Trong đó có trường hợp luật hình sự Đức có hiệu lực mà không cần điều kiện kèm theo như trường hợp Điều 80 BLHS – Chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược hoặc trường hợp Điều 316c BLHS – Các
Trang 1GS.TS NguyÔn Ngäc Hoµ *
PGS.TS Lª ThÞ S¬n **
hần chung Bộ luật hình sự CHLB Đức gồm
5 chương với các quy định từ Điều 1 đến
Điều 79 Trong đó, các vấn đề chung về luật
hình sự, về hành vi phạm tội, về hậu quả pháp lí
của hành vi phạm tội được quy định một cách
cụ thể, chi tiết
1 Các vấn đề chung về luật hình sự
Các vấn đề chung về luật hình sự được quy
định trong Chương thứ nhất của Bộ luật hình sự
(BLHS) Chương này có 12 điều quy định về
hiệu lực, về các loại tội phạm và về định nghĩa
của một số khái niệm được sử dụng trong Bộ
luật
Hiệu lực là vấn đề được đề cập đầu tiên
trong BLHS với các quy định rất cụ thể Khi
quy định hiệu lực thời gian, nhà làm luật tuân thủ
triệt để nguyên tắc “Không có luật thì không có
tội” Nguyên tắc này đã được thể hiện trong
điều luật riêng có tiêu đề “Không có hình phạt
khi không có luật” với nội dung: “Một hành vi
chỉ có thể bị xử phạt (hình sự) nếu việc bị xử
phạt đã được luật quy định trước khi hành vi
được thực hiện” (Điều 1) Như vậy, luật hình
sự Đức không có hiệu lực hồi tố Khi quy định
về hiệu lực thời gian, luật hình sự Đức xuất phát
từ nguyên tắc chung là hình phạt và các hậu quả
kèm theo được xác định theo luật đang có hiệu
lực tại thời gian thực hiện hành vi (khoản 1 Điều
2) Đồng thời, luật cũng quy định cách xử lí những loại trường hợp cụ thể có thể xảy ra Đó
là các trường hợp:
- Trường hợp luật thay đổi trong khi hành vi được thực hiện thì luật được áp dụng là luật có hiệu lực khi hành vi kết thúc (khoản 2 Điều 2);
- Trường hợp luật có hiệu lực khi hành vi kết thúc bị thay đổi trước khi ra quyết định thì luật được áp dụng là luật nhẹ nhất (khoản 3 Điều 2)
Khi quy định hiệu lực về không gian, luật hình sự Đức tuân thủ các nguyên tắc sau:(1)
- Nguyên tắc lãnh thổ;
- Nguyên tắc cờ phương tiện;(2)
- Nguyên tắc quốc tịch (chủ động và bị động);(3)
- Nguyên tắc bảo vệ quốc gia (nguyên tắc bảo vệ) và
- Nguyên tắc theo luật quốc tế (nguyên tắc toàn cầu)
Từ nguyên tắc trên, BLHS Đức chia hiệu lực không gian thành ba loại trường hợp: Hiệu lực đối với các hành vi trong nước; hiệu lực đối với hành vi xảy ra trên tàu thuỷ, tàu bay Đức và hiệu lực đối với hành vi ở nước ngoài Đối với trường hợp thứ nhất và thứ hai, luật hình sự Đức
P
* Trường Đại học Luật Hà Nội
** Giảng viên chính Khoa pháp luật hình sự Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 2luôn luôn có hiệu lực Đối với trường hợp thứ
ba, luật phân biệt tiếp thành ba loại: Hiệu lực đối
với hành vi ở nước ngoài chống lại các đối
tượng được pháp luật trong nước bảo vệ (Điều
5); hiệu lực đối với hành vi ở nước ngoài chống
lại các đối tượng được pháp luật quốc tế bảo vệ
(Điều 6) và hiệu lực đối với hành vi ở nước
ngoài trong các trường hợp khác (Điều 7) Tại
cả 3 điều luật này, nhà làm luật đều liệt kê một
cách cụ thể các trường hợp mà luật hình sự Đức
có hiệu lực (có thể là điều luật cụ thể, khoản cụ
thể và điểm cụ thể) Trong đó có trường hợp
luật hình sự Đức có hiệu lực mà không cần điều
kiện kèm theo (như trường hợp Điều 80 BLHS
– Chuẩn bị cuộc chiến tranh xâm lược hoặc
trường hợp Điều 316c BLHS – Các tấn công
giao thông hàng không hoặc hàng hải; v.v ),(4)
có trường hợp luật hình sự Đức chỉ có hiệu lực
khi thoả mãn điều kiện khác như điều kiện về
