1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo một số vấn đề về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai năm 2003

7 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 147,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tiêu đề: Những bảo đảm cho người năm 2003 quy định: “Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người Về quyền chung của người sử dụng đất, khoản 1 Điều 105 Luật đất đai nă

Trang 1

ThS Ph¹m thu Thuû*

ột trong những quyền cơ bản của

người sử dụng đất khi tham gia vào

quan hệ pháp luật đất đai đó là quyền được

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đây là quyền hết sức quan trọng được ghi

nhận tại khoản 1 Điều 73 Luật đất đai năm

1993 và tại Luật đất đai năm 2003

Với tiêu đề: Những bảo đảm cho người

năm 2003 quy định: “Nhà nước cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất cho người

Về quyền chung của người sử dụng đất,

khoản 1 Điều 105 Luật đất đai năm 2003

quy định: “Người sử dụng đất được cấp

Như vậy, việc được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất là quyền của người

sử dụng đất và được Nhà nước bảo đảm,

đây cũng là trách nhiệm của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền trong việc thực thi

công tác quản lí nhà nước đối với đất đai

Có thể thấy rằng được cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất trước hết làm cho

người sử dụng đất yên tâm, chủ động khai

thác tốt nhất mọi tiềm năng đất đai, gắn bó

lâu dài với đất; sau nữa giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất là phương tiện để người

sử dụng đất thực hiện các quyền của mình

trong việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho

thuê, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất; đây cũng là loại giấy tờ đóng vai trò là cơ sở pháp lí để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lí xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa người sử dụng đất với Nhà nước Khi người sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong tay, họ hoàn toàn có thể khẳng định với Nhà nước cũng như với những người sử dụng đất xung quanh rằng quyền sử dụng đất của mình là hoàn toàn hợp pháp Dưới góc độ pháp lí

có thể nói rằng đó là những người có giấy

tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng đồng thời là nghĩa vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi thay mặt cho Nhà nước thực hiện vai trò chủ sở hữu đại diện đối với đất đai Thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nhà nước xác lập mối quan hệ pháp lí giữa Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đại diện đối với đất đai

và các tổ chức cá nhân được Nhà nước cho phép sử dụng đất, đây cũng là giấy tờ quan

M

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

trọng giúp Nhà nước theo dõi những biến

động trong quản lí, sử dụng đất đai

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là

loại giấy do Tổng cục quản lí ruộng đất

trước đây rồi đến Tổng cục địa chính và

hiện nay là Bộ tài nguyên và môi trường

phát hành theo mẫu thống nhất trong cả

nước Tổ chức triển khai cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất là nội dung quan

trọng của quản lí nhà nước về đất đai Đây

là giai đoạn cuối cùng của quá trình giao

đất, cho thuê đất và đăng kí quyền sử dụng

đất hợp pháp Nơi nào, người nào chưa

được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất thì chưa thể quản lí chặt chẽ đất đai

theo pháp luật và chưa thể phát huy hết

quyền và nghĩa vụ của mình trong sử dụng

đất đai; tài nguyên đất đai chưa được khai

thác với hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất

Với ý nghĩa đó, Luật đất năm 2003 đã dành

vị trí xứng đáng cho những quy định về

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất - loại

giấy tờ được coi là tài liệu địa chính quan

trọng trong quản lí nhà nước đối với đất

đai Từ quy định mang tính nguyên tắc tại

khoản 1 Điều 10 tới những quy định cụ thể

về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại

các điều 48, 49, 50, 51, 52, bài viết này tập

trung vào những nội dung cơ bản về giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất được quy

định trong Luật đất đai năm 2003

1 Về Điều 48

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

được cấp cho người sử dụng đất theo mẫu

thống nhất đối với mọi loại đất Trường

hợp có tài sản gắn liền với đất thì tài sản

đó cũng được ghi nhận trên giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất; chủ sở hữu tài sản phải đăng kí quyền sở hữu tài sản theo quy định của pháp luật về đăng kí bất động sản Đặc biệt, Luật cũng quy định rõ: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp theo từng thửa đất

Đây là quy định hết sức cần thiết bởi

vì từ trước đến nay trên thực tế việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chủ yếu là cấp theo chủ sử dụng đất mà chưa cấp theo từng thửa đất nên khi cần thế chấp giá trị quyền sử dụng đất, người sử dụng đất chỉ được thế chấp tại một nơi cho vay vốn Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ghi nhiều thửa mà người sử dụng đất muốn thế chấp tại nhiều nơi thì đến lúc đó lại phải làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất riêng cho từng thửa nên mất rất nhiều thời gian, gây trở ngại cho người sử dụng đất khi thực hiện quyền của mình

