- Thứ ba, chế định nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng tạo cơ sở pháp lí trong giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng, giúp người có quyền xác định được nghĩa vụ mà v
Trang 1Nguyễn hồng Hải * rên cơ sở kế thừa và phát triển Luật
hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) năm
1986, chế độ tài sản của vợ chồng
được Luật HN&GĐ năm 2000 quy định
từ Điều 27 đến Điều 33, trong đó nghĩa
vụ tài sản và phân định nghĩa vụ tài sản
giữa vợ và chồng là nội dung pháp lí quan
trọng
1 Một số vấn đề chung về nghĩa vụ
tài sản của vợ chồng
Nghĩa vụ tài sản của vợ chồng có thể
được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp
của khái niệm nghĩa vụ dân sự quy định
tại Điều 285 BLDS
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng là việc mà theo quy định của
pháp luật thì một bên hoặc cả hai bên vợ
chồng (người có nghĩa vụ) phải làm công
việc hoặc không được làm công việc vì
lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác
(người có quyền)
Theo nghĩa hẹp, nghĩa vụ tài sản của
vợ chồng là việc vợ, chồng hoặc cả hai vợ
chồng là người có nghĩa vụ phải thanh
toán khoản nợ cho việc làm (hành vi) cụ
thể của mình Trong bài viết này, chúng
tôi bàn về nghĩa vụ tài sản của vợ chồng
theo nghĩa hẹp
a Sự cần thiết của chế định nghĩa vụ
tài sản giữa vợ và chồng
Trong điều kiện kinh tế thị trường
hiện nay, việc duy trì và phát triển đời
sống gia đình đS thúc đẩy vợ chồng tham
gia rộng rSi vào các giao dịch dân sự hoặc
thương mại, đS làm phát sinh nhiều nghĩa
vụ về tài sản mà vợ chồng là người có
nghĩa vụ như là tất yếu khách quan Thực
tế này, đS cho thấy sự cần thiết của các
quy định pháp luật về nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, nó thể hiện ở những nội dung sau:
- Thứ nhất, chế định nghĩa vụ tài sản giúp "thực tế hoá" quyền sở hữu của vợ chồng
Quyền sở hữu và nghĩa vụ tài sản giữa
vợ và chồng là hai chế định có quan hệ chặt chẽ với nhau Quy định về quyền sở hữu ở trạng thái "tĩnh" của quan hệ tài sản giữa vợ chồng bao gồm phạm vi, nguồn gốc tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất và tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên cũng như quyền và nghĩa vụ của
vợ chồng đối với những tài sản đó Trong khi đó, trên cơ sở quyền sở hữu của vợ chồng, chế định nghĩa vụ tài sản giải quyết vấn đề tài sản trong gia đình được
sử dụng như thế nào? Vì mục đích gì? Khi nghĩa vụ về tài sản phát sinh trong gia đình thì được bảo đảm thực hiện bằng tài sản nào? Quy định trạng thái "động" của quan hệ tài sản giữa vợ và chồng Nói chung, chế định nghĩa vụ tài sản của vợ chồng giúp vợ chồng thực hiện quyền sở hữu của mình trong các quan hệ tài sản
cụ thể
- Thứ hai, chế định nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng tạo cơ sở pháp lí để phân định rõ trách nhiệm của các bên vợ, chồng trong quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản trong gia đình Đồng thời, tạo điều kiện để vợ chồng chủ động tham gia vào các giao dịch dân sự và thương mại, bảo
T
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2đảm thỏa mSn nhu cầu vật chất và tinh
thần của các thành viên trong gia đình
cũng như của cá nhân vợ hoặc chồng
Qua đó lợi ích của cộng đồng và xS hội
cũng được đảm bảo
- Thứ ba, chế định nghĩa vụ tài sản
giữa vợ và chồng tạo cơ sở pháp lí trong
giải quyết các tranh chấp liên quan đến
tài sản của vợ chồng, giúp người có
quyền xác định được nghĩa vụ mà vợ
chồng phải thực hiện được bảo đảm bằng
tài sản chung hay bằng tài sản riêng của
một bên vợ hoặc chồng Tức là, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người có
quyền khi vợ chồng là người có nghĩa vụ
b Căn cứ để phân định nghĩa vụ tài
sản chung và nghĩa vụ tài sản riêng giữa
vợ và chồng
Cũng như Luật HN&GĐ năm 1986,
Luật HN&GĐ năm 2000 phân định tài
sản của vợ chồng thành tài sản thuộc sở
hữu chung hợp nhất và tài sản thuộc sở
hữu riêng của vợ hoặc chồng Việc phân
định hai hình thức sở hữu tài sản trong
gia đình tất yếu cũng làm phát sinh các
nghĩa vụ tài sản được bảo đảm thực hiện
