1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo điểm SÁNG và điểm mù của KHOA học vì SAO TRI THỨC KHÁCH QUAN KHÔNG đủ để GIẢI QUYẾT NHỮNG TRANH cãi về môi TR

17 246 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 266,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi làm việc này, chúng ta sẽ thấy ít nhất phần nào rằng những tranh cãi về môi trường là kết quả của các quá trình mang tính chất nội tại của khoa học.. Như vậy, thay vì đi con đường mò

Trang 1

Blind - Spots

ĐIỂM SÁNG VÀ ĐIỂM MÙ CỦA KHOA HỌC: VÌ SAO TRI THỨC KHÁCH QUAN KHÔNG ĐỦ ĐỂ GIẢI QUYẾT NHỮNG TRANH CÃI

VỀ MÔI TRƯỜNG

Michael S Carolan

Đại học nhà nước Colorado, Mỹ

-

Tóm tắt

Bài viết này tìm hiểu vì sao khoa học không nói một tiếng nói thống nhất trong bối cảnh những tranh cãi về môi trường Tôi lập luận rằng các nhà xã hội học phải sẵn lòng quay sang tìm hiểu những quá trình và hiện tượng trong lòng khoa học Khi làm việc đó, chúng ta thấy rằng nhiều xung đột về

môi trường ít nhất phần nào là kết quả của bản thân khoa học Điều gì trong

khoa học đã giúp nuôi dưỡng những xung đột này? Nhằm trả lời câu hỏi ấy, bài viết trước hết suy ngẵm về những tác động của sự đa dạng về chuyên ngành và phương pháp luận đã gây ra đối với tranh luận khoa học Sau đó sự chú ý hướng tới các chủ đề về bằng chứng và sự đồng thuận, làm sáng tỏ cách sử dụng các thuật ngữ này để khuếch đại xung đột Sau đó tôi nói về cách mà khoa học tiền giả định các giá trị như thế nào Bài viết kết luận bằng việc đưa ra những gợi ý có liên quan đến chính sách về phương thức

“làm” khoa học môi trường theo một cách có thừa nhận những điểm sáng và điểm mù khác nhau về nhận thức của nó

-

Nhập đề

Gần đây người ta đã viết nhiều về những thế lực làm méo mó diễn ngôn khoa học (Austin and Phoenix, 2003; Freudenburg and Gramling, 2002; Kleinman, 1995: Kraft, 2000: McCright and Dunlap, 2000, 2003) Mặc dù tôi cũng quan tâm chẳng hạn đến cách thức mà hệ tư tưởng, tiền bạc và/hay quyền lực chính trị có thể ảnh hưởng tiêu cực đến khoa học như thế nào, nhưng tôi không sao tránh khỏi cảm giác cấn cái với hàm ý của cách lập luận như vậy Bởi vì khi chúng ta nói đến sự chính trị hóa khoa học, chúng ta

ngầm chấp nhận rằng khoa học đích thực là phi chính trị, là chắc chắn và

không ràng buộc bởi giá trị

Thay vào đó, bài viết này sẽ làm sáng tỏ vì sao chúng ta sẽ làm tốt hơn nếu chúng ta quay con mắt khảo sát sang chính khoa học Khi làm việc này, chúng ta sẽ thấy ít nhất phần nào rằng những tranh cãi về môi trường là kết

quả của các quá trình mang tính chất nội tại của khoa học Cho đến khi

Trang 2

chúng ta hiểu được rằng bằng cách nào mà bản thân khoa học có thể nuôi

dưỡng tranh cãi và xung đột, thì nếu muốn tìm ra giải pháp chúng ta vẫn tiếp tục không đạt được mục tiêu Như vậy, thay vì đi con đường mòn quen thuộc liên quan đến sự chính trị hóa khoa học (ví dụ Kitcher, 2001; McCright and Dunlap, 2000, 2003; Rayner, 2003), tôi chọn theo một con đường khác, ít người đi hơn: đó là làm sáng tỏ rằng không nên gắn những tranh cãi về môi trường – kể cả lập trường có vẻ không thể dung hòa giữa

những chuyên gia – chỉ riêng với chính trị hay hệ tư tưởng, mà nên gắn với bản thân khoa học

