1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo kỹ thuật chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an

66 327 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-Giải pháp Việc giới thiệu các kỹ thuật mới, việc tăng cường triển khai trồng các giống cỏ mới ở các vị trí đất chưa được sử dụng hết, và việc áp dụng kỹ thuật ủ chua đem lại cho nông d

Trang 1

Bộ NN và PTNT

VIE 10/06

Chương trình Khuyến nông và Đào tạo

Phát triển Chăn nuôi bò thịt

quy mô xã bền vững tỉnh Nghệ An

Báo cáo Kỹ thuật Dự án

Tháng Ba 2010

Trang 2

Mục Lục

Đội ngũ dự án 4 

Đội ngũ chuyên gia chính của dự án 4 

Cố vấn hỗ trợ 4 

PHẦN 1: GIỚI THIỆU 5 

PHẦN 2: NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG PHÁT TRIỂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT Ở NGHĨA ĐÀN 8 

Giới thiệu 8 

Tổng kết các tiến bộ kỹ thuật cơ bản 14 

PHẦN 3: CÁC HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG 15 

Tổng quát 15 

Tập huấn viên của tập huấn viên: 16 

Những năng lực chính được chuyển tới các tập huấn viên: 17 

Tập huấn viên của nông dân: 17 

Tập huấn nông dân: 19 

Các bài học chính từ các nông dân nong cốt 23 

Ảnh hưởng của các phương pháp tập huấn khác nhau 24 

Khuyến nông ngoài phạm vi dự án 24 

Kết quả đào tạo: 24 

Kết luận: 25 

PHẦN 4: ĐỒNG CỎ VÀ THỨC ĂN: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ26  Trang trại 26 

Cung cấp thức ăn theo mùa 26 

Cỏ cải tiến 2007 26 

Cỏ họ đậu và sự lựa chọn 28 

Phụ phẩm cây trồng 29 

Chất lượng thức ăn 29 

Cơ hội và giải pháp tương lai (2007) 30 

Trồng xen 30 

Ngô và kê (sorghum) 30 

Phế phụ phẩm cây trồng 30 

Ủ chua 31 

Bổ sung Urea 31 

Giải pháp dự trữ ủ chua cho nông dân 32 

Rau diếp dại 33 

KẾT LUẬN 37 

PHẦN 5: QUẢN LÝ TĂNG TRỌNG 41 

Chương trình lưu trữ – Hệ thống 42 

Phân tích dữ liệu khối lượng bò (LWT) 42 

Kết luận 43 

PHẦN 7: QŨY THỨC ĂN VÀ QUẢN LÝ CÁC NGUỒN THỨC ĂN CHO NÔNG DÂN CHĂN NUÔI BÒ THỊT THÂM CANH QUY MÔ NHỎ 44 

Những thay đổi về mức độ dinh dưỡng 2000 - 2008 46 

PHẦN 8: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CHĂN NUÔI BÒ THỊT 48 

Giới thiệu: 48 

Khả năng tăng cường sản xuất và nâng cao lợi nhuận 53 

Trang 3

Hiệu quả của chương trình cải tiến gen 60  PHẦN 10: PHÁT TRIỂN KỸ THUẬT Ủ CỎ QUY MÔ NHỎ CHO NÔNG DÂN NUÔI BÒ THÂM CANH 63  Giới thiệu 63 

Cơ hội phát triển ngành chăn nuôi bò thịt và nâng cao mức độ dinh dưỡng thông qua việc ủ chua phụ phẩm 64 

Kỹ thuật ủ chua 65 

Chữ viết tắt

ADG

AI Tăng trọng hang ngày bình quân Thụ tinh nhân tạo (TTNT)

LWT Khối lượng cơ thể sống

ME Năng lượng trao đổi

Trang 4

Đội ngũ dự án

Đội ngũ chuyên gia chính của dự án

Ông Tim Harvey

Chuyên gia chăn nuôi, hệ thống nông nghiệp và phát triển nông thôn

Giám đốc dự án

Trường Đại học Massey, Palmerston North, New Zealand

Email: T.G.Harvey@massey.ac.nz

Dr Phil Rolston

Chuyên gia đồng cỏ và phát triển nông thôn

Viện nghiên cứu nông nghiệp, Lincoln, Canterbury, New Zealand

Email: phil.rolston@agresearch.co.nz

Dr Michael Hare

Chuyên gia đồng cỏ nhiệt đới

Khoa Nông học, Trường Đại học Ubon Ratchathani, Warin Chamrab, Ubon Ratchathani, THAILAND 34190

Email: michaelhareubon@hotmail.com

Ông Nguyễn Quốc Toản

Chuyên gia chăn nuôi và đồng cỏ nhiệt đới

Điều phối viên dự án

Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì

Ba Vì

Hà Nội

Email : ngquoctoan1963@gmail.com; nqtoan@thmilk.vn

Cố vấn hỗ trợ

Ông Martin Chesterfield

Quản lý Trang trại bò thịt

Đại học Massey, Palmerston North, New Zealand

Email: M.Chesterfield@massey.ac.nz

Bà Averill Harvey

Chuyên gia đào tạo và lưu trữ dữ liệu nông nghiệp

Cty TNHH Prosmart Solutions Ltd

Nguyễn Đức Lưu Phạm Văn Lương

Ngô Trọng Tứ Lê Văn Hà

Trang 5

Phần 1: Giới thiệu

Tóm tắt

Kế hoạch phát triển bò thịt tới năm 2010 (Số 1155/QD-UB) của UBND tỉnh Nghệ An bắt đầu được thực hiện vào tháng Năm 2003 Kế hoạch nhằm mục tiêu nâng cao sản lượng bò thịt thông qua việc sử dụng kỹ thuật lai giống dùng các giống bò thịt mới và cải thiện thu nhập cho nông dân Ngành chăn nuôi bò thịt theo truyền thống của Việt Nam dựa trên cơ sở các trang trại nông hộ quy mô nhỏ, chăn thả ở những vùng đất còn chưa được khai thác; phương thức chăn nuôi này không bền vững Dự

án này triển khai một phương pháp chăn nuôi bò thịt quy mô xã có hiệu quả, bền vững để tăng cường khả năng cung cấp thịt bò lâu dài và nâng cao thu nhập Dự án này thực hiện và đánh giá hệ thống chăn nuôi bò thịt cấp xã trong vùng Nghệ An và tại 3 xã có mức thu nhập gia đình thấp dưới mức trung bình (Nghĩa Lâm, Nghĩa Yên,

và Nghĩa Sơn)

Địa điểm

Tỉnh Nghệ An ở bắc Trung bộ Việt Nam (cách xa Hà Nội 300 km về phía nam) là một trong những tỉnh nghèo của Việt Nam Ba xã tham gia dự án nằm bao quanh Công ty Rau Quả 19/5 Nghệ An đóng trên huyện Nghĩa Đàn ở vĩ độ 19o2’ Bắc; kinh

độ 105o4’ Đông (khoảng 300 km phía nam Hà Nội)

Trang 6

Khí hậu

Có 4 mùa trong vùng, mặc dù mùa đông (tháng 10, 11 và 12) không lạnh lắm và không có sương muối Thường xuyên có lũ lụt và bão trong vùng Lượng mưa hàng năm ở vùng dự án là 1565 mm Phân bố mưa hang tháng tương tự Hà Nội với

lượng mưa cao trong các tháng 5 tới tháng 9 Nhiệt đọ cũng đạt đỉnh trong giai đoạn này dao động từ 31 tới 33oC nhưng đôi khi cao tới 41 C (Bảng 1)

Khô hạn cũng là một vấn đề; các giai đoạn cuối đông đầu xuân (tháng 12-tháng 3) hay cuối thu đầu đông (Tháng 10-tháng 11) là các giai đoạn rất khô hạn Giai đoạn chuyển tiếp đông/xuân lạnh và khô đặc trưng thường là giai đoạn thiếu thức ăn nhưng cũng có thể thích hợp cho một số giống cây ôn đới như hỗn hợp yến

mạch/đậu tằm

Bảng 1 Dữ liệu khí hậu hàng năm ở Nghệ An

Lượng nước bốc hơi (hang năm) 698 mm

Nhiệt độ tối đa (Tháng Năm) 41.6 oC

Nhiệt độ tối thiểu (Tháng 12) 0.2 oC

Sự phát triển này càng làm rõ them sự cần thiết phải tiếp tục dự án cùng với sự tư vấn và hỗ trợ các hộ gia đình chăn nuôi quy mô nhỏ trong vùng dự án

Trang 7

Dự án

Dự án bắt đầu vào tháng 3 năm 2007 với chuyến công tác đầu tiên tới vùng dự án

Từ năm 2008 đến 2010, 8 đợt công tác đã được thực hiện cùng với 6 khóa đào tạo đặc biệt đã được tiến hành ở New Zealand, Thái Lan, Australia và 2 khóa được tổ chức tại Trung tâm NC Bò và Đồng cỏ Ba Vì

Dự án đã giới thiệu nhiều giống cỏ nhiệt đới mới từ Thái Lan về vùng dự án; các giống cỏ này đã chứng tỏ hiệu quả cao trong việc cải thiện mức độ dinh dưỡng và nâng cao khả năng cung cấp nguồn protein cho gia súc Việc áp dụng kỹ thuật ủ cỏ si-lô từ các phụ phẩm để phối trộn dinh dưỡng cũng rất có kết quả, đặc biệt là việc giới thiệu kỹ thuật ủ si-lô bằng lá sắn Cơ sở gen bò thịt trong vùng rất thấp và dự án

