1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU

8 388 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 394,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TIÊU HOÁ IN VIVO CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CỦA NGỌN LÁ MÍA CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU.. Phương pháp xác định giá trị dinh dưỡng của thức ăn Giá trị năng lượng: năng lư

Trang 1

XÁC ĐỊNH TỶ LỆ TIÊU HOÁ IN VIVO CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CỦA NGỌN LÁ

MÍA CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU

Nguyễn Văn Hải * , Bùi Văn Chính và Nguyễn Hữu Tào

Viện Chăn Nuôi - Thụy Phương - Từ Liêm - Hà Nội

*

Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Hải (04) 8.386.126 / 0982.390.383; Fax: (04) 8.389.775; Email: hainiah2008@gmail.com

ABSTRACT

Determination of nutrient digestibility of sugarcane stalk with different treatment methods by in vivo

Digestibilities of dry matter (DM), organic matter (OM), crude fibre (CF) of dried sugarcane stalk, urea - treated

dried sugarcane stalk (with 4 % urea) and ensiled sugarcane stalk (with 0.9% molasses) were determined on

3 male Laisind with body weight of 220 - 250 kg/head The experiment was carried out according to a Latin

Square design and animals were kept in seperated metabolism cages with feeder and automatic drinker Each

experimental period included 19 days, of which 14 days for adaptation and 5 days for sample collection Feaces

were collected by nylon bag hang on anus During collection period, feaces were collected and homogenised and

then balanced After that, faecal samples were taken 5% of total faeces in each day for drying and were kept it

until analysing ash and crude fibre The results showed that the digestibilities of DM, OM and CF of dried

sugarcane stalk, urea - treated dried sugarcane stalk and ensiled sugarcane stalk were 47.66%, 55.20%, 49.31%;

50.65%, 58.96%, 53.05% and 54.28%, 62.88%, 55.91%, respectively Nutrient digestibilities of ensiled

sugarcane stalk with 0.9% molasses were higher than those in dried sugarcane stalk and urea - treated dried

sugarcane stalk (with 4% urea) (P<0.05) Energy content (kcal/kg) and small intestinal digestibility of protein

(g/kg DM) of ensiled sugarcane stalk were as follow: GE: 4243; DE: 2233; ME: 1911; NE: 885; UFL: 0,52; PDI:

49,3; PDIN: 49,3; PDIE: 82,0

Keywords: Invivo, sugarcane stalk, silage, urea, UFL, PDI

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việc xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo của các nguyên liệu thức ăn góp phần cho chúng ta đánh

giá được chất lượng của nguồn nguyên liệu này Qua đó có thể sử dụng chúng một cách thích

hợp trong khẩu phần gia súc, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn và làm giảm chi phí

thức ăn chăn nuôi Theo Niên giám thống kê 2006 diện tích trồng mía của nước ta 285,1nghìn

héc ta và năng suất đạt 15678,6 nghìn tấn mía, ước tính theo Gohl 1993 (ngọn lá mía chiếm

10 - 12% cây mía) thì nguồn phụ phẩm ngọn lá mía của cả nước khoảng 17420 nghìn tấn

Rõ ràng đây là một nguồn thức ăn đầy tiềm năng cho chăn nuôi gia súc nhai lại, nhưng hiện

nay vẫn chưa được sử dụng có hiệu quả cho chăn nuôi (một phần nhỏ sử dụng ở dạng tươi,

còn phần lớn là để khô trên đồng ruộng do thu hoạch đồng loạt), do đó việc nghiên cứu chế

biến và bảo quản nguồn thức ăn này cũng như đáng giá giá trị dinh dưỡng của chúng là hết

sức cần thiết

Các nghiên cứu về nguồn phụ phẩm ngành mía đường nói chung và ngọn lá mía nói riêng ở

nước ta còn chưa được tiến hành nhiều, nên việc đánh giá về giá trị dinh dưỡng cũng như khả

năng tiêu hoá sẽ góp phần vào việc sử dụng nguồn phụ phẩm này một cách có hiệu quả cho

chăn nuôi Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này, với mục

đích xác định tỷ lệ tiêu hóa in vivo chất khô, chất hữu cơ, chất xơ thô của ngọn lá mía chế

