng tất cả các gói mì ăn liền mang nhãn hiệu này có chất lượng tương tự Điều này đồng nghĩa với việc nhãn hiệu hàng hoá có tác dụng bảo vệ người tiêu dùng
và xác định trách nhiệm của người sản xuất
Trang 4ra hàng hoá mang nhãn hiệu đó Khái quát
lại thì nhãn hiệu hàng hoá là biểu tượng xác
định tính cá biệt của hàng hoá, dịch vụ.(8)
Thương hiệu là khái niệm được sử dụng
rộng rãi mới đây Xét từ khía cạnh ngôn ngữ
thì khái niệm thương hiệu dễ được chấp
nhận vì nó tạo ra cảm giác chuẩn mực về
ngữ nghĩa "Thương" có nghĩa là thương mại
và "hiệu" có nghĩa là dấu hiệu Xuất phát từ
cảm nhận ngôn ngữ này, công chúng rất dễ
chấp nhận khái niệm này thay khái niệm
nhãn hiệu hàng hoá Hơn nữa, phải thấy rằng
khái niệm thương hiệu đã được dùng khá
phổ biến trong các văn bản pháp luật của các
chế độ trước đây Tuy nhiên, khác với cách
hiểu của nhiều người hiện nay, khái niệm
thương hiệu được hiểu như là tên của doanh
nghiệp Tìm hiểu kĩ ngữ nghĩa của thuật ngữ
"thương hiệu" chúng ta sẽ thấy dùng nó thay
cho thuật ngữ “tên thương mại” có thể chấp
nhận được "Hiệu" trong trường hợp này là
tên và giải nghĩa đầy đủ khái niệm thương
hiệu là tên của doanh nghiệp Tuy nhiên,
nếu dùng khái niệm “thương hiệu” để thay
cho “nhãn hiệu hàng hoá” thì hoàn toàn
không chấp nhận được về mặt pháp lí
Chúng ta sẽ bàn kĩ hơn ở phần sau
Như nêu ở trên, trong hệ thống pháp luật
của nước ta đã có khái niệm tên thương mại
Nó được quy định trong các văn bản pháp
luật hiện hành, kể cả trong BLDS Theo quy
định tại Điều 14 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP
ngày 3/10/2000 thì tên thương mại là tên gọi
của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động
kinh doanh Tên thương mại phải đáp ứng
đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo
chữ số, phát âm được;
- Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh Tên thương mại có thể bao gồm thành phần mô tả (mô tả loại hình tổ chức hoặc hình thức tồn tại của chủ thể kinh doanh, mô
tả lĩnh vực kinh doanh hoặc mô tả xuất xứ địa lí, chỉ dẫn địa lí) và các thành phần riêng biệt thể hiện tên riêng của cá nhân kinh doanh hoặc của doanh nghiệp Cũng giống như nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại có tác dụng phân biệt (hay cá biệt hoá) các nhà doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm và dịch vụ nên yêu cầu cơ bản nhất của tên thương mại cũng
là không trùng lặp và không gây nhầm lẫn Trong BLDS, Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp nhà nước đều có các yêu cầu này đối với việc đăng kí tên thương mại Tên thương mại có những đặc điểm đáng lưu ý sau:
- Tên thương mại được sử dụng với chức năng cá thể hóa chủ thể kinh doanh và uy tín của nó Khi kinh doanh trên thị trường, bất
cứ cá nhân hay doanh nghiệp nào cũng phải
sử dụng tên thương mại Doanh nghiệp chỉ
có một tên thương mại duy nhất song có thể sản xuất nhiều sản phẩm mang những nhãn hiệu hàng hoá khác nhau
- Về hình thức thể hiện, tên thương mại
có những đòi hỏi riêng Tên thương mại chỉ gồm các kí tự có thể phát âm được Ví dụ tên thương mại viết tắt là IBM của công ti thiết bị văn phòng gồm các kí tự giúp chúng
ta nhận biết và đọc được Sự thể hiện các kí
tự này bằng màu sắc đỏ, xanh hay trắng
Trang 5không có ý nghĩa lắm với việc xác định tên
thương mại
- Tên thương mại của doanh nghiệp là
duy nhất còn nhãn hiệu hàng hoá của doanh
nghiệp có thể nhiều Nhãn hiệu hàng hoá
thường được thể hiện để tạo ra sự nhận biết
qua quan sát, còn tên thương mại được thể
hiện để tạo ra sự nhận biết qua nghe nói
2 Những vấn đề pháp lí nảy sinh từ
khái niệm thương hiệu
Tại sao có sự khác nhau trong việc tiếp
cận một đối tượng quan trọng của sở hữu
công nghiệp là nhãn hiệu hàng hoá như vậy?