quốc tịch của người phạm tội, người bị hại; điều
kiện về tính trái pháp luật hình sự của hành vi tại
nơi hành vi xảy ra; v.v Ví dụ: Trường hợp Điều
218 – Phá thai phải kèm theo điều kiện người
thực hiện tội phạm tại thời gian thực hiện hành vi
phải là người Đức và có nguồn sống chính trong
phạm vi hiệu lực không gian của BLHS hoặc
trường hợp Điều 108e – Hối lộ dân biểu phải
kèm theo điều kiện người thực hiện tội phạm tại
thời gian thực hiện hành vi phải là người Đức
hoặc hành vi được thực hiện đối với ngưòi
Đức.(5)
Nói chung, với 5 điều luật khác nhau (từ
Điều 3 đến Điều 7) BLHS Đức quy định vấn đề
hiệu lực về không gian rất chi tiết, cụ thể.(6)
Để có cơ sở thống nhất cho việc áp dụng
các quy định về hiệu lực BLHS Đức còn có hai điều luật giải thích rõ thời gian thực hiện hành vi (Điều 8) cũng như nơi thực hiện hành vi (Điều 9)
Các loại tội phạm được phân loại trong Phần chung BLHS Đức là tội phạm nghiêm trọng và tội phạm ít nghiêm trọng Theo Điều
12, tội phạm nghiêm trọng được định nghĩa là các hành vi trái pháp luật bị đe doạ ở mức thấp nhất với hình phạt tự do 1 năm hoặc cao hơn; còn tội phạm ít nghiêm trọng được định nghĩa là các hành vi trái pháp luật bị đe doạ ở mức thấp nhất với hình phạt tự do nhẹ hơn hoặc là hình phạt tiền
Như vậy, trong BLHS Đức, tội phạm được phân thành hai loại tội và việc phân loại này căn
cứ vào mức thấp nhất của khung hình phạt.(7) Tuy nhiên, BLHS Đức không có định nghĩa chung về tội phạm Định nghĩa này chỉ có thể thấy trong các sách báo pháp lí Trong đó, tội phạm thường được định nghĩa là hành vi thoả mãn cấu thành tội phạm (CTTP), trái pháp luật
và có lỗi.(8)
Theo các nhà nghiên cứu thì hành vi
bị coi là tội phạm có 3 dấu hiệu (đặc điểm) Đó là:
- Dấu hiệu thoả mãn CTTP;
- Dấu hiệu trái pháp luật và
- Dấu hiệu có lỗi
Trong định nghĩa này, dấu hiệu thứ nhất nhằm khẳng định tội phạm phải là hành vi được quy định trong luật hình sự; dấu hiệu thứ hai đòi hỏi hành vi đó (hành vi đã thoả mãn dấu hiệu thứ nhất) không phải là hành vi được thực hiện trong tình trạng có căn cứ biện minh (căn cứ loại trừ tính trái pháp luật của hành vi như phòng vệ
Trang 3khẩn cấp, tình trạng khẩn cấp )(9)
Trong ba dấu hiệu trên đây của tội phạm có
hai dấu hiệu thuộc về dấu hiệu hình thức pháp lí
Đó là dấu hiệu thứ nhất và dấu hiệu thứ hai Hai
dấu hiệu này tương đương với dấu hiệu “tính trái
pháp luật hình sự” trong định nghĩa tội phạm của
nhiều nhà khoa học Việt Nam.(10)
2 Các vấn đề chung về hành vi phạm
tội
BLHS Đức không có điều luật định nghĩa
tội phạm nhưng có cả một chương quy định về
hành vi phạm tội Trong đó, các quy định tập
trung vào các vấn đề sau:
2.1 Vấn đề chủ thể của tội phạm
Từ nguyên tắc có lỗi, luật hình sự Đức đòi
hỏi chủ thể của tội phạm phải là người có năng
lực lỗi.(11)
Năng lực lỗi tại thời điểm thực hiện
hành vi là điều kiện để người thực hiện có thể có
lỗi Luật hình sự Đức không trực tiếp quy định
như thế nào là có năng lực lỗi mà quy định
những trường hợp không có năng lực lỗi Đó là
trường hợp:
- Người chưa đủ 14 tuổi (Điều 19);
- Người không có năng lực lỗi do các rối
loạn tâm thần (Điều 20).(12)
Theo luật Đức thì người say do dùng rượu
hoặc dùng chất kích thích mạnh khác cũng được
coi là người không có năng lực lỗi (do rối loạn ý
thức nặng) Tuy nhiên, theo nguyên tắc có tính
tập quán “actio libera in causa” họ vẫn phải chịu
hình phạt về hành vi thoả mãn cấu thành tội
phạm (CTTP) được thực hiện trong tình trạng
say đó nếu họ có lỗi đối với tình trạng say của
