1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo tuyên bố chết đối với cá nhân và giải quyết hậu quả khi họ còn sống trở về

6 223 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 76,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, điểm không hợp lí của hai văn bản pháp luật kể trên là ở chỗ, một mặt, luật ghi nhận công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh nhưng mặt khác, lại quy định người kinh doanh

Trang 1

luật doanh nghiệp doanh nghiệp doanh nghiệp bước phát triển bước phát triển bước phát triển mới mới

trong việc thực hiện nguyên tắc

trong việc thực hiện nguyên tắc

tự do kinh doanh ở Việt Nam

tự do kinh doanh ở Việt Nam

1 Tự do kinh doanh không chỉ là

nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị

trường mà còn là một trong những quyền

cơ bản của công dân Vì vậy, những năm

vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đ4 quan

tâm đến việc bảo đảm cho nguyên tắc tự

do kinh doanh được thực hiện nhằm tạo

ra cơ chế pháp lí rộng r4i để thúc đẩy mọi

thành phần kinh tế cùng phát triển Điều

này được thể hiện khá rõ trong các văn

bản pháp luật của Nhà nước Từ năm

1990 trong khi chưa ban hành được các

đạo luật về doanh nghiệp nhà nước, hợp

tác x4 thì Quốc hội đ4 ban hành Luật

doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và Luật

công ti Trên cơ sở kinh nghiệm thực tiễn

và những đòi hỏi của nền kinh tế, ngày

12/6/1999 Nhà nước ta đ4 ban hành Luật

doanh nghiệp và đạo luật này bắt đầu có

hiệu lực từ ngày 01/1/2000 Theo chúng

tôi, Luật doanh nghiệp thực sự là bước

tiến trong việc tạo lập khuôn khổ pháp lí

cho việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh

doanh ở nước ta

2 Tự do kinh doanh là khả năng được

tiến hành mọi hoạt động kinh doanh mà

pháp luật không cấm Tự do kinh doanh,

trước hết thể hiện ở quyền tự do thành lập

doanh nghiệp Cách đây 10 năm quyền

này đ4 được Luật DNTN và Luật công ti

ghi nhận Tuy nhiên, điểm không hợp lí

của hai văn bản pháp luật kể trên là ở chỗ, một mặt, luật ghi nhận công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh nhưng mặt khác, lại quy định người kinh doanh phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thành lập doanh nghiệp Thực tiễn đ4 cho thấy, cơ chế xin phép thành lập doanh nghiệp đ4 bộc lộ nhiều yếu điểm làm ảnh hưởng đến chính sách thu hút vốn đầu tư của Nhà nước ta Điều này được thể hiện ở những mặt sau: + Thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp mâu thuẫn với nguyên tắc tự do kinh doanh đ4 được Hiến pháp năm 1992 ghi nhận;

+ Thủ tục trên buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện những việc không thuộc chức năng của bộ máy nhà nước Ví

dụ, theo quy định thì một trong những nhiệm vụ mà cơ quan cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp phải làm là thẩm

định dự án kinh doanh ban đầu của nhà

đầu tư Đây là công việc không thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan nhà nước vì kinh doanh như thế nào, theo phương án gì để đạt được mục tiêu là việc của nhà đầu tư; nhà đầu tư mới là người chịu trách nhiệm cao nhất đối với tài sản của họ đ4 đầu tư vào quá trình kinh

* Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

doanh Nhà nước không nên can thiệp

bằng việc thẩm định phương án kinh

doanh của họ Sự can thiệp của công

quyền quá sâu sẽ làm mất đi tính chủ

động sáng tạo của nhà đầu tư

Để khắc phục những điểm trên, Luật

doanh nghiệp đ4 xóa bỏ cơ chế xin phép

thành lập doanh nghiệp Theo đó, từ ngày

01/1/2000 công dân Việt Nam muốn tiến

hành các hoạt động kinh doanh hợp pháp

thì không còn phải làm đơn xin phép cơ

quan nhà nước có thẩm quyền mà chỉ cần

đăng kí kinh doanh tại cơ quan đó Việc

xóa bỏ thủ tục xin phép và đăng kí kinh

doanh như Luật DNTN, Luật công ti quy

định được xem là bước tiến mới trong

việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh

doanh của Luật doanh nghiệp đồng thời

là biện pháp cần thiết nhằm giảm thiểu

các rào cản pháp lí đối với quá trình xây

dựng nền kinh tế thị trường định hướng

x4 hội chủ nghĩa ở nước ta

3 Tự do kinh doanh đòi hỏi không chỉ

xóa bỏ việc xin phép thành lập doanh

nghiệp mà còn đòi hỏi phải tiếp tục hoàn

thiện các thủ tục pháp lí khác liên quan

đến quá trình hình thành doanh nghiệp

Vì vậy, Luật doanh nghiệp đ4 đơn giản

hoá các thủ tục pháp lí trong quá trình

hình thành doanh nghiệp đến mức tối

thiểu Nếu như trước đây, khi làm thủ tục

đăng kí kinh doanh, nhà đầu tư cần phải

có nhiều loại giấy tờ (về cơ bản giống

như các giấy tờ cần phải có trong quá

trình xin phép thành lập doanh nghiệp) thì

nay, trong hồ sơ đăng kí kinh doanh chỉ

cần các giấy tờ sau:

- Đơn đăng kí kinh doanh;

- Điều lệ công ti (nếu là công ti);

- Danh sách thành viên (đối với công

ti TNHH); danh sách thành viên hợp danh (đối với công ti hợp danh); danh sách cổ

đông sáng lập (đối với công ti cổ phần);

- Xác nhận về vốn pháp định (nếu có yêu cầu của pháp luật)

Sự đơn giản hóa thủ tục đăng kí kinh doanh được đánh giá là một điểm mới nữa của Luật doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta

4 Tự do kinh doanh là nguyên tắc mà theo đó bất cứ ai có nguyện vọng và có

đủ khả năng đều có thể trở thành nhà kinh doanh Trước đây, Luật DNTN và Luật công ti yêu cầu để thành lập doanh nghiệp nhà đầu tư phải có số vốn theo quy định (vốn pháp định) Sau 10 năm thực hiện các văn bản luật trên thì việc

đòi hỏi về vốn pháp định như là điều kiện bắt buộc chung đối với mọi doanh nghiệp

đ4 tỏ ra lỗi thời, không phù hợp với chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta là khuyến khích công dân không kể có nhiều vốn hay ít vốn, nếu có nhu cầu và nguyện vọng thì đều có thể tham gia kinh doanh Vì vậy, Luật doanh nghiệp tuy không xoá bỏ quy định về vốn pháp định nhưng đ4 mở ra những điều kiện mới, phù hợp hơn Luật doanh nghiệp chỉ quy định phải có mức vốn pháp định đối với một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định mà ở đó,

điều kiện về vốn pháp định được đánh giá như là sự bảo đảm về mặt tài sản của người kinh doanh đối với khách hàng như kinh doanh ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh chứng khoán Theo khoản 4 Điều 6 Luật doanh nghiệp thì khi kinh doanh những ngành nghề này, nhà

Trang 3

đầu tư phải có đủ số vốn tối thiểu và trong

hồ sơ đăng kí kinh doanh của họ phải có

xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm

quyền về vốn

5 Đa dạng hóa các loại hình doanh

nghiệp, tạo điều kiện cho nhà đầu tư có

khả năng rộng r4i hơn để lựa chọn cũng

là một điểm mới của Luật doanh nghiệp

Luật doanh nghiệp đ4 quy định thêm hai

loại hình doanh nghiệp mới là công ti hợp

danh và công ti TNHH một thành viên

Công ti TNHH một thành viên có đặc

điểm là do một tổ chức duy nhất đầu tư

thành lập mà không có sự hùn vốn của

bất cứ chủ thể nào khác Với sự ra đời của

loại hình công ti này, các tổ chức chính

trị, chính trị - x4 hội, tổ chức x4 hội -

nghề nghiệp hoặc bất cứ chủ thể nào có tư

cách pháp nhân đều có khả năng tiến

hành hoạt động sản xuất kinh doanh

thông qua công ti TNHH do mình lập ra

Khác với các loại hình công ti đ4 từng

tồn tại trước đây như công ti TNHH, công

ti cổ phần, công ti hợp danh là loại hình

công ti đối nhân Loại hình công ti này

rất cần trong một số lĩnh vực hoạt động

như khám chữa bệnh, luật sư, tư vấn thiết

kế, kiểm toán Những người tiến hành

các hoạt động này phải chịu trách nhiệm

vô hạn đối với thiệt hại do mình gây ra

cho khách hàng Theo Điều 95 Luật

doanh nghiệp thì công ti hợp danh có một

số đặc điểm cơ bản sau đây:

danh và có thể có một hoặc một số thành

viên góp vốn;