Trang 2

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nguyên liệu

Ngọn lá mía phơi khô, ngọn lá mía phơi khô xử lý 4% urê và ngọn lá mía ủ chua (0,9%

rỉ mật)

Đối tượng nghiên cứu

Dùng 3 bò đực Laisind trưởng thành có khối lượng xấp xỉ nhau từ 220 - 250kg

Địa điểm thí nghiệm

Trạm nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn gia súc - Viện Chăn nuôi

Nội dung nghiên cứu

Xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo vật chất khô, xơ thô, chất hữu cơ của ngọn lá mía phơi khô,

ngọn lá mía phơi khô xử lý 4% urê và ngọn lá mía ủ chua 0,9% rỉ mật

Phương pháp nghiên cứu

Xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo được tiến hành theo phương pháp Cochran và Galyaen (1994),

Vũ Duy Giảng và cs, (1999) Dùng 3 bò đực Laisind trưởng thành được bố trí theo phương

pháp ô vuông Latinh (Latin Square) Bò thí nghiệm được nhốt trong cũi để xác định tỷ lệ tiêu

hoá in vivo theo từng cá thể, có máng thức ăn riêng và nước uống tự động

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Bò TN

Giai đoạn TN

Trong đó: A là khẩu phần ăn tự do ngọn lá mía khô; B là khẩu phần ăn tự do ngọn lá mía khô

xử lý 4% urê; C là khẩu phần ăn tự do ngọn lá mía ủ chua 0,9% rỉ mật

Thời gian cho mỗi giai đoạn thí nghiệm: thời gian để làm quen với thức ăn thí nghiệm và thải

hết chất thải trong đường ruột tạo ra từ thức ăn cũ là 14 ngày, thời gian thí nghiệm chính thức

5 ngày Phân thải ra được thu bằng túi treo ở hậu môn theo từng cá thể Thu thập phân riêng

cho từng bò được tiến hành ngày thứ 15, 16, 17, 18, 19

Phân được gom và cân ngay sau mỗi lần bò thải phân sau đó phân được trộn đều, lấy mẫu

theo tỷ lệ 5% khối lượng phân tươi Các mẫu phân thu thập sau một ngày (24giờ) được trộn

đều và sấy khô để xác định tỷ lệ vật chất khô (VCK) trong phân và phân tích thành phần chất

xơ thô, khoáng tổng số.Trong thời gian thu phân hàng ngày cân lượng thức ăn cho ăn và

lượng thức ăn ăn thừa để xác định lượng thức ăn ăn vào của gia súc

Chất khô TĂ ăn vào = (Lượng TĂ cho ăn x Tỷ lệ(%) chất khô TĂ cho ăn ) - (Lượng TĂ ăn

thừa x Tỷ lệ (%) chất khô TĂ thừa)

Trang 3

Sau khi kết thúc giai đoạn lấy phân, các mẫu thức ăn cho ăn của mỗi bò được trộn đều và lấy

3 mẫu, sấy khô để xác định tỷ lệ chất khô và nghiền nhỏ để phân tích thành phần hoá học (xơ thô, khoáng tổng số) Các mẫu thức ăn thừa của mỗi bò cũng được trộn đều và lấy 3 mẫu đại diện để xác định tỷ lệ chất khô và phân tích thành phần hoá học (xơ thô, khoáng tổng số)

Chất hữu cơ TĂ = Chất khô TĂ - Khoáng tổng số TĂ

Các mẫu thức ăn, mẫu phân được phân tích thành phần hoá học Tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của thức ăn được xác định căn cứ vào số chênh lệch về khối lượng các chất dinh dưỡng giữa thức ăn và phân

