Các quy định của Luật doanh nghiệp tạo ra sự bình đẳng về địa vị pháp lí của các loại hình doanh nghiệp Trước đây, địa vị pháp lí của công ti TNHH, công ti cổ phần và doanh nghiệp tư nhâ
Trang 1Những quy định về công ti trong luật doanh nghiệp
háp luật về công ti là một trong
những bộ phận cơ bản trong khung
pháp luật điều chỉnh nền kinh tế thị
trường Luật công ti đầu tiên ở nước ta đ(
được Quốc hội thông qua vào ngày
21/12/1990 và đ( được sửa đổi, bổ sung
một lần (26/2/1994) Tuy nhiên, cùng với
sự phát triển của kinh tế - x( hội, nhiều
quy định của Luật công ti đ( không còn
phù hợp nữa Ngày 12/6/1999, Quốc hội
khoá X, kì họp thứ 5 cũng đ( thông qua
Luật doanh nghiệp để thay thế cho Luật
công ti (1990) và Luật doanh nghiệp tư
nhân (1990)
Luật doanh nghiệp đ( kế thừa nhiều
điểm của Luật công ti và Luật doanh
nghiệp tư nhân đồng thời đ( thể hiện rõ
bước phát triển mới của pháp luật về công
ti ở Việt Nam
Bài viết này đề cập một số vấn đề cơ
bản trong các quy định về công ti của
Luật doanh nghiệp để làm sáng tỏ nhận
định trên
1 Nội dung các quy định về công ti
của Luật doanh nghiệp
Những ưu điểm của Luật doanh
nghiệp được thể hiện chủ yếu ở một số
điểm sau:
a Các quy định của Luật doanh
nghiệp tạo ra sự bình đẳng về địa vị pháp
lí của các loại hình doanh nghiệp
Trước đây, địa vị pháp lí của công ti
TNHH, công ti cổ phần và doanh nghiệp
tư nhân được quy định tại 2 văn bản pháp
lí độc lập (trong Luật công ti và Luật
doanh nghiệp tư nhân) và có nhiều điểm khác biệt về quyền và nghĩa vụ của các loại hình doanh nghiệp này Với sự ra đời của Luật doanh nghiệp, các quyền, nghĩa
vụ chung của công ti và doanh nghiệp tư nhân đ( được quy định thống nhất (tại
Điều 7 và Điều 8) Thiết nghĩ, về lâu dài, các quy định về quyền và nghĩa vụ này cũng cần được áp dụng cho cả các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp nhà nước, hợp tác x(, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Một số quyền mới của công ti và của doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật doanh nghiệp như quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 7); quyền từ chối
và tố cáo mọi yêu cầu cung cấp các nguồn lực không được pháp luật quy định của bất kì cá nhân, cơ quan hay tổ chức nào (Điều 8)
Có thể nói những quy định này đ( góp phần tạo ra “sân chơi” bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư phát huy được hết khả năng, trình độ và sự năng động, sáng tạo của mình, bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh
và kiểm soát độc quyền có hiệu quả
b Luật doanh nghiệp quy định thêm các loại hình doanh nghiệp mới là công ti hợp danh và công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Đây là bước phát triển mới của Luật
P
* Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2doanh nghiệp Với những quy định mới
này, Luật doanh nghiệp đ( khắc phục
được những hạn chế của Luật công ti, đáp
ứng được các khả năng và yêu cầu mà các
nhà đầu tư đặt ra đối với loại hình công ti,
tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có thể
cùng nhau thành lập công ti và tận dụng
được các nguồn vốn cũng như các năng
lực quan trọng trong dân cư Tuy nhiên, ở
đây cũng có điểm phải bàn là Luật doanh
nghiệp đ( cho phép các nhà đầu tư có thể
thành lập công ti hợp danh nhưng lại quy
định “phải có ít nhất hai thành viên hợp
danh; ngoài các thành viên hợp danh có
thể có các thành viên góp vốn” (khoản 1
Điều 95 Luật doanh nghiệp)
Thành viên hợp danh là cá nhân có
trình độ chuyên môn và uy tín nghề
nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ
tài sản của mình về các nghĩa vụ của
công ti Còn thành viên góp vốn chỉ chịu
trách nhiệm về các khoản nợ của công ti
