ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP CHO GIA SÚC NHAI LẠI Ở QUẢNG NGÃI Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn Lê Đình Phùng, Lê Văn Phước Trường Đại học Nông Lâm
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG
PHỤ PHẨM NÔNG NGHIỆP CHO GIA SÚC NHAI LẠI Ở QUẢNG NGÃI
Nguyễn Xuân Bả, Nguyễn Hữu Văn
Lê Đình Phùng, Lê Văn Phước
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
Đinh Văn Dũng, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế
Nguyễn Hữu Nguyên, Trung Tâm Khuyến Nông tỉnh Quảng Ngãi
Bùi Quang Tuấn, Trường Đại học Nông Nghiệp 1 Hà Nội
TÓM TẮT
Mục đích chính của nghiên cứu này là xác định ảnh hưởng của một số yếu tố
đến việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại ở nông hộ Quảng Ngãi
Tổng cộng 181 hộ chăn nuôi gia súc nhai lại đại diện cho các vùng sinh thái khác
nhau của tỉnh Quảng Ngãi được điều tra bằng bản câu hỏi chuẩn Các thông tin thu
thập bao gồm: tình hình chăn nuôi, tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm và ảnh hưởng
của một số yếu tố đến sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại Kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng chăn nuôi gia súc nhai lại ở Quảng Ngãi chủ yếu là qui mô
nhỏ với hơn 70% số hộ có quy mô ≤ 4 con, mục đích chăn nuôi chủ yếu là tận dụng
(60,87%), phương thức chăn nuôi kết hợp giữa chăn thả và bổ sung thức ăn tại
chuồng chiếm 59,67% Khoảng 77% hộ chăn nuôi thiếu thức ăn cho gia súc nhai lại
trong khoảng 2-3 tháng Các nông hộ đã có những nỗ lực nhưng tình trạng thiếu thức
ăn thô vào mùa mưa vẫn còn khá phổ biến Hiện có đến 97,79% số hộ chăn nuôi có
sử dụng các phụ phế phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc nhai lại Các yếu tố
nghiên cứu: trình độ chủ hộ, quy mô nuôi, phương thức chăn nuôi và điều kiện kinh tế
Trang 2hộ không ảnh hưởng đến tỷ lệ hộ sử dụng và tỷ lệ hộ chế biến phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại (P >0,05)
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Nguồn thức ăn chính cho đàn gia súc nhai lại ở khu vực miền Trung nước ta nói chung và Quảng Ngãi nói riêng chủ yếu dựa vào cỏ tự nhiên và phế phụ phẩm nông
nghiệp giàu xơ (Ba và cs, 2005) Diện tích đồng cỏ hạn chế nên gia súc nhai lại chủ
yếu được chăn thả trên đất công cộng hoặc các vùng đất không thể canh tác được và được cho ăn thêm hàng ngày bằng các phụ phẩm nông nghiệp Ở nước ta phụ phẩm nông nghiệp được xem là nguồn thức ăn tiềm năng cho gia súc nhai lại Số lượng gia súc nhai lại ở nước ta còn ít so với nguồn thức ăn sẵn có và nếu những nguồn thức ăn này được sử dụng tốt thì có thể tăng gấp đôi số lượng gia súc này mà không phải sử dụng đến nguồn thức ăn của các loài dạ dày đơn (Orskov, 2001, xem Nguyễn Xuân Trạch, 2004)
Có nhiều sự lựa chọn nhằm cải thiện hệ thống chăn nuôi gia súc nhai lại dựa trên nguồn thức ăn sẵn có Một trong những giải pháp đang được quan tâm lớn ở các nước nhiệt đới là khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn phụ phẩm giàu xơ Tuy vậy,
ở Quảng Ngãi, đặc biệt là vùng núi, việc khai thác và sử dụng nguồn thức ăn giàu xơ