Tỷ lệ tiêu hoá chất A(%) = [(Tổng lượng chất dinh dưỡng A ăn vào từ TĂ - Tổng lượng chất dinh dưỡng A trong phân)/Tổng lượng chất dinh dưỡng A ăn vào từ TĂ] *100

Chế biến và xử lý ngọn lá mía

Ngọn lá mía tươi được đập dập, rồi băm nhỏ và phơi khô dưới ánh nắng mặt trời Ngọn lá mía khô được xử lý urê theo công thức sau: 100 kg ngọn lá mía khô + 4 kg urê + 70 lít nước Ngọn

lá mía khô xử lý urê được ủ kín trong túi nilon dày có đường kính 1m, sau 2 tuần ủ lấy cho gia súc ăn

Ủ chua ngọn lá mía tươi: Công thức để ủ chua: 100 kg ngọn lá mía tươi + 0,9 kg rỉ mật + 2 kg nước Hoà 0,9 kg rỉ mật vào 2 lít nước, sau đó tưới đều vào 100kg ngọn lá mía tươi đã đập dập và băm nhỏ Ngọn lá mía được ủ yếm khí theo qui trình ủ chua trong túi nilon dày có đường kính rộng 1m, đặt sẵn trong hố ủ đào sâu 1,2 m và đường kính rộng 1m; phía trên của

hố ủ lấp một lớp đất dày 30 – 40cm và được che phủ tránh nước mưa Sau thời gian 2 tháng

có thể mở hố ủ lấy cho gia súc ăn

Phương pháp xác định thành phần hoá học của thức ăn và phân

Phương pháp xác định độ ẩm (vật chất khô) của mẫu được xác định bằng phương pháp sấy khô trong tủ sấy điện (103  2oC), TCVN – 4326 – 86

Xác định khoáng tổng số theo phương pháp đốt khô, TCVN - 4327 - 86

Xác định hàm lượng cellulose theo phương pháp Weene TCVN - 4329 - 86

Phương pháp xác định lipit theo tiêu chuẩn TCVN - 4331 - 86

Phương pháp xác định hàm lượng nitơ tổng số theo TCVN - 4328 - 86

Phương pháp xác định hàm lượng canxi theo TCVN - 1526 - 74

Phương pháp xác định hàm lượng photpho theo TCVN - 1525 - 74

Phương pháp xác định giá trị dinh dưỡng của thức ăn

Giá trị năng lượng: năng lượng thô (GE), năng lượng tiêu hóa (DE), năng lượng thuần cho sản xuất (NF), đơn vị thức ăn cho tạo sữa (UFL), hàm lượng protein tiêu hoá ở ruột (PDI), protein tiêu hoá ở ruột tính theo nitơ ăn vào (PDIN)và protein tiêu hoá ở ruột tính theo năng lượng ăn

vào (PDIE) cho gia súc nhai lại của thức ăn được ước tính từ tỷ lệ tiêu hoá invivo, thành phần

hoá học của TĂ theo hệ thống INRA của Pháp (1989); Paul Pozy và Vũ Chí Cương (2002) GE(Kcal/kg CK) = (4543 + 2,0113 x CP x 1000/MOD) x (MOD/100)

DE (Mcal/kg CK) = GE(Mcal/kg CK) x (1,0087 x dMO - 0,0377);

Trang 4

thông thường NA = 1,7

NEI (UFL/kg CK) = ME x KI/1700; KI = 0,463 + (0,24 x(ME/GE)

PDIA = 1,1 x CP x ( 1 - DT) x dr;

PDIMN = 0,8 x 0,8 x CP x (DT - 0,1)

PDIME =0,145 x 0,8 x 0,8 x 0,8 (MOD - CP (1 - DT) - Mỡ); MOD: chất hữu cơ

PDIN = PDIA + PDIMN

PDIE = PDIA + PDIME

Trong đó: CP là protein thô, MOD: chất hữu cơ, CB: Xơ thô (g/kg CK); dMO là tỷ lệ tiêu hoá chất hữu cơ, dr = 0,725, DT = 0,53 đối với thức ăn là ngọn lá mía