Nội hàm của khái niệm thương hiệu và nhãn
hiệu hàng hoá là gì? Liệu có vấn đề pháp lí
nảy sinh từ cách tiếp cận khác nhau về thương
hiệu và nhãn hiệu hàng hoá không? Nên sử
dụng phạm trù nào trong các văn bản chính
thức Tất cả những vấn đề nêu trên đều có ý
nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của
pháp luật về sở hữu công nghiệp nói riêng và
pháp luật dân sự và thương mại nói chung
Việc sử dụng đúng thuật ngữ pháp lí, xác
định đúng nội hàm và chức năng của nó có ý
nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của pháp
luật Điều này còn ảnh hưởng sâu đến nhận
thức của công chúng đối với các quy phạm
pháp luật và từ đó đến việc thực hiện pháp
luật Đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp
vốn đang rất nhạy cảm và thường xuyên có
những vi phạm thì việc sử dụng chính xác
khái niệm liên quan có ý nghĩa quan trọng
Hiện tại, như đã nêu, các phương tiện thông
tin đại chúng sử dụng thuật ngữ thương hiệu
một cách phổ biến và như là một trào lưu
Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này chưa
được giải thích rõ Đáng ngại hơn là trong
các văn bản pháp luật hiện hành, thuật ngữ này chưa được sử dụng Nhiều nhà khoa học pháp lí đã chỉ ra những mặt trái của việc sử dụng thuật ngữ này trong bối cảnh hiện nay.(9) Theo tôi, việc sử dụng khái niệm thương hiệu sẽ dẫn đến một số vấn đề pháp lí sau đây:
Thứ nhất, các doanh nghiệp sẽ lúng túng
trong việc nộp đơn bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá hay tên thương hiệu Nhiều doanh nghiệp không biết mình sẽ phải đăng kí
“thương hiệu” hay "nhãn hiệu" hàng hoá Sự thiếu chắc chắn trong việc xác định bản chất của đối tượng cần đăng kí cản trở doanh nghiệp thực hiện việc đăng kí bảo hộ Mặt khác, các doanh nghiệp từ lâu đã quen với khái niệm nhãn hiệu hàng hoá, nay phải tiếp cận khái niệm thương hiệu mà không rõ nó
là cái gì và có được pháp luật bảo hộ không khiến họ lúng túng
Thứ hai, khái niệm thương hiệu chưa
được ghi nhận trong pháp luật hiện hành Vì thế, sự xuất hiện phổ biến của nó trên các phương tiện thông tin đại chúng đã tạo ra sự bất tương thích giữa pháp luật hiện hành với nhận thức của công chúng đang bị chi phối bởi khái niệm thương hiệu Mốt sử dụng khái niệm "thương hiệu" thực tế này đã và đang cản trở việc thực hiện pháp luật về sở hữu trí tuệ
Thứ ba, trong các quy định của pháp luật
của các nước và pháp luật thương mại quốc
tế, tồn tại phạm trù pháp lí tên thương mại (trade name) và nhãn hiệu hàng hoá (trade mark) Những đăng kí xin bảo hộ đối với tên thương mại và nhãn hiệu hàng hoá chắc chắn
sẽ được thực hiện theo quy định của pháp
Trang 6luật hiện hành về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
và tên thương mại nếu như trong đơn đăng kí
ghi rõ và chính xác hai phạm trù này Ngược
lại, nếu như trong đơn, do chịu ảnh hưởng
của cách sử dụng hiện nay mà ghi là “thương
hiệu” thì việc xác định đó là nhãn hiệu hàng