Cũng tại Điều 48, Luật có quy định mới nhằm bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng đất, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực

tế sử dụng đất, bởi vì hiện nay quyền sử dụng đất được coi là tài sản có giá trị lớn Trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ và chồng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi cả họ, tên

vợ và họ, tên chồng

Mặt khác, song song với quy định kế thừa khoản 3 Điều 36 Luật đất đai năm

1993 (trường hợp thửa đất có nhiều cá nhân, hộ gia đình, tổ chức cùng sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho từng cá nhân, từng hộ gia đình, từng tổ chức đồng quyền sử dụng), Luật

Trang 3

đất đai năm 2003 còn quy định trường hợp

thửa đất thuộc quyền sử dụng chung của

cộng đồng dân cư thì giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất được cấp cho cộng đồng

dân cư và trao cho người đại diện hợp pháp

của cộng đồng dân cư đó

Luật đất đai năm 2003 cũng đã tập

trung làm rõ hơn khái niệm “Người sử

dụng đất” tại Điều 19, trong đó có khái

niệm “Cộng đồng dân cư sử dụng đất”

nhằm mục đích tránh gây sự khó hiểu cho

nhân dân và cũng để cho việc thực thi pháp

luật được tốt hơn

Trường hợp thửa đất thuộc quyền sử

dụng chung của cơ sở tôn giáo thì giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp

cho cơ sở tôn giáo và trao cho người có

trách nhiệm cao nhất của cơ sở tôn giáo đó

2 Về Điều 49

Luật đã quy định khá đầy đủ những

trường hợp sử dụng đất trên thực tế được

Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất

hợp pháp từ nhiều nguồn gốc sử dụng đất

khác nhau

cho thuê đất, người nhận quyền sử dụng

đất từ việc chuyển đổi, chuyển nhượng,

được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử

dụng đất, người nhận quyền sử dụng đất

khi xử lí hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng

quyền sử dụng đất để thu hồi nợ Người

trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đất thầu

dự án có sử dụng đất

Những quy định này khẳng định người

sử dụng đất khi được Nhà nước cho phép

sử dụng đất trên thực tế (việc Nhà nước

cho phép sử dụng đất phải được hiểu theo

nghĩa rộng đó là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất, những người sử dụng đất ổn định lâu dài theo như quy định của Điều 49) thì sẽ được xác lập mối quan hệ hợp pháp với Nhà nước thông qua việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong tay, quyền lợi của họ trong suốt quá trình sử dụng đất sẽ được bảo đảm

về phương diện pháp luật

3 Về Điều 50

Luật đất đai năm 2003 cũng quy định

cụ thể về việc cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

dụng đất ổn định, được uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ được coi là hợp lệ thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Đó là những loại giấy tờ sau:

a Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội

b Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng kí ruộng đất, sổ địa chính;

c Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn

Trang 4

liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa

gắn liền với đất;

d Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử

dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở

trước ngày 15/10/1993, nay được uỷ ban

nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là

đã sử dụng trước ngày 15/10/1993;

đ Giấy tờ về thanh lí, hóa giá nhà ở

gắn liền với đất ở theo quy định của pháp

luật;

e Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền

Như vậy, những giấy tờ này được coi là

căn cứ pháp lí để Nhà nước xét cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất Những

giấy tờ này trước đây chủ yếu đã được quy

định tản mạn trong các văn bản như Công

văn số 647 ngày 31/5/1995, Công văn số

1427 ngày 13/10/1995, Nghị định số 22

ngày 22/4/1998, Nghị định số 17 ngày

29/3/1999 (khoản 2 Điều 3)

Hiện nay, chúng ta đã luật hóa được

những quy định này và nó mang tính chuẩn

xác hơn, đó là điều cần thiết Tuy nhiên,

cũng có loại giấy tờ trong số những giấy tờ

trên mà chúng tôi còn băn khoăn về giá trị

pháp lí của nó và đến thời điểm hiện nay

loại giấy tờ này không còn mang tính pháp

lí nữa Đó là loại giấy tờ do cơ quan có

thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp Chúng ta

có thể thấy rằng ở miền Bắc từ năm 1954

đến nay đã là 50 năm, ở miền Nam từ năm

1975 đến nay cũng gần 30 năm Nhà nước

đã thống nhất quản lí đất đai kể từ sau

Hiến pháp 1980 Từ đó đến nay đã nhiều

lần chúng ta tiến hành kê khai, đo đạc đất

đai Chắc chắn đối với người sử dụng đất

ổn định lâu dài, họ đã có tên trong sổ địa chính, trong hồ sơ địa chính, bởi trong quá trình sử dụng họ đã phải thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước và được chính quyền địa phương xác nhận, vậy thì không

có lí do gì lại đưa những giấy tờ cũ ra để làm căn cứ xét cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, như thế phải chăng công tác quản lí đất đai của chúng ta còn quá yếu kém? Mặt khác, loại giấy tờ này rất dễ bị giả mạo và nếu đã giả thì lấy cơ sở nào để xác định đây là giấy giả