từ phụ phẩm nông nghiệp còn hạn chế có thể do các yếu tố kỹ thuật, kinh tế và cả các vấn đề xã hội Để góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia súc nhai lại trong nông hộ dựa trên nguồn thức ăn sẵn có, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại
ở Quảng Ngãi” Đề tài này nhằm mục đích đánh giá tình hình khai thác, chế biến, sử dụng các nguồn phụ phẩm và xác định ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng phụ phẩm nông nghiệp cho gia súc nhai lại ở nông hộ Quảng Ngãi
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 32.1 Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Tình hình chăn nuôi gia súc nhai lại: quy mô chăn nuôi, phương thức chăn nuôi, mục đích chăn nuôi
- Tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm trong chăn nuôi gia súc nhai lại
- Tỷ lệ chế biến các phụ phẩm hiện có
- Một số yếu tố kinh tế – xã hội chính ảnh hưởng đến việc sử dụng phụ phẩm trong chăn nuôi
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Các thông tin được thu thập trực tiếp bằng cách phỏng vấn các hộ nông dân qua phiếu điều tra đã chuẩn hóa Các xã đại diện cho các vùng sinh thái với mức độ phát triển chăn nuôi gia súc nhai lại khác nhau của tỉnh được chọn là Ba Động (miền núi), Tịnh Trà (Trung du), và Tịnh Ấn Tây (đồng bằng) Mỗi xã chọn ngẫu nhiên khoảng 60
hộ có chăn nuôi gia súc nhai lại để phỏng vấn Người phỏng vấn được tập huấn trước
về phương pháp phỏng vấn
Thông tin phỏng vấn được quản lý bằng EXCEL 2003 và được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 12 Hai phép phân tích cơ bản là thống kê mô tả và kiểm tra khi bình phương Kiểm tra khi bình phương được sử dụng để kiểm tra sự phụ thuộc của tỷ
lệ sử dụng và chế biến phụ phẩm lên các yếu tố như quy mô nuôi, mục đích nuôi, điều kiện kinh tế, trình độ của chủ hộ
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Một số nét về tình hình chăn nuôi gia súc nhai lại của các hộ điều tra ở Quảng Ngãi
Kết quả điều tra 181 hộ chăn nuôi gia súc nhai lại ở 3 xã thuộc tỉnh Quảng Ngãi cho thấy chăn nuôi gia súc nhai lại (bao gồm trâu, bò và dê) phổ biến là qui mô nhỏ
Trang 4(bảng 1) Số hộ nuôi qui mô 3-4 con chiếm tỉ lệ cao, rất ít hộ nuôi với qui mô 1 con hoặc lớn hơn 7 con Những hộ nuôi 1 con thường là những hộ nghèo bắt đầu nuôi bò
từ các nguồn vốn ưu đãi Chăn nuôi qui mô lớn (> 7) chỉ thấy ở một số hộ vùng miền núi
Bảng 1: Quy mô chăn nuôi gia súc nhai lại ở các hộ điều tra
Quy mô nuôi
(con/hộ)
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ
(%)
Các nông hộ ở miền Trung nói chung, Quảng Ngãi nói riêng thì đa số đều khó
có đủ điều kiện về đất đai và vốn để mở rộng qui mô chăn nuôi gia súc nhai lại Vì thế,
sự tồn tại của hình thức chăn nuôi qui mô nhỏ là tất yếu: vừa sử dụng nguồn thức ăn sẵn có, tận dụng công lao động, tạo nguồn phân bón hữu cơ và tăng thu nhập cho gia đình
Trang 5Bảng 2: Mục đích chăn nuôi gia súc nhai lại của các nông hộ điều tra
Mục đích
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ
(%)
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ
(%)
Chăn nuôi trâu bò mục đích tận dụng vẫn chiếm ưu thế Riêng các hộ nuôi dê thì hoàn toàn là với mục đích kinh doanh Điều cần lưu ý là trong tổng số 181 hộ điều tra, chỉ có 2 hộ chăn nuôi dê Do vậy, tỷ lệ 100% hộ nuôi dê với mục đích kinh doanh