trong phạm vi số vốn đ( góp vào công ti
Vì thế, trong công ti hợp danh, chỉ cần có
một thành viên hợp danh và một thành
viên góp vốn là đủ độ tin cậy đối với các
đối tác khác của công ti
Một số đạo luật về công ti ở các nước
khác trên thế giới cũng có những quy
định cho phép các nhà đầu tư thành lập
công ti hợp danh có một thành viên hợp
danh và có từ một thành viên góp vốn trở
lên Ví dụ, Điều 1077 của Bộ luật thương
mại Thái Lan quy định: “Công ti hợp
danh hữu hạn là một loại hình công ti
hợp danh mà ở đó:
1 Một hoặc nhiều thành viên có trách
nhiệm hữu hạn trong phần vốn mà họ
cam kết riêng rẽ đóng góp vào công ti
hợp danh,
2 Một hoặc nhiều thành viên cùng
nhau có trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các nghĩa vụ của công ti hợp danh”; Điều
1 Luật công ti hợp danh hữu hạn của Mĩ cũng quy định: “Công ti hợp danh hữu hạn là công ti được thành lập bởi hai người trở lên, có từ một thành viên đầy
đủ trở lên và từ một thành viên hữu hạn trở lên” ở đây, “thành viên đầy đủ” là thành viên chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của công ti
Khoản 2 Điều 97 Luật doanh nghiệp quy định: “Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn
đề của công ti” Tuy nhiên, khi nhà đầu tư đ( bỏ vốn vào công ti để kinh doanh thì cần tuân theo nguyên tắc: “Ai có nhiều vốn hơn thì sẽ có nhiều phiếu biểu quyết hơn” Do đó, nếu trong công ti có nhiều thành viên hợp danh và số vốn góp của các thành viên này lại không bằng nhau thì thành viên hợp danh nào có số vốn góp lớn hơn phải được số phiếu biểu quyết nhiều hơn Cần quy định như vậy, vì khi thành viên hợp danh có đa số vốn trong công ti hợp danh thì điều đó cũng
có nghĩa là họ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ti bằng số vốn đ( góp vào công ti Ngoài ra, nếu số vốn đó vẫn chưa đủ thì họ còn mang cả gia sản riêng
ra để chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ti nữa Vì vậy, họ cần phải có quyền quyết định lớn hơn quyền quyết
định của các thành viên hợp danh khác
Điểm mới nữa của Luật doanh nghiệp là quy định về công ti TNHH một thành viên Điều 46 của Luật doanh nghiệp đ( cho phép thành lập cả công ti TNHH một thành viên, cụ thể là: “Công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu”
Đây là sự tiến bộ của Luật doanh nghiệp
Trang 3so với Luật công ti trước đây và cũng thể
hiện việc gọi tên chính xác một số loại
hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân,
chịu trách nhiệm hữu hạn vốn đ( tồn tại
từ lâu trong nền kinh tế nước ta như
doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp
của các tổ chức chính trị, chính trị - x(
hội, doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư
nước ngoài, doanh nghiệp của các đơn vị
quân đội làm kinh tế Chính vì vậy, Điều
14 Nghị định số 03/2000/NĐ-CP ngày
3/2/2000 của Chính phủ đ( quy định 17
loại tổ chức có thể là chủ sở hữu của công
ti TNHH một thành viên
Tuy vậy, tôi cho rằng cần cho phép
thành lập cả công ti TNHH một thành
viên là thể nhân (cá nhân), bởi vì có thể
có những người có vốn, có kiến thức và
nhiệt tình làm kinh doanh nhưng họ chỉ
muốn đầu tư khoản tiền nhất định để kinh
doanh Nếu như gặp rủi ro, họ không
muốn bị mất hết gia sản mà cùng lắm chỉ
là mất hết số vốn đ( bỏ ra kinh doanh mà
thôi Trong trường hợp này, pháp luật
cũng nên cho phép họ thành lập công ti
TNHH một thành viên là thể nhân để tận
dụng những nguồn vốn sẵn có và khả
năng kinh doanh của nhiều người trong
x( hội
Mặt khác, trong thực tiễn ở Việt Nam
từ năm 1987 (năm ban hành Luật đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam đầu tiên) đến
nay, pháp luật cũng đ( cho phép thành
lập loại hình công ti TNHH một thành
viên là thể nhân Đó là các doanh nghiệp