Thứ hai, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ hợp

lệ (được trình bày ở trên) mà trên giấy tờ

đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ kí của các bên có liên quan nhưng đến trước ngày Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được uỷ ban nhân dân

xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không

có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất Quy định này trong thời điểm hiện nay là hợp lí và phù hợp với lòng dân làm cho họ cảm thấy yên tâm, phấn khởi khi thực hiện quyền sử dụng đất của mình

Bởi vì, trên thực tế tình trạng sử dụng đất từ việc nhận chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa làm thủ tục là rất nhiều Đối với những người này hầu như họ đều có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất từ chủ

thường bao giờ người ta cũng quan tâm

Trang 5

đến việc đảm bảo về mặt pháp lí cho

quyền sử dụng đất đó và mảnh đất đó phải

có giấy tờ hợp lệ hoặc giấy tờ hợp pháp về

quyền sử dụng đất thì họ mới mua Thế

nhưng vì thủ tục hành chính rườm rà, tốn

kém nên họ “lẳng lặng” sử dụng đất mà

không thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước

Trong thời điểm hiện nay, quy định này

góp phần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất để hoàn

thiện công tác quản lí đất đai

dụng đất không có các loại giấy tờ quy

định trên nhưng đất được sử dụng ổn định

từ trước ngày 15/10/1993 nay được uỷ ban

nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là

đất không có tranh chấp, phù hợp với quy

hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối

với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì

được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

Như vậy, so với Nghị định số 38 ngày

23/8/2000 về thu tiền sử dụng đất, Luật đất

đai năm 2003 đã quy định thông thoáng

hơn nhiều về việc cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, về nghĩa vụ tài chính

của người sử dụng đất khi được cấp giấy,

tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng

đất khi bảo vệ quyền lợi của mình

Trong trường hợp người sử dụng đất có

giấy tờ hợp lệ hay không có giấy tờ nhưng

sử dụng đất ổn định từ trước ngày

15/10/1993 và được chính quyền địa

phương xác nhận thì sẽ được cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất mà không

phải nộp tiền sử dụng đất

dụng đất không có các loại giấy tờ quy định trên nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày Luật đất đai 2003 có hiệu lực thi hành (01/7/2004)

trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch

quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất

dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 1/7/2004 mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật

4 Về Điều 51

Luật quy định những điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất và cũng quy định rõ việc giải quyết đối với những phần diện tích đất mà tổ chức đang

sử dụng nhưng không đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

5 Về Điều 52

Về cơ bản vẫn được quy định cho 2 cơ quan quản lí có thẩm quyền chung đó là uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhưng lần này Luật đất đai năm 2003 có quy định

cụ thể, rõ ràng hơn so với Luật sửa đổi, bổ

Trang 6

sung Luật đất đai năm 2001, đó là:

- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn

giáo, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài trừ một

số trường hợp theo quy định

- Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã,

thành phố thuộc tỉnh cấp giấy chứng nhận

nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam

định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền

với quyền sử dụng đất ở

Mặt khác, tại khoản 3 Điều 53 có quy

định mới nổi bật so với Luật đất đai trước

đây, đó là cơ quan có thẩm quyền cấp giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất quy định tại

khoản 1 (uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố

trực thuộc trung ương) được uỷ quyền cho

cơ quan quản lí đất đai cùng cấp

Thiết nghĩ đây là quy định cần thiết và

phù hợp cho công tác quản lí đất đai, để

đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, cải cách thủ tục hành

chính Quy định này vừa giảm gánh nặng

công việc cho ủy ban nhân dân, vừa tăng

trách nhiệm của cơ quan quản lí đất đai

cùng cấp

Về vấn đề này trong thời gian vừa qua

cũng đã có quan điểm cho rằng nên mạnh

dạn giao cho cơ quan quản lí đất đai

chuyên ngành ở tỉnh và huyện thực hiện

việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất bởi lẽ đây là cơ quan tham mưu giúp

việc cho uỷ ban nhân dân trong việc quản

lí nhà nước về đất đai, là cơ quan trực tiếp

thực hiện những công việc trong hoạt động điều tra, đo đạc, thống kê, theo dõi những biến động đất đai, lưu giữ hồ sơ địa chính nên sẽ nắm vững tình hình đất đai

và như vậy sẽ là cơ quan có thẩm quyền công nhận tính hợp pháp trong hành vi sử dụng đất của người sử dụng bằng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Làm như vậy sẽ gắn công việc với chuyên môn, nâng cao trách nhiệm của cơ quan này đồng thời giảm khối lượng công việc cho

uỷ ban nhân dân các cấp mà vẫn không mất đi tính thống nhất của quản lí nhà nước đối với đất đai và đương nhiên là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ được cấp nhanh hơn, giảm bớt những thủ tục hành chính phiền hà

Tóm lại, những quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong Luật đất đai năm 2003 là sự đổi mới rõ rệt, góp phần hoàn thiện pháp luật đất đai nói chung cũng như về vấn đề giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất nói riêng đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sử dụng đất Từ những quy định mới này, chúng tôi xin góp ý kiến nhỏ cho việc xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai, cụ thể về lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đó là:

“Người sử dụng đất ổn định” bởi vì đây là điều kiện để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Khái niệm ổn định được hiểu ra sao?

Ổn định theo thời gian sử dụng hay theo mục đích sử dụng hay theo chủ sử dụng đất; thời gian lâu dài là bao nhiêu Có lẽ

Trang 7

với khái niệm này nên hiểu ổn định về mục

đích sử dụng đất, không có sự thay đổi chủ

sử dụng

Luật cũng cần khẳng định thời điểm

chấm dứt hợp thức hóa, nhất là đối với

những trường hợp nguồn gốc sử dụng đất

trước đó là vi phạm Vì nếu cứ tiếp tục hợp

thức hóa không có điểm dừng thì không

đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa

pháp luật cũng như đáp ứng được nhu cầu

cần có sự điều chỉnh của pháp luật trong

thực tế, đã có quy định về cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất thì phải có quy

định về thu hồi giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất

Trong thực tế, việc thu hồi đất là hoạt

động không thể thiếu của quản lí nhà nước

đối với đất đai Bởi Nhà nước có thể thu

hồi đất khi người sử dụng đất vi phạm

pháp luật đất đai hoặc khi cần sử dụng đất

theo quy hoạch mới Đối với những mảnh

đất đã có quyết định thu hồi đương nhiên

cũng cần thu hồi giấy chứng nhận (nếu

mảnh đất đó đã được cấp giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất) hoặc có những trường

hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất sai Vậy thì cơ quan nào có thẩm quyền

thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất? Trên thực tế có nhiều trường hợp

người sử dụng đất không chịu trả lại đất, ví

dụ có những địa phương do tách nhập tỉnh,

tách nhập phường, tách nhập xã, cơ quan

quản lí theo dõi không chặt chẽ vì vậy đã

cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

sai, tuy là tỉ lệ nhỏ nhưng khi cơ quan nhà

nước phát hiện ra thì không đình chỉ,

không thu hồi được và lập tức quan hệ mua bán phát sinh, những quan hệ dân sự mới này nhiều khi không xử lí được

Hiện nay, trên cả nước tốc độ triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn rất chậm Hiện mới có 97,8% tổng diện tích đất nông nghiệp, 35% tổng diện tích đất lâm nghiệp được cấp giấy chứng nhận Còn đối với đất ở khu vực đô thị chỉ mới cấp được 25% diện tích đất cần cấp Như vậy, trên thực tế phần lớn chủ sử dụng đất mới là chủ hợp lệ chứ chưa phải

là chủ hợp pháp bởi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong khi

đó đây là loại giấy tờ vừa mang ý nghĩa pháp lí, vừa mang ý nghĩa kinh tế và là điều kiện không thể thiếu cho việc thực hiện các giao dịch dân sự về quyền sử dụng đất Mặc

dù vậy, theo quy luật của thị trường, bất chấp những điều kiện còn hạn chế về mặt thủ tục pháp lí, hoạt động của thị trường bất động sản về đất đai vẫn đã từng bước phát sinh và phát triển một cách sôi động vì vậy

đã có những cơn sốt về giá nhà đất mà Nhà nước không kiểm soát được

Nhiệm vụ của Nhà nước là thống nhất quản lí đất đai, đảm bảo sử dụng đất hợp lí

có hiệu quả đáp ứng được hài hòa lợi ích của Nhà nước cũng như của người sử dụng đất Chính vì vậy, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là vô cùng cần thiết và cũng cần phải nhận thức rõ rằng đây là nhiệm vụ của Nhà nước, Nhà nước cần phải tìm đến người dân để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tìm ra những giải pháp hợp lí tích cực cho việc thực hiện nhanh chóng công tác này./

Ngày đăng: 20/12/2015, 04:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w