có thể chưa phản ánh thực bản chất của quần thể Phần đông nông hộ chăn nuôi tận dụng sẽ là một trở ngại lớn cho các hoạt động nhằm mục tiêu tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Vì thế, cần có phương pháp tiếp cận phù hợp để lựa chọn những kỹ thuật thích ứng với khả năng đầu tư, áp dụng và đáp ứng nhu cầu của nông
hộ
Trong chăn nuôi gia súc nhai lại, cùng với sự phát triển nhanh về số lượng đầu con và dịch chuyển hướng sản xuất từ tận dụng sang kinh doanh, phương thức chăn nuôi cũng có thay đổi từ chăn thả tự do sang nuôi nhốt Cụ thể về tỉ lệ hộ lựa chọn các phương thức chăn nuôi khác nhau được trình bày ở bảng 3 Kết quả bảng 3 cho thấy đã
có hơn 1/3 số hộ nuôi bò theo phương thức nuôi nhốt là chủ yếu, nuôi chăn thả không
bổ sung chỉ chiếm tỉ lệ rất thấp (6,63%) Đây chính là một sự khác biệt cơ bản trong
Trang 6chăn nuôi gia súc nhai lại hiện nay so với truyền thống trước đây Điều này, không những phản ánh tình trạng các bãi chăn thả bị thu hẹp, sự khan hiếm dần nguồn thức
ăn tự nhiên; mà còn cho thấy sự lựa chọn chăn nuôi gia súc nhai lại với qui mô nhỏ ở nông hộ là tất yếu
Bảng 3: Phương thức chăn nuôi đàn gia súc nhai lại của các hộ điều tra
Trên một góc độ khác, sự giảm phương thức nuôi chăn thả không bổ sung đồng nghĩa với giảm công lao động phục vụ cho nuôi trâu bò Điều đáng quan tâm là lực lượng lao động thực hiện chăn dắt trâu bò chủ yếu là lao động phụ, trong đó có nhiều
em là học sinh phổ thông Vì thế, chiến lược thúc đẩy sự phát triển của phương thức nuôi nhốt còn có ý nghĩa xã hội quan trọng, nhằm góp phần giảm lao động trẻ em và nâng cao chất lượng học tập Thực hiện chăn nuôi gia súc nhai lại theo phương thức nụôi nhốt sẽ tiện lợi cho việc lai tạo giống, kiểm soát dịch bệnh và chăm sóc; nhưng chắc rằng cần nhiều hơn về lượng thức ăn để cung cấp cho gia súc và khi không đảm bảo khẩu phần ăn thì tất yếu sẽ dẫn đến những kết quả ngoài mong muốn Vì thế, một vấn đề lớn đặt ra là làm thế nào có đủ số lượng và chất lượng thức ăn để thoả mãn nhu cầu của gia súc, đồng thời chi phí cho một đơn vị sản phẩm là có thể chấp nhận được
Trang 7Trong thực tế sản xuất, không phải tất cả các nông hộ đều giải quyết tốt việc cung cấp thức ăn cho đàn gia súc của mình Kết quả điều tra cho thấy có 70,7% số hộ (128/181 hộ) thiếu thức ăn thô cung cấp cho vật nuôi (bảng 4)
Bảng 4: Tình trạng thiếu thức ăn cho gia súc nhai lại ở các hộ điều tra
Trong đó số hộ
Số tháng
thiếu TA
(tháng)
Số hộ
(hộ)
Thiếu vào mùa khô (tháng 2-8)
Thiếu vào mùa mưa (tháng 9-1)
Thiếu cả mùa mưa
và mùa khô
Tỉ lệ
(%)
Phần đông các hộ thiếu thức ăn cho chăn nuôi gia súc nhai lại trong khoảng thời gian từ 2-3 tháng (chiếm 76,57%) và mùa thiếu thức ăn chủ yếu là mùa mưa (chiếm
Trang 882,8%) Thời điểm thiếu thức ăn thô trong mùa khô tập trung vào tháng 5-6 và mùa mưa là tháng 10-11 hàng năm Những thời điểm này đối với sản xuất ngành trồng trọt
là giai đoạn đã thu hoạch xong và gieo trồng cho vụ tới, và không có các phụ phẩm (ngọn lá) hoặc sản phẩm kết hợp (cỏ tự nhiên ngoài đồng bãi) có thể tận dụng để chăn nuôi gia súc nhai lại Mặt khác, vào mùa mưa thì sản lượng cỏ trồng giảm đáng kể đối với giống cỏ trồng phổ biến là cỏ Voi