Xử lý số liệu

Số liệu được tính toán và xử lý trên phần mềm Excel và Minitab 13.0

Mô hình thống kê sử dụng cho thí nghiệm:

Xijk = µ + αi + Pj + Ak + eijk

Trong đó:

µ : Trung bình tổng thể

αi : Ảnh hưởng của yếu tố i

Pj: Ảnh hưởng của giai đoạn thí nghiệm

Ak: Ảnh hưởng của gia súc thí nghiệm

eijk: Sai số ngẫu nhiên

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tỷ lệ tiêu hóa in vivo các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía

Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các phương thức khác nhau được trình bày trong Bảng 1

Bảng 1: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía được chế biến theo

các phương thức khác nhau

Tính trong chất khô (%)

(%)

Prote

in

Chất béo

NLTĐ (kcal/k

g CK)1

Ngọn lá mía CB

4% urê

Ngọn lá mía ủ

chua 0,9% rỉ mật

1

NLTĐ: ước tính theo CT tính giá trị năng lượng của Viện Chăn Nuôi (2001) dựa trên TP hoá học của thức ăn VCK: vật chất khô; KTS: Khoáng tổng số; NLTĐ: năng lượng trao đổi; DXKĐ: dẫn xuất không đạm

Qua Bảng 1 ta thấy, hàm lượng xơ tính trong chất khô của ngọn lá mía ủ chua (39,1%) thấp hơn hàm lượng xơ của ngọn lá mía khô và lá mía khô xử lý urê: do trong quá trình phơi khô

đã làm mất đi một lượng tinh bột đường dễ hoà tan lớn hơn so với sự mất mát tinh bột đường

Trang 5

do hô hấp tế bào trong quá trình ủ chua (Borichenco, 1973; BACH, 1970), do đó mà hàm lượng xơ thô tính trong chất khô của ngọn lá mía ủ chua thấp hơn

Tuy nhiên, ngọn lá mía có hàm lượng xơ khá cao (39,11 - 42,89% tính trong chất khô), tỷ lệ protein thô trong lá mía cũng đạt: 7,58 - 8,17%, hàm lượng dẫn xuất không đạm đạt tới 39,2 - 41,5% ở ba loại thức ăn trên, năng lượng trao đổi từ 1778 - 1887 kcal/kg CK Rõ ràng nguồn phụ phẩm ngọn lá mía chứa một nguồn năng lượng tiềm tàng có thể làm thức ăn cho gia súc

nhai lại Kết quả xác định tỷ lệ tiêu hoá (in vivo) của ngọn lá mía được chế biến trên bò Lai

Sind trình bày tại Bảng 2:

Bảng 2: Ảnh hưởng của các phương thức chế biến khác nhau đến tỷ lệ tiêu hoá (in vivo) các

chất dinh dưỡng của ngọn lá mía trên bò đực Laisind trưởng thành

Tỷ lệ tiêu hoá (%) Tên thức ăn

Các số trong cùng một cột mang các chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0,05)

0 10 20 30 40 50 60 70

L¸ mÝa kh«

L¸ mÝa chÕ biÕn ure L¸ mÝa ñ chua

Đồ thị 1: Tỷ lệ tiêu hoá invivo các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các

phương thức khác nhau

Qua Bảng 2 và Đồ thị 1 cho thấy, tỷ lệ tiêu hoá invivo chất khô, chất xơ, chất hữu cơ của ngọn

lá mía ủ chua bổ sung 0,9% rỉ mật đã đạt kết quả cao nhất (54,28%; 62,88%; 55,91%) và tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía khô xử lý 4% urê (50,65%; 58,96%; 53,05%) cao hơn của ngọn lá mía khô (47,66%; 55,2%; 49,31%)

Sự sai khác trên đó là do trong quá trình phơi khô ngọn lá mía đã làm mất mát tinh bột đường

dễ hoà tan do hô hấp tế bào lớn hơn nhiều so với lượng tinh bột đường mất đi trong quá trình

ủ chua (chủ yếu trong pha I) (Borichenco, 1973) Theo Nguyễn Xuân Trạch (2003) thì hầu hết

Trang 6

trong quá trình ủ chua đã sinh ra các axit hữu cơ dễ tiêu hoá và hấp thu đối với gia súc Do đó,

tỷ lệ tiêu hoá chất khô của ngọn lá mía ủ chua cao hơn

Trong quá trình ủ chua hàm lượng caroten và các vitamin bị mất mát ít hơn nhiều so với phơi khô (trong quá trình phơi khô thì hầu hết caroten và các vitamin đều bị phân huỷ) (Ladan,1978), do đó ngọn lá mía ủ chua sẽ cung cấp nhiều chất dinh dưỡng hơn cho sự phát triển của hệ vi sinh vật dạ cỏ, khi hệ vi sinh vật này phát triển nhanh hơn thì chúng sẽ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía ủ chua tốt hơn Mặt khác, trong quá trình phơi khô sự mất nước đã tạo ra mối liên kết cơ học chặt chẽ giữa các tế bào (BACH, 1970) đã làm hạn chế

sự thâm nhập vi sinh vật dạ cỏ cũng như các enzym của chúng đối với ngọn lá mía phơi khô,

do đó làm giảm tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía khô và ngọn lá mía khô xử

lý ure Ngọn lá mía khô xử lý 4% urê có giá trị pH > 8 đã làm phá vỡ mối liên kết Lignin – Hemixenlulose (trích Nguyễn Xuân Trạch, 2003), nên tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía xử lý urê cao hơn tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía phơi khô Theo tài liệu của Golh (1993) thì tỷ lệ tiêu hoá chất xơ của lá mía khô là 52 - 53% Các số liệu

về tỷ lệ tiêu hóa chất xơ thu được trong thí nghiệm này (lá mía khô: 55,2%; lá mía khô xử lý 4% urê: 58,96%; lá mía ủ chua: 62,88%) cao hơn so với số liệu của Golh (1993), sự sai khác này có thể do sự khác nhau giữa các giống mía, thời điểm thu hoạch mía, vùng sinh thái và giống gia súc Như vậy, một lần nữa cho thấy ngọn lá mía dự trữ và bảo quản theo phương

pháp ủ chua có tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng in vivo cao hơn so với ngọn lá mía phơi khô

và ngọn lá mía khô xử lý urê Kết quả về lượng thức ăn ăn vào của bò thí nghiệm ở Bảng 3

Bảng 3: Lượng thức ăn ăn được thực tế hàng ngày của bò thí nghiệm

Khẩu phần ăn Chỉ tiêu Ngọn lá mía khô Ngọn lá mía xử lý

4% urê

Ngọn lá mía ủ chua (0,9% rỉ mật) Chất khô ăn được:

+ Kg/100kg P

+ g/kgW0,75

1,59a ± 0,15 59,46

1,76b ± 0,13 67,75

1,98c ± 0,18 73,96

* Các số trong cùng một cột mang các chữ cái a, b, c khác nhau thì khác nhau có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).