có 100% vốn đầu tư nước ngoài mà nhà
đầu tư là một cá nhân
Pháp luật đ( cho phép các nhà đầu tư
nước ngoài được quyền thành lập công ti
TNHH một thành viên là thể nhân (cá
nhân) thì cũng nên cho các nhà đầu tư
trong nước được hưởng quyền đó, bởi vì
chúng ta cần phải tạo ra môi trường pháp
lí bình đẳng cho các nhà đầu tư ngoài nước cũng như trong nước, cần tạo ra
“sân chơi” chung cho các nhà doanh nghiệp Đồng thời, về lâu dài, Nhà nước
ta đ( có chủ trương kết hợp Luật đầu tư nước ngoài và Luật khuyến khích đầu tư trong nước vào thành đạo luật về đầu tư Nhiều nước trong khu vực và trên thế giới (Singapore, Trung Quốc) cũng có đạo luật đầu tư áp dụng chung cho mọi loại hình doanh nghiệp chứ không có những
ưu tiên, ưu đ(i nhiều hơn cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước
Để hoàn thiện thêm các quy định về quyền và nghĩa vụ của công ti TNHH một thành viên, Chính phủ cần ban hành nghị
định hướng dẫn thi hành quy định về quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp như công ti TNHH hai thành viên trở lên, công ti cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ti hợp danh thì doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp là một Do đó, doanh nghiệp hoàn toàn có các quyền năng đầy
đủ của quyền sở hữu đối với tài sản của doanh nghiệp
Nhưng còn đối với công ti TNHH một thành viên (thành viên là một tổ chức) thì doanh nghiệp và chủ sở hữu công ti không phải là một Chủ sở hữu công ti là người đầu tư, bỏ vốn ra để thuê giám đốc, thuê công nhân, nhân viên kinh doanh Các cơ quan quản lí, điều hành và công nhân, nhân viên của công ti chỉ là những người làm thuê cho chủ sở hữu của công
ti Do đó, doanh nghiệp (bao gồm các cơ quan quản lí, điều hành, các công nhân
Trang 4và nhân viên của công ti TNHH một
thành viên) không thể có các quyền năng
đầy đủ của chủ sở hữu được Họ có quyền
chiếm hữu và sử dụng tài sản của doanh
nghiệp nhưng họ không thể có quyền
định đoạt (ít nhất thì cũng là những tài
sản có giá trị lớn) của doanh nghiệp Họ
cần báo cáo với chủ sở hữu của công ti
TNHH một thành viên về ý định định
đoạt tài sản của doanh nghiệp (bán, cho
thuê, cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng
tài sản) Nếu được chủ sở hữu công ti
TNHH một thành viên chấp thuận thì
doanh nghiệp mới được định đoạt tài sản
của công ti
c Các quy định về vốn trong công ti
Đây là sự tiến bộ và phát triển rất rõ
nét của Luật doanh nghiệp so với Luật
công ti Nếu như trước đây, Luật công ti
chỉ quy định rằng công ti cổ phần phát
hành cổ phiếu và những người sở hữu cổ
phiếu gọi là cổ đông, không hề có sự
phân loại cổ phiếu và cổ đông thì Luật
doanh nghiệp đ( có những quy định rất rõ
ràng, cụ thể, chi tiết về cổ phần phổ thông
và cổ phần ưu đ(i Trong cổ phần ưu đ(i
lại chia ra thành cổ phần ưu đ(i biểu
quyết, cổ phần ưu đ(i cổ tức, cổ phần ưu
đ(i hoàn lại và các loại cổ phần ưu đ(i
khác do điều lệ của công ti quy định
Những quy định như vậy là cần thiết
và phù hợp với những điều kiện, khả
năng, tâm lí khác nhau của nhiều người
trong x( hội có vốn đầu tư tham gia mua
cổ phiếu Cái lợi lớn nhất đạt được ở đây
là tận dụng được nguồn vốn và tri thức
của nhiều người một cách hợp lí và có
hiệu quả nhất để góp phần phát triển kinh
tế, bảo đảm quyền lợi riêng chính đáng
của mỗi người cũng như bảo đảm lợi ích
của toàn x( hội và của đất nước
Tuy vậy, những điều khoản của Luật doanh nghiệp cũng như các nghị định do Chính phủ ban hành đ( chưa có đủ các quy định cần thiết về các loại cổ phần ưu
đ(i này Theo tôi, cần phải có những quy
định cụ thể hơn nữa về các vấn đề như sau:
- Ai là người quyết định việc đặt ra các loại cổ phần ưu đ(i trong công ti cổ phần?