Những hệ lụy của lập luận này vượt ra khỏi hàm ý hàn lâm thuần túy Vì nếu khoa học cũng là một vấn đề như cách giải quyết nó, thì chúng ta sẽ phải nghiêm túc suy nghĩ lại vai trò của nó đối với việc giải quyết các vấn đề môi trường Do đó, những nghiên cứu nào chỉ tập trung vào tác động của các biến số bên ngoài đến khoa học sẽ tiếp tục bỏ qua một nguồn gốc tranh cãi quan trọng và có lẽ còn sâu xa hơn Và cho đến khi nào nguồn gốc này được đưa ra ánh sáng và bàn luận thỏa đáng, thì cuộc tranh cãi của khoa học vẫn tiếp tục mà chúng ta vẫn không hoàn toàn hiểu rõ là vì sao

Bài viết này bắt đầu bằng việc tìm hiểu vì sao các nhà khoa học không phải bao giờ cũng đồng thanh cất lên tiếng nói khi đề cập đến những tranh cãi về môi trường, và làm sáng tỏ trước hết tác động của sự muôn hình muôn vẻ về chuyên ngành cũng như phương pháp luận đối với các cuộc tranh luận khoa học Sau đó tôi sẽ quay sang chủ đề về bằng chứng và sự đồng thuận trong nội bộ khoa học, và làm sáng tỏ cách thức mà người ta sử dụng những điều này để tạo ra những xung đột không cần thiết trong các cuộc tranh chấp về môi trường Rồi sau đó tôi sẽ trực tiếp quay sang chủ đề về cách thức khoa học đòi hỏi những phán xét về giá trị như thế nào Sau khi được phần trước làm sáng tỏ, bài viết sẽ kết luận bằng cách đưa ra những gợi ý liên quan đến việc hoạch định chính sách rằng nên “làm” khoa học môi trường như thế nào

để làm sao thừa nhận những giới hạn về nhận thức của nó

Nhiều cách “nhìn” trong khoa học

Như nhiều người đã vạch rõ một cách tỉ mỉ, xem ra rất khó nắm bắt những tiêu chuẩn “cơ bản” để tách biệt khoa học với không khoa học (Gieryn,

1983, 1995; Jasanoff, 1987a; Kuhn, 1970 [1962]; Mulkay, 1976) Không có một phương thức tìm tòi về phương pháp luận nào mà chỉ riêng nhà khoa học sử dụng (Haack, 2003) Nếu khoa học đi kèm với một phương thức tìm tòi khác biệt, thì đó là vì những người làm khoa học điều tra một cách thận trọng Đây chính là cái mà Kuhn nói tới khi ông phân biệt “quan sát” (điều

mà nhà khoa học làm) với “cảm nhận” (một hình thức tìm tòi ít cẩn trọng

Trang 3

hơn); ông mô tả “quan sát” là “được thu thập một cách khó khăn” trong khi ông coi “cảm nhận” là điều đã được “ấn định” (1970 [1962]:126) Ngay dù vậy, không phải tất cả mọi nhà khoa học đều nhìn thấy Đơn giản vì các quan sát khoa học được tiến hành một cách khó khăn và thận trọng không có nghĩa là chúng mang tính chất “thuần khiết’ – tức là chúng độc lập với bối cảnh xã hội

Latour (1992:266) cho chúng ta một ẩn dụ nhiều hàm ý sau: “Các sự kiện khoa học giống như một con tàu, chúng không đi chệch đường ray của mình Quý vị có thể mở rộng đường ray và nối chúng với nhau, nhưng quý vị không thể lái một đầu tàu đi xuyên qua một cánh đồng” Ta có thể mở rộng phép ẩn dụ này cho các ngành khoa học vì chúng cũng hoạt động tốt nhất bên trong “những đường ray” về phương pháp luận và nhận thức luận của chúng Các ngành đều phục vụ một mục đích mang tính chất phân tách quan trọng: cụ thể chúng phân lẻ cái mà trong thực tế là một thế giới hết sức phức tạp thành những phần có thể nhận thức được (Bhaskar, 1978; Carolan, 2005a, 2005b; Collier, 1994) Tuy nhiên có một mặt sấp của việc tung đồng

xu triết học này: ví dụ nói về biến đổi khí hậu toàn cầu hay về cơ thể biến đổi gien – nhất là từ góc độ chính sách và điều tiết – kéo theo việc phải khảo

sát toàn bộ cánh đồng (chứ không chỉ nơi các “đường ray” khoa học khác

nhau chạy qua)