mình
Bên cạnh việc quy định trường hợp không
có năng lực lỗi, luật hình sự Đức còn quy định trường hợp năng lực lỗi hạn chế Đây là trường hợp năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi theo sự nhận thức chỉ bị hạn chế
do các nguyên nhân như nguyên nhân của trường hợp không có năng lực lỗi.(13)
Trường hợp này được giảm nhẹ hình phạt
Người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi tuy không thuộc trường hợp không có năng lực lỗi nhưng cũng không thể khẳng định được ngay
là họ có năng lực lỗi Để xác định họ có năng lực lỗi hay không toà án phải xem xét mức độ phát triển cụ thể của họ.(14)
2 2 Vấn đề lỗi và các trường hợp sai lầm
Theo BLHS Đức có hai loại lỗi là cố ý và
vô ý nhưng BLHS cũng khẳng định: “Chỉ thực
hiện cố ý mới bị xử phạt trừ khi Luật đe doạ việc thực hiện vô ý với hình phạt một cách
rõ ràng” (Điều 15) Theo đó, tội phạm trước
hết là tội cố ý và dấu hiệu lỗi cố ý không cần phải được mô tả trong CTTP Trong các trường hợp mà nhà làm luật thấy cần phải coi hành vi vô
ý cũng là tội phạm thì dấu hiệu lỗi vô ý phải được ghi rõ trong CTTP
BLHS Đức không chỉ khẳng định tội phạm phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý mà còn khẳng định việc chịu trách nhiệm hình sự tăng nặng về hậu quả đặc biệt của hành vi chỉ được đặt ra khi chủ thể có lỗi đối với hậu quả đó, ít nhất là vô ý (Điều 18)
BLHS Đức quy định hai loại lỗi như vậy nhưng không định nghĩa cụ thể từng loại lỗi và
Trang 4do vậy cũng không có việc xác định các hình
thức của lỗi cố ý và lỗi vô ý
Tuy nhiên, trong lí luận về luật hình sự, lỗi
cố ý có thể là:
- Cố ý chủ định;
- Cố ý trực tiếp và
- Cố ý gián tiếp (cố ý có thể)
Cố ý chủ định thực chất là dạng đặc biệt
của cố ý trực tiếp, trong đó người phạm tội
không chỉ mong muốn hậu quả trực tiếp mà còn
mong muốn cả hậu quả được luật quy định dưới
dạng ý muốn Đây là dạng cố ý ở những tội có
mục đích là dấu hiệu bắt buộc
Cố ý trực tiếp là trường hợp trong đó người
phạm tội biết hoặc thấy trước một cách chắc
chắn hành vi của mình sẽ thoả mãn CTTP
Cố ý gián tiếp (cố ý có thể) là trường hợp
trong đó người phạm tội cho rằng hành vi của
mình có thể sẽ thoả mãn CTTP và chấp nhận
điều đó.(15)
Hai hình thức của lỗi vô ý là:
- Vô ý có ý thức và
- Vô ý không có ý thức
Vô ý có ý thức là trường hợp người phạm
tội cho rằng hành vi của mình có thể thoả mãn
CTTP nhưng lại tin rằng hành vi đó sẽ không
thoả mãn CTTP
Vô ý không có ý thức là trường hợp người
phạm tội do không chú ý đến sự cẩn thận cần
thiết nên đã không thấy được hành vi của mình
có thể thoả mãn CTTP.(16)
Để phân biệt trường hợp có lỗi với các
trường hợp không có lỗi, BLHS Đức còn có
các điều luật quy định về các trường hợp sai
lầm Đây là các điều luật xác định trường hợp không có lỗi hoặc không có lỗi cố ý Cụ thể, Điều 17 quy định về trường hợp không có lỗi do
sai lầm về việc cấm: “Nếu khi thực hiện hành
vi mà thiếu ở người thực hiện sự nhận biết là thực hiện không hợp pháp thì người đó thực hiện không có lỗi nếu họ không thể tránh được sự sai lầm này ” Điều 16 quy định về
trường hợp không có lỗi cố ý do sai lầm về các
tình tiết của hành vi: “Người nào khi thực hiện
hành vi mà không biết một tình tiết thuộc CTTP thì họ thực hiện không cố ý…” Ngoài
ra, điều luật này còn quy định: “ Người nào khi
thực hiện hành vi có sự sai lầm về các tình tiết mà các tình tiết này thoả mãn CTTP của luật nhẹ hơn thì chỉ có thể bị xử phạt vì hành
vi cố ý theo luật nhẹ hơn đó.”
