việt nam và các điều ước quốc tế đã kí kết về nuôi con nuôi ợp tác quốc tế về nuôi con nuôi là vấn đề nhân quyền quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em được người nước ngoài nhận l
Trang 1việt nam và các điều ước quốc tế
đã kí kết về nuôi con nuôi
ợp tác quốc tế về nuôi con nuôi là
vấn đề nhân quyền quan trọng nhằm
bảo vệ quyền lợi của trẻ em được người
nước ngoài nhận làm con nuôi cũng như
quyền làm cha, mẹ nuôi của người nước
ngoài, tạo ra môi trường lành mạnh cho
giao lưu dân sự quốc tế Chế định nuôi
con nuôi là chế định mang tính nhân đạo
sâu sắc nhằm thực hiện mục tiêu cao cả
của Công ước về quyền trẻ em của Liên
hợp quốc là "các quốc gia thành viên
công nhận hoặc cho phép chế độ nhận
con nuôi phải đảm bảo rằng những lợi
ích tốt nhất của trẻ em là mối quan tâm
cao nhất" (Điều 21)
1 Quá trình tham gia của Việt
Nam vào các điều ước quốc tế về con
nuôi
Là nước chịu hậu quả nặng nề của
chiến tranh, trẻ em Việt Nam là những
người chịu nhiều thiệt thòi nhất do mất
mát cha, mẹ, người thân trong gia đình,
người nuôi dưỡng, đỡ đầu và chịu cảnh
thiếu thốn về điều kiện ăn, mặc, học
hành Chính vì vậy mà vấn đề trẻ em Việt
Nam làm con nuôi người nước ngoài đH
được quan tâm ngay từ khi chiến tranh
mới kết thúc Theo thống kê, trẻ em được
người nước ngoài nhận làm con nuôi gia
tăng đáng kể: Năm 1990 là 60; năm 1991
là 181; năm 1992 là 432; năm 1993 là
638; năm 1994 là 1.233; năm 1995 là
1.584 và năm 1996 là 1.695 Từ năm
1995 đến năm 1999, 56 trên tổng số 61
sở tư pháp tỉnh, thành phố đH xét duyệt và công nhận 9.322 trẻ em Việt Nam làm con nuôi người nước ngoài Trong đó các tỉnh, thành phố có số lượng trẻ em làm con nuôi người nước ngoài lớn như thành phố Hồ Chí Minh 2.927, Bắc Giang 534,
Hà Nội 514, Thái Nguyên 513, Bà Rịa Vũng Tàu 368, Hòa Bình 346, Nam Định
295, Đà Nẵng 337, An Giang 264, Cần Thơ 210 Tham gia các điều ước quốc tế
về nhân quyền nói chung và quyền trẻ em nói riêng là mối quan tâm sâu sắc của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Công ước về quyền trẻ em được thông qua và mở cho các nước kí, phê chuẩn và gia nhập theo Nghị quyết số 44/25 ngày 20/11/1999 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Công ước có hiệu lực từ ngày 2/9/1989, Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990) Việt Nam là nước thứ 2 phê chuẩn Công ước này và là nước thực hiện với cố gắng cao nhất các cam kết phát sinh từ Công ước
Vấn đề nuôi con nuôi cũng đH được ghi nhận trong các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đH kí với các nước từ
1980 Vấn đề nuôi con nuôi đH được dành
vị trí thích đáng trong các hiệp định này Trong đó phải kể đến các điều về nuôi con nuôi trong các hiệp định tương trợ tư pháp như: Điều 39 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Cộng hòa dân chủ
H
* Vụ pháp luật quốc tế và hợp tác quốc tế
Bộ tư pháp
Trang 2Đức kí ngày 15/2/1980 (đH chấm dứt hiệu
lực 1993), Điều 28 Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa Việt Nam - Liên Xô kí ngày
10/12/1981 (cho đến nay Liên bang Nga
vẫn kế thừa); Điều 26, 27 Hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Tiệp