hoá hay là tên thương mại sẽ là vấn đề phức
tạp Trong thực tiễn tranh chấp về nhãn hiệu
hàng hoá và tên thương mại, toà án nhiều
nước đã buộc phải xác định đối tượng đăng
kí bảo hộ là tên thương mại hay nhãn hiệu
hàng hoá ngay cả khi trong đơn bảo hộ đã
ghi rõ Với phạm trù chưa được xác định đầy
đủ, khái niệm “thương hiệu” sẽ tạo ra nhiều
phức tạp mới
Thứ tư, bản thân sự thiếu rõ ràng trong
nội hàm của khái niệm thương hiệu dẫn đến
sự mâu thuẫn trong các trao đổi khoa học
không chỉ trong phạm vi các hội thảo và toạ
đàm mà ngay cả trên các phương tiện đại
chúng, tạo ra tình trạng mỗi người hiểu một
kiểu Trong phỏng vấn của phóng viên Báo
pháp luật về tình trạng các thương hiệu Việt
Nam bị lấy cắp, phó cục trưởng Cục sở hữu
trí tuệ chỉ nói về nhãn hiệu hàng hoá chứ
không đề cập thương hiệu Rõ ràng có sự bất
tương thích giữa các khái niệm thương hiệu
và nhãn hiệu hàng hoá.(10) Trong bài “Điện
thoại di động thương hiệu Việt Nam” tác giả
Thế Gia cũng đồng nhất thương hiệu với
nhãn hiệu hàng hoá mặc dù cố đi tìm một
khái niệm mới là thương hiệu.(11)
Thứ năm, nếu không làm rõ được nội
hàm khái niệm thương hiệu thì rõ ràng chúng
ta phải đối mặt với một thực tế sau: Pháp
luật của chúng ta bỏ qua thương hiệu với tư
cách là đối tượng bảo hộ của pháp luật về sở hữu trí tuệ vì trong các văn bản hiện hành không liệt kê thương hiệu trong lúc hàng chục nghìn doanh nghiệp đang nghe và đang nói về thương hiệu Việc sử dụng khái niệm thương hiệu như hiện nay tạo ra sự cách biệt giữa pháp luật với thực tiễn cuộc sống
3 Tên thương mại hay thương hiệu? thương hiệu hay nhãn hiệu hàng hoá?
Tên thương mại và nhãn hiệu hàng hoá như nêu ở trên là những khái niệm khác nhau mặc dù trong nhiều trường hợp chúng
có thể được đồng nhất Nhiều doanh nghiệp
sử dụng tên thương mại làm nhãn hiệu hàng hoá Hơn nữa, pháp luật của các nước đều bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại theo trình tự và tiêu chí giống nhau Chính điều này đã gây ra nhiều sự hiểu biết thiếu chính xác về tên thương mại và nhãn hiệu hàng hoá Trong lúc pháp luật hiện hành của chúng ta đã chính thức quy định nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại như hai đối tượng riêng biệt của sở hữu công nghiệp thì sự xuất hiện khái niệm thương hiệu cũng góp phần làm phức tạp vấn đề về bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá Để có thể tránh những vấn đề pháp lí không cần thiết thì phải
có cách tiếp cận sau đây đối với khái niệm thương hiệu
Thứ nhất, cần xác định chính xác nội
hàm của khái niệm thương hiệu, dùng đúng trong những văn cảnh không chính thức và không thể dùng nó để thay thế các khái niệm được BLDS và các văn bản pháp luật hiện hành sử dụng Bất cứ sự thay thế nào như vậy cũng đều sai pháp luật và tạo ra những
Trang 7phức tạp pháp lí không cần thiết
Thứ hai, thương hiệu nếu muốn sử dụng
thì chỉ có thể sử dụng với nội hàm của khái
