1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại

7 213 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 177,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với những quốc gia mà pháp luật thương mại chưa đưa ra được định nghĩa cụ thể về “quyền thương mại”, các bên chủ thể trong quan hệ sẽ là những người xác định nội hàm của “quyền thươn

Trang 1

ThS Vò §Æng H¶I yÕn *

ợp đồng nhượng quyền thương mại là

sự thoả thuận của các bên trong quan

hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh,

thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ

của các bên trong hoạt động nhượng quyền,

cũng chính là cơ sở để giải quyết tranh chấp

có thể sẽ phát sinh trong quá trình các bên

thực hiện hợp đồng Điểm nổi bật trong nội

dung của hợp đồng nhượng quyền thương

mại thể hiện thông qua hai nhóm điều khoản

chính, đó là điều khoản về đối tượng của hợp

đồng và điều khoản về quyền và nghĩa vụ

của các bên trong quan hệ nhượng quyền

thương mại

1 Đối tượng của hợp đồng nhượng

quyền thương mại

Nói tới nội dung của hợp đồng nhượng

quyền thương mại không thể không nói tới

đối tượng của loại hợp đồng này Đây là lợi

ích mà các bên trong quan hệ nhượng quyền

đều hướng tới, đó chính là “quyền thương

mại” (bao gồm: tên thương mại, công nghệ,

bí quyết kinh doanh, quy trình kinh doanh,

nhãn hiệu hàng hoá, tài liệu hướng dẫn ) mà

các bên thoả thuận trong hợp đồng nhượng

quyền thương mại Ở các nước khác nhau,

với cái nhìn không đồng nhất về hoạt động

nhượng quyền thương mại, “quyền thương

mại” mà thương nhân có thể đem nhượng

cho thương nhân khác có nội dung rộng, hẹp

khác nhau Một số nước cho rằng đối tượng

của nhượng quyền thương mại chỉ là việc sử dụng tên thương mại, kiểu dáng thiết kế của hàng hoá, trong khi đó một số nước khác lại

mở rộng đối tượng của nhượng quyền thương mại là tất cả những quyền hợp pháp liên quan thiết thân tới hoạt động thương mại của thương nhân Tuy nhiên, xu hướng phát triển của thương mại quốc tế chỉ ra rằng khái niệm về đối tượng của hoạt động nhượng quyền thương mại sẽ ngày càng được mở rộng ở các nước có sự phát triển mạnh mẽ về giao lưu thương mại quốc tế Từ đó, khái niệm đối tượng hợp đồng nhượng quyền thương mại sẽ trở nên đa dạng nhưng lại gặp nhau ở điểm tương đồng, đó chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn những yếu tố mà bên nhượng quyền trao cho bên nhận quyền Lúc này, “quyền thương mại” không chỉ là phép cộng đơn giản của các đối tượng của quyền

sở hữu trí tuệ mà cao hơn, đó là sự kết hợp toàn diện tất cả các yếu tố ấy trong thể thống nhất không phân tách Có thể nói chỉ có cách hiểu như trên về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại mới nói lên được bản chất của quan hệ thương mại đặc biệt này Bởi vì, xét cho cùng, đặc trưng của hoạt động nhượng quyền thương mại chính là sự chia sẻ quyền khai thác trên cùng tên thương