đã giới thiệu giống bò Sindhi để cải tiến tiềm năng lâu dài

Việc đào tạo tập huấn viên và nông dân đã được tiến hành tập trung vào vấn đề cân bằng dinh dưỡng và cải thiện chế độ dinh dưỡng, cũng như kỹ thuật ủ cỏ si-lô

và cải tiến nguồn gen

Bò đực lai Sind dung làm con giống

Cải tạo đất không sử dụng với giống cỏ mới

Trang 8

Phần 2: Những khó khăn trong phát triển chăn nuôi bò thịt

ở Nghĩa Đàn

Giới thiệu

Đội ngũ dự án đã phỏng vấn 23 nông dân khi bắt đầu dự án để đánh giá tiềm năng phát triển chăn nuôi bò thịt tại Nghĩa Đàn Đội ngũ đã xác định được 10 khó khăn chính mà nông dân thường gặp Những khó khăn này được liệt kê dưới đây:

Các khó khăn cần phải vượt qua để phát triển chăn nuôi bò thịt

1 Thiếu đất đai

2 Đất chăn thả cộng đồng ngày càng giảm

3 Thiếu tiềm năng gen di truyền

4 Thiếu giống cỏ chất lượng cao

5 Thiếu thức ăn được dự trữ với chất lượng cao qua mùa đông Qua 12 tháng, đội ngũ dự án đã xác định được các khó khăn này đối với sự phát triển và thấy rằng các kỹ thuật tiên tiến có thể giúp nông dân vượt qua phàn lơn các khó khăn này

Quy mô sử dụng đất đai hạn chế

Diện tích đất đai nông dân có và sử dụng dao động từ 2,500m2 – 30,000 m2 Phần lớn đất đai được sử dụng cho trồng trọt, hoa màu hay trồng cỏ Bò được nuôi để làm sức kéo Trâu bò được chăn thả và cho ăn bằng phụ phẩm nông nghiệp ở dạng khô qua những tháng khô hạn mùa đông Số lượng bò nuôi được khống chế bởi số lượng đất có thể chăn thả, nhân công,

sự cung cấp cỏ mùa đông và doanh thu

-Giải pháp

Thông qua sự giới thiệu một số giống cỏ

mới và sự hiểu biết về dinh dưỡng, dự

án đã thấy rằng những nông dân chỉ có

diện tích đất khoảng 3,000 m2 có thể

nuôi hiệu quả 5-6 bò thịt miễn là họ có

thể thu gom được phụ phẩm từ các nông

dân khác Số lượng bò này lớn gấp 2 lần

so với cách nuôi theo truyền thống trong

một hộ gia đình mà không cần đưa bò đi

chăn thả

Sản xuất cỏ chất lượng cao

Trang 9

Diện tích đất chăn thả cộng đồng giảm:

Việc trồng thâm canh mùa màng và sử dụng đất trồng rừng; thanh lập các trang trại chăn nuôi bò sữa quy mô lớn, và việc sử dụng đất đai vào nhiều mục đích khác có ảnh hưởng đáng kể thu hẹp diện tích đất dành cho chăn thả cộng đồng Số lượng các hộ gia đình nông dân được hỗ trợ trong các làng xã ngày càng tăng lên Trước đây, nhiều hộ chăn nuôi theo kiểu truyền thống có thể tự do chăn thả gia súc của họ

ở nhiều vùng đất rộng lớn, ngày nay những vùng đất đó bị thu hẹp và nông dân ngày càng phải dựa vào việc trồng cây thức ăn và thu cắt mang về chăn nuôi gia súc

Trước đây ở mỗi xã có một hợp tác xã với đàn trâu cày khoảng 120 con thường được đưa đi chăn thả ở các bãi đất công Đến năm 2000, các đàn trâu này phải giải tán vì diện tích đất chăn thả bị thu hẹp, đất được sử dụng để trồng rừng và các loại cây hoa màu

-Giải pháp

Việc giới thiệu các kỹ thuật mới, việc

tăng cường triển khai trồng các giống

cỏ mới ở các vị trí đất chưa được sử

dụng hết, và việc áp dụng kỹ thuật ủ

chua đem lại cho nông dân nhiều cơ

hội hơn trong việc khai thác các nguồn

thức ăn cho chăn nuôi

Thiếu tiềm năng gen di truyền ở các giống bò thịt địa phương:

Nhiều yếu tố đã kiểm soát sự sẵn có và sự chọn lọc các con bò giống được nông dân sử dụng Trước đây, yếu tố chính là nông dân chỏ có thể cung cấp cho bò các loại thức ăn có mức độ dinh dưỡng rất thâp, đặc biệt trong mùa đông, có nghĩa là chỉ những gia súc có tầm vóc bé nhỏ mới có thể sống sót qua mùa đông

-Giải pháp

Giờ đây có nhiều giống bò thịt chất

lượng mới được nuôi ở Việt Nam như

Brahman, Droughtmaster, Simmental,

Red Angus và Sindi Tốc độ cải tiến

gen di truyền cần tiến hành song song

với (1), mức độ dinh dưỡng sẵn có (2)

khả năng bò mẹ địa phương tầm vóc

nhỏ đẻ ra bê có khối lượng lớn hơn (3)

bò có khả năng nuôi bê con giống mới

Chương trình cải tạo giống là chương

trình lâu dài Dự án đã giới thiệu bò

đực Red Sindhi trong giai đoạn 1

Bò đực Red Sindhi

Trang 10

Khi bò cái hậu bị lai Red Sindi trưởng thành, sẽ có cơ hội để giới thiệu giống thứ ba

là Droughtmaster hoặc Red Angus Một dự án 3 năm nhỏ bé chỉ có thể bắt đầu một chương trình cải tiến gen và cần phải được hỗ trợ tiếp để đạt được hiệu quả

Thiếu giống cỏ chất lượng cao:

Trước đây, nông dân ít có hiểu biết về cân bằng dinh dưỡng hay nhu cầu cung cấp khẩu phần protein cao và ổn định cho bò Rơm lúa và thân cây ngô khô, bột ngô và thân cây chuối là những thức ăn chủ yếu cho bò trong mùa đông

một cuộc cách mạng cho chăn nuôi ở

các khu vực nhiệt đới Khu vực rộng

lớn nhất có lien quan giờ đây đang

đào tạo nông dân để quản lý đồng cỏ

và tối đa hoá chất lượng và sử dụng

qua mùa mưa và dự trữ thức ăn cho

mùa khô; bao gồm cả sự hiểu biết

rằng tối đa hoá sản lượng không cung

cấp cho gia súc khẩu phần ăn chất

lượng

Giống cỏ mới Thiếu thức ăn dự trữ chất lượng cao cho mùa đông:

Phương pháp dự trữ cỏ và phụ phẩm theo truyền thống trước đây là phơi rơm và bẹ ngô Cỏ khô làm từ các loại cỏ dại là nguồn cỏ dự trữ chính Chất lượng của các loại thức ăn này cực kỳ thấp, cung cấp cho

gia súc chủ yếu là chất xơ chất lượng

thấp

-Giải pháp

Dự án đã giới thiệu kỹ thuật ủ cỏ si-lô

cho nông dân Sự tiếp thu và áp dụng

kỹ thuật này khác nhau; tuy vậy,

những người nông dân giỏi nhất chính

là những người đạt được nhiều lợi ích

Trang 11

¾ Cỏ voi 70% lá sắn 30%

¾ Bẹ ngô xanh 60% lá và ngọn sắn 40%

¾ Ngọn mía 70% lá và ngọn sắn 30%

¾ Cỏ voi thêm phụ gia

Cả 4 công thức đều làm tăng mức độ dinh dưỡng của thức ăn dự trữ tốt hơn so với bất kỳ phương pháp truyền thống nào Các công thức dự trữ thức ăn này cũng làm giảm hàm lượng xơ và tăng lượng thu nhận thức ăn Giá thành của các loại thức ăn này cũng thấp (khoảng 500-600 đồng/kg DM)

¾ Bán 50% bò để đầu tư xây trạm xăng;

¾ Bán 50% bò để tổ chức đám cưới cho con trai;

¾ Bán cả đàn bò để cho con trai mua xe tải chở thuê vì người cha đã yếu;

-Giải pháp

Thông qua đào tạo và nâng cao sự tự tin,

tám trong số 9 nông dân nòng cốt muốn

tiếp tục chăn nuôi bò thịt và tăng đàn

trong tương lai Tất cả đều có lòng tin để

tiếp tục và có sự ủng hộ mạnh mẽ từ

lẫnh đạo các xã

Tiềm năng phát triển thương mại

Trang 12

Thiếu cơ sở hạ tầng khuyến nông:

Huyện Nghĩa Đàn thiếu cán bộ khuyến nông có kinh nghiệm và năng lực về lĩnh vực chăn nuôi Trạm khuyến nông Thái Hòa nằm cách vùng dự án khoảng 20km, tuy vậy, trạm khuyến nông này chỉ có thể phục vụ nông dân thuộc thị xã và chỉ có thể cung cấp được một chút ít sự hỗ trợ cho vùng dự án Có lãnh đạo hội nông dân ở mỗi xã, tuy vậy, họ chỉ tập trung vào lĩnh vực trồng trọt và ít có hiểu biết về chăn nuôi