2.3 Vấn đề thực hiện qua không hành động và vấn đề thực hiện cho người khác
Đây là hai vấn đề thuộc hành vi phạm tội được xác định ngay trong BLHS Đức.(17)
Theo Điều 13, việc gây hậu quả được mô tả trong một CTTP có thể được thực hiện qua không hành động và khác với thực hiện qua hành động người thực hiện như vậy chỉ có thể bị xử phạt theo luật hình sự khi họ có trách nhiệm pháp lí không để cho hậu quả đó xảy ra Tuy nhiên, điều luật này cũng quy định: Hình phạt có thể được giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 49
Điều 14 xác định các trường hợp thực hiện cho người khác bao gồm trường hợp thực hiện cho người khác do có quyền đại diện và trường hợp do được uỷ nhiệm Theo đó người thực hiện phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều luật
Trang 5mà trong đó quy định dấu hiệu nhân thân đặc
biệt của chủ thể mặc dù họ không có dấu hiệu
đó nếu dấu hiệu này có ở người được đại diện
hoặc người uỷ nhiệm ngaycả khihành vi pháp lí
xác lập quyền đại diện hoặc quan hệ uỷ nhiệm
không có hiệu lực
2.4 Các căn cứ biện hộ (các căn cứ loại
trừ tính trái pháp luật của hành vi) (18)
Các căn cứ biện hộ là các căn cứ làm cho
người thực hiện hành vi bị quy định là tội phạm
nhất định không phải chịu trách nhiệm hình sự
do hành vi đó không còn trái pháp luật hoặc
không có lỗi Theo khoa học luật hình sự của
Đức, căn cứ biện hộ có thể được luật định hoặc
được tập quán thừa nhận Trong BLHS Đức có
3 điều luật quy định về các căn cứ biện hộ Đó
là:
- Phòng vệ khẩn cấp (Điều 32);
- Tình trạng khẩn cấp hợp pháp (Điều 34) và
- Tình trạng khẩn cấp không có lỗi.(19)
Theo Điều 32, hành vi được thực hiện do
yêu cầu của phòng vệ khẩn cấp là hành vi không
trái pháp luật Đó là trường hợp tự vệ cần thiết
để ngăn chặn sự tấn công hiện hữu trái pháp luật
chống lại mình hoặc người khác
Vượt quá giới hạn phòng vệ khẩn cấp do
hốt hoảng, sợ hãi hoặc hoảng loạn thì không bị
xử phạt (Điều 33)
Tình trạng khẩn cấp trong BLHS Đức bao
gồm hai loại trường hợp - tình trạng khẩn cấp
hợp pháp và tình trạng khẩn cấp không có lỗi
Hai trường hợp này cùng có điều kiện trước hết
là chủ thể đang trong tình trạng nguy hiểm hiện
hữu và cùng có hệ quả cuối cùng là hành vi thực
hiện không phải là tội phạm, chủ thể đều không phải chịu trách nhiệm hình sự Sự khác nhau giữa hai trường hợp này thể hiện ở các điểm sau:
- Về phạm vi nguy hiểm hiện hữu: Nguy hiểm hiện hữu trong tình trạng khẩn cấp hợp pháp có phạm vi rộng hơn, bao gồm tính mạng, thân thể, tự do, danh dự, tài sản hoặc đối tượng được pháp luật bảo vệ khác của mình hoặc của người khác; còn trong tình trạng khẩn cấp không có lỗi, phạm vi này hẹp hơn, chỉ bao gồm nguy hiểm đến tính mạng, thân thể, tự do và sự nguy hiểm này chỉ giới hạn là của mình hoặc của người thân thích hoặc của người khác có quan
hệ gần gũi với mình
- Về so sánh giữa lợi ích cần bảo vệ và lợi ích bị gây thiệt hại, giữa hành vi bảo vệ và sự nguy hiểm: Vấn đề này chỉ đặt ra trong tình trạng khẩn cấp hợp pháp Cụ thể: lợi ích cần bảo vệ
phải hơn hẳn lợi ích bị gây hại và hành vi bảo vệ
là phương tiện tương xứng để ngăn chặn sự nguy hiểm.(20)
2.5 Phạm tội chưa đạt
Điều 22 BLHS định nghĩa: Hành vi phạm tội
là chưa đạt khi người nào bắt đầu trực tiếp làm thỏa mãn CTTP theo sự hình dung của họ về hành vi
Với định nghĩa này, phạm tội chưa đạt được hiểu là trường hợp đã thực hiện hành vi trực tiếp làm thoả mãn CTTP (không còn là hành vi chuẩn bị - hành vi tạo điều kiện).(21)
Phạm tội chưa đạt không phải chỉ được tính từ khi đã thoả mãn được dấu hiệu của CTTP mà được tính ngay từ khi đã có hành vi mà tiếp nối ngay sau đó là sự thoả mãn dấu hiệu của CTTP
Trang 6Về việc xử phạt trong trường hợp chưa đạt,
BLHS quy định phạm tội chưa đạt có thể được
xử phạt nhẹ hơn tội phạm hoàn thành (giảm nhẹ
theo quy định tại khoản 1 Điều 49) Tuy nhiên,
không phải trường hợp phạm tội chưa đạt nào
cũng bị xử phạt Cụ thể: Phạm tội chưa đạt luôn
bị xử phạt nếu là phạm tội chưa đạt của tội
phạm nghiêm trọng; còn phạm tội chưa đạt của
tội phạm ít nghiêm trọng chỉ bị xử phạt nếu
được luật quy định rõ.(22)
Ngoài quy định trên, BLHS Đức còn có
quy định về trường hợp chưa đạt vô hiệu và
trong đó cho phép miễn hoặc giảm hình phạt
cho người phạm tội theo khoản 2 Điều 49.(23)
Đây là trường hợp trong đó người phạm tội do
hiểu biết quá hạn chế mà đã không thể nhận biết
được rằng hành vi đã thực hiện của mình hoàn
toàn không thể hoàn thành được do tính chất
của đối tượng mà hành vi nhằm vào hoặc do
tính chất của phương tiện được sử dụng…
Theo đó, chưa đạt vô hiệu ở đây có thể do
khách thể không phù hợp, do phương tiện
không phù hợp Ngoài ra, chưa đạt vô hiệu còn
có thể do chủ thể không phù hợp Đây là trường
hợp chưa đạt rất đặc biệt, trong đó chủ thể của
tội phạm có sự nhầm lẫn về đặc điểm đặc biệt
của chính mình Vấn đề này chưa được đề cập
trong luật hình sự Việt Nam Ngay ở Đức, vấn
đề này cũng còn tranh luận
Trong các quy định của BLHS Đức về
phạm tội chưa đạt cũng có quy định về trường
hợp phạm tội chưa đạt không bị xử phạt vì đã
tự chấm dứt Đây là trường hợp đã tự nguyện
dừng việc thực hiện tiếp hành vi hoặc ngăn chặn
không cho tội phạm hoàn thành (Điều 24
BLHS)
Theo điều luật, có hai loại trường hợp chấm dứt phạm tội Đó là:
- Dừng lại không thực hiện tiếp;
- Dừng lại và có hành động tích cực ngăn chặn không cho tội phạm trở thành tội phạm hoàn thành
Chấm dứt phạm tội ở trường hợp thứ nhất chỉ có thể xảy ra khi người phạm tội chưa thực hiện hết những gì mà họ cho là đủ để tội phạm
có thể hoàn thành.Như vậy, chấm dứt phạm tội
ở trường hợp này chỉ có thể xảy ra khi tội phạm còn đang là tội phạm chưa đạt chưa kết thúc.(24) Chấm dứt phạm tội ở trường hợp thứ hai xảy ra khi người phạm tội đã thực hiện hết những gì mà họ cho là đủ để tội phạm có thể hoàn thành
Như vậy, chấm dứt phạm tội ở trường hợp này xảy ra khi tội phạm đã là tội phạm chưa đạt
đã kết thúc.(25)
Ở cả hai trường hợp, người phạm tội đều phải có thái độ tự nguyện trong việc dừng lại hoặc trong việc có hành động ngăn chặn Việc dừng lại cũng như việc ngăn chặn không đòi hỏi phải có tác dụng thực sự làm tội
phạm không hoàn thành: “Nếu tội phạm vẫn
không thể hoàn thành cho dù không có hành
vi của người tự chấm dứt thì người tự chấm dứt vẫn không bị xử phạt nếu họ tự nguyện
và thực sự cố gắng ngăn chặn tội phạm hoàn thành”
Trong trường hợp có nhiều người cùng tham gia thì chỉ người nào tự nguyện ngăn chặn tội
Trang 7phạm hoàn thành mới không bị xử phạt vì phạm
tội chưa đạt.(26)
Ngoài việc quy định chế định tự chấm dứt
trong Phần chung BLHS Đức còn quy định
trong Phần riêng chế định “hối cải tích cực” có
nội dung mở rộng hơn so với chế định tự chấm
dứt Trong trường hợp này, người phạm tội còn
có thể có hành động tích cực ngăn chặn tội
phạm hoàn thành ngay cả khi tội phạm đã ở thời
điểm chưa đạt đã kết thúc Chế định này được
quy định cho từng tội phạm cụ thể.(27)
2.6 Người thực hiện tội phạm và người
tòng phạm
Luật hình sự Đức không có khái niệm đồng
phạm với ý nghĩa là hình thức phạm tội đặc biệt
như trong luật hình sự Việt Nam mà quy định
trực tiếp những hành vi và gắn với mỗi loại hành
vi là một loại người phải chịu trách nhiệm hình
sự Theo đó có những loại người phải chịu trách
nhiệm hình sự sau:
- Người thực hiện tội phạm;
- Người xúi giục và
- Người giúp sức.(28)
Trong đó, người xúi giục và người giúp sức
được gọi chung là người tòng phạm; người thực
hiện tội phạm và người tòng phạm được gọi
chung là người tham gia
Điều 25 xác định người thực hiện tội phạm
là người nào tự mình hoặc qua người khác thực
hiện tội phạm
Như vậy, theo luật hình sự Đức có các
dạng người thực hiện tội phạm sau:
- Người tự mình thực hiện và
- Người thực hiện qua người khác
Người tự mình thực hiện hay còn được gọi
là người thực hiện tội phạm trực tiếp là người tự mình thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong CTTP Họ có thể là người phạm tội cố ý hoặc là người phạm tội vô ý
Người thực hiện qua người khác hay còn được gọi là người thực hiện tội phạm gián tiếp là người thực hiện hành vi phạm tội cố ý được quy định trong CTTP qua hành vi của người khác Người khác ở đây đã bị sử dụng như “công cụ”
Họ là “người trung gian” thực hiện tội phạm nhưng không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đó vì lí do khác nhau như do không có năng lực lỗi, do sai lầm vì bị lừa dối (29)
Người thực hiện tội phạm theo BLHS Đức
có thể chỉ là một người nhưng cũng có thể có nhiều người cùng là người thực hiện tội phạm của một tội phạm nếu họ cùng nhau thực hiện tội phạm đó (khoản 2 Điều 25 BLHS) Khi đó, mỗi người đều được gọi là đồng thực hiện tội phạm và bị xử phạt như người thực hiện tội phạm phạm.( 30 )
Về người xúi giục Điều 26 quy định là người
nào đã cố ý thúc đẩy người khác đến hành vi
trái pháp luật được thực hiện cố ý của họ
Như vậy, người xúi giục là người cố ý có những tác động đến người khác làm họ thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự một cách cố ý và do vậy làm họ trở thành người thực hiện tội phạm Phương thức, phương tiện
mà người xúi giục sử dụng để tác động có thể là thuyết phục, khuyên răn, mua chuộc, doạ nạt (31)
Người xúi giục bị xử phạt như người thực
Trang 8hiện tội phạm
Về người giúp sức, Điều 27 quy định là
người cố ý thực hiện cho người khác việc giúp
hành vi trái pháp luật được thực hiện cố ý của
họ
Như vậy, người giúp sức là người cố ý giúp
về vật chất hoặc tinh thần cho người khác
(người thực hiện tội phạm) trong việc thực hiện
hành vi được quy định trong luật hình sự một
cách cố ý như cung cấp công cụ, phương tiện,
cung cấp thông tin cần thiết Hành vi giúp sức
này tạo khả năng hoặc làm dễ dàng hơn cho
việc thực hiện tội phạm Người giúp sức có thể
giúp người thực hiện tội phạm qua không hành
động của mình Hành vi của người giúp sức có
thể được thực hiện ngay cả khi tội phạm được
giúp sức đã hoàn thành nhưng chưa kết thúc.(32)
Người giúp sức không bị xử phạt như người
thực hiện tội phạm và người xúi giục mà họ
được giảm nhẹ hình phạt theo khoản 1 Điều 49
Về trách nhiệm hình sự của người tham gia
(bao gồm người thực hiện tội phạm và tòng
phạm), luật hình sự Đức còn quy định rõ:
- Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ
hình phạt thuộc về nhân thân chỉ áp dụng cho
chính người có tình tiết đó (khoản 2 Điều 28
BLHS);
- Nếu người tòng phạm không có dấu hiệu
nhân thân đặc biệt mà những dấu hiệu đó là dấu
hiệu định tội ở người thực hiện tội phạm thì
người tòng phạm được giảm nhẹ hình phạt theo
khoản 1 Điều 49 (khoản 1 Điều 28 BLHS);
- Mỗi người tham gia phải bị xử phạt theo