H

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 2

mại, tạo nên hệ thống bán hàng, cung cấp

dịch vụ đồng bộ giữa các thương nhân với

những tư cách pháp lí độc lập và hoàn toàn

khác biệt Xuất phát từ bản chất của “quyền

thương mại”, khi giao kết hợp đồng nhượng

quyền thương mại, các bên cần thiết phải cân

nhắc những yếu tố sẽ được nhắc đến và kết

hợp trong “quyền thương mại” Đối với

những quốc gia mà pháp luật thương mại

chưa đưa ra được định nghĩa cụ thể về

“quyền thương mại”, các bên chủ thể trong

quan hệ sẽ là những người xác định nội hàm

của “quyền thương mại” cho từng hợp đồng

cụ thể Đó chính là việc liệt kê những đối

tượng được đưa vào gói quyền thương mại

Bên cạnh đó, dưới góc độ pháp lí, pháp luật

sẽ hỗ trợ các bên trong việc làm cho định

nghĩa của các bên sáng tỏ hơn thông qua

việc quy định về tính kết hợp của các đối

tượng của quyền sở hữu trí tuệ mà các bên

đã liệt kê ra trước đó

Có thể nhận định rằng phạm vi của

nhượng quyền thương mại còn tiếp tục mở

rộng tuỳ thuộc vào sự gợi mở của pháp luật

và tính sáng tạo trong thoả thuận của các nhà

kinh doanh Tuy nhiên, về bản chất, pháp

luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại

của hầu hết các nước trên thế giới đều công

nhận nhượng quyền thương mại là phương

thức kinh doanh, trong đó, bên nhượng

quyền có các quyền tài sản đối với hệ thống

tiếp thị, dịch vụ hoặc sản phẩm kinh doanh

kí với bên nhận quyền một thoả thuận với

những điều kiện nhất định, trao cho bên

nhận quyền quyền sử dụng tên nhãn hiệu

thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá và

quyền sản xuất, phân phối sản phẩm, dịch

vụ của bên nhượng quyền Vì vậy, ngoài điều khoản về đối tượng của hợp đồng, nội dung hợp đồng nhượng quyền thương mại luôn luôn có những điều khoản đặc trưng và không thể thiếu

2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại thực chất là cụ thể hoá quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ nhượng quyền dựa trên các thoả thuận đã đạt được giữa các bên và theo quy định của pháp luật Thể hiện bằng các điều khoản của hợp đồng, nội dung của hợp đồng nhượng quyền thương mại thường tập trung làm rõ các vấn

đề như thời hạn chuyển nhượng; lãnh thổ chuyển nhượng; phí chuyển nhượng và phương thức thanh toán; các điều kiện chuyển nhượng; các điều khoản liên quan đến cấm cạnh tranh trong hệ thống; quyền và nghĩa vụ khác của các bên; trách nhiệm đối với bên thứ ba

Ngoài những nội dung kể trên, các bên chủ thể trong quan hệ nhượng quyền thương mại có thể thoả thuận và thống nhất một số điều khoản khác mà các bên cho là quan trọng trong việc ràng buộc nghĩa vụ và bảo

vệ quyền lợi của mỗi bên Các điều khoản này, trong chừng mức nhất định, nếu không

vi phạm các điều cấm của pháp luật, đều được coi là các điều khoản chính thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại

Đối với Việt Nam, mặc dù pháp luật về nhượng quyền thương mại không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng nhượng

Trang 3

quyền thương mại nhưng lại quy định chi tiết

về nội dung của hợp đồng nhượng quyền

thương mại Điều 11 Nghị định của Chính

phủ số 35/2006/NĐ-CP ngày 31/03/2006

quy định chi tiết Luật thương mại về hoạt

động nhượng quyền thương mại đã liệt kê

các nội dung cần có của hợp đồng nhượng

quyền thương mại, bao gồm: 1) Nội dung

của quyền thương mại; 2) Quyền và nghĩa vụ

của bên nhượng quyền; 3) Quyền và nghĩa

vụ của bên nhận quyền; 4) Giá cả, phí

nhượng quyền định kì và phương thức thanh

toán; 5) Thời hạn hiệu lực của hợp đồng; 6)

Gia hạn, chấm dứt hợp đồng và giải quyết

tranh chấp

Trong số các nội dung kể trên, quyền và

nghĩa vụ của các bên nhượng quyền thương

mại và nhận quyền thương mại được coi là

nội dung không thể thiếu của hợp đồng

nhượng quyền thương mại Về nguyên tắc,

quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp

đồng là do các bên tự thoả thuận và những

thoả thuận này sẽ có hiệu lực nếu chúng

không trái với các quy định của pháp luật Ở

góc độ thực hiện quyền quản lí các hoạt

động kinh doanh, Nhà nước đưa ra một số

quy định có tính chất khung về quyền và

nghĩa vụ của các bên nhằm bảo vệ một cách

tốt nhất quyền lợi chính đáng của các bên

khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, nhất là

một loại hợp đồng mang tính chất phức tạp

như hợp đồng nhượng quyền thương mại

Theo quy định của pháp luật về nhượng

quyền thương mại của hầu hết các nước và

theo Luật thương mại năm 2005 của Việt

Nam thì quyền và nghĩa vụ chủ yếu của các

bên khi tham gia quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương mại là khá rõ ràng

Về quyền của bên nhượng quyền, nếu

giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền không có thoả thuận nào khác thì bên

nhượng quyền có các quyền sau đây: Một là nhận tiền nhượng quyền; hai là tổ chức

quảng cáo cho hệ thống nhượng quyền thương mại và mạng lưới nhượng quyền

thương mại; ba là kiểm tra định kì hoặc đột

xuất hoạt động của bên nhận quyền nhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn định về chất lượng hàng hoá, dịch vụ Pháp luật thương mại Việt Nam cũng quy định tương tự về quyền của thương nhân nhượng quyền Tuy nhiên, đối với quyền được kiểm soát của bên nhượng quyền trong hệ thống nhượng quyền nói chung và trong quan hệ đối với từng bên nhận quyền trong từng hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng thì ở Việt Nam chưa có quy định cụ thể Việc giới hạn phạm

vi kiểm soát cũng như cách thức kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo

vệ quyền lợi của bên nhận quyền trong trường hợp bên nhượng quyền lợi dụng và lạm dụng việc kiểm soát để gây khó khăn cho bên nhận quyền trong hoạt động kinh doanh Trong bối cảnh pháp luật không quy định nhiều về vấn đề này, các bên phải tự thiết kế nên những điều khoản nhằm ràng buộc trách nhiệm và tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chính mình trong quan hệ nhượng quyền thương mại

Về nghĩa vụ của bên nhượng quyền, xuất

Trang 4

phát từ bản chất của quan hệ nhượng quyền

thương mại, hầu hết pháp luật về nhượng

quyền thương mại đều quy định rằng nếu

giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền

không có thoả thuận nào khác thì bên

nhượng quyền có các nghĩa vụ sau đây: Một

cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống

nhượng quyền thương mại cho bên nhận

quyền; hai là đào tạo ban đầu và cung cấp

trợ giúp kĩ thuật thường xuyên cho thương

nhân nhận quyền để điều hành hoạt động

theo đúng hệ thống nhượng quyền thương

mại; ba là thiết kế và sắp xếp địa điểm bán

hàng, cung ứng dịch vụ bằng chi phí của

thương nhân nhận quyền; bốn là bảo đảm

quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng

được ghi trong hợp đồng nhượng quyền;