+ Phần góp vốn của thành viên hợp

danh không được tự do chuyển nhượng

theo hợp đồng hoặc theo thừa kế Đây là

điểm đặc trưng vốn có của công ti đối nhân;

+ Công ti hoạt động dưới tên chung (hội danh) thường theo công thức là lấy tên riêng của một hoặc một số thành viên hợp danh đặt thành tên của công ti; + Tất cả các thành viên hợp danh đều

có tư cách thương nhân (các thành viên góp vốn không có tư cách này) và có quyền tham gia quản lí công ti;

+ Tất cả các thành viên hợp danh đều phải chịu trách nhiệm cá nhân liên đới và vô hạn về các nghĩa vụ của công ti Các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn

7 Luật doanh nghiệp đ4 đưa ra nhiều quy định mới nhằm hoàn thiện địa vị pháp lí của công ti TNHH Những quy

định mới đó là:

+ Số thành viên tối đa của công ti này

là 50 thành viên (Điều 26);

+ Việc chuyển nhượng vốn ra ngoài công ti được quy định dễ dàng hơn so với Luật công ti năm 1990 Các thành viên trong công ti có quyền ưu tiên mua trước; nếu không có thành viên nào trong công

ti mua thì phần vốn đó mới có thể được bán cho người ngoài công ti (Điều 32); + Các thành viên công ti được quy

định nhiều quyền hơn so với trước đây

Họ có quyền yêu cầu công ti mua lại phần vốn góp của mình nếu họ bỏ phiếu chống lại hoặc phản đối quyết định của Hội đồng thành viên về một số vấn đề quan trọng như sửa đổi, bổ sung các nội dung quan trọng của điều lệ công ti; tổ chức lại công ti (Điều 31)

+ Cơ cấu tổ chức trong công ti được

Trang 4

quy định thoáng hơn, linh động hơn so

với Luật công ti năm 1990 Theo Luật

công ti năm 1990 thì cơ cấu tổ chức của

công ti TNHH phụ thuộc vào số lượng

thành viên Nếu công ti có từ 12 thành

viên trở lên thì cơ cấu đó giống như cơ

cấu công ti cổ phần; nếu công ti có từ 11

thành viên trở xuống thì cơ cấu như thế

nào là do các thành viên công ti bàn bạc

và quyết định Theo Luật doanh nghiệp

thì trong cơ cấu của công ti TNHH bắt

buộc phải có hội đồng thành viên, giám

đốc (tổng giám đốc) còn ban kiểm soát

thì không nhất thiết phải có

+ Thẩm quyền của hội đồng thành

viên được mở rộng hơn Đó là ngoài các

quyền tương tự như quy định tại Điều 27

Luật công ti, Điều 35 Luật doanh nghiệp

còn phát triển và bổ sung thêm những

quyền mới sau:

- Quyết định việc chia, tách, hợp nhất

công ti;

- Quyết định về những giao dịch lớn;

- Quyết định việc tăng thêm vốn và

những thành viên mới

+ Thủ tục, trình tự tiến hành các phiên

họp và thể thức thông qua quyết định của

hội đồng thành viên trước đây do điều lệ

công ti quy định nay đ4 được Luật doanh

nghiệp quy định một cách cụ thể (Điều

38) Các quy định này đ4 góp phần khắc

phục tình trạng phổ biến hiện nay là ở các

công ti TNHH quyền hành thuộc về cá

nhân có phần vốn góp lớn nhất, còn

quyền của các thành viên có vốn góp nhỏ

không được đảm bảo

8 Công ti cổ phần là loại hình công ti

có quy mô kinh doanh lớn do có sự góp

vốn của nhiều người Cũng chính vì vậy,

công ti này được coi là công ti đối vốn rất

đặc trưng trong nền kinh tế thị trường Mặc dù có vị trí, vai trò quan trọng như vậy nhưng Luật công ti năm 1990 lại không dành cho nó sự quan tâm đúng mức Nhiều vấn đề trong Luật công ti năm 1990 còn quy định một cách chung chung, sơ sài Để khắc phục các điểm yếu