lỗi của họ và không phụ thuộc vào lỗi của người
khác (Điều 29 BLHS)
BLHS Đức còn quy định cụ thể về trường hợp chưa đạt ở người tòng phạm Đây là điểm khác so với BLHS Việt Nam Trong luật hình
sự Đức, người thực hiện tội phạm và các tòng phạm được xem là các dạng người phạm tội với các hành vi phạm tội có tính độc lập tương đối với nhau Do vậy, việc quy định chưa đạt luôn gắn với từng dạng hành vi Theo đó, BLHS Đức
có các quy định riêng về chưa đạt (Điều 30 BLHS) cũng như về tự chấm dứt cho các người tòng phạm (Điều 31 BLHS) Cụ thể:
- Xúi giục người khác phạm tội nghiêm trọng chưa đạt phải chịu hình phạt như trường hợp phạm tội chưa đạt của tội phạm nghiêm trọng theo Điều 23 BLHS nhưng hình phạt được giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 49 Điều này cũng đúng cho trường hợp xúi giục một người
để người này xúi giục người khác phạm tội nghiêm trọng chưa đạt (khoản 1 Điều 30);
- Cũng bị xử phạt như xúi giục chưa đạt là trường hợp đã bày tỏ sẵn sàng, đã chấp nhận đề nghị của người khác hoặc đã cùng thoả thuận với người khác thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc xúi giục tội phạm nghiêm trọng (khoản 2 Điều 30);
- Không bị xử phạt về tòng phạm chưa đạt theo Điều 30 nếu người tòng phạm đã tự nguyện + Dừng việc thúc đẩy người khác thực hiện một tội phạm nghiêm trọng và ngăn cản nguy cơ
có thể có là người này thực hiện tội phạm; + Dừng dự định của mình sau khi đã bày tỏ sẵn sàng về tội phạm nghiêm trọng hoặc
+ Ngăn chặn hành vi sau khi đã thoả thuận
Trang 9hoặc chấp nhận đề nghị của người khác về tội
phạm nghiêm trọng
3 Các vấn đề chung về hậu quả pháp lí
3.1 Vấn đề thời hiệu truy cứu trách
nhiệm hình sự (TNHS)
Theo luật hình sự Đức, khi hết thời hiệu truy
cứu TNHS thì cũng chấm dứt việc xử phạt cũng
như việc ra lệnh các biện pháp hình sự đối với
hành vi đã thực hiện
Luật hình sự Đức quy định không áp dụng
thời hiệu này đối tội giết người (Điều 211).(33)
Đối với các tội phạm còn lại thời hạn của thời
hiệu như sau:
- 30 năm đối với tội bị đe doạ hình phạt tự
do suốt đời;
- 20 năm đối với tội bị đe doạ mức cao
nhất là hình phạt tự do trên 10 năm;
- 10 năm đối với tội bị đe doạ mức cao
nhất là hình phạt tự do trên 5 năm đến 10 năm;
- 5 năm đối với tội bị đe doạ mức cao nhất
là hình phạt tự do trên 1 năm đến 5 năm;
- 3 năm đối với các tội còn lại.(34)
Thời hiệu được tính từ thời điểm tội phạm
kết thúc Nếu hậu quả là dấu hiệu của CTTP
xảy ra sau thời điểm đó thì thời hiệu được tính từ
thời điểm hậu quả xảy ra.(35)
Luật hình sự Đức cũng quy định cụ thể các
trường hợp thời hiệu ngưng lại (thời hiệu tạm
dừng không được tính)(36)
và các trường hợp thời hiệu gián đoạn (thời hiệu tính lại từ đầu).(37)
3.2 Các hình phạt
Theo luật hình sự Đức, các hình phạt bao
gồm hình phạt tự do, hình phạt tiền(38)
và hình phạt phụ
a Về hình phạt tự do
Hình phạt tự do có thể là hình phạt tự do suốt đời hoặc hình phạt tự do có thời hạn Tuy nhiên, hình phạt tự do chủ yếu được quy định là hình phạt tự do có thời hạn; trường hợp được quy định là hình phạt tự do suốt đời chỉ có tính
cá biệt
Mức tối đa của hình phạt tự do được quy định là 15 năm và mức tối thiểu là 1 tháng (Điều 38).(39) Hình phạt tự do dưới 1 năm được tính theo đủ tuần và tháng; hình phạt nặng hơn được tính theo đủ tháng và năm (Điều 39)
Hình phạt tự do dưới 6 tháng được coi là hình phạt tự do ngắn hạn và chỉ được tuyên khi
có nhiều tình tiết đặc biệt thuộc về hành vi phạm tội hoặc thuộc về nhân thân người phạm tội Với những tình tiết này việc tuyên hình phạt tự do là cần thiết để tác động đến người phạm tội hoặc