bằng tài sản chung hoặc bằng tài sản
riêng của một bên vợ hoặc chồng
Tuy nhiên, trên thực tế việc phân định
nghĩa vụ tài sản riêng và nghĩa vụ tài sản
chung giữa vợ và chồng còn có nhiều
quan điểm khác nhau Có quan điểm cho
rằng các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ tài
sản thuộc hình thức sở hữu nào thì được
bảo đảm thực hiện bằng tài sản đó Sự
phân biệt "rạch ròi" này theo chúng tôi sẽ
mâu thuẫn với tính chất cộng đồng của
hôn nhân, trong đó, đặc điểm nổi bật là
trong gia đình thường có sự trộn lẫn về tài
sản và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và
chồng Quan điểm khác lại cho rằng việc
phân định nghĩa vụ tài sản chung hay tài
sản riêng giữa vợ và chồng cần lấy yếu tố
lỗi làm căn cứ cơ bản để xác định Với
quan điểm này thì chỉ có ý nghĩa trong
việc xác định có hay không có trên thực
tế nghĩa vụ tài sản của vợ chồng còn nghĩa vụ tài sản đó là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của một bên, ngoài yếu tố lỗi còn được phân định bằng những căn
cứ khác
Xuất phát từ nội dung chế độ tài sản của vợ chồng được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2000, theo chúng tôi nghĩa
vụ tài sản giữa vợ và chồng được phân
định dựa trên hai căn cứ sau:
- Thứ nhất, căn cứ vào mục đích của người thực hiện hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản
Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2000 quy
định: Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình Như vậy, hành vi làm phát sinh nghĩa vụ tài sản được thực hiện trên cơ sở vì lợi ích chung của gia
đình hay lợi ích cá nhân của người thực hiện hành vi sẽ là căn cứ để xác định nghĩa vụ tài sản là nghĩa vụ chung hay nghĩa vụ riêng của một bên vợ hoặc chồng
Khẳng định này xuất phát từ tính chất cộng đồng của hôn nhân Tính chất này
đS "kiến tạo" để vợ chồng thực hiện nghĩa
vụ "Vợ chồng chung thuỷ, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững” (Điều 18 Luật HN&GĐ năm 2000) Trách nhiệm có tính đặc trưng này đS quy
định đặc điểm cơ bản trong phương pháp
điều chỉnh của Luật HN&GĐ là các chủ thể thực hiện quyền của mình vì lợi ích của gia đình Quyền sở hữu của vợ chồng cũng được nhà làm luật Việt Nam xây dựng trên cơ sở lợi ích gia đình Và như vậy, để phù hợp với đặc điểm của quyền
sở hữu trong Luật HN&GĐ, việc phân
định nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng
Trang 3cũng cần lấy lợi ích gia đình là căn cứ
xác định với nguyên tắc hành vi do vợ
hoặc chồng tiến hành vì lợi ích chung của
gia đình thì tài sản chung cũng phải được
sử dụng để bảo đảm cho hành vi đó
Tuy nhiên, "lợi ích gia đình" ở đây
cũng phải được đặt trong lợi ích của cộng
đồng và xS hội Nghĩa là, hành vi của vợ,
chồng được xác định vì lợi ích chung của
gia đình, trước hết hành vi đó phải được
thực hiện phù hợp với pháp luật và đạo
đức xS hội Khi nghĩa vụ tài sản phát sinh
từ hành vi trái pháp luật hoặc trái với đạo
đức xS hội thì nghĩa vụ phát sinh được
thực hiện bằng tài sản chung hay tài sản
riêng của một bên phải căn cứ vào yếu tố
lỗi của người thực hiện hành vi đó
- Thứ hai, căn cứ vào sự thỏa thuận
của vợ chồng trong việc làm phát sinh
nghĩa vụ tài sản
Trong cuộc sống chung của gia đình,
hành vi mang lợi ích cá nhân hoặc hành
vi trái pháp luật có thể được thực hiện bởi
một bên vợ hoặc chồng Tuy nhiên, hành
vi đó cũng có thể được thực hiện với sự
thỏa thuận của chồng (vợ) của người thực
hiện hành vi do xuất phát từ tình cảm vợ
chồng, sự ổn định của gia đình mà đS tự
nguyện chịu trách nhiệm chung đối với
nghĩa vụ về tài sản đS phát sinh Vì vậy,
việc phân định nghĩa vụ tài sản phát sinh
trên cơ sở hành vi không vì lợi ích chung
của gia đình cần dựa trên nguyên tắc khi
người thực hiện hành vi mang lợi ích cá
nhân hoặc hành vi trái pháp luật, người
đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của
mình, ngoại trừ, trường hợp vợ (chồng)
của họ thỏa thuận cùng thực hiện hoặc sử
dụng tài sản chung để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ
2 Nghĩa vụ tài sản chung của vợ
chồng
Dựa vào những căn cứ trên, nghĩa vụ