đó của Luật công ti, Luật doanh nghiệp

đ4 hoàn thiện đáng kể địa vị pháp lí của loại hình doanh nghiệp này Trong số những quy định mới có tác dụng khuyến khích mọi người đầu tư góp vốn thành lập công ti cổ phần và tạo điều kiện cho công

ti hoạt động tốt phải kể đến các quy định sau:

+ Số lượng thành viên tối thiểu của công ti giảm xuống còn 3 thành viên; + Cơ cấu tổ chức của công ti cổ phần

được quy định một cách linh hoạt hơn thể hiện ở chỗ công ti cổ phần có trên 11 thành viên thì mới phải có ban kiểm soát + Thủ tục tiến hành đại hội cổ đông

và thể thức thông qua quyết định đại hội

đ4 được quy định cụ thể, đầy đủ nhằm bảo vệ có hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông thiểu số, điều mà Luật công ti bỏ qua

Theo Luật doanh nghiệp, cơ chế bảo

vệ cổ đông thiểu số đ4 được xác lập một cách tương đối đầy đủ hơn Theo đó, cổ

đông thiểu số của công ti có những quyền sau:

- Quyền được cung cấp thông tin, quyền kiện giám đốc, hội đồng quản trị, quyền ưu tiên mua cổ phần, quyền yêu cầu công ti mua lại cổ phần trong trường hợp họ không thỏa m4n với những thay

đổi lớn trong công ti;

Trang 5

- Đề cử người vào hội đồng quản trị,

kiến nghị nội dung chương trình họp hội

đồng quản trị, quyền xem xét danh sách

cổ đông có quyền biểu quyết tại hội đồng

quản trị;

- Luật doanh nghiệp quy định các

biện pháp nhằm khắc phục tình trạng các

cổ đông đa số có thể lạm dụng vị thế và

quyền hạn của mình để thu vén cho cá

nhân, gia đình, làm phương hại đến lợi

ích của cổ đông thiểu số Các biện pháp

đó là:

+ Người góp vốn phải chuyển quyền

sở hữu tài sản cho công ti;

+ Nếu người điều hành có lỗi, không

ghi chép sổ sách kế toán theo quy định thì

phải bồi thường thiệt hại;

+ Quy định nghĩa vụ của công ti mà

thực chất là của các cổ đông đa số phải

mua lại cổ phần theo yêu cầu của các cổ

đông thiểu số

- Luật doanh nghiệp bắt buộc phải

công khai hoá các mối quan hệ của những

người quản lí công ti với những người

khác có quan hệ với công ti (có con, em,

vợ, chồng là thành viên hoặc là cổ đông

đa số ở các công ti khác)

- Luật doanh nghiệp cũng buộc phải

công khai hoá các giao dịch tư lợi (giao

dịch khả nghi) vì đây là những giao dịch

mà những người quyết định thực hiện

chúng có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thu

lợi riêng bất chính, gây thiệt hại cho công

ti nói chung và cho các cổ đông thiểu số

nói riêng Các giao dịch khả nghi hiện

nay đ4 xuất hiện ở nước ta tương đối

nhiều, trong số đó có thể kể đến là:

+ Giám đốc, bố, mẹ, anh em, bạn bè

của giám đốc vay tiền của công ti với l4i

suất thấp;

+ Giám đốc bán hàng rẻ hơn cho công

ti khác trong đó bản thân giám đốc hoặc

bố mẹ, anh em, bạn bè là cổ đông hoặc thành viên đa số hoặc mua hàng từ các công ti đó với giá cao hơn thị trường; + Giám đốc nhượng lại thị trường và hợp đồng cho công ti khác mà trong đó mình hoặc người thân có cổ phần

Để bảo vệ cổ đông thiểu số, Luật doanh nghiệp bắt buộc các giao dịch này phải được đem ra đại hội cổ đông hoặc hội đồng quản trị xem xét trước khi thực hiện (Điều 87)