Qua bảng 3 cho thấy, bò ăn ngọn lá mía ủ chua đã ăn được nhiều nhất (1,98 kg chất khô/100kg thể trọng), trong khi đó ở nhóm bò ăn ngọn lá mía khô chỉ ăn được 1,59 kg chất khô/100kg thể trọng như vậy bò ăn ngọn lá mía ủ chua đã ăn được nhiều hơn 24,5% so với ăn ngọn lá mía khô, sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P< 0,05)

Bò ăn ngọn lá mía ủ chua được nhiều hơn do: thứ nhất là thức ăn ủ chua có mùi thơm chua đặc trưng của axit lactic và axit axêtic nên nó có tính ngon miệng cao hơn ngọn lá mía khô và ngọn lá mía khô xử lý urê; thứ hai là ngọn lá mía khô và ngọn lá mía khô xử lý 4% urê có tỷ

lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng thấp hơn tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía ủ chua (Bảng 2), nên ngọn lá mía khô xử lý urê và ngọn lá mía khô trong dạ cỏ được tiêu hoá chậm hơn trong dạ cỏ, tạo ra một nhân tố no và làm hạn chế lượng thức ăn ăn vào

Tuy nhiên, với mức ăn này (Bảng 3) chưa cung cấp đủ năng lượng cho duy trì và sản xuất của gia súc Do đó, khi sử dụng ngọn lá mía chế biến trong khẩu phần nuôi bò cần phải phối hợp với các loại thức ăn khác

Trang 7

Các giá trị dinh dướng của ngọn lá mía

Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các phương thức khác nhau được ước tính theo hệ thống INRA của Pháp (1989) và Pozy và Vũ Chí Cương (2002) dựa trên tỷ lệ tiêu hoá

in vivo và thành phần hoá học của thức ăn như sau:

Bảng 4: Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các phương thức khác nhau

Các giá trị năng lượng (kcal/kg CK)1

Các giá trị protein (g/kg CK)3 Tên thức ăn

UFL2

PDI PDIN PDIE

Lá mía khô

1

: GE: năng lượng thô, DE: năng lượng tiêu hoá, ME: năng lượng trao đổi, NE: năng lượng thuần

2

: UFL: đơn vị thức ăn cho sữa

3

: PDI: protein tiêu hoá ở ruột; PDIN:protein tiêu hoá ở ruột tính theo nitơ ăn vào; PDIE: protein tiêu hoá ở ruột tính theo năng lượng ăn vào

Qua Bảng 4 cho thấy, có sự chênh lệch đáng kể giữa PDIN (49,3g/kg CK) và PDIE (82,0 g/kgCK) của ngọn lá mía ủ chua Do đó, để sử dụng nguồn thức ăn này đạt hiệu quả cao cần kết hợp với nguồn thức ăn khác có hàm lượng protein cao trong khẩu phần của gia súc nhai lại

vì khi PDIN và PDIE của khẩu phần gia súc đạt giá trị xấp xỉ nhau thì khả năng tổng protein của vi sinh vật dạ cỏ đạt tối ưu theo Pozy và Vũ Chí Cương, (2002) Về giá trị năng lượng trao đổi (ME), năng lượng thuần và đơn vị tạo sữa của thức ăn ủ chua đều cao hơn các chỉ số này của lá mía khô, lá mía khô xử lý 4% urê Tuy nhiên, ngọn lá mía xử lý 4% urê có giá trị PDI (71,5g/kg CK) đều cao hơn cùng chỉ số này ở ngọn lá mía khô và ngọn lá mía ủ chua, đó

là do lượng urê bổ sung vào đã làm tăng giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía khô

Song, biện pháp phơi khô ngọn lá mía có một số hạn chế: chi phí lao động cao, cần thời tiết nắng, mất mát nhiều tinh bột đường dễ hoà tan cũng như caroten và các vitamin trong quá trình phơi khô So sánh với kết quả ước tính giá trị năng lượng trao đổi của ngọn lá mía ủ chua trong Bảng1 theo công thức tính của Viện Chăn nuôi, (2001) và kết quả ở Bảng 2 thì giá trị này có phần cao hơn: 1991 kcal/kg CK so với 1844 kcal/kg CK

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Kết luận

Tỷ lệ tiêu hoá chất dinh dưỡng của ngọn lá mía ủ chua trên bò Lai Sind: chất khô 54,28%, xơ thô 62,88%, chất hữu cơ 55,91% đạt cao hơn rõ rệt so với ngọn lá mía phơi khô và ngọn lá mía khô xử lý bằng 4% urê

Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía ủ chua:

Năng lượng (kcal/ kg CK): DE: 4243 ; GE: 2233; ME: 1911, NE: 885; UFL: 0,52

Protein tiêu hoá ở ruột non (g/kg CK): PDI: 49,3, PDIN: 49,3, PDIE: 82,0

Các giá trị này cũng cao hơn đáng kể so ngọn lá mía khô và ngọn lá mía khô xử lý 4% urê

Trang 8

Ủ chua ngọn lá mía là biện pháp dự trữ, bảo quản thức ăn lâu dài, tạo nguồn thức ăn rẻ tiền

cho gia súc nhai lại trong mùa thiếu thức ăn

Đề nghị

Cho áp dụng kết quả trong phối hợp khẩu phần của gia súc nhai lại

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Cochran R C, Galycan M L (1994), Measurement of in vivo forage degestion by ruminants In: George.C.,

Fahey (Eds), Forage Quality, Evalution, and Utilization, Madition, Wisconsin, USA pp 613 - 643

Всесюзная Академия Cелъскохозяйствнных Hаук (BACH) имени В И Ленина (1970) Производство и

исполъзование силоса Издателъство “Колос” Москва Стр 5 - 21

INRA (Institut National de la Recherche Agronomique) (1989) Ruminant Nutrition

Gohl, B (1993) Thức ăn gia súc nhiệt đới Người dịch: Diệu Bình, Nguyễn Dinh, Đào Văn Huyên, Nguyễn

Văn Thưởng NXB Nông nghiệp Hà Nội 1993 Tr 25l; 418 - 434

Nguyễn Xuân Trạch, (2003) “Sử dụng phụ phẩm nuôi gia súc nhai lại”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,

Tr, 58,103

Paul Pozy và Vũ Chí Cương, (2002) Phương pháp tính nhu cầu dinh dưỡng cho bò và giá trị dinh dưỡng của

thức ăn miền Bắc Việt Nam NXB Nông nghiệp, Hà Nội

Viện Chăn nuôi, (2001) Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc - gia cầm Việt Nam NXB

Nông nghiệp, Hà Nội

Vũ Duy Giảng, Nguyễn Thị Lương Hồng, Tôn Thất Sơn, (1999) Dinh dưỡng thức ăn gia súc NXB Nông

nghiệp, Hà Nội Tr.100 -108.

Борисенко А Ф., Власова К С., Гнояник А А (1973) Справочник по заготовке и исполъзованию

кормов Издателъство “Ураджай” Минск 1973 Стр 52 - 73

Ладан П Е., Руденко Н Р (1978) Кормовая база промышленного животноводства Издателъство

“Колос” Стр 88 - 115.

*Người phản biện: TS Đỗ Thị Thanh Vân; TS Ninh Thị Len

Ngày đăng: 20/12/2015, 06:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm - XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm (Trang 2)
Bảng 1: Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía được chế biến theo - XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU
Bảng 1 Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía được chế biến theo (Trang 4)
Đồ thị 1: Tỷ lệ tiêu hoá invivo các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các - XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU
th ị 1: Tỷ lệ tiêu hoá invivo các chất dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các (Trang 5)
Bảng 2: Ảnh hưởng của các phương thức chế biến khác nhau đến tỷ lệ tiêu hoá (in vivo) các - XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU
Bảng 2 Ảnh hưởng của các phương thức chế biến khác nhau đến tỷ lệ tiêu hoá (in vivo) các (Trang 5)
Bảng 4: Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các phương thức khác nhau. - XÁC ĐỊNH tỷ lệ TIÊU HOÁ IN VIVO các CHẤT DINH DƯỠNG của NGỌN lá mía CHẾ BIẾN THEO PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU
Bảng 4 Giá trị dinh dưỡng của ngọn lá mía chế biến theo các phương thức khác nhau (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w