Lãnh đạo các xã tích cực ủng hộ cho dự án nhưng họ không phải là các cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm về chăn nuôi

-Giải pháp

Hiện nay hoạt động khuyến nông tốt

nhất được các thanh viên trong đội ngũ

dự án và các nông dân nòng cốt của dự

án thực hiện Không có nhiều cán bộ

khuyến nông có thể trở thanh các tập

huấn viên Đây là điểm yếu nhất của dự

án Dự án mới chỉ đào tạo được 4 cán

bộ kỹ thuật nòng cốt làm người tập

huấn kỹ thuật cho nông dân (Ông Toản,

Ông Lý, Ông Dương và Ông Lự)

Nông dân hướng dẫn nông dân

Thiếu thị trường ổn định:

Thị trường bò thịt kém phát triển trong vùng nên tất cả nông dân đều bán bò của họ cho một lò giết mổ gia súc nhỏ ở địa phương hay bán cho thương lái Rất ít bò được nuôi tới khi có khối lượng trưởng thành Phần lớn bò được bán khi khối lượng đạt khoảng 100-180kg Trong vùng dự án, không có người nông dân nào chuyên nuôi

bò vỗ béo và nuôi bò tới khi có khối lượng giết mổ tối đa

-Giải pháp

Có cơ hội chắc chắn để thanh lập các

hợp tác xã để cải thiện hệ thống cung

ứng và tăng thu nhập cho nông dân địa

phương Dự án đang xem xét hệ thống

cung ứng và khả năng thanh lập hợp

tác xã chuyên về chăn nuôi bò thịt

Bê giống mới của dự án

Rủi ro về bệnh tật:

Trang 13

Trong vùng, có rủi ro cao về khả năng xảy ra bệnh lở mồm long móng Việc tiêm phòng vắc xin được các kỹ thuật viên trong huyện thực hiện, tuy vậy, các thôn xóm vùng sâu đôi khi bị bỏ quên điều đó làm bất ổn cho thị trường

-Giải pháp

Đội ngũ dự án chưa đủ kinh nghiệm để

thực hiện các phân tích nhu cầu đầy đủ

về vấn đề rủi ro do bệnh tật, tuy vậy, việc

tăng dinh dưỡng cung cấp cho gia súc sẽ

giúp giảm thiểu rủi ro

Các bệnh khác có thể trở thanh vấn đề

nghiêm trọng được liệt kê như sau:

Bò nuôi trong điều kiện thiếu dinh dưỡng

Trang 14

Tổng kết các tiến bộ kỹ thuật cơ bản

Dự án đã xác định được nhiều kỹ thuật có tiềm năng để tăng cường đáng kể cho việc phát triển chăn nuôi bò thịt ở Nghệ An

Ở trên đất có độ màu mỡ cao, cỏ voi đạt năng suất từ 50-80 tấn DM/ha; Mulatto II từ 25-40 tấn DM/ha; và Paspalum từ 25-40 tấn DM/ha Lượng sinh khối này đủ để nuôi 6-10 bò/ha; trong khi bà con nông dân vẫn có thể tiếp tục vừa canh tác trồng trọt vừa chăn nuôi gia súc

Ở các xã đều có nhiều phụ phẩm từ ngô, mía và sắn; trước đây, các loại phụ phẩm này ít được sử dụng Dự trữ cỏ voi, ngô và lá sắn thông qua việc sử dụng kỹ thuật ủ si-lô có thể được thực hiện ở mọi xã và có thể cải thiện dinh dưỡng cho gia súc vào mùa đông với số lượng bò được nuôi dưỡng tới 100% ở hầu hết các xã

Thông qua việc áp dụng kỹ thuật lai tạo giống và sử dụng các giống bò thịt mới, có thể nâng cao khả năng tăng trọng của bò tới 100% với việc áp dụng chế độ ăn có khẩu phần dinh dưỡng tốt hơn Tình trạng chăn nuôi bò thịt không bền vững diễn ra

ở nhiều nơi trong tỉnh vì diện tích đất chăn thả giảm tới 10-20% hang năm Chăn nuôi bò thịt cần phải ngày càng được chuyên môn hóa hơn và thâm canh để tạo ra lợi nhuận tốt và nâng cao thu nhập gia đình Vùng dự án có khả năng thanh lập các trang trại chuyên nuôi vỗ béo bò thịt quy mô 20-50 bò/trại

Có nhiều yếu tố gây rủi ro và làm chậm tốc độ phát triển của chăn nuôi bò thịt trong vùng Thị trường chậm phát triển cùng với sự bất ổn của giá cả Vì khả năng xảy ra rủi ro do bệnh tật cao nên nhiều nông dân bán bò của họ sớm trước khi chúng đạt được khối lượng trưởng thành Hầu như không có mối liên hệ gì giữa các nhà máy chế biến súc sản ở miền nam với nông dânểtong vùng và giá cả phần lớn do thương lái quyết định

Các dịch vụ và hỗ trợ khuyến nông trong nhiều nơi ở huyện Nghĩa Đàn vẫn còn mỏng và yếu Tuy vậy, ở một số thanh thị có đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ, năng động và có nhiều kinh nghiệm

Trang 15

Phần 3: Các hoạt động khuyến nông

Một yếu điểm của dự án là thiếu cán bộ kỹ thuật (tập huấn viên) để nhân rộng các kỹ thuật của dự án trong phạm vi toàn huyện Việc sử dụng các nông dân nòng cốt, các khu vực trình diễn và các cán bộ kỹ thuật nông dân đã có nhiều hiệu quả nhưng sự kết nối của họ đối với bà con nông dân ở các địa bàn gần đó hoặc ở các xã lân cân

có nhiều hạn chế

Trong số 9 nông dân nòng cốt, ba người đã chứng tỏ rất xuất sắc trong việctiếp thu các kỹ thuật mới, chấp nhận thay đổi và thách thức; bốn người khác chấp nhận và

áp dụng các kỹ thuật mới chậm hơn, một người không tích cực và một người nữa

đã rút lui vì sức khỏe yếu

Công ty 19/5 thiếu hạ tầng cơ sở và các kỹ năng cơ bản để có thể phát triển một trang trại kiểu mẫu Đây là điều đáng thất vọng vì người ta hy vọng rằng Công ty 19/5 sẽ cung cấp cho huyện một trang trại kiểu mẫu lớn cũng như cung cấp gen di truyền của các giống bò mới trong tương lai Công ty đang phát triển một số kỹ năng chăn nuôi gia súc và đã triển khai một đàn bò sữa 34 con trong đó có 16 bò đang vắt sữa; nhưng năm 2010 đã chuyển giao cho Công ty Cổ phần Thực phẩm Sữa TH để phát triển trang trại 6400 bò sữa

Chín người nông dân nòng cốt đã rất tích cực tham gia các khóa đào tạo và tập huấn cho bà con nông dân địa phương, đặc biệt trong các hoạt động của dự án như

sử dụng bò đực dự án cung cấp để phối giống cho bò cái địa phương, phát hiện chính xác bò động dục để phối giống thanh công, trồng và thu hoạch các giống cỏ mới, và áp dụng kỹ thuật ủ cỏ Các hộ nông dân nòng cốt được trang bị máy băm cỏ loại nhỏ, bồn để ủ cỏ, các giống cỏ mới; số tai gắn cho bò của họ, và thước dây để thường xuyên đo và ghi lại để theo dõi khối lượng bò Năm tới sáu nông dân dự án thường xuyên tích cực tham gia và giới thiệu kỹ thuật mà họ nắm bắt và áp dụng được trong các cuộc hội thảo được dự án tổ chức xung quanh huyện Đây là một trong những thanh công nhất của chương trình đào tạo nông dân nòng cốt của dự

án Năm nông dân nòng cốt đã được lựa chọn để tham gia khóa tham quan tập huấn ở Thái Lan vào tháng Tư năm 2008 Đợt tập huấn này rất có hiệu quả trong việc khuyến khích các nông dân nòng cốt và thể hiện cơ hội để phát triển ngành chăn nuôi bò thịt

Nhiều kỹ thuật là hoàn toàn mới trong vùng và việc thử nghiệm các kỹ thuật này là rất quan trọng để đảm bảo rằng chúng thích hợp và có hiệu quả

Trang 16

Khi dự án bắt đầu, cỏ Mullato II và cỏ

Paspalum Ubon chưa bao giờ được trồng ở

Việt Nam Việc trồng cỏ voi và cỏ ruzi lúc đó

mới chỉ bắt đầu Ủ cỏ si-lô chưa bao giờ được

làm ở 3 xã dự án Việc lai tạo giống là kỹ thuật

mới và nông dân hầu như chưa có hiểu biết gì

về cân bằng dinh dưỡng

Hiện nay, thông qua các nông dân dự án, Dự

án đang tiến hành các thử nghiệm thể hiện

tính hiệu quả của các công việc mà một số

nông dân nòng cốt triển khai như các việc ủ

cỏ bằng phụ phẩm nông nghiệp, trồng các

giống cỏ mới, lai tạo giống và nâng cao khả năng tăng trọng cho bò Những thử nghiệm này gần đây đang được chấp nhận và thực hiện phổ biến Đối với nhiều nông dân, các giống cỏ mới, cỏ voi lai (VA06) và ngô trồng làm thức ăn xanh cho gia súc là nguồn cung cấp thức ăn cho bò tốt nhất trong tất cả các mùa mà họ có thể trồng được, không cần áp dụng kỹ thuật ủ cỏ