Tuy đ4 tạo ra được cơ chế bình đẳng hơn giữa các loại cổ đông nhằm bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông thiểu số nhưng những quy định trên của Luật doanh nghiệp còn mang tính khái quát Ví dụ, quyền được chất vấn l4nh đạo và quản lí công ti trước đại hội cổ đông về tình trạng kinh doanh của công ti, về sự liên quan của người thứ ba trong quan hệ với công

ti hoặc cả những vấn đề thuộc thẩm quyền của l4nh đạo công ti Để bảo đảm cho các chất vấn của cổ đông được trả lời, theo chúng tôi các văn bản hướng dẫn và quy định chi tiết thi hành Luật doanh nghiệp cần nêu rõ trách nhiệm phải trả lời chất vấn của l4nh đạo công ti trước đại hội cổ đông Bên cạnh đó, cũng cần phải xác định cụ thể về các trường hợp l4nh

đạo công ti được quyền từ chối trả lời chất vấn hoặc cơ chế giải quyết khi hai bên không thỏa m4n với những vấn đề

được nêu trên Quyền được chất vấn và

được nghe trả lời chất vấn trước đại hội

cổ đông về cơ bản khác với quyền được thông tin như quy định tại Điều 72 Luật

Trang 6

doanh nghiệp Việc xây dựng cơ chế để

thực hiện quyền này suy cho cùng là để

tránh cho công ti có những thiệt hại lẽ ra

đ4 được phát hiện và ngăn chặn trước đó

mà thôi

9 Luật doanh nghiệp đ4 hạn chế sự

can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào hoạt

động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp, tăng quyền tự quyết của doanh

nghiệp trong việc định đoạt các vấn đề

phát sinh Điểm mới này được thể hiện ở

chỗ Nhà nước ta chỉ hoặc là khuyến nghị

hoặc là định khung để các nhà kinh

doanh quyết định các vấn đề cụ thể trong

khung đó Ví dụ, Điều 38 Luật doanh

nghiệp quy định, để cuộc họp lần thứ nhất

của hội đồng thành viên được coi là hợp

lệ thì cần phải có số thành viên đại diện

cho ít nhất là 65% vốn điều lệ công ti có

mặt còn mức cụ thể là bao nhiêu thì do

điều lệ công ti quy định Trong trường

hợp cuộc họp lần thứ nhất không thành

thì có thể tiến hành cuộc họp hội đồng

thành viên lần thứ hai Tại lần này, để

cuộc họp được coi là hợp lệ, Luật doanh

nghiệp quy định phải có sự hiện diện cho

ít nhất là 50% vốn điều lệ, mức cụ thể

bao nhiêu thì do điều lệ công ti quy định

Rõ ràng là, Nhà nước đ4 dành cho những

người thành lập công ti tự mình quyết

định các vấn đề cụ thể Tuy nhiên, những

vấn đề đó phải nằm trong khung mà Nhà

nước đ4 đặt ra Vấn đề này còn được thể

hiện trong các điều luật khác như Điều

39, khoản 2; Điều 53, khoản 1; Điều 76,

khoản 2; Điều 77, khoản 1; Điều 81

Điều 41 Luật doanh nghiệp quy định đại

diện hợp pháp của công ti TNHH do điều

lệ quy định; trường hợp điều lệ không

quy định chủ tịch hội đồng thành viên là người đại diện hợp pháp thì giám đốc (tổng giám đốc) là người đại diện hợp pháp của công ti Như vậy, Nhà nước đ4 nhường quyền quyết định người đại diện hợp pháp của công ti cho các nhà đầu tư; chỉ khi họ không quyết định thì Nhà nước mới xác định người đó là ai

Luật doanh nghiệp là đạo luật có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh

tế nước ta Nó có ý nghĩa to lớn không chỉ xét dưới góc độ chính trị, kinh tế mà còn cả dưới góc độ pháp lí Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu những quy định mới của nó đang là vấn đề đáng được quan tâm không chỉ đối với các nhà luật học

mà cả đối với các nhà chính trị, các nhà kinh doanh Trong điều kiện hiện nay khi

mà hệ thống pháp luật nước ta chưa đáp ứng được với yêu cầu xây dựng nền kinh

tế thị trường phát triển theo định hướng XHCN thì những đóng góp nói trên của Luật doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc thực thi nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta./

Ngày đăng: 20/12/2015, 03:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w