- Ai quyết định tỉ lệ giữa các loại cổ phần ưu đ(i trong công ti cổ phần?
- Ai có quyền mua các loại cổ phần nào?
- Một người có thể có quyền sở hữu nhiều loại cổ phần không?
- Có ai bị cấm hoặc hạn chế mua loại
cổ phần ưu đ(i nào không?
Pháp luật cũng nên quy định về đại hội đồng cổ đông là cơ quan có quyền quyết định các vấn đề nói trên và mọi người có quyền mua nhiều loại cổ phần Cần quy định mối liên hệ hữu cơ giữa tỉ
lệ góp vốn (sở hữu số lượng cổ phần thực tế) với quyền được mua cổ phần ưu đ(i biểu quyết Cụ thể, có thể quy định rằng người có sở hữu tỉ lệ nhất định cổ phần nào đó (ví dụ từ 5% tổng số cổ phần của công ti trở lên) thì mới có quyền mua các
cổ phần ưu đ(i biểu quyết Quy định như vậy sẽ tránh được tình trạng có cổ đông
sở hữu ít cổ phần của công ti nhưng lại toàn là cổ phần ưu đ(i biểu quyết
Mặt khác, các nghị định của Chính phủ hoặc các chỉ thị, thông tư của các bộ cũng nên có những quy định rõ ràng về cơ chế và nguyên tắc xác định mức cổ tức (cổ tức cho cổ phần phổ thông, cổ tức cho
cổ phần ưu đ(i cổ tức, cổ tức thưởng cho
cổ phần ưu đ(i cổ tức) để các công ti gặp thuận lợi khi áp dụng các quy định này
Trang 5trong thực tiễn
d Các quyền và nghĩa vụ của các cơ
quan quản lí và kiểm soát của công ti
được quy định chi tiết và cụ thể hơn
Luật doanh nghiệp đ( góp phần khắc
phục được nhược điểm của công tác lập
pháp trước đây là nhiều điều khoản trong
các đạo luật rất sơ lược, chung chung,
không chi tiết, không cụ thể nên rất khó
được thực hiện ngay trong thực tiễn qua
việc đ( quy định tương đối chi tiết, cụ thể
về tổ chức và hoạt động của các cơ quan
quản lí và kiểm soát của công ti Ví dụ,
Luật doanh nghiệp đ( có tới 10 điều (từ
Điều 70 đến Điều 79) quy định về tổ
chức và hoạt động của đại hội đồng cổ
đông của công ti cổ phần Những quy
định chi tiết, cụ thể về các quyền và
nghĩa vụ của đại hội đồng cổ đông (Điều
70), thẩm quyền triệu tập họp đại hội
đồng cổ đông (Điều 71), chương trình và
nội dung họp đại hội đồng cổ đông (Điều
73), điều kiện, thể thức tiến hành họp đại
hội đồng cổ đông (Điều 76), thông qua
quyết định của đại hội đồng cổ đông
(Điều 77) có thể được các công ti cổ
phần áp dụng ngay trong thực tiễn mà
không cần có thêm nghị định hướng dẫn
thi hành của Chính phủ
e Luật doanh nghiệp có quy định về
vấn đề tổ chức lại công ti
Tổ chức lại doanh nghiệp nói chung
và tổ chức lại công ti nói riêng là vấn đề
đ( được thực tiễn đặt ra từ lâu nhưng Luật
công ti chưa có điều nào quy định về việc
giải quyết vấn đề này Điều đó đ( gây
khó khăn cho việc cơ cấu lại nền kinh tế,
cải tổ, đổi mới hoặc loại bớt những doanh
nghiệp yếu kém, trì trệ, thua lỗ kéo dài
để làm lành mạnh nền kinh tế
Để khắc phục tình trạng này, Luật doanh nghiệp đ( có quy định về việc chuyển đổi công ti TNHH thành công ti
cổ phần hoặc ngược lại (Điều 109) và chuyển đổi công ti TNHH một thành viên (Điều 110)
Tuy nhiên, trong thực tế cũng có thể
có những trường hợp chuyển đổi công ti sau đây:
a Công ti hợp danh chuyển đổi thành công ti TNHH;
b Công ti TNHH chuyển đổi thành công ti hợp danh;
c Công ti TNHH chuyển đổi thành doanh nghiệp tư nhân;
d Công ti cổ phần chuyển đổi thành công ti hợp danh;
e Công ti cổ phần chuyển đổi thành doanh nghiệp tư nhân
Luật doanh nghiệp và các nghị định của Chính phủ cần có những điều khoản quy định đầy đủ và rõ ràng hơn về thủ tục chuyển đổi các loại hình công ti này Chính phủ cần có các quy định cụ thể về các vấn đề sau:
- Cơ quan thông qua quyết định chuyển đổi công ti và điều lệ của công ti chuyển đổi;
- Công ti có phải làm thủ tục giải thể công ti cũ rồi lại đăng kí kinh doanh công
ti mới không, hay chỉ cần thông báo quyết định chuyển đổi công ti với cơ quan cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh?