Khắc kí ngày 12/10/1982 (hiện Séc và
Xlovakia vẫn kế thừa); Điều 28 Hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Cu Ba
kí ngày 30/11/1984; Điều 41 Hiệp định
tương trợ tư pháp giữa Việt Nam -
Hungary kí ngày 18/01/1995; Điều 25
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam - Bungary kí ngày 3/10/1986; Điều
31 Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam - Lào kí ngày 6/7/1998; Điều 30
Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt
Nam - Liên bang Nga kí ngày 25/8/1998
(hiện chưa có hiệu lực), Điều 29 Hiệp
định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam -
Ucraina kí ngày 6/4/2000 (chưa có hiệu
lực), Điều 29 Hiệp định tương trợ tư pháp
giữa Việt Nam - Mông Cổ kí ngày
17/4/2000 (chưa có hiệu lực)
Việc Việt Nam và Cộng hòa Pháp kí
Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi tháng
2 năm 2000 đánh dấu bước quan trọng
trong việc củng cố quan hệ hợp tác về
nuôi con nuôi; tạo cơ sở pháp lí để giải
quyết những vướng mắc trong lĩnh vực
này và tạo điều kiện để quan hệ hợp tác
về nuôi con nuôi phát triển Pháp hiện là
nước nhận con nuôi Việt Nam nhiều nhất
Số trẻ em Việt Nam làm con nuôi tại
Pháp đH lên tới 3.407 (chiếm 36,5% số
con nuôi Việt Nam ở nước ngoài)(1)
Trước đây trong thời gian chưa có Hiệp
định, quan hệ về nuôi con nuôi giữa hai
nước đH gặp phải những ách tắc, vướng
mắc nhất định, trong đó phải nói đến việc
tạm ngừng nhận con nuôi năm 1999 đH
gây ra hậu quả không tốt ảnh hưởng đến mối quan hệ giao lưu truyền thống giữa hai nước và tác động tiêu cực đến sự phát triển của giao lưu dân sự Với Hiệp định này, quan hệ về nuôi con nuôi giữa hai nước sẽ mở ra trang mới
Ngoài ra, trong khuôn khổ Liên hợp quốc, Việt Nam đH tham gia hàng loạt các công ước khác có liên quan đến vấn
đề nuôi con nuôi như Công ước quốc tế
về các quyền dân sự - chính trị năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế -
xH hội và văn hóa năm 1966 (Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982)
2 Những vấn đề cơ bản của các hiệp định về nuôi con nuôi
a Các hiệp định tương trợ tư pháp về dân sự
Các hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam kí với các nước chủ yếu chỉ đề cập vấn đề chọn pháp luật áp dụng để
điều chỉnh các quan hệ về việc nuôi con nuôi và xác định thẩm quyền của cơ quan giải quyết việc nuôi con nuôi
Đa số các hiệp định đều quy định vấn
đề nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước mà người nuôi là công dân vào thời điểm xác nhận con nuôi Nếu người nuôi là công dân của nước này nhưng lại thường trú trên lHnh thổ nước kia thì áp dụng pháp luật của nước nơi người nuôi thường trú Đối với việc công nhận việc nuôi con nuôi cũng áp dụng pháp luật của nước mà con nuôi là công dân để giải quyết các vấn đề liên quan
đến sự đồng ý của con nuôi, của người
đại diện hợp pháp của con nuôi, sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như các vấn đề liên quan đến
sự hạn chế việc nuôi con nuôi do sự thay
đổi nơi thường trú của con nuôi từ nước
Trang 3này sang nước kia
Trong trường hợp trẻ em được cặp vợ
chồng nhận làm con nuôi, trong đó người
chồng là công dân nước này còn người vợ
là công dân nước kia thì yêu cầu đối với
việc nhận nuôi con nuôi phải tuân theo
pháp luật của cả hai bên kí kết Nếu vợ
chồng cùng thường trú trên lHnh thổ một
nước thì áp dụng pháp luật của nước nơi
họ cùng thường trú
Riêng Hiệp định tương trợ tư pháp
giữa Việt Nam - Lào quy định khác với
các hiệp định khác Việc nuôi con nuôi,
theo Hiệp định này phải tuân theo pháp
luật của nước kí kết mà con nuôi là công
dân Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi; việc thay đổi, chấm dứt nuôi
con nuôi phải theo pháp luật của nước kí
kết mà cha mẹ nuôi là công dân Trong
trường hợp cha mẹ nuôi là công dân của
hai nước khác nhau thì phải tuân theo
pháp luật của nước kí kết nơi con nuôi cư
trú
Về thẩm quyền giải quyết các vấn đề
về việc nhận nuôi con nuôi, thay đổi,
chấm dứt và tuyên bố việc nuôi con nuôi
vô hiệu, cơ quan có thẩm quyền là cơ
quan tư pháp của nước mà con nuôi là
công dân vào thời điểm xin nuôi con
nuôi Nếu con nuôi là công dân nước này
nhưng lại thường trú trên lHnh thổ nước
nơi người nhận nuôi thường trú thì cơ
quan của nước người nhận nuôi thường
trú cũng có thẩm quyền giải quyết (Hiệp
định tư pháp Việt Nam - Nga; Việt Nam -
Lào)
Còn các hiệp định khác lại quy định
theo hệ thuộc khác Thẩm quyền giải
quyết việc nuôi con nuôi thuộc về cơ
quan của nước mà người nhận nuôi là
công dân Trong trường hợp cặp vợ chồng
nhận nuôi mà chồng là công dân nước này, vợ lại là công dân nước kia thì cơ quan có thẩm quyền là cơ quan của nước
kí kết nơi vợ chồng đang hoặc đH có nơi thường trú chung cuối cùng Trường hợp
họ không có nơi thường trú chung thì cơ quan của cả hai nước đều có thẩm quyền giải quyết Các cơ quan trên cũng có thẩm quyền giải quyết việc hủy bỏ nuôi con nuôi
Trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam - Trung Quốc, mặc dù không quy định riêng về nuôi con nuôi nhưng khoản 1 Điều 18 quy định tòa án
có thẩm quyền là của nước nơi bị đơn có nơi thường trú hoặc tạm trú tại thời điểm bắt đầu tiến hành trình tự tố tụng Khoản
7 Điều 18 quy định về việc liên quan đến quy chế nhân thân thuộc thẩm quyền của tòa án của nước nơi đương sự thường trú hoặc tạm trú, còn khoản 8 thì quy định những vụ việc liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc thẩm quyền của tòa án thuộc nước nơi người có nghĩa vụ thường trú hoặc tạm trú Như vậy, các quy định trên gián tiếp quy định thẩm quyền của cơ quan giải quyết vụ việc cụ thể liên quan
đến các bên tham gia vào quan hệ nuôi con nuôi Tùy thuộc vào từng mối quan
hệ của từng bên, vụ việc nuôi con nuôi
mà tòa án của từng nước có thẩm quyền giải quyết
b Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi Việt - Pháp
Khác với các hiệp định tương trợ tư pháp, Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam - Pháp (gọi tắt là Hiệp
định Việt - Pháp) không những chỉ quy
định về vấn đề chọn pháp luật áp dụng, thẩm quyền giải quyết mà còn quy định các vấn đề hợp tác khác về nội dung
Trang 4Trước hết, về phía Việt Nam, toàn bộ
các hoạt động hợp tác để thực hiện Hiệp
định được giao cho Bộ tư pháp, còn về
phía Pháp là Cơ quan nuôi con nuôi quốc
tế Cơ quan trung ương đầu mối này có
thể yêu cầu sự giúp đỡ của các cơ quan
có thẩm quyền của nước mình và những
tổ chức được phép hoạt động trong lĩnh
vực nuôi con nuôi theo pháp luật nước
mình trong việc thực hiện các cam kết về
nuôi con nuôi theo Hiệp định Đồng thời,
các cơ quan này có thể trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua sự giúp đỡ của các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng mọi
biện pháp thích hợp, phù hợp với pháp
luật của mỗi nước để phòng ngừa việc thu
lợi vật chất bất hợp pháp trong việc nuôi
con nuôi Trong trường hợp cần thiết, các
cơ quan này có thể tiến hành mọi biện
pháp thích hợp nhằm yêu cầu xử lí hành
vi thu lợi bất hợp pháp đó
Về thẩm quyền, việc quyết định cho
trẻ em làm con nuôi thuộc thẩm quyền
của cơ quan nhà nước của nước kí kết mà
trẻ em đó là công dân Việc xác định cá
nhân, tổ chức có quyền đồng ý cho trẻ em
làm con nuôi và hình thức sử dụng sự
đồng ý tuân theo pháp luật của nước kí
kết mà trẻ em đó là công dân
Về trình tự, thủ tục nhận nuôi con
nuôi, Hiệp định đH quy định cụ thể, chặt
chẽ các thủ tục, trình tự giải quyết các vụ
việc nuôi con nuôi Trong đó yêu cầu cơ
quan trung ương nơi người xin nhận nuôi
con nuôi thường trú phải đảm bảo rằng
người nhận nuôi con nuôi phải có đủ điều
kiện cần thiết cho việc nuôi con nuôi và
có đủ thông tin tư vấn cần thiết cho việc
nuôi con nuôi, đặc biệt là những thông tin
về môi trường gia đình và xH hội của
nước mà trẻ em đó sẽ là công dân
Cơ quan trung ương của nước kí kết
mà trẻ em được nhận làm con nuôi có quốc tịch phải đảm bảo trẻ em được giới thiệu làm con nuôi được pháp luật cho phép làm con nuôi, có sự đồng ý của nhiều cá nhân hoặc tổ chức có quyền có ý kiến về việc cho trẻ em đó làm con nuôi
và không được đòi hỏi phải trả bất cứ khoản tiền nào hay sự đền bù nào cho việc đồng ý cho việc trẻ em làm con nuôi Quyết định cho nhận con nuôi và việc giao nhận con nuôi được thực hiện theo pháp luật của nước mà trẻ em là công dân Các cơ quan trung ương của hai nước phải đảm bảo tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trẻ em được nhận làm con nuôi xuất cảnh từ nước nguyên quán cũng như được nhập cảnh và thường trú trên lHnh thổ nước tiếp nhận
Việc tiến hành các thủ tục, trình tự chặt chẽ, cụ thể đó, suy cho cùng nhằm mục đích đảm bảo cho con nuôi được bảo
vệ và được hưởng đầy đủ những quyền dành cho trẻ em thường trú trên lHnh thổ nước mình Ngoài ra, để đảm bảo triệt để hơn trên thực tế quyền của con nuôi, cơ quan trung ương của hai nước thực hiện các biện pháp thích hợp nhằm thu thập, lưu giữ và trao đổi thông tin về tình trạng con nuôi và người xin nhận con nuôi nhằm bảo vệ lợi ích tốt nhất cho con nuôi
Về hợp tác, phối hợp đảm bảo thực hiện các cam kết trong Hiệp định, hai nước thành lập nhóm công tác hỗn hợp, bao gồm đại diện của các cơ quan có thẩm quyền, định kì họp mỗi năm một lần để xem xét, đánh giá việc thực hiện Hiệp định Ngoài ra, hai bên còn cam kết
hỗ trợ kĩ thuật cho các cơ quan hoặc tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nuôi con
Trang 5nuôi, đào tạo cán bộ cũng như trao đổi
thông tin và kinh nghiệm
c Các công ước quốc tế trong khuôn
khổ Liên hợp quốc
- Công ước quốc tế và các quyền dân
sự - chính trị năm 1966 và Công ước quốc
tế về các quyền kinh tế - xH hội và văn
hóa năm 1966 mặc dù không quy định về
vấn đề nuôi con nuôi nhưng đH gián tiếp
quy định về vấn đề này Hai công ước
này đH khẳng định trách nhiệm pháp lí
của các quốc gia thành viên trong việc
bảo hộ các quan hệ hôn nhân và gia đình
đặc biệt là bảo hộ trẻ em theo nguyên tắc
bình đẳng, không phân biệt đối xử
- Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em là văn bản pháp lí quốc tế
đầu tiên quy định một cách toàn diện,
tổng thể các quyền trẻ em và trong đó có
đề cập trực tiếp đến vấn đề nuôi con nuôi
Công ước đặt ra nghĩa vụ của các quốc
gia thành viên phải bảo hộ và giúp đỡ đặc
biệt đối với trẻ em tạm thời hay vĩnh viễn
bị tước mất môi trường gia đình vì lợi ích
tốt nhất cho bản thân trẻ em Việc lựa
chọn hình thức chăm sóc này hay hình
thức khác như gửi nuôi, nhận làm con
nuôi, gửi vào những cơ quan chăm sóc trẻ
em thích hợp phải dựa trên sự quan tâm
đến nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, văn hóa,
ngôn ngữ và nhằm đảm bảo thực hiện
được yêu cầu nuôi dạy trẻ liên tục
Theo quy định của Công ước, các
quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo
những lợi ích tốt nhất cho trẻ em trong
quá trình xem xét cho phép nhận nuôi
con nuôi Chỉ có nhà chức trách có thẩm
quyền mới được quyết định việc cho nhận
nuôi con nuôi theo đúng pháp luật và các
thủ tục được áp dụng trên cơ sở tin tưởng
rằng bản thân trẻ em có thể được phép
làm con nuôi và những người có liên quan đều đH được thông tin cần thiết và
đồng ý với việc nhận con nuôi đó Trẻ em
được nhận làm con nuôi ở nước khác
được coi là biện pháp chăm sóc thay thế chỉ khi không thực hiện được việc gửi nuôi, nhận con nuôi hay các hình thức chăm sóc thích hợp khác ở ngay tại nước nguyên quán Các quốc gia cam kết đảm bảo các điều kiện và tiêu chuẩn tương
đương giữa chế độ nhận nuôi trong nước
và ở nước ngoài; loại trừ sự thu lợi bất chính từ việc nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi
Như vậy, mặc dù chỉ có những quy
định ngắn gọn nhưng Công ước quốc tế
về quyền trẻ em đH thể chế hóa về phương diện pháp lí quốc tế các vấn đề cốt lõi nhất đó là đối tượng, điều kiện hình thức, nguyên tắc và nghĩa vụ của nhà nước đối với chế độ nuôi con nuôi ở trong và ngoài nước Công ước này tạo ra cơ sở pháp lí quan trọng cho việc xây dựng các công ước chuyên biệt về bảo vệ trẻ em trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực hợp tác nuôi con nuôi
Hiện nay, Việt Nam đang chuẩn bị
điều kiện để sớm gia nhập Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong vấn đề nuôi con nuôi giữa các nước đH
được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1993 Việc tham gia Công ước này sẽ tạo cơ sở pháp lí quốc tế vững chắc để nước ta tham gia, hợp tác chặt chẽ hơn nữa với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực nuôi con nuôi và bảo vệ trẻ em./
(1) Số lượng con nuôi Việt Nam được người Pháp nhận chiếm tỉ lệ cao ở một số tỉnh, thành phố như Hải Dương 90,4%; thành phố Hồ Chí Minh 69,9%; Bắc Giang 54%; Cần Thơ 47,8%