Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được Nhà nước giao hoặc do nhận quyền sử dụng đất hợp pháp được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của
Trang 1Ths Don Hồng Nhung * rong điều kiện kinh tế thị trường, để đảm
bảo vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh,
việc thế chấp tài sản là giá trị quyền sử dụng
đất để vay vốn ngân hàng và các tổ chức tín
dụng là hoạt động đ/ diễn ra Nhưng vấn đề xử
lí tài sản thế chấp là giá trị quyền sử dụng đất
để bảo đảm thu hồi vốn vay là vấn đề phức tạp
và cần có sự điều chỉnh của pháp luật Người
sử dụng đất có quyền sử dụng đất theo pháp
luật dân sự nhưng khi thế chấp họ phải thế
chấp giá trị quyền sử dụng đất vì nó là tài sản
có giá trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
Theo khoản 1 Điều 181 Bộ luật dân sự năm
1995 về bất động sản thì:
“1 Bất động sản là các tài sản không di,
dời được bao gồm:
a Đất đai;
b Nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với
đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà ở,
công trình xây dựng đó
c Các tài sản khác gắn liền với đất đai;
d Các tài sản khác do pháp luật quy định”
Theo đó thì đất đai và tài sản gắn liền với
đất được quy định là bất động sản Dưới góc
độ dân sự, người sử dụng đất được thực hiện
các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất
như: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê,
thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất Trong thế chấp tài sản là giá trị
quyền sử dụng đất, điều kiện thế chấp của hộ
gia đình, cá nhân khác với điều kiện thế chấp
của tổ chức Theo khoản 11 Điều 1 Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 1/11/2001 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/ 1999 về thủ tục chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất thì điều kiện thế chấp tài sản là giá trị quyển sử dụng đất của hộ gia
đình, cá nhân là:
“1 Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp được Nhà nước giao hoặc do nhận quyền sử dụng đất hợp pháp
được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất kinh doanh
2 Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được Nhà nước cho thuê mà đG trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đG trả trước tiền thuê
đất cho nhiều năm nếu thời hạn thuê đất đG
được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm Giá trị quyền sử dụng đất được thế chấp trong trường hợp thuê đất gồm tiền đền bù thiệt hại khi
được nhà nước cho thuê (nếu có), tiền thuê đất
đG trả cho Nhà nước sau khi trừ đi tiền thuê
đất cho thời gian đG sử dụng và giá trị tài sản gắn liền với đất đó (nếu có) Trong trường hợp thế chấp giá trị quyền sử dụng đất thuê để vay
T
* Giảng viên Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 2vốn ngắn hạn mà thời hạn thuê đất đG được trả
tiền còn lại dưới 5 năm thì thực hiện theo hướng
dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
3 Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước
cho thuê đất mà trả tiền thuê đất hàng năm thì
được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình
gắn liền với đất thuê tại tổ chức tín dụng được
phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn phát
triển sản xuất kinh doanh
4 Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở
được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, tài
sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó
tại các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng được
phép hoạt động tại Việt Nam và cá nhân Việt
Nam ở trong nước”
Quyền thế chấp giá trị quyền sử dụng đất
là một trong những quyền quan trọng của
người sử dụng đất trong cơ chế thị trường Giá
trị quyền sử dụng đất đ/ mang lại giá trị tài
sản đích thực cho người sử dụng đất đồng thời
nó là nguồn vốn để người sử dụng đất đầu tư,
phát triển sản xuất, kinh doanh
Việc quy định thế chấp phải có giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất tuy đảm bảo tính chặt
chẽ của pháp luật song chưa phù hợp với thực
tế cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đang diễn ra Do lịch sử để lại và do nhiều
nguyên nhân khác, việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hiện còn rất chậm Trong
khi đó, nhu cầu vay vốn của người sử dụng đất
ngày càng cao đang trở thành áp lực đối với
các ngân hàng và các tổ chức tín dụng ở Việt
Nam Điều kiện để thế chấp giá trị quyền sử
dụng đất của tổ chức kinh tế được pháp luật
quy định chặt chẽ nhằm hạn chế rủi ro cho
ngân hàng và các tổ chức tín dụng được phép
hoạt động tại Việt Nam Theo khoản 14 Điều 1
Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 1/11/2001 sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định số
17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 về thủ tục chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất quy định:
“Tổ chức kinh tế được thế chấp giá trị quyền
sử dụng đất với tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam khi có một trong các
điều kiện sau:
1 Đất do Nhà nước giao có thu tiền;
2 Đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp;
3 Đất do Nhà nước cho thuê mà trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đG trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đG được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm Giá trị quyền sử dụng đất thế chấp trong trường hợp thuê đất gồm tiền đền bù thiệt hại khi được Nhà nước cho thuê đất (nếu có), tiền thuê đất đG trả cho Nhà nước sau khi trừ đi tiền thuê đất cho thời gian đG sử dụng và giá trị tài sản gắn liền với đất đó; trong trường hợp thế chấp giá trị quyền sử dụng đất để thuê vay vốn ngắn hạn mà thời hạn thuê đất đG được trả tiền còn lại dưới 5 năm thì thực hiện theo hướng dẫn của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
4 Trường hợp tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối hoặc được Nhà nước cho thuê đất mà trả tiền thuê đất hàng năm thì chỉ
được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất đó”
Như vậy, để thế chấp giá trị quyền sử dụng
đất, các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình
có thể tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thoả m/n các điều kiện trên Trước đây pháp luật dân sự không quy định bảo l/nh là quyền của người sử dụng đất nhưng thực tế lại
có tình trạng giúp nhau, cho nhau mượn giấy
Trang 3chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp,
thực chất là bảo l/nh cho người khác bằng việc
thế chấp giá trị quyền sử dụng đất Chính vì
vậy, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung Nghị định
số 04/2000/NĐ-CP ngày 11/2/2000 về thi
hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật đất đai, Chính phủ quy định tại khoản 3
Điều 16 và điểm a khoản 3 Điều 30 như sau:
“ thế chấp hoặc bảo lGnh bằng giá trị quyền
sử dụng đất thuê lại và tài sản thuộc sở hữu
của mình có trên đất thuê tại tổ chức tín dụng
được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn
sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp
luật”.(1) Như vậy, Luật đất đai được hoàn thiện
theo hướng ngày càng mở rộng quyền cho
người sử dụng đất Quyền của hộ gia đình, cá
nhân được Nhà nước giao đất không thu tiền
sử dụng đất được bổ sung thêm quyền “ bảo
lGnh bằng giá trị quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật về đất đai ”.(2) Pháp luật
cần phải quy định rõ hơn tài sản gắn liền với đất
và cơ chế quản lí nhà nước đối với tài sản gắn liền
với đất để đáp ứng nhu cầu thực tế Nghị định số
165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 về giao dịch
bảo đảm không quy định bắt buộc việc thế chấp
bất động sản phải kèm theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất Tại Nghị định số
178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính
phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín
dụng đ/ quy định bắt buộc khi thế chấp tài sản
gắn liền với đất thuê thì phải kèm theo quyền
sử dụng đất Đó là quy định thích hợp với thực
trạng của hoạt động thế chấp ở nước ta hiện
nay Nhưng trong thực tế nếu người thế chấp
tài sản chỉ có nhu cầu thế chấp tài sản của
mình có trên đất thì phải tuân theo quy định
trên một cách miễn cưỡng vì: “Khi thế chấp tài
sản gắn liền với đất, khách hàng vay phải thế
chấp cả giá trị quyền sử dụng đất cùng với tài
sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.(3) Trong thực tế, nếu bên có tài sản thế chấp muốn phát mại thì người mua tài sản giúp cho việc giải ngân không thể mua nhà để ở mà lại không có quyền sử dụng đất Việc quy định
đất thế chấp có tài sản gắn liền trong trường hợp thế chấp đất nông nghiệp, đất làm muối,
đất nuôi trồng thuỷ sản là tương đối khó vì vấn
đề xác định giá trị tài sản gắn liền với các loại
đất này
Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được thế chấp giá trị quyền sử dụng đất được quy
định tại Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày1/11/2001 của Chính phủ cũng được quyền bảo l/nh bằng giá trị quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.(4) Trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đ/ cho phép các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài được thế chấp tài sản và quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam.(5) Chính vì vậy, Luật
đất đai sửa đổi, bổ sung năm 2001 đ/ bổ sung
Điều 78g như sau: “Tổ chức kinh tế, hộ gia
đình, cá nhân có quyền thế chấp giá trị quyền
sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai thì
được thế chấp hoặc bảo lGnh bằng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản thuộc quyền sở hữu của mình gắn liền với đất đó tại tất cả các tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam” Như vậy, Nhà nước ta không phân biệt
tổ chức tín dụng đó là của Việt Nam hay nước ngoài Việc thống nhất điều chỉnh hoạt động thế chấp giá trị quyền sử dụng đất trong các văn bản quy phạm pháp luật giúp cho việc áp dụng pháp luật có tính khả thi và đạt hiệu quả cao
Việc sử dụng giá đất do UBND cấp tỉnh ban hành theo quy định của Chính phủ hiện
Trang 4nay là chưa phù hợp Giá đất do UBND các địa
phương ban hành đ/ được điều chỉnh theo
Nghị định số 17/1998/NĐ-CP ngày 21/3/1998
và Quyết định số 302/TTg ngày 13/5/1996 của
Chính phủ nhưng vẫn chưa theo kịp thực tế
chuyển nhượng quyền sử dụng đất Khi người
thế chấp không trả được nợ thì ngân hàng có
quyền phát mại giá trị quyền sử dụng đất
thông qua bán đấu giá để thu hồi vốn Trong
các đô thị lớn, các khu thương mại, khu du
lịch hiện nay, nếu khách hàng vay làm ăn
thua lỗ, không trả nợ được cho ngân hàng các
khoản vay đến hạn thì ngân hàng có quyền
phát mại giá trị quyền sử dụng đất thông qua
bán đấu giá để thu hồi vốn Giá trị quyền sử
dụng đất trong trường hợp này chính là giá
chuyển nhượng đất thực tế Sự tồn tại hai cơ
chế giá như vậy cho cùng một loại tài sản là
không hợp lí Nghị định số 178/CP quy định:
“Trường hợp tổ chức tín dụng (bên nhận thế
chấp) được quyền thực hiện xử lí tài sản để
đảm bảo tiền vay bằng cách bán, nhận chính
tài sản bảo đảm tiền vay hoặc trực tiếp nhận
các khoản tiền hoặc tài sản từ bên thứ ba là
người có nghĩa vụ trả thay cho khách hàng
vay” Nhưng tại Nghị định này không nêu cụ
thể khi tài sản dùng để bảo đảm tiền vay là giá
trị quyền sử dụng đất thì ngân hàng và các tổ
chức tín dụng sẽ trực tiếp bán hoặc nhận chính
diện tích đất đó hay là phải thông qua thủ tục
đặc biệt khác, vì đất đai thuộc sở hữu toàn dân
do Nhà nước thống nhất quản lí
Vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh là vấn
đề các doanh nghiệp luôn lưu tâm Đối với
doanh nghiệp được giao đất, thuê đất có đủ
điều kiện thế chấp vay vốn ngân hàng theo quy
định của pháp luật đất đai nhưng chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cho
phép tổ chức tín dụng căn cứ vào quyết định
giao đất, hợp đồng thuê đất, giấy nộp tiền sử dụng đất để cho vay.(6) Đây chính là những tín hiệu tốt để quyền sử dụng đất thực sự là tài sản có giá trong thực tiễn sản suất, kinh doanh ở nước ta Tại Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày 23/4/2001 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ tư pháp, Bộ công an, Bộ tài chính, Tổng cục địa chính ban hành về hướng dẫn xử lí tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ cho các tổ chức tín dụng đ/ giúp cho các tổ chức tín dụng chủ động hơn khi
xử lí tài sản bảo đảm tiền vay Khi xử lí tài sản bảo đảm, các tổ chức tín dụng có thể bán tài sản hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ Mặt khác, tài sản bảo đảm được xử lí ngay khi bên bảo đảm chết hoặc vắng mặt tại nơi cư trú vào thời điểm xử lí tài sản bảo đảm Riêng đối với trường hợp tài sản bảo đảm chưa đủ giấy tờ hoặc chưa hoàn thiện thủ tục vẫn được xử lí Khi tiến hành xử lí tài sản có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan như: Công chứng nhà nước, UBND cấp có thẩm quyền, sở địa chính, phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh, thành phố, cơ quan đăng kiểm phương tiện vận tải thuỷ, Cục hàng không dân dụng Việt Nam Vấn đề xử lí tài sản bảo đảm tiền vay là giá trị quyền sử dụng đất (thế chấp cụ thể tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và tài sản gắn liền với
đất cho thấy còn nhiều khó khăn Khi bên thế chấp hoặc bên được bảo l/nh bằng giá trị quyền sử dụng đất không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp
đồng thế chấp, hợp đồng bảo l/nh thì quyền sử dụng đất đ/ thế chấp, đ/ bảo l/nh được xử lí theo thỏa thuận trong hợp đồng; trường hợp không xử lí được theo thoả thuận đ/ ghi trong hợp đồng thì bên nhận thế chấp, bên nhận bảo
Trang 5l/nh có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng
đất đ/ thế chấp, đ/ bảo l/nh cho người khác để
thu hồi nợ (trừ trường hợp đất đ/ thế chấp, đ/
bảo l/nh của hộ gia đình cá nhân nông dân)
hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền
bán đấu giá hoặc khởi kiện tại toà án theo quy
định của pháp luật(7) Như vậy, nếu khách hàng
không trung thực và thiếu thiện chí trả nợ thì
việc thu hồi nợ rất khó khăn Người vay và tổ
chức tín dụng không bàn bạc thoả thuận được
theo hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng bảo
l/nh thì dẫn đến việc các tổ chức tín dụng
được quyền đưa tài sản ra đấu giá tại trung tâm
bán đấu giá của nước ta
Nếu bán tài sản bảo đảm tại trung tâm bán
đấu giá phải được phép của UBND có thẩm
quyền mới được bán Cụ thể là UBND huyện
cho phép bán đấu giá đối với quyền sử dụng
đất của hộ gia đình, cá nhân đ/ đem thế chấp
UBND tỉnh cho phép bán đấu giá đối với
quyền sử dụng đất đ/ thế chấp của tổ chức
Trong thực tế, tại trung tâm bán đấu giá, tài
sản có bán được hay không lại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố tác động vào tài sản đặc biệt này:
Thứ nhất, bán tài sản qua trung tâm bán
đấu giá tốn nhiều thời gian, chi phí về tài
chính Giá bán tài sản qua trung tâm đôi khi
còn thấp hơn so với giá bán ra trên thị trường
Thứ hai, khách mua tài sản ít nhiều có
quan điểm không thích mua tài sản từ người đ/
làm ăn thua lỗ để tránh “dớp đen” Phần đông
người mua tài sản thường là người đang sinh
sống, kinh doanh hoặc canh tác liền kề với tài
sản Như vậy, nên chăng không nhất thiết phải
bán qua trung tâm bán đấu giá khi xử lí tài
sản bảo đảm bằng tiền vay là giá trị quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất Ngân hàng
và các tổ chức tín dụng có quyền bán tài sản
bảo đảm là giá trị quyền sử dụng đất để thu
hồi nợ sau khi được phép của UBND cấp có thẩm quyền
Nếu việc này khởi kiện ra toà sẽ mất rất nhiều thời gian Người có ý định kiện cần phải chuẩn bị tư tưởng là sự việc giải quyết mất ít nhất từ một đến hai năm trở lên Ngay cả khi tiến hành thi hành án cũng phải tốn rất nhiều chi phí khác, cho nên về tâm lí, ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng không muốn liên quan đến cơ quan công quyền nhiều Khi thế chấp giá trị quyền sử dụng đất do được Nhà nước cho thuê, nếu xảy ra đấu giá nhưng không thành thì bên nhận thế chấp được tiếp tục sử dụng đất và có quyền chuyển nhượng theo quy định của pháp luật
Vì vậy, khi đ/ xử lí xong tài sản để thu hồi vốn là giá trị quyền sử dụng đất thì việc sử dụng, khai thác tài sản ra sao lại là vấn đề pháp luật chưa đề cập Ngân hàng không thể
đa năng làm được tất cả các việc Ngân hàng không thể đứng ra điều hành khách sạn, chiếu phim, điều hành bể bơi Nên chăng, chúng ta cần công khai quy định quyền ưu tiên mua cho một số đối tượng có uy tín, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh liên quan tới loại tài sản mà ngân hàng và các tổ chức tín dụng cần xử lí Nếu họ không mua thì chúng ta mới tiến hành các thủ tục theo luật định Số tiền nợ ngân hàng và các tổ chức tín dụng cũng có thể trở thành khoản đầu tư của ngân hàng trong các
dự án khả thi sau khi cán bộ thẩm định, hội
đồng thẩm định tài sản của ngân hàng thận trọng xem xét và quyết định đảo nợ thành vốn
đầu tư cho một chủ vận hành mới đối với tài sản thế chấp Các dự án khả thi trong thực tế,
đó chính là nguồn tài chính có thể trả nợ cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng Bên cạnh
đó nó còn đem lại cho người đi vay những khoản tài chính tiếp theo, đôi khi còn nhiều hơn cả số vay ban đầu Chẳng hạn, dự án xây
Trang 6cầu X phục vụ giao thông ở nước ta Khi cho
vay vốn để xây cầu, ngân hàng và các tổ chức
tín dụng có thể nhận thấy nguồn tài chính trả
nợ thông qua các phí, lệ phí giao thông Sau
thời gian trả nợ xong, chủ công trình X vẫn có
thể tiếp tục khai thác từ nguồn thu phí Đó
chính là khả năng hình thành tài sản từ vốn
vay hiện nay ở nước ta
Tóm lại, ngân hàng và các tổ chức tín dụng
cần được chủ động hơn khi xử lí tài sản bảo
đảm tiền vay Đặc biệt là cần phải nghiên cứu,
tìm hiểu khả năng thanh toán của khách hàng
để quyết định cho vay và nhận tài sản thế
chấp Bởi vì, khi khách hàng không có khả
năng trả nợ thì việc phát mại tài sản thế chấp
để thu hồi vốn là công việc khó khăn Trường
hợp đặc biệt có thể mất đến hàng năm mới
bán được tài sản, trong khi giá trị ròng của số
tiền thu về có thể giảm nhiều Ngân hàng và
các tổ chức tín dụng cần hết sức tránh cho vay
chỉ hoàn toàn dựa vào tài sản bảo đảm trực tiếp
hoặc của bên thứ ba Khi xét khoản vay, nhất
thiết phải nắm chắc nguồn thanh toán nợ của
khách hàng Trong kinh doanh, ngân hàng và
các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam
cần có nhiều vốn, có nhiều l/i từ tiền cho vay
chứ họ không muốn là chủ của tất cả các tài
sản thế chấp không có khả năng giải ngân
Bên cạnh đó, chúng ta cần tính đến khả năng
sinh lợi và hệ số điều chỉnh do tác động của
điều kiện tâm lí, kinh tế, chính trị, x/ hội sẽ
ảnh hưởng đến việc định giá đất và giá trị
quyền sử dụng đất khi xử lí tài sản Việc định
giá tài sản, tổng giá trị quyền sử dụng đất thế
chấp bao gồm: Tiền đền bù thiệt hại về đất,
tiền sử dụng đất, tiền thuê đất cần phải được
xác định các yếu tố cấu thành cho phù hợp
nhằm hỗ trợ cho hoạt động xử lí tài sản thế
chấp hiện nay ở nước ta
Chúng ta cần đào tạo đội ngũ làm công tác thẩm định tài sản thế chấp có chuyên môn sâu
về nghiệp vụ, hiểu rõ pháp luật, trung thực, có
đạo đức trong sáng Chúng ta cần xây dựng quy trình thẩm định, phương pháp định giá đất, giá trị quyền sử dụng đất sao cho thích hợp để bảo
vệ quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Có như vậy, việc định giá tài sản thế chấp của cơ quan nhà nước mới khách quan, tuân thủ triệt
để nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lí; tránh những thiệt hại cho các bên tham gia thế chấp loại tài sản
đặc biệt là giá trị quyền sử dụng đất Đây là vấn đề bức xúc trong x/ hội đồng thời đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật về bảo đảm tiền vay của ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong sự nghiệp xây dựng, phát triển kinh tế thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước./
(1).Xem: Khoản 9 và 13 Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP Ngày 28/9/2001 của Chính phủ về sửa
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
04/2001/NĐ-CP của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của Luật đất đai
(2).Xem: Khoản 8 Điều 1 Nghị định số 66/2001/NĐ-CP (3).Xem: Khoản 4 Điều 6 Nghị định số
178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
(4).Xem: Khoản13 và 16 Điều 1 Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 1/11/2001 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định
số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 về thủ tục chuyển đổi chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất
(5).Xem: Khoản 13 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số
điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Ngày 9/6/2000) Nxb CTQG, H 2000; Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 21/7/2000 về thi hành chi tiết Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
(6).Xem: Nghị quyết số 11/2000/NQ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ về một số giải pháp điều hành kế hoạch phát triển kinh tế x/ hội trong 6 tháng cuối năm 2000 và Thông tư liên tịch số 12/2000/TTLT-NHNN-BTP-BTC-TCĐC hướng dẫn thực hiện một số giải pháp về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng
(7).Xem: Khoản 18 Điều 1 Nghị định số 79/2001/ NĐ-CP