Các thuật ngữ IRR tỷ lệ hoàn vốn nội bộ MAI lượng tăng trưởng hàng năm NPV tổng giá trị hiện tại của lợi nhuận và chi phí Tóm tắt Bản báo cáo này cung cấp các dữ liệu đường cơ sở liên
Trang 1Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Hợp tác Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Báo cáo nội dung hoạt động
Dự án VIE:032/05 Phát triển bền vững và hiệu quả kinh tế của rừng trồng Keo lai cho sản xuất gỗ xẻ ở Việt Nam
Nội dung 05: Xây dựng đường cơ sở đánh giá hiệu
quả kinh tế
Tháng 5, 2007
Trang 2Báo cáo dự án CARD
Dự án CARD VIE 05/032 – Nội dung 5 Xây dựng đường cơ sở đánh giá hiệu quả kinh tế
C.E Harwood, C Beadle, Phi Hong Hai and Nguyen Duc Kien
Tháng 5, 2007
Các thuật ngữ
IRR tỷ lệ hoàn vốn nội bộ
MAI lượng tăng trưởng hàng năm
NPV tổng giá trị hiện tại của lợi nhuận và chi phí
Tóm tắt
Bản báo cáo này cung cấp các dữ liệu đường cơ sở liên quan đến sinh trưởng của rừng trồng sản xuất gỗ xẻ các loài Keo ở miền trung và miền bắc Việt Nam, về khải thác và vận chuyển và quá trình sản xuất ván xẻ ở các nhà máy chế biến gỗ, các xưởng xẻ Trồng rừng Keo cho sản xuất gỗ giấy cho thấy có triển vọng mang lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ trồng rừng nhỏ, trong đó rất nhiều người đã sẵn sàng vay tiền từ ngân hàng để trồng rừng Các dòng Keo lai là giống cây trồng được ưa thích nhất tại đây Một mô hình phân tích kinh tế đơn giản cho sản xuất gỗ nguyên liệu giấy đã được xây dựng cho thấy tỷ lệ hoàn vốn nội bộ lên đến 24% trong các điều kiện đường cơ sở
Các công nghệ xẻ hiện tại có thể xẻ được các khúc gỗ có chiều dài 1,5 – 2 m có đường kính đầu nhỏ không vỏ (Sedub) khoảng 15 cm Trong điều kiện trồng rừng cung cấp gỗ giấy, rừng trồng Keo vẫn có thể sản xuất một lượng nhỏ gỗ có thể dung cho gỗ xẻ thậm chí trong điều kiện không có tỉa thưa và tỉa cành
Nghiên cứu đã được tiến hành trên một rừng trồng Keo lai 9 tuổi ở miền trung Việt Nam Kết quả cho thấy lượng tăng trưởng hàng năm của lâm phần đạt 18,9
m3/ha/năm Trong tổng số trữ lượng của lâm phần thì có khoảng 36% là có khả năng bán dưới dạng gỗ xẻ với đường kính đầu nhỏ khoảng 15 cm không vỏ Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu gỗ xẻ của lâm phần cho thấy tỷ lệ khuyết tất do mấu mắt sinh ra là khá cao, do đó làm giảm lượng ván xẻ thành phẩm của lâm phần
Những thông tin thu thập đã được sử dụng để xây dựng đường cơ sở đánh giá hiệu quả của các biện pháp tác động cơ giới và các lợi ích kinh tế của các biện pháp tác động hiện đang được trình diễn trong dự án (tỉa cành, tỉa thưa, phân bón và quản lý thảm tươi)
Trang 3Trồng rừng các loài Keo
Bản báo cáo về xây dựng đường cơ sở này chủ yếu đề cập đến các vùng thấp (dưới
800 m ở miền trung và miền nam Việt Nam, dưới 300 m ở miền bắc), những nơi có lượng mưa hàng năm trên 1000 mm Những vùng này đã được xác định trong bản báo
cáo tổng quan về các loài và giống Keo cho gỗ xẻ Việt nam (Harwood et al 2006) là
những vùng có điều kiện thích hợp nhất cho trồng rừng cung cấp gỗ xẻ các loài Keo Các giống Keo tốt nhất cho sản xuất gỗ xẻ đã được đề cập tóm lược trong báo cáo về các loài và giống Keo Trong đó, các dòng Keo lai đã qua tuyển chọn là những giống