tài sản chung của vợ chồng (sau đây gọi
là nợ chung) có thể được hiểu là nghĩa vụ
phát sinh khi một bên hoặc cả hai bên vợ chồng thực hiện hành vi vì lợi ích gia
đình hoặc nghĩa vụ phát sinh theo thỏa thuận của hai vợ chồng
Trên cơ sở chế độ tài sản chung của
vợ chồng được quy định tại Điều 27 và
Điều 28 Luật HN&GĐ năm 2000, nợ chung của vợ chồng được xác định như sau:
+ Căn cứ vào quy định: "Tài sản chung được chi dùng để bảo đảm những nhu cầu của gia đình" (khoản 2 Điều 28),
nợ phát sinh khi vợ (chồng) hoặc hai vợ chồng thực hiện các giao dịch để đảm bảo các nhu cầu chung của gia đình là nợ chung của vợ chồng, bao gồm:
- Nợ phát sinh có liên quan đến việc duy trì và phát triển đời sống tinh thần và vật chất của gia đình như nội trợ, chăm sóc sức khoẻ, cung cấp những vật dụng thiết yếu cho đời sống gia đình
- Nợ phát sinh trong quá trình quản lí,
sử dụng và định đoạt tài sản chung: "Gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh
và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kì hôn nhân; tài sản mà
vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có
được sau khi kết hôn là tài sản chung của
vợ chồng Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận" (khoản 1 Điều 27) Nghĩa vụ chung này không bao gồm nợ phát sinh khi một bên vi phạm khoản 3
Điều 28 khi tự mình tiến hành giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình mà không có sự thỏa thuận với bên kia và cũng không vì nhu cầu chung của gia đình
Trang 4- Nợ phát sinh trong việc chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ con
chung của hai vợ chồng và con riêng của
một bên vợ hoặc chồng theo quy định tại
khoản 1 Điều 38 Luật HN&GĐ năm
2000: "Bố dượng, mẹ kế có nghĩa vụ và
quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục con riêng cùng sống chung với
mình theo quy định tại các điều 34, 36 và
37 của Luật này"
+ Căn cứ vào phạm vi, nguồn gốc tài
sản chung của vợ chồng được quy định
tại khoản 1 Điều 27, nợ phát sinh khi vợ
hoặc chồng thực hiện các hành vi tạo lập,
quản lí, sử dụng và định đoạt tài sản
chung là nợ chung của vợ chồng, bao
gồm:
- Nợ phát sinh trong quá trình vợ hoặc
chồng tạo ra tài sản cho gia đình
- Nợ phát sinh trong khi một bên vợ
hoặc chồng lao động để tạo thu nhập hoặc
tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
trong thời kì hôn nhân
- Nợ phát sinh khi một bên vợ hoặc
chồng tiến hành khai thác hoa lợi, lợi tức
từ tài sản riêng của mình trong thời kì
hôn nhân Ngoại trừ, nợ phát sinh khi vợ
hoặc chồng khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài
sản riêng trong trường hợp được quy định
theo Điều 30 của Luật này
Có quan điểm cho rằng, những khoản
nợ phát sinh trong hoạt động nghề nghiệp
và trong khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài
sản riêng của một bên vợ hoặc chồng
mang tính chất cá nhân Do đó, không thể
xác định là nợ chung của vợ chồng mà
cần xác định là nghĩa vụ riêng của người
đS làm phát sinh khoản nợ đó Điều 27
Luật HN&GĐ năm 2000 đS khẳng định:
Tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, những
thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất
kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác bao gồm cả hoa lợi, lợi tức phát sinh
từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc
chồng) trong thời kì hôn nhân là tài sản
chung của vợ chồng Như vậy, trong thời kì hôn nhân, một bên vợ hoặc chồng tiến hành các hoạt động nghề nghiệp hoặc tiến hành các hoạt động khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của mình đS không còn mang tính chất cá nhân mà đS vì lợi ích chung của gia đình, do đó những khoản nợ phát sinh trong những trường hợp này phải xác định là nợ chung của vợ chồng Mặt khác, khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ cũng quy định: "Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đW
được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của vợ chồng" Quy định này đS gắn kết trách nhiệm của gia đình đối với những khoản nợ phát sinh trong quá trình khai thác hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của một bên Xác định như vậy mới đảm bảo