Tập huấn viên của tập huấn viên:

Dự án đã đào tạo được ba tập huấn viên nòng cốt Tập huấn viên chính là ông Toản; một cán bộ cốt cán của BCFRC, có trình độ cao và nhiều kinh nghiệm để đảm nhận

vị trí của mình Ông Toản đã biên soạn các tài liệu tập huấn trên cơ sở kiến thức và kinh nghiệm của mình Kiến thức ddược ông Toản phát triển đã trở thanh kinh nghiệm với các giống cỏ mới cũng như cung cấp tài liệu tập huấn cho cả cán bộ kỹ thuật và nông dân trong chăn nuôi bò sữa, bò thịt và quản lý chăn nuôi nói chung Ông Toản cũng đã cố gắng chọn lọc và chuyển giao bò đực giống tới các xã và đã làm việc sâu sát với các nông dân nòng cốt, phân chia hạt giống cỏ tới các hộ nông dân trong và ngoài dự án, phân phối cây cỏ giống để tròng nhân giống tới hai xã không thuộc dự án (Nghĩa Hiếu và Nghĩa Trung) Ông Toản cũng có trách nhiệm trong việc bố trí các khóa đào tạo tại Ba Vì

Ông Lý là chuyên viên khuyến nông chính của huyện Nghĩa Đàn Ông Lý có cơ sở khuyến nông nằm ở Thị xã Thái Hòa ( cách xa các xã dự án 20 km) và có đội ngũ cán bộ kỹ thuật bao gồm 6 người chịu trách nhiệm trong mọi lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, có 2 cán bộ chuyên về khuyến nông chăn nuôi gia súc và đồng cỏ trong huyện Ông Lý và đội ngũ cán bộ kỹ thuật của ông đã làm việc chủ yếu với các xã không thuộc dự án, giới thiệu về các kỹ thuật của dự án, các giống cỏ mới được trồng ở 26 trang trại Năm 2009 họ đã tổ chức được 30 cuộc hội thảo tập huấn cho

1060 nông dân mà 1/3 trong số đó tập trung vào lĩnh vực trồng cỏ và chăn nuôi Ông Hòa là một cán bộ kỹ thuật thụ tinh nhân tạo cho bò của BCFRC đã được xếp thứ hai trong dự án trong 6 tháng từ tháng 7/2007 tới tháng Giêng 2008 cung cấp tập huấn về lai tạo giống bò, AI và quản lý đồng cỏ Ông Hòa đã hoạt động có hiệu quả trong 6 tháng sống và làm việc trong vùng dự án

Bảng 1 đã tổng kết số nông dân đã được tập huấn và áp dụng kỹ thuật mới từ các tập huấn viên nòng cốt

Trang 17

Bảng 1 Tập huấn viên nòng cốt (ToT), kỹ thuật, số nông dân được tập huấn và áp

dụng kỹ thuật mới

Người và vùng Kỹ thuật Số nông dân được

tập huấn Số nông dân áp dụng kỹ thuật mới

huấn nuôi bò đực giống

4 người sử dụng tài liệu được cấp phát, ghi lại tài liệu tập huấn và nuôi bò đực giống cho dự án

sau khi tập huấn Hướng dẫn chăn

nuôi

Những năng lực chính được chuyển tới các tập huấn viên:

1 Giới thiệu các phương pháp đào tạo mới, tức là sử dụng PowerPoint, tập huấn

có sự tham gia và sử dụng phương pháp trình diễn thực tế

2 Sử dụng các kỹ thuật tập huấn trình diễn, thử nghiệm ở trang trại và các hội thảo thực tiễn

3 Quản lý điều phối dự án và hệ thống quản lý trang trại

4 Giới thiệu các phương pháp đào tạo cho người trưởng thành

5 Giới thiệu và đánh giá các giống cỏ mới

6 Giới thiệu kỹ thuật ủ cỏ

7 Đào tạo về cân bằng dinh dưỡng và sử dụng phụ phẩm nông nghiệp

8 Tiến hành tập huấn cán bộ kỹ thuật về khái niệm giống gia súc và phương pháp luận

Tập huấn viên của nông dân:

Lãnh đạo hội nông dân ở mỗi xã Họ giúp đưa nông dân đi tập huấn nhưng họ ít

có ảnh hưởng trực tiếp tới việc đào tạo nông dân

Cán bộ kỹ thuật từ Công ty 19/5 Nói chung những cán bộ kỹ thuật này có cùng

mức độ kỹ năng thực tế như nông dân các xã và họ không thể huấn luyện nông dân

Bộ phận chăn nuôi Phòng Nông nghiệp huyện Nghĩa Đàn Ảnh hưởng của họ

mạnh nhất xung quanh phạm vi thị xã Thái Hòa với nông dân chăn nuôi bò không thuộc dự án và đặc biệt đối với nông dân chăn nuôi bò sữa quy mô nhỏ Các kỹ thuật được bà con nông dân thừa nhận và áp dụng bao gồm băm cỏ để làm tăng

Trang 18

lượng thu nhận thức ăn, cho gia súc ăn cỏ nhiều lá, sử dụng các giống cỏ mới được

dự án giới thiệu, ủ cỏ si-lô

Nông dân dạy nông dân

Phương pháp này rất thanh công trong phạm vi dự án, khi mà những nông dân nòng cốt của dự án được nhìn nhận như là những tập huấn viên trong cộng đồng của họ

Ở các cuộc hội thảo chính thức và không chính thức, những nông dân này đã cung cấp việc tập huấn trực tiếp cho các nông dân trong và ngoài các xã dự án Các kỹ thuật được các nông dân nòng cốt áp dụng đã được thảo luận sau đó (xem trang 40)

Số tập huấn viên đã được dự án đào tạo trực tiếp bao gồm:

¾ Cán bộ kỹ thuật của Công ty 19/5 5

¾ Cán bộ kỹ thuật huyện Nghĩa Đàn 21

¾ Các tập huấn viên nông dân 5

Trang 19

Tập huấn nông dân:

Việc tập huấn cho nông dân trong suốt giai đoạn dự án được thực hiện theo 3

phương pháp khác nhau Phương pháp đầu tiên là trợ giúp trực tiếp trong quá trình

tập huấn trình diễn thực tế cho bà con nông dân Việc đào tạo gắn với thực tiễn này

lien quan tới các thanh viên của đội ngũ dự án, sử dụng các trang trại của các nông

dân nòng cốt của dự án làm các địa điểm trình diễn nơi mà các cán bộ kỹ thuật thực

hiện các công việc thực tế như đo vòng ngực tính LWT, ủ cỏ si-lô và trồng cỏ Qua

2 năm của dự án, 20 cuộc tập huấn trình diễn đã được thực hiện Số nông dân tham

gia tập huấn là 131 người, cán bộ kỹ thuật 72 và 152 giờ tập huấn đã được thực

hiện Các cuộc tập huấn này được liệt kê trong bảng 1 Danh sách này không bao

gồm các chuyến đến thăm trang trại bình thường khi mà các thảo luận hay tập huấn

không chính thức được tổ chức Khoảng 50 chuyến đi thăm không chính thức đã

được tổ chức tại nhiều điểm trong và ngoài vùng dự án, bao gồm 3 xã dự án cũng

như nông dân ở Nghĩa Đàn và Ba Vì

Ngày Địa điểm Loại

Người giới thiệu Chủ đề

Số người tham gia

Nông dân

Cán bộ kỹ thuật

Thời gian (giờ)

12/07/07 Cty 19/5 Phil Rolston Trồng cỏ 5 5 4

28/09/07 Nghĩa Yên

Trình diễn

Trình diễn

Tim Harvey Q/lý đồng cỏ 22 16 6 4 12/03/07 Cty 19/5

Harvey/Rolst

on

Dinh dưỡng cho bò thịt/Ủ

20/09/07 Cty 19/5 Michael Hare Quản lý vườn ươm 10 10 4 26/09/07 Cty 19/5

Thực hành

Trang 20

Phương pháp đào tạo thứ hai dựa trên

cơ sở các cuộc hội thảo chính thức

được tổ chức trong vùng dự án Những

cuôc hội thảo này thường được tổ chức

trong môi trường lớp học và thường kéo

dài khoảng 4 giờ Đội ngũ dự án đã giới

thiệu các thông tin kỹ thuật cũng như

tiến hành một số tập huấn về phương

pháp đào tạo, tập huấn cho người

trưởng thành và quản lý hệ thống

chương trình thường xuyên được cả cán

bộ kỹ thuật và bà con nông dân tham gia

và trong năm thứ hai, việc sử dụng các

nông dân nòng cốt làm tập huấn viên

cho nông dân đã được khuyến khích và

triển khai như một khái niệm mới Qua hai năm đầu tiên của dự án, 14 cuộc hội thảo tập huấn đã được tổ chức Số nông dân tham gia trong các cuộc hội thảo này là 203, cán bộ kỹ thuật 119, và 62 giờ tập huấn đã được thực hiện Các cuộc tập huấn này được liệt kê trong bảng II

Trang 21

Bảng II: Đào tạo tập huấn thông qua hội thảo ở Nghĩa Đàn

Ngày Địa điểm Loại Người giới thiệu Chủ đề Số người tham gia Nông dân Kỹ thuật Cán bộ

Thời gian (giờ)