Đối với nông hộ, trong tình trạng thiếu thức ăn thô đã có những cách giải quyết khác nhau nhằm duy trì đàn gia súc, các biện pháp thực hiện của 128 nông hộ thiếu thức ăn thô được mô tả ở bảng 5 Khi thiếu thức ăn thô bình quân mỗi nông hộ thường
có hơn 2 cách giải quyết, trong đó trồng cỏ và cắt thêm cỏ tự nhiên là cách được nhiều nông hộ thực hiện, việc dự trữ và mua thêm thức ăn chưa được đa số hộ quan tâm, đặc biệt có một số nông hộ (chiếm 27,34%) giải quyết theo hướng thiếu tích cực là cho ăn
ít đi
Bảng 5: Cách giải quyết thiếu thức ăn thô cho đàn gia súc nhai lại của các hộ điều tra
Cách giải quyết
Số hộ
(hộ)
Tỷ lệ
(%)
Trang 9Cho ăn ít đi 35 27,34
Khi tìm hiểu từng cách giải quyết của nông hộ, chúng tôi ghi nhận được: Cỏ trồng được nông hộ chú trọng là cỏ Voi và cỏ Sả, bên cạnh tận dụng đất vườn, ven đê nhiều hộ đã mạnh dạn chuyển một phần diện tích đất canh tác cây trồng sang trồng
cỏ Cỏ tự nhiên chủ yếu khai thác ở đồng bãi trong thời kỳ cây trồng đang sinh trưởng Loại thức ăn thô các nông hộ mua thêm và dự trữ chủ yếu là rơm khô
Với đặc thù của vùng Quảng Ngãi, tuy bình quân diện tích canh tác/hộ thấp nhưng canh tác cây trồng ở nông hộ là khá đa dạng Trong đó, các cây chủ lực là lúa, bắp, mì, mía và lạc Phụ phẩm của các cây trồng này đã tạo nên nguồn thức ăn đáng kể cho gia súc nhai lại Tuy nhiên, số lượng sẵn có và sử dụng nó vào chăn nuôi có sự khác nhau, kết quả điều tra về tỷ lệ sử dụng các nguồn phụ phẩm nông nghiệp trong chăn nuôi được trình bày ở bảng 6
Bảng 6: Tỷ lệ sử dụng nguồn phụ phẩm nông trong chăn nuôi của các hộ điều tra
Loại phụ
phẩm
Số hộ
sử dụng
(hộ)
Tỷ lệ hộ
sử dụng
(%)
KL phụ phẩm có sẵn
(tấn/hộ/năm)
KL phụ phẩm sử dụng
(tấn/hộ/năm)
Tỷ lệ
sử dụng
(%)
Thân lá cây
Trang 10Ngọn lá mía 22 12,15 1,10 0,34 30,91
Khối lượng sẵn có và việc sử dụng các nguồn phụ phẩm để làm thức ăn cho gia súc nhai lại ở nông hộ có sự khác biệt lớn Chỉ trừ ngọn lá sắn không được sử dụng vì
sợ gia súc bị ngộ độc, các loại phụ phẩm cây trồng khác đều được nông hộ sử dụng làm thức ăn cho gia súc Rơm lúa là loại có khối lượng lớn nhất và được nhiều hộ sử dụng nhất (96,69%) Ngọn lá mía tuy khối lượng xếp vị trí thứ 2, nhưng số hộ có sử dụng và tỉ lệ sử dụng làm thức ăn là thấp nhất Thân lá cây ngô sau thu hoạch thì khối lượng ít nhất và có tỉ lệ sử dụng cao nhất (93,75%) Ngọn lá lạc có khối lượng khá lớn (xếp thứ 3) nhưng tỉ lệ sử dụng chưa nhiều (34,43%) Rơm lúa tuy chưa được sử dụng triệt để như thân lá ngô, nhưng với tỉ lệ sử dụng là 72,43% thì cao hơn rất nhiều so với kết quả điều tra của Đào Lệ Hằng (2007) ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long - chỉ có khoảng 5% số lượng rơm sử dụng làm thức ăn cho gia súc
Các loại phụ phẩm cây trồng ngoài lúa (thân lá cây ngô sau thu hoạch, ngọn lá mía và dây lá lạc) được các nông hộ sử dụng chủ yếu là cho gia súc ăn dạng tươi Chỉ
có riêng cây ngô được thu hoạch dần nên tỉ lệ sử dụng cao, còn ngọn lá mía và cây lạc thì thu hoạch đồng loạt
Như vậy, một khối lượng lớn nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp dùng làm thức