để bảo vệ trật tự pháp luật (Điều 47)
b Về hình phạt tiền
Hình phạt tiền của Đức được tính theo đơn
vị thu nhập ngày Mức tối thiểu là 5 và mức tối
đa trong trường hợp luật không quy định khác là
360 Toà án căn cứ vào hoàn cảnh cá nhân và kinh tế của người phạm tội để quyết định mức của một đơn vị thu nhập ngày Về nguyên tắc cần xuất phát từ thu nhập thực mà người phạm tội có hoặc lẽ ra có trung bình mỗi ngày Mức thấp nhất của đơn vị thu nhập ngày được xác định là 1 Euro và mức cao nhất là 30.000 Euro
(Điều 40)
Hình phạt tiền phải được chấp hành ngay một lần hoặc có thể được nới lỏng (chấp hành một lần sau thời hạn nhất định hoặc có thể được
Trang 10chấp hành từng phần) khi hoàn cảnh cá nhân và
kinh tế của người bị kết án không cho phép họ
có thể nộp được ngay một lần hoặc khi việc bồi
thường thiệt hại do hành vi phạm tội đã gây ra
của người bị kết án có thể bị ảnh hưởng đáng kể
nếu không có sự nới lỏng này (Điều 42)
Hình phạt tiền có thể được áp dụng là:
- Hình phạt độc lập;
- Hình phạt cùng hình phạt tự do khi người
phạm tội có mục đích trục lợi (và không bị áp
dụng hình phạt tài sản - Điều 41)(40)
và
- Hình phạt thay thế cho hình phạt tự do
ngắn hạn (Điều 47)
Trong trường hợp hình phạt tiền không
được chấp hành thì bị thay bằng hình phạt tự do
(hình phạt tự do thay thế) Một đơn vị thu nhập
ngày được tính bằng 1 ngày hình phạt tự do
Khi đã được thay thế bằng hình phạt tự do thì
hình phạt tiền coi như bị xoá
c Về hình phạt phụ
Hình phạt phụ duy nhất được quy định trong
BLHS Đức là hình phạt cấm lái xe (Điều 44)
Hình phạt này có nội dung cấm người bị kết án
lái xe cơ giới trong thời gian từ 1 đến 3 tháng và
được áp dụng cho người bị phạt tiền hoặc phạt
hình phạt tự do vì phạm tội trong khi hoặc liên
quan đến lái xe hoặc hoặc do vi phạm nghĩa vụ
của người lái xe Hình phạt này có tác dụng
cảnh báo, giáo dục người phạm tội ý thức tuân
thủ pháp luật giao thông.(41)
3.3 Hậu quả kèm theo
Ngoài việc quy định hình phạt là hậu quả
pháp lí mà người phạm tội phải gánh chịu,
BLHS Đức còn quy định hậu quả pháp lí khác
nhưng không phải là hình phạt và được gọi tên
là “hậu quả kèm theo” Hậu quả kèm theo bao gồm:
- Bị mất khả năng đảm nhiệm chức trách, khả năng được bầu và quyền biểu quyết
- Bị công khai bản án
Về hậu quả kèm theo thứ nhất:
- Đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng
và bị phạt hình phạt tự do từ 1 năm trở lên thì hậu quả kèm theo bắt buộc là: Mất trong thời hạn 5 năm các khả năng đảm nhiệm chức trách công và quyền có được từ bầu cử công Với việc bị mất này, người bị kết án đồng thời cũng
bị mất địa vị pháp lí và các quyền tương ứng đang có
- Đối với các trường hợp phạm tội khác thì toà án có thể tước của người bị kết án các khả năng nói trên trong thời hạn từ 2 đến 5 năm khi luật dự liệu đặc biệt như vậy Với việc bị mất này, người bị kết án đồng thời cũng bị mất địa vị pháp lí và các quyền tương ứng đang có khi luật không quy định khác
- Toà án có thể tước của người bị kết án quyền bầu cử hoặc quyền biểu quyết trong các công việc công trong thời hạn từ 2 đến 5 năm khi luật dự liệu đặc biệt như vậy.(42)
Về hậu quả kèm theo thứ hai:
Việc công khai bản án vừa có ý nghĩa là sự minh oan, sự đền bù cho người bị vi phạm vừa đóng vai trò là yếu tố bổ sung cho nội dung trừng phạt của hình phạt Do vậy, hậu quả kèm theo này được các nhà làm luật Đức cho là cần thiết đối với những trường hợp nhất định Đó là các trường hợp phạm tội liên quan đến hành vi