Quản lý trang trại/Dinh dưỡng bò

Các giống cỏ nhiệt

Averill Ramsey-Evans

Quản lý dữ liệu đàn

Phương pháp thứ ba là đào tạo chuyên môn trong nước và ở nước ngoài Ba cuộc

hội thảo chuyên ngành đã được tổ chức tại BCFRC ở Ba Vì cho bà con nông dân

dự án và cán bộ kỹ thuật từ Nghĩa Đàn Các cuộc tập huấn này được tiến hành

bằng tiếng Việt do các cán bộ của BCFRC thực hiện Các đợt tập huấn này được tổ

chức trong 3 ngày bao gồm cả học lý thuyết và thực hành trong thực tế Các học

viên cũng có cơ hội được đi tham quan và thảo luận

Đợt tập huấn quốc tế kéo dài 5 ngày đã được tổ chức tại Thái Lan với chủ đề chủ

yếu về các giống cỏ nhiệt đới và hệ thống chăn nuôi bò thịt Đợt tập huấn này là

thành công nhất dẫn tới việc khuyến khích và sử dụng các giống cỏ nhiệt đới mới

Những giống cỏ mới này đã chứng tỏ rằng rất thanh công và Dr Michael Hare,

người đã lãnh đạo các cuộc tập huấn ở Thái Lan, giờ đây đã thanh lập một đại lý ở

Việt Nam để nhập khẩu chính thức và phân phối các hạt giống cỏ

Trang 22

Qua 2 năm đầu của dự án, 4 cuộc hội thảo tập huấn đã được thực hiện Tổng số

nông dân tham gia là 31, cán bộ kỹ thuật 20, và 307 giờ tập huấn đã được tiến hành

Các cuộc tập huấn này được liệt kê trong bảng III

Một khóa đào tạo chính thức ở New Zealand đã được thực hiện năm 2007 Khóa

tập huấn này bao gồm 2 người: Ông Điệp và Ông Toản, tập trung vào các chủ đề hệ

thống chăn nuôi bò thịt, tiếp thị bò thịt, bảo quản cỏ và các phương pháp đào tạo

Một khóa tập huấn nữa cho 2 người cũng đã được tổ chức tại Queensland, Australia

vào tháng 2 năm 2010 Một suất học bổng của trường đại học Massey cũng đã

được hoàn tất vào lúc bắt đầu dự án cho ông Toản trong 2 tháng ở New Zealand

thực hiện việc đào tạo chính thức và thực hành về các hệ thống canh tác New

Zealand

Bảng 3 Các khóa tập huấn chuyên ngành trong nước và quốc tế:

Ngày Địa điểm Loại Người giới thiệu Chủ đề Số người tham gia Nông dân Cán bộ kỹ thuật

Thời gian (giờ)

26/02/10 BCFRC Hội thảo

Tim Harvey Phil Rolson Michael Hare

Hội thảo tổng kêt, giống bò, đồng cỏ, cân bằng dinh

Trang 23

Tập huấn nông dân cho nông dân Số nông dân được nông dân nòng cốt tập

huấn và số nông dân đã áp dụng kỹ thuật mới được tổng hợp trong Bảng 4

Bảng 4 Kết quả nông dân tập huấn cho nông dân trên cơ sở phỏng vấn

số nông dân áp dụng kỹ thuật mới

Nguyên nhân không áp dụng kỹ thuật mới

Các bài học chính từ các nông dân nòng cốt

• Các giống cỏ mới: cỏ Paspalum Ubon được đánh giá là ngon hơn so với cỏ Mulato II cho bò thịt và cho ăn tốt nhất ở dạng cỏ tươi

• Vấn đề độ bền thảm cỏ với cỏ Mulato II nếu cho phép để cỏ mọc cao vào

cuối mùa mưa và sau đó cắt sát gốc vào mùa khô;

• Cỏ voi (VA06) trộn với lá sắn làm vật liệu ủ chua rất tốt;

• Năng suất cỏ Stylo quá thấp đối với nong dân;

• Đất hoang ở sườn đồi và ở bờ ruộng có thể được sử dụng để trồng cỏ

Paspalum Ubon ;

• Khả năng tăng trọng của bò và thu nhập của nong dân được cải thiện khi

giảm hàm lượng xơ trong khẩu phần ăn của bò;

Trang 24

Ảnh hưởng của các phương pháp tập huấn khác nhau

Lãnh đạo Hội nông dân xã Nghĩa sơn (Ông Trần Quốc Hồng) đã xếp loại ảnh hưởng của các phương pháp tập huấn tới nông dân trong thứ tự như sau (i) Hội thảo được thực hiện bởi các chuyên gia New Zealand; (ii) Hội thảo được thực hiện bởi các chuyên gia Việt Nam; (iii) tập huấn nông dân cho nông dân Khi các chuyên gia từ bên ngoài đến có thể là chất xúc tác cho sự thay đổi, vai trò của việc tập huấn nông dân cho nông dân sẽ đảm bảo cho tính bền vững của việc tiếp tục học tập sau khi

dự án kết thúc, đặc biệt khi Trạm Khuyến nông của huyện phải phục vụ cho một số lượng bà con nông dân rất lớn

Khuyến nông ngoài phạm vi dự án

Khuyến nông ngoài phạm vi dự án đạt được thông qua sự lien lạc và mối quan hệ

đã xây dựng được trong khi thực hiện dự án, bao gồm Trung tâm Nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì và Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ sơn Tây

Dự án đã là chất xúc tác cho mối quan hệ tương hỗ và phổ biến các kỹ thuật mới với việc đội ngũ New Zealand đi thăm trường Đại học Nông Lâm Huế ở Việt Nam cũng như các trường đại học Sunranaree và Ubon Ratchathani ở Thái Lan Chúng tôi tin tưởng rằng chúng tôi đã đặt được một nền móng vững mạnh cho sự phát triển trong tương lai của ngành chăn nuôi bò thịt và dự án đã đóng một vai trò đáng kể trong việc xây dựng năng lực ở nhiều mức độ khác nhau

Một mối quan hệ giữa trường đại học Ubon Ratchathani (Thailand) và Công ty Asia Tradimex ở Hà Nội đã được thiết lập để cung cấp các loại hạt giống cỏ mới ở Việt Nam Công ty đã có đại diện tham gia đợt tập huấn tổng kết ở Nghĩa Đàn và rất tích cực trong việc nhân rộng các giống cỏ mới cho bò

Kết quả đào tạo:

Quan điểm của nông dân đã có sự thay đổi và sự chấp nhận các kỹ thuật mới khác nhau với một tỷ lệ nhỏ nông dân không áp dụng kỹ thuật mới hay không thay đổi cách làm việc cũ của họ Nguyên nhân của thực tế này khác khác nhau, từ việc thiếu năng động do tuổi tác, thích cách sống chăn thả bò trong vùng đất công, thiếu lao động hay thiếu vốn để thực hiện sự thay đổi, đến việc thiếu trình độ văn hóa để hiểu được các khái niệm Số nông dân trong nhóm này dao động từ 10-25% trong

số các nhóm được đánh giá Tỷ lệ này không có gì đáng ngạc nhiên vì bản chất nông thôn của vùng dự án

Đa số nông dân đã tiếp nhận kỹ thuật mới và áp dụng bằng cách này hay cách khác với một số thay đổi nhỏ, số khác chỉ thay đổi những khía cạnh nhỏ như là cân bằng dinh dưỡng Ba kỹ thuật thanh công nhất đã được giới thiệu thông qua việc tập huấn bao gồm

1 Sự giới thiệu các giống cỏ nhiệt đới mới,

2 Cân bằng dinh dưỡng (đặc biệt là giảm lượng chất xơ) và

3 Việc sử dụng bò đực giống mới

Khi nông dân có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các kỹ thuật này, phần lớn trong số

Trang 25

sự đánh giá sau khi hội thảo được tổ chức đã thể hiện rằng số nông dân thực hiện các thay đổi trong chăn nuôi chiếm tỷ lệ rất cao

Việc áp dụng kỹ thuật ủ cỏ si-lô để bảo quản phụ phẩm nông nghiệp có kết quả khác nhau với khoảng 20% số nông dân nòng cốt của dự án ủ cỏ thường xuyên, tuy vậy, những người khác đã nhận thấy rằng với các giống cỏ mới họ có thể cung cấp

đủ thức ăn có đủ dinh dưỡng cho gia súc của họ qua mùa khô mà không cần làm

cỏ ủ Khái niệm quan trọng nhất lien quan đến việc sử dụng phụ phẩm là ủ lá sắn; điều này có khả năng cao trong cả việc cung cấp thêm loại thức ăn mới cho bò cũng như cải thiện việc cung cấp protein

Vì dự án chỉ được tiến hành trong thời gian ngắn nên khó có thể đo lường được đầy đủ sự áp dụng mở rộng các kết quả của dự án; tuy vậy, các kết quả ban đầu là rất đáng khích lệ Phụ lục I là một danh sách các vật liệu tập huấn cơ bản được triển khai cùng với sự phối hợp của BCFRC

Kết luận:

Số lượng và phương pháp tập huấn được sử dụng trong dự án là rất thích hợp đặc biệt với sự chung tay góp sức trong thực tiễn của đội ngũ chuyên gia New Zealand, làm cho việc áp dụng các kỹ thuật cơ bản đạt được tỷ lệ cao

Số các khóa tập huấn đã vượt quá dự định và được tiến hành trên địa bàn rộng hơn nhiều so với kế hoạch ban đầu khi dự án mới được thực hiện

3 Huyện cần tiếp tục phát triển các nông dân nòng cốt như là một phương pháp khuyến nông

Trang 26

Phần 4: Đồng cỏ và thức ăn: Phân tích thực trạng, Giải pháp và Kết quả

gỗ khác hay cao su Đất đai cua một gia đình thường phân bố rải rác và có thể cách

xa nhà ở tới 13 km

Trồng xen một số loại hoa màu ở lối đi giữa các hang cây cao su hay cam cũng được thực hiện ở một số trang trại Cao su được tròng thanh hang cách xa nhau 6

m đến 12 m Ở các khoảng không gian rộng hơn có thể áp dụng kỹ thuật xen canh

và như vậy, ít nhất là có cơ hội để đánh giá cỏ trồng dưới tán cây cao su Cà phê được trồng thanh các hang hẹp và hầu như không có khoảng đất trống giữa các hang cây

Cung cấp thức ăn theo mùa

Trên cơ sở phỏng vấn nong dân, một đồ thị cung cấp thức ăn điển hình được dựng lên như sau (Fig 3) Đường cong này tương tự đường cong nhiệt độ và lượng mưa trong năm (Fig 1 và 2) Có một giai đoạn dư thừa thức ăn trong khoảng tháng Năm – tháng Chín và thường thiếu thức ăn trong khoảng tháng 11 – tháng 3

Grass growth curve

Trang 27

ruziziensis) và cỏ Guinea (Panicum maximum TD58) Các loại cỏ dại chiếm tới 50 -

80% khẩu phần ăn cho bò

Các giống cỏ mới

Năm 2007 dự án đã xác định trồng các giống cỏ sau đây sau khi đã được đánh giá bởi các nông dân trong và ngoài dự án:

1 Cỏ Mulato II (Brachiaria ruziziensis x Brachiaria brizantha x Brachiaria

decumbens) là giống cỏ lai cải tiến ở CIAT ở Colombia và được đưa ra trồng phổ

biến năm 2004 để làm đất màu mỡ hơn sau đó trồng đậu tương Mulato II là một giống cỏ hòa thảo chất lượng cao Trong các thử nghiệm ở Thái Lan, cỏ tạo ra trên 12% protein thô cao hơn bất cứ giống cỏ hòa thảo nào khác Cỏ có khả năng chịu hạn và mọc tốt qua suốt mùa khô ở vùng đông bắc Thái Lan Bò ăn cả cây vì cọng

lá mềm và rất ngon Trong các thử nghiệm ở Trung và Nam Mỹ, Mulato II có thể được sản xuất vào mùa khô hơn và sản xuất ra sản lượng sữa cao hơn so với các

giống Brachiaria khác Lá cỏ có long có thể gây ngứa tay của một số người khi thu

cắt bằng tay

2 Cỏ Paspalum ubon (Paspalum atratum) là một loại cỏ dại có nguồn gốc từ miền

trung-tây Brazil và đã thích nghi với đất có pH thấp, chịu được độc tố nhôm Sau 3

năm được tròng để đánh giá ở đông bắc Thái Lan, P atratum được đánh giá là

giống cỏ tốt nhất được trồng ở đất khô ẩm ướt theo mùa Năm 1997 cỏ được đưa ra trồng phổ biến và được coi là giống Ubon Trong các thử nghiệm chăn thả, bò thịt chăn thả cho ăn cỏ này tăng trọng 0,5 kg/con/ngày Cỏ Paspalum Ubon có nhiều là

và tỷ lệ lá/cọng rất cao Nông dân nhận thấy rằng cỏ dễ cắt vì nó có nhiều lá Cỏ Paspalum là một giống cỏ ngon, có khả năng tiêu hóa caongưng hàm lượng protein thô thấp hơn các giống cỏ khác (5-10%)

3 Cỏ voi lai Có hai giống cỏ voi lai có nhiều lá hơn cỏ voi thông thường nhiều

được bà con nông dân trồng ở Nghĩa Đàn Giống Mott được gọi là cỏ voi lùn có nhiều lá hơn và thích hợp cho chăn thả hơn giống cỏ voi thông thường Cỏ voi lai

(Pennisetum purpureum x P americanum) là giống cỏ lai giữa cỏ voi và cỏ kê hạt

nhỏ (cỏ đuôi chồn) Cỏ voi lai (VA06) và cỏ voi lùn đang ngày càng được nhiều nông dân chăn nuôi bò sữa ở Thái Lan trồng

Cả hai giống cỏ voi đều không thích hợp với các giai đoạn khô hạn kéo dài và không thích đất ướt và đất có độ màu thấp Chúng chết sau khi bị ngập úng Chúng phải được bón phân tốt và thu cắt thường xuyên để duy trì lá ngon Các thuộc tính

cơ bản của cỏ voi là tính chất đa dụng linh hoạt (nó có thể được trồng cả với quy mô lớn hoặc quy mô nhỏ), cỏ có sản lượng chất khô cao và có chất lượng tốt khi còn non Nhược điểm chính của cỏ là hàm lượng xơ cao khi trưởng thanh và có năng suất thấp khi trồng ở đất có độ màu thấp hoặc đát ướt

Thực trạng 2010:

• Cỏ voi thong thường đang dần dần được thay thế bằng cỏ voi lai VA06

• Cỏ Paspalum Ubon đã thể hiện mọc tốt, thích hợp với vùng dự án và được nong dân đánh giá cao hơn so với cỏ voi VA06 và sẽ được sử dụng rộng rãi nếu sẵn có hạt giống Một số nong dân đang nhân rộng diện tích thong qua

kỹ thuật cấy trồng bằng hom rễ Paspalum có thể thanh lập thảm tốt dưới tán cây hay ở nơi đất bạc màu

Trang 28

• Mulato II, đã mọc tốt ở hầu hết các loại đất, nhưng độ bền thảm cỏ không cao nếu như để cỏ mọc cao trước khi thu cắt vào đầu mùa khô và sau đó cắt sát gốc Chúng tôi cho rằng độ bền thảm cỏ có thể gắn kết với khả năng chịu được độc tố nhôm cùng với đất có độ pH thấp (<pH 5.0 – 5.2), nhưng cần phải tiến hành thêm một số công việc để có thể kết luận được điều này Nông dân chăn nuôi bò sữa báo cáo rằng họ đạt được sản lượng sữa cao hơn khi cho bò ăn cỏ Mulato II so với các loại cỏ khác

• Các nong dân khác áp dụng việc trồng và sử dụng Paspalum Ubon và Mulato

II còn hạn chế vì thiếu sự cung ứng hạt; nhưng một nhà phân phối hạt giống Việt Nam đã được chỉ định đầu năm 2010

Cỏ họ đậu và sự lựa chọn

Gần đây, cỏ họ đậu đã đóng góp một tỷ lệ nhỏ trong khẩu phần ăn cho bò Thông thường, các phụ phẩm từ đậu, đỗ và một số loại cây dại họ đậu là nguồn cung cấp cây họ đậu duy nhất trong khẩu phần

Nông dân không thể từ bỏ các loại mùa màng thong thường để trồng cỏ họ đậu làm cây thời vụ lâu dài nhưng họ có thể quan tâm tới việc sử dụng cây họ đậu hang năm

để trồng luân canh Cây họ đậu có thể được trồng xen canh dễ dàng trong các vườn cam

Lựa chọn cỏ họ đậu hàng năm

Các loại đậu, đỗ, như đỗ đen địa phương, có lẽ trong loại cây họ đậu Đỗ đen chúng

tôi thấy năm 2007 có lẽ là đậu tương đen (Glycine max) vì thân cây mọc khá thẳng

còn đậu bò thì mọc bò lan với thân dây Phần thân ngọn của các loại đậu này sau thu hoạch đều có thể được sử dụng để nuôi bò Chúng cũng đều có thể được trồng

để làm thức ăn xanh Ở Thái Lan, nong dân trồng nhiều đậu bò đen Vigna

unguiculata Cả hai loại đậu này đều có thể được sử dụng và nấu ăn theo cùng một

cách thức

Cỏ họ đậu cũng được trồng và sử dụng ở New Zealand và có thể đóng vai trò là một loại cây trồng vụ đông trong vùng dự án

Đậu tằm Đậu tằm có thể được chọn để trồng vào mùa đông; trồng tách riêng hay

trồng kết hợp với loại cây khác chẳng hạn trồng với ngô vụ thu đông

Cỏ Alfalfa (Medicargo sativa) Nhiều thử nghiệm trồng và duy trì thảm cỏ alfalfa đã

thất bại ở Việt Nam Các nguyên nhân có thể bao gồm:

• Thiếu khuẩn rhizobia hay thất bại khi cấy ghép

• Bệnh thối rễ khi thoát nước không tốt vào mùa mưa

• Hỏng rễ dự trữ vì cắt thường xuyên hay thiếu thời gian ngủ đông

• pH thấp; hàm lượng nhôm cao (Al+++) hay đất có hạn chế về dinh dưỡng;

• Không thích nghi

Dự án đã trồng thử alfalfa trên một diện tích nhỏ nhưng cũng thất bại và chúng tôi kết luận rằng cần phải xác định trồng giống cây họ đậu thích hợp khác

Cỏ họ đậu nhiệt đới Trường đại học nong nghiệp Hà Nội đã sử dụng lạc lâu năm

(Arachis pintoi) và cỏ stylo (Stylosanthes hamata) Cỏ Stylo hamata là loại cỏ họ

Trang 29

Cỏ Hamata stylo được trồng rộng rãi ở đông bắc Thái Lan dọc theo đường đi hay trên các bãi đất chăn thả công cộng Cỏ chịu hạn rất tốt nhưng không mọc tốt trong điều kiện lầy lội kéo dài Cỏ có thể cạnh tranh rất tốt với các loại cỏ đẻ nhánh khác;

cỏ cao có thể làm lụi loại cỏ này Cỏ chịu được chăn thả rất tốt và hình thành thảm dày trên mặt đất

Theo các nhà nghiên cứu Việt Nam, sản lượng sinh khối thấp là hạn chế lớn nhất của cỏ họ đậu Tuy vây, cỏ Stylo là nguồn thức ăn đáng kể được sử dụng tại Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây (GRRC) Xúc tác cấy khuẩn Rhizobia không được sử dụng với cỏ Stylo; nhưng cần phải có thêm thông tin về vấn đề thực tiễn

này

Cỏ Stylo Ubon (Stylosanthes guianensis var vulgaris x var pauciflora) là một giống

cỏ stylo lưu niên mới được chọn lọc vì có khả năng chống chịu lâu bền đối với bệnh loét cây Một nghiên cứu được tiến hành trong ba năm ở đông bắc Thái Lan cho thấy rằng cỏ Stylo Ubon có sản lượng chất khô cao hơn ít nhất 90% so với các giống cỏ stylo khác, với các lợi thế đặc biệt rõ rang vào mùa khô, khi nó có sản lượng cao gấp 2-6 lần các giống cỏ stylo khác Trong khi người ta hy vọng rằng cỏ Stylo Ubon sẽ thích nghi tốt ở Nghệ An; chúng tôi có kết luận rằng trong năm 2010,

cỏ này vẫn chưa là loại thức ăn phổ biến cho bò

Phụ phẩm cây trồng

Thân cây ngô sau khi thu hoạch bắp (rơm ngô), ngọn mía và ngọn sắn, rơm lúa và cuống rau là các phụ phẩm cây trồng chủ yếu được nông dân sử dụng Trong khi cây ngô và ngọn mía còn xanh sau thu hoạch, phần lớn phụ phẩm này khô vàng với giá trị dinh dưỡng thấp khi nong dân sử dụng cho bò của họ ăn Chúng thường được phơi khô và cất trữ trong nhiều tuần trước khi được sử dụng để nuôi bò Nếu

sử dụng kỹ thuật ủ chua các phụ phẩm này sau khi được trộn với cỏ xanh hoặc ủ với u-rê thì sẽ nâng cao giá trị thức ăn của các loại phụ phẩm này hơn nhiều

Bột cá

Năm 2007, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội (HAU) đánh giá bột cá là một nguồn

bổ sung protein rẻ tiền với giá khoảng 8.000 đồng/kg nếu mua từ nguồn, so với 13.000 đồng/kg nếu mua từ nhà máy sản xuất thức ăn gia súc Cần xác định giá cả

12-và nguồn cung cấp sản phẩm này ở Nghệ An nếu coi đây là giải pháp bổ sung cần thiết

m và bắt đàu ra hạt Để phát huy được khả năng sản xuất của gia súc, cỏ voi nên được thu cắt khi cao 0,6 đến 1,0 m Khi cỏ voi cao hơn 1m, chất lượng dinh dưỡng của cỏ giảm nhanh và gia súc không đạt được tốc độ tăng trọng cao Nông dân ít quan tâm đến chat lượng thức ăn mà chủ yếu quan tâm đến năng suất và sản lượng

Trang 30

chất xanh thu được Cần tổ chức việc tập huấn sao cho thay đổi suy nghĩ của nong dân từ việc chú trọng năng suất chất xanh chuyển sang chú trọng chất lượng thức

ăn họ cung cấp cho gia súc

Cập nhật chất lượng thức ăn năm 2010

Nông dân dự án đã giảm số lượng chất xơ trong khẩu phần (giảm rơm) và tăng số lượng protein và năng lượng bằng cách tăng lượng cỏ xanh non hơn trong khẩu phần và đạt được tăng trọng 0,5 tới 0,7 kg /con/ngày Nông dân chăn nuôi bò sữa ở Thái Hòa sử dụng cỏ Mulato II, Paspalum Ubon và than cây ngô xanh, thay vì trồng ngô để sản xuất hạt, thay thế cho các khẩu phần ăn trước đó có hạn chế về năng lượng thu nhận

Ủ cỏ si-lô từ lá sắn, cỏ voi VA06 hay than cây ngô xanh phối trộn (33% lá sắn) đã chứng tỏ là loại thức ăn chứa đựng hàm lượng protein tốt (lá sắn có 20 đến 23% protein)

Cơ hội và giải pháp tương lai (2007)

Trồng xen

Dường như có nhiều cơ hội để trồng cỏ hoặc đậu đỗ xen trong vườn cam, trong khoảng giữa 2m giữa các hang cam còn nhỏ và giữa các hang cao su rộng rãi Trong vườn cam, cán bộ của công ty 19/5 cho rằng cây họ đậu nên được sử dụng vì

họ lo ngại rằng cỏ sẽ cạnh tranh với cam hút nước trong đất Bên cạnh đó, Công ty 19/5 có các đồn điền cao su thường trồng hang cách hang 7 đến 14 m việc trồng xen rất thích hợp đối với nhiều loại cây trồng theo mùa vụ, đặc biệt khi cây lâu năm còn non hoặc được trồng hang cách hang rộng rãi

Ngô và kê (sorghum)

HAU đã thử nghiệm trồng kê (Sorghum almum) làm thức ăn gia súc vào mùa đông

và tin rằng giống cây này khả thi hơn so với ngô trồng thu cắt một lần làm thức ăn gia súc Trước đây họ cũng đã thử nghiệm trồng yến mạch (giống Pháp) nhưng không thu được sản lượng ổn định ở những nơi có độ cao thấp, đặc biệt ở những

nơi khô hạn hơn so với mùa đông trung bình

Phế phụ phẩm cây trồng

Có nhiều loại phế phụ phẩm nong nghiệp sau khi chế biến có thể sử dụng làm thức

ăn gia súc, bao gồm

• Bã dứa Nhà máy nước dứa cách xa vùng dự án 14 km có công suất chế biến 200 tấn dứa/ngày Có 2 mùa chế biến chính: Tháng Tưl-Tháng Sáu và Tháng Tám-Tháng Ba Bã dứa có hàm lượng đường cao và là phụ phẩm cây trồng nhiều xơ, nhiều năng lượng; có thể sử dụng để ủ chua cùng với rơm hay cỏ tuỳ thuộc vào độ ẩm của nguyên liệu ủ Trường đại học Nông nghiệp

Hà Nội (HAU) đã ủ bã dứa mà chỉ them muối vào làm phụ gia duy nhất (0.15%)

• Bã sắn Nhà máy chế biến cách xa 20 km với công suất chế biến 10.000 tấn/năm Giá 150 đồng/kg ướt (25% DM) và 1300 đồng/kg khô Sắn có chứa độc tố làm ngộ độc bò khi cho ăn tươi nhưng không có vấn đề gì với độc tố khi ủ hay phơi khô HAU đã ủ bã sắn thanh công với phụ gia duy nhất là muối

Trang 31

• Khô dầu lạc và đậu tương Cũng có nhà máy chiết xuất dầu ở gần đó Sử dụng khô dầu lạc và đậu tương sau khi chiết xuất dầu làm nguồn thức ăn bổ sung protein rất tốt mà có thể cho gia súc ăn trực tiếp;

• Hạt bong và hạt cao su cũng được HAU đề xuất sử dụng

• Cám đậu Mung HAU cho rằng sản phẩm này sẵn có, có hàm lượng protein thô cao 24% và rẻ tiền (tương tự giá cám gạo) có thể cho bò ăn 0,5 kg/con/ngày

Tất cả các loại phụ phẩm cây trồng kể trên đều có thể sử dụng làm các nguồn thức

Rỉ mật là phụ gia quan trọng được sử dụng để ủ ngọn mía ở Việt Nam (Phụ lục 1)

Rỉ mật được thêm với tỷ lệ 3% so với ngọn mía là tối ưu làm tăng khả năng thu nhận thức ăn và giúp bê đạt được tăng trọng tốt (Phụ lục 1)

Có nhiều khả năng để tăng việc sử dụng bã dứa hoặc bã trái cây khác hay bã sắn Cần phải có thử nghiệm việc sử dụng bã trái cây ủ chua để xác định được tỷ lệ sử dụng thích hợp Giải pháp bao gồm trộn them cỏ để ủ, miễn là độ ẩm của khối ủ được duy trì trong khoảng 28 tới 38%; hay sử dụng các loại phụ phẩm khô hơn như

là rơm ngô hay rơm lúa

Ủ thân cây ngô

Cây ngô thường còn xanh khi bắp ngô được thu hoạch Thân cây ngô thường được phơi khô và cất trữ để nuôi bò vào mùa đông Thân cây ngô còn xanh sau khi thu bắp có thể được sử dụng để ủ chua tạo ra loai thức ăn có chất lượng cao hơn cho