ăn cho gia súc nhai lại đã bị lãng phí, trong đó có những loại nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng cao (thân lá lạc và ngọn lá sắn) Tuy rằng, các loại phụ phẩm cây trồng có tính mùa vụ và kích thước cồng kềnh, nhưng nếu nông hộ thực hiện các biện pháp chế biến, dự trữ thì chắc rằng sẽ góp phần giải quyết tình trạng thiếu thức ăn thô cho gia súc
Trang 113.2 Ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng phụ phẩm nông cho gia súc nhai lại
*Trình độ học vấn của chủ hộ
Trình độ học vấn liên quan đến khả năng tiếp nhận thông tin và quyết định hành động của mỗi con người Các nông hộ chăn nuôi gia súc nhai lại trong diện điều tra thuộc 3 nhóm học vấn khác nhau Kết quả về ảnh hưởng của trình độ văn hóa đến sử dụng phụ phẩm nông nghiệp được trình bày ở bảng 7
Bảng 7: Ảnh hưởng của một số yếu tố đến việc sử dụng phụ phẩm nông công nghiệp
làm thức ăn cho gia súc nhai lại của các hộ điều tra
Có sử dụng Có chế biến
Số hộ
điều tra (hộ)
Số hộ (hộ)
Tỉ lệ (%) Số hộ (hộ)
Tỉ lệ (%)
Trình độ văn hoá
Trung học phổ
Trang 12Quy mô chăn nuôi (con/hộ)
Phương thức chăn nuôi
Chăn thả không bổ
Chăn thả có bổ
Mức kinh tế hộ
Trang 13Qua bảng 7 cho thấy không có sự khác biệt rõ về việc có hay không có sử dụng phụ phẩm vào chăn nuôi gia súc nhai lại ở các nhóm nông hộ khác nhau về trình độ học vấn (P >0,05) Điều này dễ hiểu, bởi lẽ chăn nuôi trâu bò là nghề truyền thống và
hệ thống chăn nuôi kết hợp trồng trọt đã tồn tại lâu đời, các phụ phẩm cây trồng dễ dàng sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại Mặc dù số hộ thực hiện chế biến phụ phẩm cây trồng (ủ rơm với u rê) quá ít, nhưng qua đó cũng có thể nhận định việc áp dụng kỹ thuật chế biến này không phụ thuộc nhiều vào trình độ học vấn của nông hộ
* Quy mô chăn nuôi gia súc nhai lại
Việc dùng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho trâu bò không có sự khác nhau giữa các hộ chăn nuôi qui mô khác nhau (bảng 7) Tuy nhiên, với cách sử dụng thì sự sai khác giữa các nhóm hộ là khá rõ, nhóm hộ có qui mô nuôi từ 6 con trở lên thực hiện chế biến phụ phẩm cao hơn so với nhóm hộ nuôi qui mô 3- 5 con, riêng nhóm hộ nuôi 1-2 con thì hoàn toàn không chế biến Một hạn chế của kết luận này là
số lượng hộ có chế biến phụ phế phẩm quá ít, điều này giảm mức độ tin cậy của kết luận đưa ra cho quần thể
*Phương thức chăn nuôi gia súc nhai lại
Trong phạm vi số hộ điều tra, hiện đang tồn tại 3 phương thức chăn nuôi trâu bò: chăn thả không bổ sung, chăn thả có bổ sung thức ăn tại chuồng và nuôi nhốt Tỉ lệ
hộ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn cho gia súc thì phương thức nuôi nhốt
là cao nhất, tiếp đến là phương thức nuôi chăn thả có bổ sung thức ăn và thấp nhất là phương thức nuôi chăn thả không có bổ sung (100%, 97,22% và 91,67%), nhưng sự sai khác này chưa có ý nghĩa thống kê (P >0,05)
* Mức kinh tế hộ: Trong sản xuất nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng,
thường gắn với mỗi điều kiện kinh tế thì nông hộ có sự lựa chọn một cách làm thích ứng Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ, bởi có nhiều yếu tố tác động đến cách thức hành động của nông hộ Tỉ lệ hộ sử dụng phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn