1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra MS4

18 315 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 321,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều tra cơ bản đã được tiến hành vào tháng 10 và tháng 11 năm 2007 ở thành phố Cần Thơ và vào tháng 2 và tháng 3 năm 2008 tại tỉnh An Giang để đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các

Trang 1

\

Ministry of Agriculture & Rural Development

Báo cáo tiến độ CARD Project 023/06 VIE

MS3: BÁO CÁO ĐIỀU TRA CƠ BẢN TẠI CẦN THƠ

VÀ AN GIANG

24 tháng 4 năm, 2009

Trang 2

Điều tra cơ bản đã được tiến hành vào tháng 10 và tháng 11 năm 2007 ở thành phố Cần Thơ và vào tháng 2 và tháng 3 năm 2008 tại tỉnh An Giang để đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá Tra có liên quan đến sản xuất nông nghiệp bền vững Hai huyện của thành phố Cần Thơ là Ô Môn và Thốt Nốt và hai huyện của tỉnh An Giang là Châu Phú và Phú Tân được lựa chọn dựa trên số lượng ao hầm nuôi

cá Tra có nhiều tại các nơi này Các thông tin ban đầu có liên quan đén kỹ thuật , kinh

tế-xã hội và môi trường được ghi nhận bằng cách phỏng vấn nông dân và bổ sung bằng các quan sát để đánh giá hoặc kiểm chứng các số liệu Sau đó qua các tiếp xúc với các cán bộ địa phương để thu thập các thông tin thứ cấp cần thiết Có hai nhóm nông dân có số lượng bằng nhau được chọn để tiến hành phỏng vấn là nhóm hộ trồng lúa đơn thuần và nhóm hộ nông dân nuôi cá Tổng số có 240 phiếu phỏng vấn được thu thập để phân tích

và đánh giá số liệu

I Khía cạnh về kinh tế - xã hội

Nông dân nuôi cá ở Cần thơ đa số có tuổi đời trẻ hơn những người chuyên canh tác lúa (43 tuổi so với 49 tuổi); tuy nhiên sự chênh lệch về tuổi tác lại không thể hiện khi điều tra tại tỉnh An Giang (Bảng 1) Tại tỉnh An Giang hộ nông dân nuôi cá cũng là những người nông dân trước đây canh tác lúa, sau này họ chuyển sang nuôi cá để gia tăng thu nhập cho họ Ngược lại hộ nông dân nuôi cá đa số là dân nhập cư, họ đến thuê mướn đất hoặc mua đất của cư dân địa phương điều này giải thích lý do tại sao họ có tuổi đời trẻ hơn và có trình độ học vấn cao hơn hộ nông dân canh tác lúa

Nghề canh tác lúa truyền thống đã có từ lâu đời ở đồng bằng sông Cửu Long Hầu hết nông dân nơi đây có hơn 20 năm kinh nghiệm trong canh tác lúa trong khi ngành thủy sản nước ngọt chỉ mới phát triển mạnh trong những năm gần đây Các số liệu về số năm kinh nghiệm trong việc nuôi cá đã minh chứng rõ là lĩnh vực này chỉ mới phát triển chưa đầy

10 năm

Qui mô nông hộ thì không có sự khác biệt nhau nhiều giữa 2 nhóm nông dân này Qui

mô khỏang 5 người/hộ và số lao động cỏ trong hộ biến động từ 3-4 lao động Đất đai sở hửu của hộ trồng lúa tại cả 2 nơi Cần Thơ và An Giang đều cao hơn diện tích đất của các

hộ nuôi cá Điều này có lẻ do tổng chi phí đầu tư cho việc nuôi cá cao hơn nhiều chi phí cho việc canh tác lúa (Bảng 1)

Hầu hết nông dân tại Cần Thơ và An Giang có nhà đúc hoặc nhà tường (80-90%) Số nhà lá ít hơn 10% của hộ trồng lúa nhưng có đến khỏang 15-20% của hộ nuôi cá Do một

số hộ nuôi cá là dân nhập cư họ chỉ làm chòi tạm để ở trông coi cá vì họ có nhà ở nơi khác

Đồng bằng sông Cửu Long có lượng nước mặt dồi dào vì vậy việc nuôi cá chủ yếu dựa vào nguồn nước sông, rạch Kết quả điều tra cho thấy có khỏang 15-15% nông dân quan tâm đến việc ô nhiễm nguồn nước Nông dân tại An Giang và Cần Thơ còn so sánh chất lượng nước ở thượng nguồn và vùng hạ lưu Tiêu chuẩn đánh giá nước là tốt hoặc trung bình bị đảo ngược tại 2 nơi này do nước trên thượng nguồn từ Canbodia chảy sangg vẫn còn tốt cho việc nuôi cá vì ao nuôi chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Nước thải được xả trực tiếp vào sông rạch bởi khỏang 70% nông dân tại An Giang và khỏang 80% tại Cần Thơ Số nông dân có ao lắng tương đối ít chỉ khỏang 5-8% và có khỏang 15-25% nông dân sử dụng nước thải từ ao cá cho canh tác lúa

Trang 3

Bảng 1 Tổng quan về điều kiện kinh tế -xã hội của hộ trồng lúa và nuôi cá

Danh mục Hộ nuôi cá Hộ canh tác

lúa

Hộ nuôi cá Hộ canh tác

lúa

Số năm kinh nghiệm 3.6 20 9.4 20

Lọai nhà ở (%)

- Kiên cố

- Gạch

- Lá

43

42

15

23

73

4

42

39

19

48

44

8

hoặc sông

Kênh rạch hoặc sông

Kênh rạch hoặc sông

Kênh rạch hoặc sông Chất lượng nước (%)

- Tốt

- Trung bình

- Xấu

30

52

18

55

22

23

51

25

24

46

39

15 Nơi đổ nước thải

- Sông hoặc kênh

- Ruộng lúa

- Ao lắng

80

15

5

24

8

100

Biến động về chất lượng nguồn nước cũng là mối quan tâm cho nông dân (Bảng

2) Chất lượng nguồn nước thường tốt trong mùa lũ (táng 8 đến tháng 12) chủ yếu do lưu

lượng lớn làm hòa tan và rữa trôi các chất ô nhiễm Chất thải từ ao cá là nguồn ô nhiễm

chính tại các vùng nông thôn ở Cần Thơ và An Giang Hơn 50% cư dân nông thôn ở An

Giang dùng nước sông cho sinh họat và tại Cần Thơ với cùng tỉ lệ này người dân sử dụng

nước giếng khoan cho sinh họat Số liệu này chỉ ra mức độ nghiêm trọng cho vấn đề ô

nhiễm nguồn nước buộc dân chúng phải sử dụng nước ngầm cho sinh họat Hiểm họa cho

việc nuôi cá còn do thuốc sát trùng thải ra từ ruộng lúa Hiểm họa càng cao hơn ở vùng

hạ lưu nơi thuốc trừ sâu được tích tụ lại

Vào mùa mưa hoặc ngay sau mùa lũ chất lượng nguồn nước tưới được ghi nhận là

tốt tuy nhiên chỉ có khỏang 30% nông dân được phỏng vấn chấp nhận ý kiến này

II Hiệu quả kinh tế của canh tác lúa và nuôi cá

Kết quả điều tra minh chứng rằng nuôi cá cho lợi nhuận cao hơn canh tác lúa vào

khỏang 410 triệu đồng/ha cho khi nuôi cá so với chỉ 9 triệu đồng /ha khi canh tác lúa

Tuy nhiên tổng chi phí cho canh tác 1 ha cá Tra mất khỏang 1 tỉ 894,6 triệu đồng so với

12,1 triệu cho canh tác 1 ha lúa (Bảng 3)

Không có sự khác biệt lớn giữa Cần Thơ và An Giang về hiệu quả của canh tác

lúa và nuôi cá Hầu hết hộ nuôi cá đều phải vay tiền từ ngân hàng hoặc láng giềng nhưng

canh tác lúa số nông dân vay tiền ít hơn 50% bởi vì tổgn chi phí đầu tư cho canh tác 1 ha

lúa thấp hơn nhiều so với nuôi cá (Bảng 4)

Trang 4

Bảng 2: Chất lượng nước tưới, dùng cho sinh họat và nước uống ở nông thôn

1 Nước dùng cho sinh họat và để uống

2 Chất lượng nước dùng cho sinh họat

3 Lý do chất lượng nước xấu

4 Thời điểm chất lượng nước tốt

Bảng 3: So sánh hiệu quả kinh tế trong canh tác lúa và nuôi cá ở Cần Thơ

đồng) Trồng lúa (X triệu đồng) T value

Bảng 4: Nguồn tín dụng cho sản xuất nông nghiệp

Nguồn tín dụng

Mức lãi suất/năm (%)

Trang 5

Tỉ lệ nông dân tại An Giang tiếp cận được với nguồn vốn vay ngân hàng cao hơn

ở Cần Thơ (Bảng 4) Điều này có lẻ cơ cấu hạ tầng ở An Giang phát triển hơn ở Cần Thơ hoặc hệ thống đường xá ở An Giang thuận lợi cho việc di chuyển hơn Tuy nhiên về giao dịch trả chậm giữa nông dân và doanh nghiệp phổ biến ở Cần Thơ hơn là tại An Giang có

lẻ do công nghiệp ở Cần Thơ phát triển lâu đời hơn là ở An Giang Thông thường lãi suất ngân hàng là 1% tháng, vay trả chậm là 2% và cho vay giữa cá nhân là 4%/tháng

III Phương thức nông dân canh tác lúa và nuôi cá

III.1 Sản xuất lúa

Việc sử dụng nông dược là điều không thể thiếu trong việc canh tác lúa để kiểm sóat dịch bệnh nhưng việc lạm dụng hóa chất sẽ gây ra ô nhiễm đất, nước và trong chuỗi lương thực Số liệu điều tra ở bảng 5 cho thấy rằng rầy nâu và cháy lá là 2 đối tượng thường gây hiểm họa cho sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long 84% nông dân ở Cần Thơ và 77% nông dân ở An Giang dùng thuốc phòng trừ rầy nâu Thuốc phòng trị các lọai côn trùng khác như sâu cuốn lá, sâu đục thân, bù lạch, bọ xít chỉ đứng tầm quan trọng thứ yếu sau rầy nâu và chúng được sử dụng khỏang 16% nông dân ở Cần Thơ và 23% nông dân ở tỉnh An Giang Hơn 50% nông dân ở An Giang và Cần Thơ mua thuốc trừ nấm bệnh để phòng trừ bệnh cháy lá, các lọai bệnh khác cũng được nông dân sử dụng nông dược để phòng trị nhưng tỉ lệ này thấp hơn 59% Kết quả điều tra cho thấy rằng 90% nông dân ở Cần Thơ áp dụng đúng liều lượng qui định nhưng con số này tại An Giang là thấp hơn chỉ có 77% Thời điểm áp dụng thuốc cũng rất biến động tùy thuộc vào thời điểm xuất hiện dịch bệnh Đa số nông dân tại An Giang có khuynh hướng sử dụng nông dược theo quan sát về sâu bệnh (80%) nhưng số nông dân tại Cần Thơ phun thuốc theo định kỳ là (52%)

Về bảo vệ môi trường, qua kết quả điều tra cho thấy số nông dân ý thức thu gom

vỏ chai đựng hóa chất và bao bì qua sử dụng để tái chế hoặc chôn lấp là 70% tại An Giang Tuy nhiên việc đốt hoặc vất bừa bải qua kết quả điều tra cho thấy có 60% nông dân ở Cần Thơ và 16% nông dân An Giang chọn phương cách này (Bảng 5) Điều này cần nên tránh để giảm tác động ô nhiễm môi trường không khí, đất và nước

Việc phổ biến và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân là rất cần thiết để gia tăng kiến thức quản lý canh tác lúa và nuôi cá Công việc này được tiến hànhh thường xuyên hàng năm Có gần 70% nông dân ở Cần Thơ được tập huấn về sản xuất nông nghiệp nhưng tại An Giang con số này ít hơn 50% Ngòai ra nông dân còn có thể tiếp cận với kỹ thuật mới qua nghe đài và xem tivi (Bảng 6) Giống lúa là một trong những yếu tố quyết định để tăng năng suất lúa Hầu hết nông dân tại hai nơi này đều biết phương cách tiếp cận với các giống lúa mới (qua các viện, Trung tâm nghiên cứu, nông trường hoặc trao đổi với các nông dân khác)

Hiểm họa nhất đối với môi trường là việc đốt rơm rạ trong hệ thống canh tác lúa 3

vụ mặc dù nông dân đã được dạy cho các phương cách khác để làm giảm tác động này như canh tác nấm rơm, ủ phân hửu cơ, nuôi trâu bò bằng rơm rạ ) Thiếu hụt nguồn nhân công trong nông nghiệp, không có đủ không gian và thời gian xử lý rơm rạ là những nguyên nhân để không áp dụng được các phương cách quản lý bền vững trong sản xuất (Bảng 6)

Trang 6

Bảng 5 Sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa

1 Thuốc trừ sâu

Trừ rầy nâu (Bassa, Applaud, Actara, Apolo) 84 77

2 Thuốc trừ nấm bệnh

Cháy lá (Beam, Flash, Fuan, Trizole, Kasai,

Repsai)

60 52

3 Liều lượng

4 Thời điểm áp dụng

5 Xử lý bao bì

Bảng 6: Tiếp cận thông tin về kỹ thuật sản xuất lúa (%)

1 Nguồni thông tin

2 Giống lúa

3 Sử dụng phụ phẩm nông nghiệp (rơm, rạ)

III.2 Nuôi cá

Cá Tra được nuôi tại An Giang đã lâu nhưng việc canh tác này bị giới hạn do số

cá giống vớt được ngòai tự nhiên vào mùa nước nổi vào tháng 9 hoặc tháng 10 khi cá từ

biển Hồ trôi xuôi dòng đến Việt Nam Ngành công nghiệp nuôi cá Tra chỉ phát triển

nhanh từ những năm sau 2000 khi trường Đại Học Cần Thơ phát triển kỹ thuật cho đẻ

nhân tạo cá Tra và một khi thị trường xuất khẩu cá Tra được thiết lập

Trang 7

Do ngành công nghiệp nuôi cá da trơn là khá mới mẻ đối với nông dân cho nên

việc hổ trợ từ chính quyền về phổ biến kỹ thuật là rất quan trọng thông qua báo, đài, tài

liệu kỹ thuật hoặc thậm chí còn cử cả cán bộ kỹ thuật xuống tận nơi Số liệu trong bảng 7

cho thấy rắng sự giúp đở này đối với nông dân nuôi cá là rất đáng kể An Giang là tỉnhh ở

đồng bằng sông Cửu Long có diện tích và sản lượng cá da trơn lớn nhất Nông dân nuôi

cá ở An Giang quan tâm nhiều hơn đến thông tin hoặc kỹ thuật hơn là nông dân tại Cần

Thơ (82% ở An Giang so với 75% ở Cần Thơ) Họ cũng nhận được sự trợ giúp về kỹ

thuật nhiều hơn ở Cần Thơ (Bảng 7) Nghề nuôi cá cần thêm nhân công cho công việc

thường nhật như cho ăn, bơm nước và ngay cả việc canh gác vào ban đêm và kết quả là

số nhân công thuê mướn tại An Giang cao hơn ở Cần Thơ

Bảng 7: Thông tin tổng quát về nghề nuôi cá

Lọai cá nuôi (%)

Chu kỳ nuôi cá (month)

Độ sâu ao (m)

Hầu như không có sự khác biệt về thời gian nuôi, độ sâu ao cũng như mật độ thả

cá tại hai địa điểm này Tuy vậy mật độ thả cá khá biến động giũa các nông dân thấp nhất

là 12 con và cao nhất là 60 con/m2 Kết quả phân tích cho thấy có mối tương quan thuận

giữa kích cở ao hoặc diện tích mặt nước với sản lượng cá thu họach (r = +0.842) nhưng

lại có mối tương quan nghịch giữa diện tích ao và chiều sâu ao cá (r = -0.365) Do nông

dân có diện tích ao lớn thì thu họach sản lượng cao hơn nông dân có diện tích ao nhỏ

Mặt khác nông dân có diện tích ao nhỏ muốn tăng sản lượng thì phải tăng mật độ và đào

ao sâu hơn chính vì vậy có mối tương quan nghịch giữa mật độ và diện tích (r = -0.520)

Nông dân ở Cần Thơ thích dùng thức ăn viên trong khi nông dân ở An Giang

phần lớn dùng thức ăn tự chế do nguồn cá biển dồi dào từ tỉnh Kiên Giang Kết quả là hệ

số biến chuyển thức ăn cho cá Tra tại An Giang thấp hơn ở Cần Thơ (dùng nhiều thức ăn

cho cá hơn tại An Giang) và con số này cũng tương tự như việc nuôi cá bằng thức ăn viên

tại Đồng Tháp là 1,47 (Pham quốc Nguyên 2008) Cần Thơ và Đồng Tháp có nhiều công

ty sản xuất thức ăn cho cá nằm gần khu vực các ao nuôi Để làm thức ăn bánh (thức ăn tự

chế), hầu hết nông dân phải thêm vào một số các chất bổ sung dinh dưỡng bao gồm các

lọai vitamines, men và khóang ngòai các lọai vật liệu truyền thống như cám, tấm và bánh

đậu nành Hầu hết nông dân cho cá ăn 2 lần/ngày (Bảng 8) thông thường vào buổi sáng

sớm và chiều tối Trong khi đó một số người khác cho ăn 1 lần hoặc thậm chí 4 lần /ngày

nhưng điều này không phổ biến lắm ở đồng bằng sông Cửu Long Về số lượng thức ăn

Trang 8

cung cấp cho cá hầu hết nông dân cho biết họ chỉ cung cấp vừa đủ thức ăn cho cá khỏang

1/10 trọng lượng cá vì thức ăn thừa có thể làm ảnh hưởng xấu chất lượng nước ao nuôi

(thối nước) Cách thông thường nông dân áp dụng để phát hiện sự thay đổi chất lượng

nước là quan sát màu nước

Bảng 8: Lọai thức ăn và số lần cho cá ăn/ngày

1 Lọai thức ăn (%)

Thức ăn viên (công nghiệp) 55 27

2 Lọai chất bổ sung

3 Số lần cho cá ăn/ngày

4 Quan sát ao

Nuôi cá Tra trong ao thường có tỉ lệ hao hụt cao Kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ

hao hụt cá con mới nở đến cá hương vào khỏang 50% và tỉ lệ hao hụt nuôi cá thương

phẩm cao hơn 20% (Bảng 9) Sự lan truyền bệnh do nguồn nước ô nhiễm và từ nguồn cá

giống là những nguyên nhân gây ra tỉ lệ tử vong cao Có nhiều lọai bệnh trên cá Tra được

báo cáo (Bảng 10) chủ yếu là do ký sinh trùng và virút Nông dân cho rằng nguồn cá

giống bị nhiễm bệnh là nguyên nhân chính nhưng thực ra nguyên nhân chủ yếu là do việc

vận chuyển cá giống trong bao bì chật hẹp làm cho cá bị xây xát dẫn đến nhiễm bệnh

Trong lúc vận chuyển chúng thường bị xây xát do cá Tra có ngạnh rất nhọn trên đầu Một

nguyên nhân khác nữa là do thay đổi môi trường đột ngột gây ra khi cá được thả xuống

ao mới để nuôi thương phẩm Hai lý do nêu trên gộp lại làm cho tỉ lệ tử vong cao khi thả

nguồn cá mới Cũng theo nông dân cho biết môi trường ao nuôi cũng ảnh hưởng đến tỉ lệ

sức khỏe cá nhưng điều này không quan trọng bằng 2 nguyên do vừa kể trên

Các câu hỏi liên quan đến kế họach nuôi cá Tra trong thời gian tới, hầu hết nông

dân tại An Giang (85%) và tại Cần Thơ (68%) nói rằng họ không có dự định gì về phát

triển sản xuất cá Tra trong tương lai Điều này cho thấy rằng nông dân không thực sự hài

lòng với nghề nuôi cá Tra do có quá nhiều điều không chắc chắn liên quan đến giá bán cá

thịt, giá cả vật tư đầu vào (giá thức ăn và giá hóa chất phòng trị bệnh và xử lý ao nuôi)

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nông dân có trình độ học vấn thấp cần được trợ

giúp để sản xuất nhằm gia tăng thu nhập cho họ Chỉ có khỏang 25% nông dân tại Cần

Thơ và 11% nông dân tại An Giang có kế họach mở rộng sản xuất trong tương lai Lại

một lần nữa số liệu minh chứng rằng nghề nuôi cá Tra không thể thu hút nhiều người đầu

Trang 9

quan tâm khi được hỏi đến Chỉ có vài nông dân miễn cưỡng trả lời trong lúc được phỏng

vấn mà trong thâm tâm họ chưa bao giờ nghĩ đến điều này

Bảng 9: Tỉ lệ hao hụt phần trăm và nguyên do

Tỉ lệ chết

Cá hương-Cá thương phẩm 22 24

Nguyên nhân

Tình trạng cá hiện tại

Dự định sản xuất trong tương lai

Liên quan đến việc sử dụng hóa chất và các sản phẩm sinh học để xử lý ao nuôi

trong việc nuôi cá Tra Hầu như có đến 50% nông dân tại cả 2 địa điểm khảo sát đều

dùng Vikong, BKC, Bioca, Yulai, Aquapure, Prawbac và một số các sản phẩm khác

(Bảng 10) Họ cũng dùng trụ sinh để kiểm sóat các bệnh do vi khuẩn gây ra trong đường

tiêu hóa của cá Tra Một số các lọai trụ sinh thông thường như Amoxycilline, Cotrim,

Penicilline, Kanamycine, Oxamet và Tetracylline đã được dùng rộng rãi chủ yếu bằng

cách trộn vào thức ăn tại An Giang (96%) hoặc cho trực tiếp vào môi trường nước (40%

nông dân tại Cần Thơ áp dụng theo cách này) Theo nông dân thì các lọai trụ sinh này rất

hữu hiệu để trị bệnh cho cá Tra May thay hầu như tát cả nông dân dùng kháng sinh đúng

theo liều lượng được khuyến cáo nếu không thì các hóa chất này sẽ trở thành vấn đề cho

môi trường nước và ngay cả đến thị trường xuất khẩu quốc tế Vì mục đích sát trùng ao

nuôi và để trừ tảo, 93% nông dân ở Cần Thơ và khỏang 66% tại tỉnh An Giang dùng

copper sulphate, BKC, Vikong, Chlorine, juka và ngay cả muối ăn hoặc vôi bột (Bảng

10) Trong số các lọai này thì BKC và chlorine là 2 lọai hóa chất phổ biến được dùng tại

cả 2 nơi An Giang và Cần Thơ

Quản lý chất lượng nước là việc làm thường xuyên trong suốt quá trình nuôi cá

Tra Tất cả nông dân đều rải vôi hoặc muối ăn dọc bờ và đáy ao sau khi đào ao mới hoặc

sau khi sên ao củ Liều lượng vôi và muối dùng xử lý biến động từ 300-400 kg/ ha Ao

sẽ được giữ khô khoảng 3-5 ngày trước khi bơm nước vào để nuôi vụ mới Hơn 95%

nông dân thay nước hoặc thường xuyên thêm nước vào ao (khoảng 1/3 thể tích nước

trong ao) và có vào khoảng 50% nông dân tại cả 2 địa điểm thực hành việc vệ sinh đáy ao

nhằm duy trì chất lượng nước trong ao được tốt bằng cách bơm bùn (chịnh) trong khi

nuôi cá nhằm loại bớt chất thải rắn tích tụ ở đáy ao Tuy nhiên tất cả nông dân đều thực

hành việc bơm bùn đáy ao ra bên ngoài sau khi thu hoạch cá (Bảng 11) Việc bơm chất

thải trực tiếp vào nguồn nướclà tiềm nănggây ra ô nhiễm môi trường Hầu hết nông dân