được lợi ích chính đáng của người có tài sản riêng, khuyến khích họ tạo ra nhiều của cải vật chất hơn nữa cho gia đình
đồng thời tăng cường sự gắn bó trong quan hệ gia đình và để gia đình thực sự là chỗ dựa vững chắc cho các thành viên của mình trong cuộc sống và nghề nghiệp + Căn cứ vào sự thỏa thuận của vợ chồng và trách nhiệm liên đới trong việc làm phát sinh các nghĩa vụ tài sản, những
nợ sau sẽ là nợ chung của vợ chồng:
- Nợ phát sinh có liên quan đến những công việc do hai vợ chồng cùng tiến hành, bao gồm cả các khoản nợ phát sinh trước khi kết hôn (Nghị quyết số 01-NQ/HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội
đồng thẩm phán TANDTC cũng đS quy
định về vấn đề này)
- Những khoản nợ phát sinh do một bên thực hiện công việc không vì lợi ích gia đình nhưng đS được bên kia đồng ý sử dụng tài sản chung để thực hiện
3 Nghĩa vụ tài sản riêng của một
Trang 5bên vợ hoặc chồng
Nghĩa vụ tài sản riêng của một bên vợ
hoặc chồng (sau đây gọi là nợ riêng) có
thể được hiểu là các nghĩa vụ phát sinh do
hành vi không vì lợi ích gia đình (mang
tính chất cá nhân hoặc hành vi trái pháp
luật) của một bên vợ hoặc chồng thực
hiện trước khi kết hôn hoặc trong thời kì
hôn nhân
Nếu dựa trên nguyên tắc loại trừ thì
tài sản riêng phải được sử dụng để thực
hiện các khoản nợ không thuộc nhóm
nghĩa vụ tài sản chung, cụ thể:
- Những khoản nợ không vì nhu cầu
chung của gia đình phát sinh trước khi kết
hôn
- Nợ phát sinh trong việc quản lí, sử
dụng, định đoạt tài sản riêng (trừ trường
hợp nợ phát sinh khi một bên vợ hoặc
chồng tiến hành khai thác hoa lợi, lợi tức
từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân)
- Nợ phát sinh khi thực hiện một
nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của một
bên vợ hoặc chồng như chi phí cho con
riêng của mình (trừ trường hợp được quy
định tại khoản 1 Điều 38) hoặc chi phí
cho người mà vợ hoặc chồng là người
giám hộ của họ theo quy định của pháp
luật dân sự và pháp luật HN&GĐ hoặc
thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại
các chương V và VI của Luật HN&GĐ
năm 2000
- Nợ phát sinh trên cơ sở một bên vợ
hoặc chồng vi phạm khoản 3 Điều 28
Luật HN&GĐ khi tự mình tiến hành giao
dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị
lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia
đình mà không có sự thỏa thuận của bên
kia và cũng không vì nhu cầu chung của
gia đình
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại
phát sinh từ hành vi trái pháp luật (hành
vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm
tội)
4 Thực hiện nghĩa vụ tài sản giữa
vợ và chồng Việc thanh toán các khoản nợ trong gia đình, trước hết dựa trên sự thỏa thuận của hai vợ chồng, trong trường hợp không thỏa thuận được có thể yêu cầu toà án giải quyết (Điều 29 và khoản 3 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2000) Toà án giải quyết việc tranh chấp trong thực hiện nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng dựa trên các nguyên tắc sau:
1 Đối với nợ chung, trước hết được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của
vợ chồng (khoản 2 Điều 28) Trong trường hợp vợ chồng không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ thì người có tài sản riêng phải sử dụng tài sản của mình cho việc thanh toán
nợ chung theo tinh thần của khoản 4 Điều 33: "Tài sản riêng của vợ, chồng cũng
được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng"
2 Đối với nợ riêng, việc thanh toán có thể được thực hiện bằng một trong hai phương thức sau:
- Thanh toán bằng tài sản riêng của người có nghĩa vụ (khoản 3 Điều 33)
- Trong trường hợp người phải thực hiện nghĩa vụ không có hoặc không đủ tài sản riêng mà vợ (chồng) của họ lại không đồng
ý sử dụng tài sản chung để thanh toán nợ thì
vợ chồng họ có thể thỏa thuận chia tài sản chung để lấy phần tài sản của người có nghĩa
vụ thanh toán nợ Việc chia tài sản chung phải lập bằng văn bản, nếu không thỏa thuận
được thì có quyền yêu cầu toà án giải quyết (khoản 1 Điều 29)./