có năng suất cao nhất cho trồng rừng, tiếp theo là các giống đã qua hảo nghiệm và tuyển chọn của Keo tai tượng và Keo lá tràm Gỗ của các giống này hiện đã được
chấp nhận rộng rãi ở các nhà máy chế biến gỗ ở Việt Nam Keo lá liềm (A
crassicarpa) là một loài mới rất có triển vọng, tuy nhiên chưa được kiểm chứng về
khả năng sử dụng làm gỗ xẻ ở Việt nam
Trong khi ở phần lớn các nhà trồng rừng ở vùng thấp đều đã tiếp cận được với các dòng Keo lai do Viện khoa học lâm nghiệp Việt nam tuyển chọn cũng như hạt giốn có chất lượng di truyền cao từ rừng giống và vườn giống của Keo tai tượng và Keo lá tràm, thì ở một số nơi trong thực tế vẫn đang sử dụng các giống có chất luuwongj di truyền thấp Thí dụ, chúng tôi đã thăm một lâm phần rừng trồng ở gần Huế do công ty phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên – Huế xây dựng năm 2005 vẫn sử dụng hạt giống thu
từ rừng trồng các dòng Keo lai Hạt giống lai thế hệ hai này có sự hân ly rất lớn và nói chung có sinh trưởng kém, Bộ Nông nghiệp và phát triển nong thôn (MARD) đã có quy định về việc không sử dụng hạt lai F2 trong trồng rừng, tuy nhiên điều này vẫn xảy ra ở một số nơi trong thực tế Công ty này hiện nay đã chuyển hẳn sang sử dụng các dòng Keo lai đã được MARD công nhận hiện đã được thương mại hóa trên thị trường với giá rẻ (2 cents USD) ở các vườn ươm trong khu vực
Hầu hết các rừng trồng Keo hiện nay đều sử dụng mật độ ban đầu là khoảng từ 1000 –
1600 cây/ha (khoảng cách trồng phổ biến là 3 m x 2 m, 3.5 x 2 m, and 4 x 2.5 m) Các rừng trồng đều được xây dựng với mục tiêu chặt trắng để cung cấp gỗ giấy (Hình
1, 2) Luân kỳ kinh doanh dao động từ 5 năm ở miền Nam trồng các dòng Keo lai trên những lập địa tốt đến 10 – 12 năm trên những lập địa kém hơn ở miền bắc và miền trung Việt nam
Trang 4Hình 1 Rừng trồng Keo tai tượng 4 tuổi cung cấp gỗ gỗ nguyên liệu giấy ở gần Huế,
miền Trung Việt Nam Mặc dù không có các biện pháp tỉa cành, hình dạng than cây nhìn chung vẫn thẳng, mặc dù vậy vẫn có một số cây có hai thân do không được tỉa thân
Hình 2 Rừng trồng Keo lai 2 năm tuổi của một hộ dân ở Quảng Bình, chiều cao
trung bình đạt 6 – 7 m Một số cây có hiện tượng hai thân do không được tỉa thân Lượng tăng trưởng hàng năm của rừng trồng gỗ nguyên liệu cho ba loài Keo chính được nêu trong biểu 1 dưới đây, là lượng tăng trưởng hàng năm về thể tích cho luân
kỳ 7 năm tuổi, với đường kính đầu nhỏ không vỏ là 4 cm, sử dụng các nguồn giống có
Trang 5chất lượng tốt, mật độ ban đầu là 1000 – 1600 cây/ha, sử dụng các phương thức lâm
sinh điển hình (phát dọn thực bì, đào hố thủ công 30 x 30 x 30 cm, làm cỏ bằng tay
hoăc hóa chất 2 lần, bón lót ban đầu 50 g phân NPK/hố) Giả thiết rừng được trồng
trên đất tốt, độ dốc vừa phải và độ sâu tầng đất tối thiểu là 50 cm
Bảng 1 Lượng tăng trưởng hàng năm của rừng trồng gỗ nguyên liệu giấy các loài
Keo (tăng trưởng thể tích hàng năm của rừng trồng tính cho phần gỗ có đường kính
đầu nhỏ tới 4 cm)
Keo lai (các dòng tốt
Keo tai tượng (hạt
giống từ vườn giống)
8-12 10-18 15-20
Keo lá tràm (Các
dòng tốt nhất hoặc
hạt từ vườn giống)
6-8 8-12 12-18
Năng suất rừng trồng sẽ rất thấp trên những lập địa nghèo kiệt, đất bị thoái hóa trầ
trọng như được thể hiện trên biều đồ 3 Khả năng giữa nước và chất dinh dưỡng của
đất là không đủ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cây rừng Việc sử dụng các giống
được cải thiện và các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cũng sẽ không đem lai năng suất
rừng cao trên những lập địa nghèo kiệt và rõ rang chúng không phù hợp cho những
mục tiêu đầu tư trồng rừng sản xuất và cụ thể là sản xuất gỗ xẻ Một trong những
thách thức của rừng trồng Việt nam là xác định được các lập địa không phù hợp để từ
đó có quyết định không sử dụng những loại đất này cho trồng rừng
Hình 3 Rừng trồng Keo lai 2 năm tuổi sinh trưởng kém trên đất nghèo dinh dưỡng,
bị xói mòn ở phía nam Huế, lá cây có màu vang cho thấy cây bị stress và thiếu dinh
dưỡng trầm trọng
Trang 6Giá thành gỗ nguyên liệu giấy
Hiện nay có khaongr hơn 20 nhà máy băm dăm đang hoạt đọng ở gần các cảng ở miền bắc, miền trung và miền nam Việt nam Các nhà máy băm dăm này phục vụ chủ yếu cho mục tiêu xuất khẩu, bên cạnh đó các nhà máy giấy ở Bãi Bằng (miền bắc) và Tân Mai (miền Nam) cũng tiến hành thu mua gỗ nguyên liệu
Giá thành gỗ thu mua tại cổng nhà máy băm dăm tại Đà Nẵng vào tháng 9 năm 2006 như sau:
• Gỗ bạch đàn: 46 USD/tấn gỗ tươi đã bóc vỏ
• Gỗ Keo: 41 USD/tấn gỗ tươi đã bóc vỏ
Tại nhà máy dăm Hải Phòng, giá gỗ nguyên liệu thu mua là như nhau cho cả gỗ Keo
và Bạch đàn (Mr S J Midgley, 2007) Giá thành của gỗ nguyên liệu Keo và Bạch đàn dao động khá lớn giữa các nhà máy
Tại nhà máy giấy Bãi Bằng, tại thời điểm tháng 3 năm 2005, với cây gỗ tiêu chuẩn là
4 m dài và 6 cm đường kính đầu nhỏ có giá là 500 000 VND/tấn gỗ tươi (tương đương khoảng 30 USD) (S.J Midgley, 2007)
Giá gỗ nguyên liệu thu mua tại rừng luôn thấp hơn giá thu mua tại nhà máy do các chi phí khai thác, vận chuyển ra bãi gỗ, bóc vỏ, bốc dỡ và vận chuyển sẽ được tính vào giá thành gỗ tại nhà máy
Tại Động Hà, giá gỗ Keo thu mua tại cửa rừng là khaongr 400,000 – 500,000
VND/stere đôi (có kích thước 2 m x 1 m x 1m, tương đương với 1,2 m3 gỗ đặc), với đường kính đầu nhỏ đã bóc vỏ tối thiểu là 4 cm Với trọng lượng tươi khoảng 1 tấn/1 m3, giá thành này tương đương với 20 – 25 USD/m3 Gỗ được vận chuyển bằng xe nhỏ đến bãi gỗ tập trung và sau đó được bốc lên xe tải lớn và vận chuyển theo đường quốc lộ 200 km vào nhà máy tại Đà Nẵng Giá thành vận chuyển từ Đông Hà và Đà Nẵng là khoảng 100,000 VND/tấn Những thông tin này được sử dụng để xây dựng cấu trúc giá cả của gỗ nguyên liệu (Table 2) Thực tế là những hộ nông dân ở xa đường sẽ phải chịu giá thành vận chuyển cao và o đó sẽ làm giảm giá gỗ bán tại rừng
so với những người ở gần đường
Trang 7Bảng 2 Cấu trúc giá cả gỗ Keo làm nguyên liệu giấy tại Đông Hà
Công đoạn Giá cả hoặc giá
thành (USD/tấn gỗ
tươi)
Ghi chú
Giá gỗ cây đứng trước khi
khai thác
15-20
Giá thành chặt hạ, cắt khúc 2
– 4 m, vận chuyển ra lề đường
và bóc vỏ
3-5
Giá gỗ đã được khai thác, bóc
vỏ ở ven đường
20-25 Tính trên cơ sở giá bán trên 1
stere Bốc gỗ và vận chuyển 15 km
về Đông Hà sử dụng xe tải
nhỏ và bốc lên xe tải lớn ở
Đông Hà
9-10 Tính bằng cách loại bỏ giá tại
bãi gỗ ven đường
Vận chuyển bằng xe tải từ
Đông Hà vào Đà Nẵng
6-7 Tương đương 0.04
USD/tấn/km Giá thu mua tại nhà máy ở Đà
Nẵng
41
Mô hình kinh tế cho trồng rừng nguyên lieu giấy
Một mô hình kinh tế đơn giản cho trồng rừng Keo cho nguyên liệu giấy đã được xây dựng sử dụng Microsoft Excel được thể hiện trên bảng 3 Mô hình xây dựng trên những thông tin thu thập và cần được kiểm chứng thông qua làm việc với người dân cũng như các cán bộ lâm nghiệp Sử dụng công thức tính giảm giá của dòng tiền, mô hình tính toán giá trị hiện tại của thu nhập và chi phí (NPV) sử dụng tỷ lệ chiết khấu 10% và tỷ lệ hoàn vốn nội bộ Toàn bộ chi phí và thu nhập được tính vào thời giá USD năm 2007 và không tính đến yếu tố lạm phát
Trên cơ sở các thông tin thu thập được và mô hình đường cơ sở, việc trồng rừng Keo làm nguyên liệu giấy mang lại lợi ích khá cao cho người nông dân vay tiền để đầu tư trồng rừng Một nông dân vay tiền đầu tư với tổng vốn là 569 USD cho cả luân kỳ 7 năm, mà chi phí chủ yếu tập trung trong năm đầu tiên sẽ thu được tổng giá trị 2100 USD từ việc bán cây đứng ở cuối năm thứ 7 Giá trị này tương đương với 512 USD lợi nhuận ròng ở thời điểm hiện tại với tỷ lệ nội hoàn là 24%
Rất nhiều nông dân hiện nay đã nhận thức được lợi ích của trồng rừng và đã sẵn sàng vay tiền ngân hàng để đầu tư trồng rừng
Độ dài của luân kỳ có thể từ 7 – 8 năm trên lập địa tốt ở miền trung Việt nam, có thể dài hơn ở miền bắc và có thể chỉ 5 năm ở miền nam Tỷ lệ hoàn vốn nôi bộ của đường
cơ sở là 24% với giả thuyết lương tăng trường thể tích hàng năm là 15 m3/ha/năm với đường kính đầu nhỏ không vỏ là 4 cm
Cần phải nhấn mạnh rằng chất lượng lập địa biến động rất lớn Trong điều kiện rừng trồng được quản lý kém hoặc chất lượng kém thì năng suất sẽ rất thấp Nếu lượng tăng trưởng hàng năm chỉ là 7 m3/ha/năm thì tỷ lệ hoàn vốn nội bộ chỉ có 10% và dẫn đến thua lỗ trong đầu tư trồng rừng
Trang 8Bảng 3 Chiết khấu dòng tiền cho 1 ha rừng trồng gỗ nguyên liệu – trong điều kiện cơ
bản
Chiết khấu của dòng tiền cho 1 ha rừng trồng gỗ nguyên liệu giấy
Keo lai các chi phí và thu nhập được tính bằng USD
Năm Chi phí
Chiết khấu chi phí Thu nhập
Chiết khấu thu nhập
Giá trị hiện tại của lợi
($31) ($25) ($25) ($25) ($25) ($25)
2 $ (31) $
-3 $ (25) $
-4 $ (25) $
-5 $ (25) $
-6 $ (25) $
-7 $ (25) $
-8 $ (25) $ 2,100.00 $2,075 (569) $
Mật độ ban đầu (m x m) 3.5 2 1429 Cây/ha Chi phí Năm 1 Chuẩn bị đất $ 300
Cây giống 4 cents/cây $ 57
Công trồng rừng 3 $ 3 $ 9
Phân NPK (kg/tree) 0.1 $ 29 $ 0.20 Làm cỏ hai lần 6 $ 3 $ 18
Năm 2 Chi phí lâm sinh Làm cỏ hai lần 2 3 $ 6
Chi phí thường xuyên Thuế sử dụng đất hàng năm $ 5
Chi phí chăm sóc từ năm 2 - 7 $ 20
bảo vệ, chống cháy
Thu nhập
Tăng trưởng hàng năm tính đến đường kính đầu nhỏ là 5 cm 15
Tổng trữ lượng (m3/ha) 105 Giá thành cây đứng (USD/m3) 20
Kích thước gỗ xẻ và yêu cầu về chất lượng
Do nhu cầu rất lớn về gỗ xẻ Keo nên sau khi khai thác các khúc gỗ có kich thước lớn,
chất lượng tốt thường được vận chuyển thẳng về các xưởng xẻ, tại đó gỗ được bán với với giá cao hơn nhiều so với gỗ làm ngyên liệu giấy Tuy nhiên, trong các lâm phần
không được tỉa thưa hoặc tỉa cành thì chỉ một phần nhỏ gỗ trong các lâm phần là có
thể được dung làm gỗ xẻ
Công nghệ xẻ quyết định kích thước khúc gỗ, các xưởng xẻ quy mô nhỏ thường sử
dụng hệ thống cưa vòng với khúc gỗ được đặt cố định và cưa vòng di chuyển trên
thanh ray (Hình 4), với hệ thống này đòi hỏi khúc gỗ phải có đường kính đầu nhỏ tối
thiểu là 18 – 20 cm Các xưởng cưa sử dụng hệ thống cưa thẳng cố định và khúc gỗ
được đưa vào các lưỡi cưa thì có thể xẻ được các khúc gỗ có đường kính không vỏ
đến 15 cm (Hình 5)
Trang 9Hầu hết gỗ xẻ keo đều được dùng cho mục đích làm đồ nội thất, vì vậy không đòi hỏi phải có được đoạn gỗ thẳng và dài Chiều dài tối thiểu của khúc gỗ được chấp nhận ở nhiều xưởng cưa xẻ là 1.2 m và kích thước ván xẻ sau khi sấy tối thiểu là 300 x 50 x
30 mm
Các xưởng xẻ thường cử người đến các rừng đang khai thác và chọn mua các khúc gỗ đẹp có kích thước lớn hơn yêu cầu tối thiểu của khúc gỗ tại xưởng xẻ Họ thường tránh các khúc gỗ bị cong queo và những khúc có khuyết tật trên bề mặt khúc gỗ Các khuyết tật trong khúc gỗ gây ra do mắt chết và rỗng ruột làm giảm tỷ lệ thành khí của sản phẩm và làm tăng chi phí sản xuất do phải mất công loại bỏ các mắt chết trong quá trình xẻ
Hình 4 Hệ thống cưa vòng ở xưởng cưa tại Đông Hà đang xẻ khúc gỗ có đường
kính 22 cm
Hình 5 Hệ thống cưa lưỡi thẳng ở xưởng cưa tại Huế đang xẻ khúc gỗ có đường
kính 18 cm
Trang 10Hình 6 Ông Nguyễn Sĩ, chủ xưởng cưa tại Đông Hà đang thảo luận về các khuyết tật
gỗ trên ván xẻ từ gỗ Keo lai
Giá bán gỗ xẻ
Giá cả gỗ xẻ được tính trên đơn vị m3, cao nhất cho Keo lá tràm, sau đó là Keo lai và
cuối cùng là Keo tai tượng Giá cả do các xưởng cưa ở miền trung và miền nam cung
cấp dưới đây là khá điển hình cho tình hình chung hiện nay
Bảng 4 Giá gỗ xẻ Keo do công ty Hương Giang mua vào
Đường kính đầu nhỏ (cm) Giá thu mua gỗ Keo lai
$US m-3
Tỷ lệ hành khí (%)
Nhà máy chế biến gỗ Hương Giang nằm ở phía thượng nguồn song Hương, cách
thành phố Huế 10 km Giá cả trên đây là giá thu mua tại nhà máy với chiều dài tối
thiểu là 1,5 – 2 m Thể tích gỗ được tính theo hình trụ căn cứ theo chiều dài húc gỗ và
đường kính đầu nhỏ Với Keo tai tượng thì giá thu mua tính trên m3 chỉ bằng 80 –
85% giá thu mua cho Keo lai, trong khi giá thu mua Keo lá tràm chỉ cao hơn 10% so
với Keo lai Bảng giá trên đây cung cấp những thông tin hết sức hữu ích cho thấy giá
thu mua tăng theo đường kính khúc gỗ
Ông Nguyễn Sĩ (Hình 6) là chủ xưởng cưa tại Đông Hà, tại đây có sử dụng gỗ Keo và
một số loại gỗ khác Tại đây, họ thu mua gỗ xẻ Keo từ các rừng trồng ở địa phương
vào thời điểm khai thác và vận chuyển gỗ vè xưởng bằng xe của xưởng Giá thu mua
tại rừng là 80 USD/m3 cho những khúc gỗ đẹp, không bị khuyết tật trên gỗ, đường
kính đầu nhỏ không vỏ lớn hơn 20 cm, chiều dài tối thiểu là 1,2 m Giá này được áp