năm là đối xử bình đẳng với các thương

nhân nhận quyền trong hệ thống nhượng

quyền thương mại

Đối với những nghĩa vụ chính của bên

nhượng quyền như đã kể trên, pháp luật Việt

Nam với những bước đi muộn màng về

nhượng quyền thương mại cũng không có

khác biệt gì đáng kể so với pháp luật các

nước khác Đối với một số quốc gia hoặc các

tổ chức quốc tế khác, ngoài những quy định

về nghĩa vụ chủ yếu của bên nhượng quyền

còn có những mối quan tâm đặc biệt tới từng

phần chi tiết của hệ thống các nghĩa vụ này

Pháp luật về nhượng quyền thương mại của

Cộng đồng chung châu Âu coi nghĩa vụ

chính của bên nhượng quyền là việc đảm bảo

cho bên nhận quyền được khai thác quyền

thương mại một cách hợp pháp và thuận lợi

nhất Đồng thời, bên nhượng quyền không

được tự ý nhượng tiếp quyền thương mại cho bên thứ ba trong phạm vi lãnh thổ nhượng quyền đã thoả thuận với bên nhận quyền Đương nhiên, việc bên nhượng quyền được nhượng quyền thương mại cho bao nhiêu bên nhận quyền và ở những lãnh thổ, thị trường nào còn phụ thuộc rất nhiều vào loại quan hệ nhượng quyền (có mang tính chất độc quyền hay không) nhưng hầu hết các bên nhượng quyền đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền lợi của bên nhận quyền trong mức độ tối đa có thể Khác với Cộng đồng chung châu Âu, luật về nhượng quyền thương mại của Austria lại tập trung quy định rõ ràng nghĩa vụ trợ giúp, cung cấp, hướng dẫn, nâng cấp công nghệ của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng nhượng quyền thương mại Như vậy, việc chuyển giao và hướng dẫn công nghệ cho bên nhận quyền không chỉ được thực hiện ở thời điểm bắt đầu thực hiện hợp đồng của hai bên cũng như thời điểm khởi đầu kinh doanh theo phương thức nhượng quyền của bên nhận quyền mà còn được thực hiện không phụ thuộc vào bất kì quy định nào về thời gian Việc cung cấp thông tin và hỗ trợ đào tạo kĩ thuật sẽ được bên nhượng quyền thực hiện tại bất kì lúc nào mà tại thời điểm

đó xét thấy sự hỗ trợ là cần thiết cho việc hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền

có thể hội nhập và tương thích được với hệ thống nhượng quyền

Có thể nói hợp đồng nhượng quyền thương mại mang tính chất của loại hợp đồng gia nhập, trong đó, bên nhượng quyền

Trang 5

đưa ra thông tin, yêu cầu và bên nhận quyền

chỉ có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận

Sự thoả thuận lại về một số điều khoản trong

hợp đồng đã soạn trước của bên nhận quyền

đối với bên nhượng quyền rất hiếm khi được

chấp nhận Chính vì vậy, pháp luật điều

chỉnh nhượng quyền thương mại yêu cầu bên

nhượng quyền phải có nghĩa vụ cung cấp

đầy đủ thông tin cũng như tiến hành hỗ trợ

đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ

cho bên nhận quyền là cần thiết Sự mất

tương xứng về thông tin liên quan đến quyền

thương mại được nhượng giữa bên nhượng

quyền và bên nhận quyền làm cho những

quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin và

chịu trách nhiệm trước những thông tin đã

cung cấp đối với bên nhượng quyền thương

mại trở nên có ý nghĩa quan trọng Nghĩa vụ

này của bên nhượng quyền sẽ hạn chế rủi ro

cho bên nhận quyền trong quá trình khai thác

tên thương mại và bí quyết kinh doanh của

bên nhượng quyền thương mại

Về quyền của bên nhận quyền, trong

quan hệ hợp đồng nhượng quyền thương

mại, xét về khía cạnh kinh tế cũng như khía

cạnh pháp lí, bên nhận quyền phải chịu

nhiều ràng buộc từ phía bên nhượng quyền ở

mọi thời điểm, lúc kí kết hợp đồng cũng như

lúc thực hiện hợp đồng Tuy nhiên, bên cạnh

những ràng buộc về mặt nghĩa vụ đó, bên

nhận quyền cũng có một số quyền đối với

bên nhượng quyền, những quyền này cũng

chính là mối ràng buộc trở lại của bên nhận

quyền đối với bên nhượng quyền Cụ thể,

bên nhận quyền có thể: Một là yêu cầu

thương nhân nhượng quyền cung cấp đầy đủ

trợ giúp kĩ thuật có liên quan đến hệ thống

nhượng quyền thương mại; hai là yêu cầu

thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền khác trong

hệ thống nhượng quyền thương mại

Hai quyền cơ bản nói trên của thương nhân nhận quyền có thể được triển khai khác nhau, phù hợp với quy định cụ thể của từng quốc gia hay tổ chức quốc tế về nhượng quyền thương mại Ở Việt Nam, chỉ dừng lại ở những quy định mang tính chất định hướng, không có những quy định vạch

ra những giới hạn cụ thể hay những điều kiện cụ thể để thực hiện những quyền này Khác với Việt Nam, một số quốc gia khác như Austria đã định nghĩa chi tiết về nghĩa

vụ trợ giúp và cung cấp thông tin của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền Theo

đó, sự trợ giúp của bên nhượng quyền phải được hiểu là sự trợ giúp không giới hạn về mặt thời gian và cách thức Bên nhượng quyền có trách nhiệm trợ giúp cho bên nhận quyền bất cứ lúc nào sự trợ giúp được coi là cần thiết Vì vậy, dựa vào đó, bên nhận quyền có thể đưa ra yêu cầu trợ giúp vào thời điểm bên này thực sự cần trợ giúp mà không phụ thuộc vào thời điểm khởi đầu hay kết thúc của việc thực hiện hợp đồng nhượng quyền thương mại

Quan hệ nhượng quyền thương mại được nhìn nhận là quan hệ khá phức tạp và có thể

bị lợi dụng, cấu thành quan hệ cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng nặng nề cho nền kinh tế, xã hội Để giải quyết vấn đề này, pháp luật của một số nước và tổ chức quốc tế, đặc biệt là Cộng đồng chung châu

Trang 6

Âu đã quy định thêm một số quyền cho bên

nhận quyền, trong đó, đặc biệt là các quyền:

Quyền được từ chối nhận mua nguyên vật

liệu hoặc hàng hoá từ một nguồn được bên

nhượng quyền chỉ định nếu việc mua hàng

đó không hề có ảnh hưởng đến tính hệ thống

của hoạt động nhượng quyền thương mại;

quyền được từ chối giao dịch thương mại với

các bên thứ ba nếu các giao dịch này ảnh

hưởng đến việc bảo mật thông tin về quyền

thương mại cho bên nhượng quyền; quyền

được tự do ấn định giá bán lẻ đối với hàng

hoá, dịch vụ Austria đưa ra thêm một quyền

nữa đối với bên nhận quyền, đó là quyền

được yêu cầu thay đổi về phí nhượng quyền

trong quá trình thực hiện hợp đồng nhượng

quyền do tác động của các yếu tố thị trường

hay kinh tế-xã hội.(1)

Về nghĩa vụ của bên nhận quyền, nghĩa

vụ của bên nhận quyền đối với bên nhượng

quyền và các bên thứ ba chính là những

điều kiện mà bên nhận quyền phải đáp ứng

khi chấp nhận tham gia quan hệ hợp đồng

nhượng quyền thương mại Mối quan hệ

này có thể bị chấm dứt bất cứ thời điểm

nào nằm ngoài sự chủ động của bên nhận

quyền với lí do bên nhận quyền không đáp

ứng đủ điều kiện của quan hệ nhượng

quyền, nói cách khác, là bên nhận quyền

không thực hiện đủ nghĩa vụ của mình

Nhóm nghĩa vụ mà pháp luật của hầu hết

các nước quy định cho bên nhận quyền thể

hiện hầu hết các đặc điểm quan trọng của

quan hệ nhượng quyền thương mại Cụ thể,

bên nhận quyền có các nghĩa vụ: Một là trả

tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán

khác theo hợp đồng nhượng quyền thương

mại; hai là chấp nhận sự kiểm soát, giám

sát và hướng dẫn của bên nhượng quyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ của

thương nhân nhượng quyền; ba là giữ bí

mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cả sau khi hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc

chấm dứt; bốn là ngừng sử dụng nhãn hiệu

hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có) hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượng quyền

thương mại; năm là điều hành hoạt động

phù hợp với hệ thống nhượng quyền

thương mại; sáu là không được nhượng

quyền lại trong trường hợp không có sự

chấp thuận của bên nhượng quyền

Pháp luật thương mại của Cộng đồng châu Âu đưa ra hàng loạt các nghĩa vụ mà bên nhận quyền phải thực hiện một cách mẫn cán trong quan hệ nhượng quyền

thương mại, trong đó, quy định: Một là bên

nhận quyền phải bán hàng, cung ứng dịch vụ

do bên nhượng quyền hoặc bên thứ ba được bên nhượng quyền chỉ định trong những trường hợp cần đảm bảo chất lượng của hàng

hoá, dịch vụ trong hệ thống nhượng quyền; hai là không được tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp, vào quan hệ với người thứ

ba trong một lĩnh vực kinh doanh nếu lĩnh vực ấy tồn tại sự cạnh tranh với bên nhượng quyền Cũng tương tự như vậy, pháp luật thương mại của Austria cũng nhấn mạnh đến

Trang 7

nghĩa vụ đảm bảo không cạnh tranh trong hệ

thống (giữa các bên nhượng quyền) và trong

quan hệ với bên nhượng quyền dưới mọi

hình thức của bên nhận quyền

Về cơ bản giữa pháp luật Việt Nam và

pháp luật một số nước khác trên thế giới liên

quan đến quyền và nghĩa vụ của các bên

trong quan hệ nhượng quyền thương mại

không có nhiều điểm khác biệt Tuy nhiên,

sự cụ thể hoá một cách chi tiết các dấu hiệu

nhận biết từng nghĩa vụ của chúng thì không

phải đã được thể hiện rõ trong pháp luật

thương mại Việt Nam Thực tế là trong hoạt

động nhượng quyền thương mại, tranh chấp

có thể nảy sinh tại bất cứ giai đoạn nào của

việc thực hiện hợp đồng và chủ yếu xuất

phát từ hai nguyên nhân chính: Một là cách

tính phí nhượng quyền và hai là cách hiểu về

việc thực hiện đúng nghĩa vụ của mỗi bên

Chính vì vậy, việc miêu tả chi tiết nghĩa vụ

của mỗi bên trong quan hệ nhượng quyền và

định ra cho những nghĩa vụ ấy những ranh

giới phân biệt nhất định giữa việc hoàn thành

và vi phạm chúng là một trong những cách

thức giúp cho các bên tránh được những

tranh chấp không đáng có trong khi thực

hiện kinh doanh bằng phương thức nhượng

quyền thương mại

Tóm lại, ngoài những nội dung thông

thường của hợp đồng thương mại, hợp đồng

nhượng quyền thương mại phải có những

yếu tố cơ bản sau:

- Thứ nhất, quy định về sự “góp vốn”

của bên nhượng quyền cho bên nhận quyền,

sự “góp vốn” thể hiện ở việc bên nhượng

quyền trao bí quyết cho bên nhận quyền và

cho bên nhận quyền sử dụng các dấu hiệu

để tập hợp khách hàng Các dấu hiệu để tập hợp khách hàng bao gồm: Tên thương mại, các kí hiệu, biểu tượng, nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ Tất cả các dấu hiệu này giúp phân biệt được cơ sở kinh doanh trong hệ thống nhượng quyền thương mại với các cơ sở kinh doanh khác là đối thủ cạnh tranh Các dấu hiệu này cấu thành hệ thống nhượng quyền thương mại và là tài sản của bên nhượng quyền;

- Thứ hai, quy định các nghĩa vụ cơ bản

của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền gồm:

+ Đảm bảo quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ;

+ Bảo vệ quyền lợi của các bên nhận quyền trước bên thứ ba nghĩa là loại bỏ sự cạnh tranh của bên thứ ba đối với các dấu hiệu “tập hợp khách hàng”;

+ Đảm bảo không tranh giành khách hàng với bên nhượng quyền;

- Thứ ba, quy định bên nhận quyền phải

trung thành với mô hình nhượng quyền thương mại;

- Thứ tư, quy định về li-xăng;

- Thứ năm, quy định về phân chia thị

trường bao gồm khu vực kinh doanh và phân chia khách hàng;

- Thứ sáu, quy định về “đề xuất” giá bán

cho các thành viên của hệ thống nhượng quyền thương mại./

(1) Geert Bogaert and Ulrich Lohmann Commercial Agency and Distribution Agreements, Laws and practice in the Member States of the European

Community

Ngày đăng: 20/12/2015, 07:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w