Bổ sung Urea

Bổ sung u-rê vào khối cỏ ủ tạo khả năng nâng cao hàm lượng protein cho nguyên liệu có giá trị protein thấp Trường đại học nông nghiệp Hà Nội (HAU) có kinh nghiệm sử dụng u-rê trộng với rơm lúa (4 kg urea hòa tan trong 80 L nước và được trộng đều với 100 kg rơm khô Với rơm ngô hay rơm lúa tươi, HAU sử dụng 2 kg urea trộn đều với 100 kg rơm tươi Có khả năng gia súc bị ngộ độc u-rê khi trộn u-rê vào thức ăn nên cần phải lưu ý cẩn thận và cho gia súc ăn với lượng thức ăn tăng dần Lượng nhỏ urea (1% chất khô) them vào khối ủ sẽ nâng cao đáng kể chất lượng thức ăn và giảm rủi ro cho gia súc

Rỉ mật

Trang 32

Năm 2007, rỉ mật được xác định là nguồn bổ sung năng lượng cho gia súc nhưng không được sử dụng nhiều vì giá khá cao Năm 2010, giá rỉ mật xuống thấp nên bà con nong dân có thể sử dụng bổ sung vào thức ăn cho gia súc của họ

Giải pháp dự trữ ủ chua cho nông dân

Dự án đã hướng dẫn nong dân sử dụng túi nilon dày 100 micron để ủ cỏ Loại túi này không có sẵn ở Việt Nam Một giải pháp khác là xây các bể ủ bằng bê tông nhỏ

có đáy đặt nằm trên mặt đất Bể ủ dạng tang giếng bằng bê tong có chiều cao 1 m

và đường kính 1,2 m có giá chỉ khoảng 50.000 đồng/chiếc và có lẽ là giải pháp tốt nhất cho bà con nong dân mới làm quen với kỹ thuật ủ chua Ủ chua lá sắn và bã

dứa cũng được thực hiện có hiệu quả trong dạng bể ủ này tháng 7 năm 2007

Năm 2010, nong dân đã tiến hành ủ chua trong bể ủ được xây bằng gạch chỉ quy

mô nhỏ hoặc dung túi plastic dày250+ micron Nguyên liệu ủ phổ biến nhất là lá sắn

và cỏ voi hay than cây ngô sau khi thu hoạch bắp

Cây bụi hoà thảo và họ đậu Có một số giải pháp cần được đầu tư; Thảo luận với

các nhóm nghiên cứu ở Việt Nam về các kinh nghiệm hiện nay cho thấy rằng

Flemingia marophylla (một giống cây họ đậu) và Trichantea gigantea là hai giống

chịu được bong rợp có hàm lượng protein thô cao 16 – 17% và có thể sản xuất 80

-90 tấn chất xanh/ha Chúng được cắt cao hơn vào mùa mưa (50 cm ở lần cắt đầu

tiên; 60 cm ở lần cắt thứ hai) và thấp hơn vào mùa khô Calliandra là giống cây bụi

họ đậu (19-21% CP) được coi là giải pháp tốt hơn so với Luccena Nó được băm nhỏ và phơi khô làm cỏ khô Chuối (tầng cao) và Trichantera (tầng thấp) hình thanh một hỗn hợp có thể sản xuất 200 tấn chất xanh/ha Mít (Artocarpus heterphyllus)

cũng là cây được sử dụng cho chăn nuôi và trồng lấy quả Trong số các loại cây này

Trichantea được đánh giá là tốt nhất, đặc biệt bởi vì khả năng bền thảm và chịu

bóng rợp của nó Ở Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ (GRRC) có một số diện tích

loại cây này đã được 15 năm tuổi GRRC đã sử dụng cả Leucaena và Calliandra và

họ cho rằng Calliandra có 19-21% CP là sự lựa chọn tốt hơn

Calopo (Calopogonium mucunoides) là một giống họ đậu lưu niên mọc rất khoẻ

được dung làm loại cây phủ đất có giá trị trong các đồn điền và làm phân xanh để cải tạo đất Người ta nhận thấy rằng đây là loài cây tiên phong trong việc che phủ để

bảo vệ bề mặt đất, giảm nhiệt độ của đất, cố định đạm và cải thiện độ màu mỡ của đất

Calopo mọc rất khoẻ ở giữa các hang cam trong một trong số các vườn cam của Công ty 19/5 (Ảnh 1) Người ta đánh giá rằng cây này sản xuất khoảng 40.000 kg/ha chất xanh cho một lần thu cắt Mặc dù

cỏ có hàm lượng protein cao (16-23%), nhưng nó không ngon miệng cho bò vì nhiều lông ở lá và cọng

và khả năng tiêu hóa thấp theo độ tuổi Nhưng bò bắt buộc phải ăn vào mùa khô khi thiếu thức ăn xanh Bởi vì mọc khỏe, giàu chất khô và có hàm lượng protein cao, dự án đề nghị thử nghiệm sử dụng calopo trộn với cỏ hay ngô để ủ chua

Trang 33

Rau diếp dại

Rau diếp dại (Chicorum intybus) đã được sử dụng làm thức ăn gia súc rất tốt ở

nhiều vùng cận nhiệt đới ở tây nam Trung Quốc và Ấn độ Loài cỏ này cần thoát nước tốt và trong điều kiện đất ẩm ướt và nhiệt đọ cao vào mùa hè, cây có thể bị thối rễ Năm 2010, một số hạt giống đã được gửi tới nong dân trồng thử để đánh giá

Đánh giá của dự án về các giống cỏ mới

Tháng Chín 2007, 3 xã dự án, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm và Nghĩa Yên đã được đến thăm và 9 nông dân đã nhận được hạt giống cỏ nhập từ Thái Lan

Cỏ cải tiến

1 Các địa điểm trình diễn

Ba giống cỏ mới được nhập về từ Thái Lan: Cỏ Mulato II (Ảnh 2),

Cỏ Paspalum Ubon(Ảnh 3) và cỏ Stylo Ubon(Ảnh 4) được trồng trên các lô đất nhỏ ở trang trại của Công ty 19/5 vào ngày 12 tháng 7 năm 2007

Cắt thử các diện tích 1 m2 để đánh giá thấy rằng cỏ Mulato II đạt được năng suất 20.000 kg/ha/lứa cắt Đây là một kết quả tốt thể hiện tiềm năng của giống

cỏ này trên đất đỏ Việt Nam

Ảnh 2 Cỏ Mullato II

Hạt giống cỏ guinea từ Trạm nghiên cứu đồng cỏ BAVI gần Hà Nội đã được gieo trên diện tích gần 1 ha vào tháng Bảy Gần như thảm cỏ không được thanh lập vì chất lượng hạt giống kém Dự án đã sử dụng một kg hạt giống tốt được cho từ Thái Lan để gieo thay thế Hạt cỏ alfalfa cũng được gieo vào tháng 7 nhưng không tạo thảm

Tháng 9 năm 2007, dự án đã có những hướng dẫn gửi tới đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Công ty 19/5 về quản lý đồng cỏ, làm cỏ dại và thu hoạch

(a) Vườn ươm giống của công ty Hạt giống cỏ Paspalum ubon đã được gieo trên một lô đất nhỏ vào thangs 7 năm 2007 đã mọc rất tốt (Ảnh 3) Cắt thử nghiệm cho thấy năng suất chất xanh đạt được là 25.000 kg/ha/lứa cắt sau khi gieo hạt 60 ngày Năng suất này thể hiện tiềm năng phát triển đáng kể của giống cỏ này trên vùng đất

dự án Sau khi thu cắt một ngày, cỏ Paspalum ubon lại có thể mọc cao tới 3-5 cm Tốc độ tái sinh này tạo ấn tượng rất tốt cho đội ngũ cán bọ kỹ thuật và nông dân địa phương (Ảnh 5) Ngược lại, cỏ Stylo Ubon không mọc tốt lắm và tạo thảm không dày Chúng

Ngày đăng: 20/12/2015, 07:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 đã tổng kết số nông dân đã được tập huấn và áp dụng kỹ thuật mới từ các  tập huấn viên nòng cốt - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
Bảng 1 đã tổng kết số nông dân đã được tập huấn và áp dụng kỹ thuật mới từ các tập huấn viên nòng cốt (Trang 16)
Bảng I:  Tập huấn thực tiễn và trình diễn trong vùng dựa án - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
ng I: Tập huấn thực tiễn và trình diễn trong vùng dựa án (Trang 19)
Bảng II:  Đào tạo tập huấn thông qua hội thảo ở Nghĩa Đàn - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
ng II: Đào tạo tập huấn thông qua hội thảo ở Nghĩa Đàn (Trang 21)
Bảng 3. Các khóa tập huấn chuyên ngành trong nước và quốc tế: - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
Bảng 3. Các khóa tập huấn chuyên ngành trong nước và quốc tế: (Trang 22)
Bảng 4. Kết quả nông dân tập huấn cho nông dân trên cơ sở phỏng vấn. - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
Bảng 4. Kết quả nông dân tập huấn cho nông dân trên cơ sở phỏng vấn (Trang 23)
Bảng 1. Năng suất các giống cỏ tháng 9 trên cơ sở 1m 2  . - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
Bảng 1. Năng suất các giống cỏ tháng 9 trên cơ sở 1m 2 (Trang 35)
Bảng II: - Báo cáo kỹ thuật   chương trình khuyến nông và đào tạo phát triển chăn nuôi bò thịt quy mô xã bền vững tỉnh nghệ an
ng II: (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w