- Việc bầu hoặc cử các cơ quan quản
lí và kiểm soát trong công ti chuyển đổi;
- Sự thay đổi quyền và nghĩa vụ của công ti chuyển đổi;
- Sự thay đổi quyền và nghĩa vụ của thành viên công ti chuyển đổi
Trang 62 Về phạm vi áp dụng của Luật
doanh nghiệp, Nghị định số 02/2000
NĐ-CP và Nghị định số
03/2000/NĐ-CP
Hiện nay đang tồn tại những mâu
thuẫn trong các quy định của pháp luật và
giữa pháp luật với thực tiễn như sau:
Điều 9 Luật doanh nghiệp quy định:
“Tổ chức và cá nhân có quyền thành
lập và quản lí doanh nghiệp, trừ những
trường hợp sau đây:
1 Cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc
lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài
sản của Nhà nước và công quỹ để thành
lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi
riêng cho cơ quan, đơn vị mình”
Như vậy, các đơn vị thuộc lực lượng
vũ trang không được phép thành lập và
quản lí các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh Nhưng Điều 14 Nghị định số
03/2000/NĐ-CP lại quy định rằng:
“Tổ chức là chủ sở hữu công ti TNHH
một thành viên quy định tại Điều 46 Luật
doanh nghiệp phải là pháp nhân và có
thể bao gồm:
1 Cơ quan Nhà nước, đơn vị thuộc
lực lượng vũ trang”
Thực tế những năm vừa qua cho thấy
nhiều đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang
cũng đ( tận dụng được các cơ sở vật chất
và phương tiện hiện có để làm kinh tế có
hiệu quả, đóng góp thiết thực vào sự phát
triển kinh tế của đất nước nói chung
Nhưng về cơ sở pháp lí cho hoạt động của
các đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang
làm kinh tế thì còn khá lỏng lẻo và chưa
rõ ràng Nhà nước chưa ban hành những
văn bản pháp lí để quy định chính thức
địa vị pháp lí, đặc biệt là các quyền và
nghĩa vụ của các đơn vị kinh tế thuộc lực
lượng vũ trang
Thiết nghĩ về lâu dài, cần phải nghiên cứu và có giải pháp pháp lí phù hợp theo hướng phải xác định lại một cách rõ ràng cơ quan nhà nước và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang có được thành lập và quản
lí doanh nghiệp không? Nếu Luật doanh nghiệp vẫn giữ nguyên điểm 1 Điều 9 thì Nghị định số 03/2000/NĐ-CP phải bỏ
điểm 1 trong Điều 14 Đồng thời, trong thực tế phải chuyển hướng tổ chức và hoạt động của tất cả các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang đang làm kinh tế; nếu muốn tận dụng và phát huy vai trò, tiềm năng của các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang cho mục đích góp phần vào việc phát triển kinh tế thì phải bỏ điểm 1 trong
Điều 9 Luật doanh nghiệp và phải ban hành những văn bản pháp lí cần thiết quy
định địa vị pháp lí, quyền hạn, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc các lực lượng vũ trang làm kinh tế Cần quy định rõ nếu đ( tham gia làm kinh tế thì các đơn vị của các lực lượng vũ trang phải có địa vị pháp
lí của công ti TNHH một thành viên và
có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như các quyền và nghĩa vụ của các công ti TNHH một thành viên (dân sự) khác
Cũng cần bổ sung vào khoản 2 Điều 1 Luật doanh nghiệp như sau: “Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- x( hội, doanh nghiệp của các lực lượng vũ trang khi được chuyển đổi thành công ti TNHH, công ti cổ phần thì được điều chỉnh theo Luật này”
3 Về vấn đề quản lí nhà nước đối với công ti
Trong nền kinh tế thị trường, sự quản