niệm tên thương mại được quy định trong
BLDS, Luật thương mại và các văn bản pháp
luật hiện hành khác Doanh nghiệp sử dụng
tên thương mại trong hoạt động giao dịch
của mình Doanh nghiệp với tư cách là một
chủ thể pháp luật và đương nhiên phải có tên
để khẳng định tư cách và uy tín của mình
Chữ tín trong thương trường bao giờ cũng
gắn với thương hiệu Như vậy, nếu như
chúng ta muốn quay lại với thuật ngữ đã
được sử dụng trong hệ thống pháp luật trước
đây thì cần chính thức quy định nó trong
pháp luật để thay thế cho tên thương mại
Nếu thương hiệu thực sự là một đối tượng
mới của sở hữu công nghiệp như kiểu con
chíp, giống cây trồng v.v thì phải bổ sung
vào các văn bản pháp luật Nếu thương hiệu
thực chất chỉ là tên thương mại hay nhãn
hiệu hàng hoá thì cần phải sửa đổi các văn
bản pháp luật Tránh tình trạng mỗi người
hiểu thương hiệu theo một cách, khi thì đồng
nhất nó với nhãn hiệu hàng hoá, khi thì với
tên thương mại
Thứ ba, trong lúc chưa xác định được nội
hàm thực sự của thương hiệu và chưa chính
thức quy định nó trong văn bản pháp luật thì
tuyệt đối không thể dùng khái niệm thương
hiệu thay thế cho các phạm trù pháp lí là
nhãn hiệu hàng hoá và tên thương mại đã
định hình vững chắc trong hệ thống pháp
luật Việc sử dụng sự thay thế này không thể
chấp nhận từ góc độ pháp luật Tác giả các
bài viết hay các nhà khoa học khi muốn sử
dụng khái niệm thương hiệu trong bài viết này thì cần chỉ rõ mình đang muốn nói về nhãn hiệu hàng hoá hay tên thương mại Sẽ không có vấn đề lớn nếu như tác giả khi nói
về thương hiệu như là nhãn hiệu hàng hoá thì cần chỉ rõ ý định đó bằng cách mở ngoặc
để giải thích: Thương hiệu (nhãn hiệu hàng hoá) hoặc thương hiệu (tên thương mại) Song nếu sử dụng lấp lửng thì sẽ là vấn nạn của áp dụng pháp luật về sở hữu trí tuệ
Thứ tư, do khái niệm nhãn hiệu hàng hoá
đã được sử dụng chính thức và rất dễ hiểu về mặt ngôn ngữ tiếng Việt nên không nhất thiết phải từ bỏ khái niệm này Nếu các nhà lập pháp, các chuyên gia pháp lí hiện nay thiên về khái niệm thương hiệu thì hãy dùng
nó thay thế cho khái niệm tên thương mại Tuy nhiên, như nêu ở trên, trước khi có sự thay thế chính thức trong văn bản pháp luật thì cần phải thận trọng khi dùng khái niệm này trong các văn kiện chính thức cũng như các phương tiện thông tin đại chúng./
(1) Số liệu của của Phòng đăng kí nhãn hiệu hàng hoá Cục sở hữu trí tuệ
(2).Xem: Báo pháp luật, số Chuyên đề tháng 7/2003, tr 5 (3).Xem: ThS Nguyễn Thị Khế, Tạp chí luật học, số 5/2003, tr 38
(4).Xem: Báo pháp luật, số Chuyên đề tháng 7/2003, tr 7 (5).Xem: Điều 785 BLDS
(6).Xem: Introduction to law in Malaysia, Sweet and Maxwell, 2001, tr 182
(7).Xem: Lanham Act § 45, 15 U.S.C.S § 1127 (8).Xem: Vũ Thị Hải Yến, Tạp chí luật học, số 3/2003, tr 88 (9).Xem: Báo pháp luật, số Chuyên đề tháng 7/2003 (10).Xem: Báo pháp luật, số Chuyên đề tháng 7/2003, tr 4 (11).Xem: Báo nhân dân, số ra ngày 1/12/2003, tr.2