Daniel Sarewitz (2004) cũng nêu lên điểm tương tự khi nói về cuộc tranh cãi

nảy sinh sau khi công bố một bài viết trên tạp chí Tự nhiên của nhà sinh thái

vi sinh học Ignacio Chapela và nghiên cứu sinh của ông là David Quist Bài viết (khét) nổi tiếng này nói về ngô biến đổi gien ở Mexico, bất chấp một thực tế là ngô biến đổi gien đã bị chính phủ nước này cấm (Quist and Chapela, 2001) Tranh cãi bùng lên về việc công bố bài viết này, và khi nhiều người cố gắng đặt cuộc tranh cãi vào trong những sai lệch khác nhau của bên này bên khác của cuộc tranh luận (McAfee, 2003; Scott, 2003), thì Sarewitz chọn đi một con đường khác Không theo con đường mòn mà

nhiều người thường đi và khảo sát các thế lực bên ngoài khoa học, Sarewitz

tiếp cận cuộc tranh cãi bằng việc tìm hiểu xem bản thân khoa học có thể góp phần vào cuộc tranh cãi như thế nào Đặc biệt ông tập trung vào một điều là

cả hai bên tranh luận – tức những người nói chung ủng họ bài viết và những người chống lại việc công bố nó – có xu hướng phân tuyến dọc theo ranh giới ngành (ít nhất là trong số những người thuộc các khoa học về sự sống) Sau khi phân tích cuộc tranh cãi giữa các nhà khoa học, và vị trí chuyên ngành của những người tham gia khác nhau, Sarewitz đi đến kết luận sau:

Nhưng ở một cấp độ khác nữa mà người ta không bao giờ thảo luận,

cơ cấu chuyên ngành và sự không thống nhất của bản thân khoa học là

Trang 4

cội rễ của cuộc tranh cãi Hai bên tranh luận đại diện cho hai quan điểm khoa học khác nhau về tự nhiên – một quan tâm đến tính phức hợp, gắn bó qua lại, và không thể dự đoán, còn bên kia quan tâm đến việc kiểm soát các thuộc tính của những cơ thể cụ thể vì lợi ích của con người Dưới góc độ chuyên ngành, những quan điểm cạnh tranh nhau này khớp với hai trường phái trí tuệ khác nhau trong khoa học về

sự sống – sinh thái học và di truyền học phân tử (2004:391)

Vì chúng ta không thể giữ “quan điểm chẳng của ai” như câu thành ngữ đã nói – tức cái gọi là “quan điểm của Chúa” (ví dụ Fox-Keller, 1985; Haraway, 1991; Harding, 1991) – nên tất cả mọi tri thức (tức mọi “quan điểm”) đều có hạn chế Những ràng buộc như vậy thường dựa trên cơ sở các quy ước chuyên ngành của nhà phân tích Thế giới quá phức tạp để chúng ta

có thể lĩnh hội toàn bộ nó, vì nó bao gồm cả những đồ vật do con người chế tạo, các lực lượng và xu hướng mà trong một số trường hợp ta chỉ có thể quan sát được bằng cách phân tẽ nó ra (có những hiện tượng chỉ có thể lý giải nếu hiện diện các lực và các xu hướng, và rất khó lý giải nếu chúng không hiện diện) Dưới ánh sáng sự “thừa thãi” (Feyeraben, 2000) như thế,

có thể cực kỳ khó xác định nguyên nhân và kết quả So với môi trường khép kín của phòng thí nghiệm, thế giới là một hệ thống mở (Bhaskar, 1978) Vậy

là ngay bản thân việc nghiên cứu thế giới cũng có thể tăng thêm tính phức tạp cho nó, vì khi nghiên cứu nó, người ta đưa thêm trạng thái nhận thức (và hành vi, những mở rộng tiềm năng về chính sách v.v.) của những người nghiên cứu (Rosenberg, 1994)

Vậy là quan điểm nhận thức hữu hạn này chuyển thành quan điểm chỉ mang tính chất gợi ý về tính nhân quả (có lẽ trừ những trường hợp tầm thường nhất) Ví dụ khi đánh giá rủi ro, nhà nghiên cứu không thể tính đến hết mọi biến số và mọi tương tác hiệp lực (Jasanoff, 1999) Đơn giản vì không thể có

đủ tiền và công suất máy tính trên thế giới cho một nhiệm vụ lớn như của Hercule vậy Thay vào đó, các nhà nghiên cứu tập trung vào một vài biến số

và quan hệ then chốt, có thể quan sát được bằng thực nghiệm, và từ nỗ lực này đưa ra những gợi ý khiêm tốn rằng những rủi ro/đe dọa cụ thể đang xét

có thể là gì (Cohrssen and Covello, 1989)