lí nhà nước đối với các doanh nghiệp là rất quan trọng, bảo đảm cho sự ổn định
và phát triển có hiệu quả của nền kinh tế
Trang 7quốc dân
Chương VIII của Luật doanh nghiệp
với 5 điều (từ Điều 114 đến Điều 118) đ(
quy định khá cụ thể những vấn đề liên
quan đến sự quản lí của Nhà nước đối với
các doanh nghiệp nói chung và công ti
nói riêng Những quy định về nội dung
quản lí nhà nước đối với doanh nghiệp
(Điều 114), cơ quan quản lí nhà nước đối
với doanh nghiệp (Điều 115), quyền hạn
và trách nhiệm của cơ quan đăng kí kinh
doanh (Điều 116), thanh tra hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp (Điều 117),
năm tài chính và báo cáo tài chính của
doanh nghiệp (Điều 118) thực sự là
những quy định rõ ràng, cụ thể và cần
thiết bảo đảm cho sự quản lí của Nhà
nước đối với các công ti đạt được hiệu
quả cao
Tuy vậy, vấn đề cần nhấn mạnh là cần
phải tăng cường quản lí nhà nước đối với
công ti sau khi cấp giấy chứng nhận đăng
kí kinh doanh Từ trước đến nay, công tác
quản lí nhà nước đối với các doanh
nghiệp sau khi các doanh nghiệp đ( được
cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh
là còn rất mơ hồ và lỏng lẻo Do đó, tình
trạng trốn lậu thuế, kinh doanh trái pháp
luật, kinh doanh không đúng với đăng kí
kinh doanh xảy ra không phải là ít
Trong tình hình hiện nay, cần phải
chấn chỉnh một cách căn bản thực trạng
này, phải đưa việc quản lí nhà nước đối
với doanh nghiệp (cụ thể ở đây là các
công ti) vào nền nếp và theo đúng kỉ
cương phép nước
Điều 8 của Luật doanh nghiệp có quy
định nghĩa vụ của doanh nghiệp (trong đó
có công ti) là “Kê khai và định kì báo cáo
chính xác, đầy đủ các thông tin về doanh
nghiệp và tình hình tài chính của doanh
nghiệp với cơ quan đăng kí kinh doanh” Nhưng quy định như vậy vẫn còn chưa đủ
và chưa có tính cưỡng chế Chữ “định kì”
ở đây là khoảng thời gian bao lâu? Nếu như các doanh nghiệp (ở đây là các công ti) không thực hiện nghĩa vụ này thì sao? Chính phủ cần hướng dẫn thi hành
điều khoản này, cụ thể là có thể cứ 3 tháng (một quý) một lần, doanh nghiệp (trong đó có các công ti) phải kê khai và báo cáo chính xác, đầy đủ các thông tin
về doanh nghiệp và tình hình tài chính của doanh nghiệp với cơ quan đăng kí kinh doanh Còn trong trường hợp 6 tháng liền (hai quý) mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ kê khai và báo cáo như vậy, thì cơ quan đăng kí kinh doanh có quyền thu hồi giấy chứng nhận
đăng kí kinh doanh của doanh nghiệp đó
Đồng thời, khi các doanh nghiệp có
kê khai và báo cáo thì cơ quan đăng kí kinh doanh phải cập nhật ngay các số liệu
đó vào hồ sơ quản lí doanh nghiệp, để bảo đảm đó là bộ hồ sơ “sống” giúp cho các cơ quan có thẩm quyền quản lí các doanh nghiệp một cách có hiệu quả, tránh tình trạng quan liêu và xa rời thực tế trong việc quản lí, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp như tình trạng đ( và
đang xảy ra hiện nay
Luật doanh nghiệp mới có hiệu lực từ ngày 1/1/2000 Thời gian từ đó đến nay chưa nhiều để có thể có những kết luận chính thức, đầy đủ về tác dụng của đạo luật này trong cuộc sống Hi vọng rằng pháp luật về doanh nghiệp sẽ ngày càng
được hoàn thiện và phát huy vai trò tích cực của nó trong việc tạo điều kiện và
đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp nói chung và của các công
ti nói riêng./