Trang 10

đều có máy đo pH cầm tay để quan trắc chất lượng nước Phương cách khác để biết chất

lượng nước tốt hay xấu là quan sát màu nước hoặc ngửi mùi nước Nếu ao thiếu oxy thì

cá thường lên trên bề mặt vào lúc sáng sớm; bằng cách này nông dân có thể nhận biết ao

có đủ oxy hay không

Bảng 10: Hoá chất dùng để xử lý nước ao cá

1 Hoá chất

2 Cách xử lý

Bảng 11: Quản lý nước trong ao cá Tra

Quan trắc chất lượng nước

Thải bùn đáy

Số liệu điều tra về bệnh của cá Tra được trình bày trong bảng 12 Bệnh nghiêm trọng và

phổ biến trên cá da trơn làm cho cá chết phần lớn do vi khuẩn gây ra (khoảng 90%)

Triệu chứng thông thường của bệnh do vi khuẩn gây ra là xuất huyết ở miệng, vây và

đuôi Một số các bệnh khác như phù đầu và tuột nhớt nhưng chúng ít quan trọng hơn là

bệnh do vi khuẩn gây ra

Ngày đăng: 20/12/2015, 06:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tổng quan về điều kiện kinh tế -xã hội của hộ trồng lúa và nuôi cá. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 1. Tổng quan về điều kiện kinh tế -xã hội của hộ trồng lúa và nuôi cá (Trang 3)
Bảng 2: Chất lượng nước tưới, dùng cho sinh họat và nước uống ở nông thôn - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 2 Chất lượng nước tưới, dùng cho sinh họat và nước uống ở nông thôn (Trang 4)
Bảng 5. Sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 5. Sử dụng hóa chất trong sản xuất lúa (Trang 6)
Bảng 9: Tỉ lệ hao hụt phần trăm và nguyên do - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 9 Tỉ lệ hao hụt phần trăm và nguyên do (Trang 9)
Bảng 12: Bệnh trên cá Tra, giai đọan xuất hiện và biện pháp phòng trị. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 12 Bệnh trên cá Tra, giai đọan xuất hiện và biện pháp phòng trị (Trang 11)
Bảng 14: Chất lượng nước ao nuôi cá Trê. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 14 Chất lượng nước ao nuôi cá Trê (Trang 12)
Bảng 15: Hóa chất dùng để xử lý nưoiức ao nuôi và phòng trị bệnh cho cá. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 15 Hóa chất dùng để xử lý nưoiức ao nuôi và phòng trị bệnh cho cá (Trang 13)
Bảng 16: Tình hình sản xuất và sử dụng phân hữu cơ tại Cần Thơ. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 16 Tình hình sản xuất và sử dụng phân hữu cơ tại Cần Thơ (Trang 14)
Bảng 18: Số liệu về dịch bệnh năm 2006 & 2007 tại huyện Phú Tân và Châu Phú - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 18 Số liệu về dịch bệnh năm 2006 & 2007 tại huyện Phú Tân và Châu Phú (Trang 15)
Bảng 17: Số liệu về dịch bệnh năm 2006 & 2007 tại quận/huyện Ô Môn và Thốt Nốt - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Bảng 17 Số liệu về dịch bệnh năm 2006 & 2007 tại quận/huyện Ô Môn và Thốt Nốt (Trang 15)
Hình 3: COD (mg/L ) của nước kênh trước và sau khi mở cống xả thải. - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Hình 3 COD (mg/L ) của nước kênh trước và sau khi mở cống xả thải (Trang 16)
Hình 2: Độ dẫn điện của nước trong kênh trước và sau khi mở cống xả thải nước ao - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Hình 2 Độ dẫn điện của nước trong kênh trước và sau khi mở cống xả thải nước ao (Trang 16)
Hình 5: Tổng chất rắn lơ lững trong kênh trước và sau khi xả chất thải ao nuôi vào  nguồn nước mặt - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Hình 5 Tổng chất rắn lơ lững trong kênh trước và sau khi xả chất thải ao nuôi vào nguồn nước mặt (Trang 17)
Hình 4: Nồng độ ammonium trong kênh đo được trước và sau khi mở cống xả chất  thải ao nuôi cá Tra - Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp   đánh giá ô nhiễm môi trường do việc xả các chất thải từ ao nuôi cá tra   MS4
Hình 4 Nồng độ ammonium trong kênh đo được trước và sau khi mở cống xả chất thải ao nuôi cá Tra (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w