Vì không bao giờ có thể sắp xếp các “sự kiện” xung quanh một cuộc tranh cãi để bộc lộ toàn cảnh một bức tranh về thực tại, nên người ta phải ra quyết định xem làm thế nào có thể lấp chỗ trống giữa nhiều các mảnh mẩu này một cách tốt nhất Nói cách khác, người ta đã ra quyết định làm sao cho cái trông có vẻ là khoảng trống giữa các “đường ray” của các ngành khác nhau

đã bị lấp kín không để lại dấu vết gì Nói cách khác, chúng ta chọn lựa là nên nhìn vào những “sự kiện” nào và bỏ qua “sự kiện” nào, tức là ta chọn

Trang 5

cái gì tạo nên “sự kiện” và cái gì không (Jasanoff and Wynne, 1998; Wynne, 2001) Rồi từ đây chúng ta sắp xếp các “sự kiện” đó theo cách nào có lợi theo những chuẩn mực, giá trị về thể chế và những kỷ luật chặt chẽ của chuyên ngành Ví dụ điều này đã được Sarewitz (2004) minh họa trong khảo sát nói trên của ông về cuộc tranh cãi xung quanh việc công bố trên tạp chí

Tự nhiên về sự vụ (mà người ta lên án là có) ngô biến đổi gien ở Mexico Do

đó chúng ta có thể cho rằng các chuyên ngành tạo ra bối cảnh cho các nhà

khoa học, và đến lượt mình bối cảnh sẽ giúp vào việc định hình nội dung cái được coi là “quan trọng”/”không quan trọng”

Một phần của sự chênh nhau về nhận thức giữa các ngành này nằm ở các phương pháp khác nhau mà chúng sử dụng Nói tóm lại, chính vì phương pháp chúng sử dụng mà các ngành khác nhau có xu hướng “nhin thấy” những khía cạnh khác nhau của thế giới Và như nhiều người khác đã cho thấy, nhãn quan phương pháp luận mà người ta theo đã định hình không chỉ cái chúng ta quan sát, mà cả cái được coi là bằng chứng, và do đó là “sự kiện” (Carolan, 2004; Law and Urry, 2004; Mol, 2002)

Sự muôn hình muôn vẻ về phương pháp luận này thể hiện ở một thực tế là các nhà triết học khoa học đã không nhất trí được với nhau khi nói đến việc đưa ra một lời tuyên cáo logic và mang tính phổ quát xem phương pháp khoa học nào (định lượng, định tính v.v.) và hình thức bằng chứng nào (thử nghiệm hay phân tẽ v.v.) phù hợp nhất với thế giới “bên ngoài” Dĩ nhiên hầu hết các nhà triết học khoa học nhận ra rằng lý thuyết coi chân lý như sự phù hợp chỉ là hão huyền Như thế, một nguồn gốc gây tranh cãi nữa giữa các nhà khoa học nằm ở chỗ họ đánh giá khác nhau các hình thức bằng chứng tranh đua nhau, do họ được “phân ngành” theo cách đánh giá khác nhau về các kỹ thuật phương pháp luận Và vì có thể thu thập những lập luận logic hợp lý vào đằng sau mỗi hình thức phương pháp luận (và mỗi kiểu bằng chứng tương thích), nên chúng ta không thể nói rằng cái này “tốt hơn” cái kia Như Oreskes đã nêu rõ:

Khi nói đến việc đánh giá những bằng chứng xung đột nhau, người ta

có xu hướng tin vào loại bằng chứng mà họ và đồng nghiệp thân cận của họ đã dành cả đời để thu thập, một phần vì những lý do xã hội, và phần nào vì họ gần gũi về trí tuệ, thẩm mỹ hay đạo đức với loại công việc khoa học ấy, và điều đó giúp lý giải vì sao từ đầu họ đã chọn theo đuổi loại nghiên cứu đó Thường thì những sự gắn bó này vừa là về tình cảm vừa về nhận thức Các nhà khoa học trên thực địa thì thích công việc trên thực địa […] và họ cũng tin rằng nó sẽ dễ nắm bắt được những chân lý cơ bản về thế giới tự nhiên hơn, dù nó có thể hỗn độn Trái lại, các nhà khoa học trong phòng thí nghiệm thì thích làm việc

Trang 6

trong phòng […] và họ cũng tin rằng nó sẽ tạo ra tri thức chặt chẽ hơn

và mang tính cụ thể hơn là khoa học trên hiện trường (2004a:375)

Một lần nữa chúng ta thấy một ví dụ khác nữa về việc liệu có thể gắn những lập trường có vẻ không thể dung hòa giữa các nhà khoa học với một điều gì

đó vốn có ở bản thân khoa học hơn là chỉ thuần thúy do các thế lực bên ngoài nào đó vốn có tác dụng bóp méo mọi thứ như là tiền bạc, chính trị hay

hệ tư tưởng Xét dưới ánh sáng này, chúng ta mới có thể bắt đầu hiểu được

vì sao khoa học cũng có thể là nguồn gốc của bao nhiêu là tranh chấp về môi

trường ngang như là giải pháp cho nó

Bằng chứug và sự đồng thuận trong khoa học

Vậy thì dưới ánh sáng của những lăng kính nhận thức luận hết sức khác nhau này, làm sao có thể đạt được sự đồng thuận trong khoa học? Naomi Oreskes (1999, 2004a) đã đưa ra một sự phân tích sâu sắc về cách thức chấp nhận trong khoa học đã diễn ra như thế nào, kể cả khi không có bằng chứng

Cụ thể hơn, bà đã làm sáng tỏ cách thức đi đến sự đồng thuận hết sức cao xung quanh lý thuyết về sự trôi dạt lục địa của Wegener ở nửa đầu thế kỷ

XX, tiếp sau đó là đến kiến tạo học địa lý trong những năm 1960 và 1970,

mà cả hai đều xảy ra bất chấp việc thiếu bằng chứng trực tiếp để hậu thuẫn

(càng không có để chứng minh) bất kỳ lý thuyết nào trong đó Thay vào đấy, trong cả hai trường hợp người ta đã tiến hành những phép suy rút thích hợp Nhưng ngay cả sau khoảng giữa những năm 1980, khi kiến tạo học địa lý đã được xác nhận về mặt thực nghiệm, thì xung quanh kiến tạo học địa lý người

ta vẫn chưa đạt được sự đồng thuận hoàn toàn (hay cái mà các học giả thuộc những nghiên cứu về khoa học và công nghệ gọi là “sự khép lại” (Bijker, 1995; Gieryn, 1983, 1995; Jasanoff, 1987a) Ví dụ vẫn tiếp tục có những sai

số Theo triết lý chặt chẽ của cảm quan khoa học, nếu nói rằng kiến tạo học điạ lý đã được “xác nhận” không phải là nói rằng nó đã được chứng minh

Do đó không nên lẫn lộn sự đồng thuận cao trong cộng đồng khoa học ngày

nay về kiến tạo học địa lý với sự đồng thuận phổ quát Chẳng hạn một số lượng nhỏ các nhà khoa học về trái đất vẫn tiếp tục đấu tranh cho một cách giải thích khác về dữ liệu, và từ đó nảy sinh thuyết Trái đất mở rộng (ví dụ Scalera and Karl-Heinz, 2003)

Điều quan trọng đối với chúng ta là cần nhớ rằng dữ liệu sai lệch rút cục có thể hóa thành những quan sát đúng và kết thúc bằng việc biện minh cho những người đưa nó vào các lý thuyết khác hẳn và mang tính thay thế của

họ Khi làm sáng tỏ điểm này, tôi không hề có ý định phá hoại hay gây nghi ngờ cho tính chân thực của kiến tạo học địa lý Đúng hơn chủ ý của tôi mang

Trang 7

tính tổng quát hơn: gợi nhớ rằng khoa học có những hạn chế về nhận thức Điều tôi muốn làm nổi bật là: những dữ liệu sai lệch được xác định phần lớn

bởi các quy chuẩn nêu rõ các cá nhân/nhóm quan niệm rằng thế giới phải như thế nào – và nên đưa dữ liệu nào vào mô hình – hơn là dựa trên cơ sở

một số lý do thuần túy khoa học nào đó Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên không rằng vì các chủ đề khoa học trở nên thích hợp hơn đối với các chính sách, nên những người bảo vệ nguyên trạng sẽ tập hợp với số lượng ngày càng tăng để bác bỏ quan niệm về cách xử lý và xác định dữ liệu sai lệch? Oreskes (2004a:371) đã đặt ra chính câu hỏi này trong bối cảnh lý thuyết lục địa trôi dạt: cụ thể là nếu lý thuyết lục địa trôi dạt thích hợp với vấn đề của chính sách công thì liệu người ta có đạt đến sự đồng thuận cao xung quanh

lý thuyết này một cách nhanh chóng như nó đã từng đạt được không? Cũng theo đường hướng tương tự, Sarewitz (2004) viết về một dự đoán mà các nhà nghiên cứu động đất đưa ra từ cuộc điều tra Địa chất Mỹ, những người

đã ước tính với xác xuất 95% rằng một trận động đất cấp độ trung bình sẽ diễn ra dọc theo dải Parkfield của khu vực San Andreas Fault xa xôi hẻo lánh vào khoảng năm 1993 Điều quan trọng là ước tính này được đại đa số cộng đồng khoa học chấp thuận vào thời điểm nó được đưa ra năm 1985 Tuy nhiên, 15 năm sau năm 1993, chẳng hề có trận động đất nào xảy ra ở khu vực này Với chuyện đó, Sarewitz (2004) đặt câu hỏi rằng nếu một dự đoán như vậy nhưng là về một trận động đất ở San Francisko thì liệu nó có thể được cộng đồng khoa học chấp thuận một cách mạnh mẽ như vậy không?

Hồi ấy dải Parkfield chạy qua một khu vực nông thôn, vốn lệ thuộc vào nông nghiệp của bang này Như vậy, ít có sức ép chính trị, kinh tế và tâm lý

xã hội để các nhà khoa học phải làm cho khoa học “đúng đắn” Nói cách khác, dự đoán này ít bị rủi ro hơn là khi nó nhằm vào một khu vực đô thị đông dân cư hơn chẳng hạn Như Sarewitz (2004:393) đã lập luận, nếu thay vào đó dự đoán này được đưa ra cho San Francisco, “người ta sẽ tăng vọt sự soi xét khoa học và chính trị đối với dự đoán đó, sức ép buộc các nhà khoa học phải “đúng” sẽ mạnh hơn, và cư dân làm khoa học và có lẽ cả số người của ngành liên quan đến quá trình dự đoán sẽ gia tăng mở rộng rất nhiều”

Và như đã bàn trước đây, sự mở rộng này của khoa học sẽ nhiều khả năng gây ra nhiều sự chênh nhau hơn nữa xung quanh câu hỏi về điều gì là sự kiện chân xác của tình hình lúc đó

Để lấy một ví dụ khác, chúng ta hãy xét cuộc tranh chấp chính trị và khoa học xung quanh chủ đề biến đổi khí hậu toàn cầu (ví dụ xin xem Demeritt, 2001; McCright and Dunlap, 2000; Taylor and Buttel, 1992; Timmons Roberrts, 2001; Yearly, 1996) Một ví dụ nổi bật là do McCright và Dunlap (2003) đưa ra Trong trường hợp cụ thể này, họ mô tả câu chuyện về cách

Trang 8

thức mà một sự thay đổi trong cơ cấu cơ hội chính trị do đảng Cộng hòa chiếm đa số ở Quốc hội năm 1994 đã mở đầu như thế nào cho một sự thách thức mạnh mẽ đối với sự đồng thuận khoa học rằng có “vấn đề” nóng lên toàn cầu Mặc dù sự phân tích của họ thật kỹ càng và có suy tính cẩn thận, nhưng tôi vẫn không thể tránh khỏi ý nghĩ rằng họ đã bỏ sót một mảnh quan trọng của câu đố Người ta có thể nghĩ rằng mảnh bị bỏ sót này là một kiểu cấu trúc kết tủa, và nó dịch chuyển chủ đề biến đổi khí hậu từ chỗ là một vấn

đề phần lớn mang tính khoa học sang thành vấn đề chính trị, xã hội và kinh

tế ngang hàng như vậy Cụ thể là: Nghị định thư Kyoto vốn rất mờ nhạt – nơi 160 quốc gia gặp gỡ ở Kyooto, Nhật Bản năm 1997 để bàn về việc cắt giảm xả khí thải dioxide carbon – có tác động gì đến việc gây sức ép vào giữa những năm 1990 để giảm bớt những điều mông lung vốn có xung quanh ngành khoa học về sự biến đổi khí hậu?

Điều quan trọng là Nghị định thư Kyoto đã biến vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu thành chủ đề thích hợp với chính sách công, và với việc đó, không có gì đáng ngạc nhiên là ngày càng nhiều người bị thu hút vào vấn đề ấy hơn là trường hợp ngược lại Nói cách khác, trong con mắt nhiều người, nếu xét những hậu quả kinh tế và chính trị mang tính chất trực tiếp hơn của nó bây giờ, thì Kyoto đã gia tăng nhu cầu phải làm cho khoa học “đúng đắn” Tôi không hề ngạc nhiên với phát hiện này như McCright và Dunlap (2003), mà tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu người ta không soi xét kỹ hơn ngành khoa học về vật chất và những điều bất định xung quanh nó Và phần nào đó chính là điều chúng ta đang tiếp tục thấy ở cuộc tranh cãi về sự biến đổi khí hậu ngày nay: dữ liệu sai lệch lúc khác thì bị bỏ qua nhưng bây giờ đang bị những người được gọi là “hay hoài nghi” soi xét

Điều này không phải là để gây nghi ngờ cho phân tích của McCright và Dunlup mà để tiếp tục đặt nó vào bối cảnh Điều quan trọng mà tôi muốn

nhấn mạnh là ngành khoa học về sự biến đổi khí hậu đang bị chính trị hóa vì

nó có thể bị như vậy, vì những lý do liên quan đến nội tại khoa học Bản

thân một điều gì đó về khoa học khiến nó bị chính trị hóa như vậy Và nếu chúng ta hi vọng hiểu được những điều phức tạp làm nền cho những tranh cãi về môi trường thì chúng ta cần tìm hiểu xem “điều gì đó” là gì

Nếu quay sang một nghiên cứu gần đây của William Freudenburg (2005) thì chúng ta sẽ thấy một ví dụ nữa cho thấy các nhân tố thể chế đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta có thể gia tăng “khoa học”– và như vậy gia tăng sự

vô định và tranh cãi – xung quanh một chủ đề cụ thể như thế nào Trong trường hợp này, một cuộc chiến được lường trước tại tòa án, giống hệt như Nghị định thư Kyoto đã mô tả trên đây, chính là chất xúc tác về thể chế, gia tăng tính rủi ro xung quanh tính chân thực của ngành khoa học mà ta đang xét Cụ thể, Freudenburg cho thấy các công ty đã hoạt động tinh vi như thế

Trang 9

nào để thâm nhập vào cái mà theo chính lời ông là “ngành khoa học hạt giống” : “Giống hệt như lối ‘chọn hạt giống trên mây’ theo nghĩa đen…, công ty mà ta đang xét đã làm việc với ‘những đám mây’, hay là với những giáo sư vốn đã ở vị trí ‘đúng’ hơn là thử tuyển mộ những giáo sư mà người

ta sẽ chẳng thấy đâu trong tầm tiếp cận được” (2005:26)

Mặc dù Freudenburg dành đặc quyền đặc lợi cho khoa học vì ông đã không

đặt câu hỏi (hoặc đơn giản là chủ định lờ đi) xem liệu có gì về bản thân khoa

học khiến xảy ra “việc chọn hạt giống” như vậy hay không, song ông đã làm sáng tỏ cách thức khiến những tranh cãi khoa học không nhất thiết phải là kết quả của riêng việc các chuyên gia cố tình bóp méo sự kiện thực tế Nhưng một ẩn dụ khác có thể áp dụng trong trường hợp này là “giăng lưới bắt cá” Nghĩa là các công ty trong nghiên cứu của Freudenburg đã “giăng lưới bắt cá” để tìm những chuyên gia vốn đã ở đúng cương vị (dưới góc độ

vị trí về chuyên ngành, phương pháp luận và lý thuyết), những người sẽ diễn giải “các sự kiện thực tế” theo một cách thức khớp với cách của chính họ (hay theo một cách nhất quán với việc bảo vệ họ khi nói trong bối cảnh nếu xảy ra một vụ kiện cáo trước pháp luật)

Như Freudenburg đã vạch rõ, vậy là những chuyên gia này khỏi cần chủ tâm thay đổi những điều họ tìm ra để đi đến kết luận của mình Đúng hơn họ chỉ phải có một cách hiểu khác đi so với trường khoa học chung về những gì được tính là dữ liệu chân thực Và mục đích của những cuộc thám hiểm để giăng lưới bắt cá như vậy là: “chộp lấy” chỉ vài ba trong số những chuyên gia này Vì trong hầu hết các trường hợp, mục tiêu không phải là giành chiến thắng đối với ngành khoa học chủ lưu, hoạt động theo phương thức sử dụng đồng nghiệp làm trọng tài để cho họ đứng về phía mình trong cuộc tranh luận, mà nhằm tạo ra một chủ đề nào đó làm đệm, và chủ đề đó đến lượt mình sẽ giúp tạo ra sự mông lung trong con mắt công chúng (ngay dù khi có

sự đồng thuận mạnh mẽ trong các chuyên gia như trong trường hợp sự biến đổi khí hậu)

Những chuẩn mực giữ cân bằng của các phương tiện thông tin đại chúng đã khiến cho những cuộc “thám hiểm bắt cá” như thế trở nên hết sức có hiệu quả trong việc định hình dư luận xã hội Như Gitlin (1980) đã nêu rõ, các mẩu tin gây tranh cãi đều theo mô hình “ủng hộ” và “chống đối”, trong đó nhân danh việc đưa tin một cách “khách quan”, cả hai bên tranh cãi đều được trình bày (ngay dù nếu như điều đó có nghĩa là tạo ra cảm tưởng rằng

có sự mông lung không xác định về mặt khoa học khi trong thực tế lại là sự đồng thuận) Tuy nhiên chuẩn mực này dẫn đến sự tiếp tục những quan điểm cực đoan vốn thường ít được chấp thuận trong cộng đồng khoa học bên ngoài, và điều đó biến nó thành cơ chế hấp dẫn để những người ủng hộ

Trang 10

nguyên trạng có được lời biện minh cho việc không hành động gì về mặt chính trị (Freudenburg and Buttel, 1999)

Dĩ nhiên có rất ít ví dụ cho thấy một quyết định sắp đến lại không gia tăng

sự tranh cãi đối với những tuyên bố thuộc về tri thức khoa học Nghị định thư Montreal (vốn quy định việc chia giai đoạn để dần dần ra khỏi CFC) rất gần với với trường hợp như vậy Tuy nhiên trong trường hợp này, nguy cơ ít hơn nhiều so với ta tưởng Chẳng hạn, DuPont đã nghĩ ra một điều thay thế cho CFC, nên lợi ích công nghiệp bị đe dọa ít nhất với việc rút khỏi như vậy (Rowlands, 1993) Vậy là ngay nếu như trường hợp khoa học chống lại CFC không hề kín kẽ theo nghĩa là không có bằng chứng (vì một lần nữa, bằng chứng trong khoa học là điều ảo tưởng), một tình thế phòng ngừa là dễ chịu

cả về kinh tế lẫn chính trị đối với hầu hết các bên có liên quan Nếu không sẵn có những điều thay thế này, và điều đó sẽ làm gia tăng lợi ích của những bên liên quan có thế lực, thì tôi rất hoài nghi rằng kết cục sẽ y hệt như nhau (hay ít nhất những cuộc tranh cãi dẫn đến Nghị định thư Montreal sẽ gay gắt hơn thực tế chúng đã xảy ra)

Một lần nữa điều tốt nhất mà khoa học có thể làm là tạo ra một sự đồng thuận mạnh mẽ (không phải là phổ quát) Thế thì điều đó nghĩa là gì khi áp dụng vào sự biến đổi khí hậu toàn cầu chẳng hạn? Như Oreskes (2004b) đã

nêu tỉ mỉ trong một bài viết được thỏa luận rộng rãi trên tạp chí Khoa học, có

một sự đồng thuận khoa học hết sức rộng rãi trong số các chuyên gia rằng có

sự biến đổi khí hậu liên quan đến nguồn gốc loài người Nếu chúng ta thực

sự tin rằng khoa học nên giúp chỉ dẫn chính sách, thì chúng ta sẽ đi theo sự đồng thuận đó Làm khác đi tức là bóp méo bản chất khoa học Và điều đó đáng sợ không kém gì khi bằng chứng khoa học bị chủ tâm bóp méo (hay những phát hiện “không thuận lợi” bị trấn áp) để ủng hộ một quan điểm cụ thể nào đó hay nguyên trạng: chẳng hạn xin xem Glantz et al (1996) và Warner (1986) để có ví dụ cho thấy ngành công nghiệp thuốc lá đã chế tạo

ra kết quả khoa học như thế nào để hậu thuẫn cho vị trí của nó

Vì sao khoa học đòi hỏi trước phải có những tuyên cáo về giá trị

Như vậy cho đến bây giờ tôi đã nói rằng theo những cách thức rất tinh vi, khoa học là một hoạt động mang tính xã hội (và như thế là ngầm mang giá trị) như thế nào Trong mục này tôi sẽ nói cụ thể về cách thức mà khoa học

đã tiền giả định giá trị ra sao Hãy xem ví dụ về những tiên đề mặc định chuẩn mực ngầm đã làm nền tảng cho các mô hình mang tính dự đoán như thế nào

Một nơi để chúng ta thấy giá trị là một phần ngầm ẩn của quá trình lập mô hình là việc xác định giới hạn tin cậy (confidence limits), một điều hàm

Ngày đăng: 20/12/2015, 06:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w