Tùy từng trường hợp, tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đ% chết; nếu không xác định được ngày đó thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên bố người đó là đ% chết có hiệu lự
Trang 1Ths Phạm Văn Tuyết *
ự tồn tại của mỗi cá nhân bao giờ
cũng nằm trong mối liên quan với
nhiều cá nhân trong cộng đồng x# hội
Vì thế, khi thiếu vắng sự hiện diện của họ
sẽ làm thay đổi quá trình tồn tại và phát
triển của các quan hệ mà họ đang tham
gia Khi cá nhân chết thì tư cách chủ thể
của họ hoàn toàn chấm dứt trong thực tế
Vì vậy, các quan hệ pháp luật mà họ tham
gia đương nhiên chấm dứt (hoặc có sự
xáo trộn về chủ thể)
Trong thực tế, có nhiều trường hợp cá
nhân vắng mặt quá lâu ngày mà không
thể xác định là họ còn sống hay đ# chết
Tình trạng này làm gián đoạn các quan hệ
mà họ đang tham gia và ảnh hưởng tới
quyền lợi của chính họ cũng như quyền
và lợi ích hợp pháp của những người liên
quan
Nhằm duy trì trật tự các quan hệ pháp
luật hoặc chấm dứt một số quan hệ pháp
luật mà người tham gia đ# vắng mặt quá
lâu ngày, góp phần bảo vệ quyền và lợi
ích của các chủ thể, Điều 91 Bộ luật dân
sự (BLDS) nước ta đ# quy định việc tuyên
bố một người là đ# chết như sau:
"1 Người có quyền, lợi ích liên quan
có thể yêu cầu tòa án ra quyết định tuyên
bố một người là đ% chết trong các trường
hợp sau đây:
a Sau ba năm, kể từ ngày quyết định
tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực
pháp luật mà vẫn không có tin tức là còn
sống;
b Mất tích trong chiến tranh sau năm năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức là còn sống;
c Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai
mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về thời hạn;
d Biệt tích đ% năm năm và không có tin tức là còn sống hoặc đ% chết; thời hạn năm năm được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 88 của Bộ luật này
2 Tùy từng trường hợp, tòa án xác
định ngày chết của người bị tuyên bố là
đ% chết; nếu không xác định được ngày
đó thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên bố người đó là đ% chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết"
Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin đề cập ba vấn đề sau đây:
1 Điều kiện để tuyên bố chết đối với cá nhân
Có thể nói rằng, tuyên bố một người
là đ# chết chỉ là sự suy đoán pháp lí của tòa án về sự sống còn của một người khi
S
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2họ đ# biệt tích một thời hạn nhất định
Quyết định này của tòa án là cơ sở
pháp lí làm chấm dứt năng lực chủ thể
của cá nhân, qua đó sẽ xuất hiện nhiều
hậu quả pháp lí quan trọng Để tăng
cường tính chính xác của sự "suy đoán"
nhằm giảm thiểu những sai sót trong các
trường hợp người biệt tích vẫn còn sống
nhưng đ# bị tòa án tuyên bố là đ# chết,
trước khi ra quyết định tuyên bố chết đối
với một cá nhân tòa án cần xem xét đầy
đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, đ# qua thời hạn nhất định
mà cá nhân đó vẫn không có tin tức là
còn sống hay đ# chết
Theo điều kiện trên, tòa án chỉ có thể
tuyên bố chết đối với cá nhân nếu qua
thời hạn luật định mà họ vẫn không có tin
tức là còn sống Thời hạn đó là khoảng
thời gian bao nhiêu sẽ được xác định theo
từng trường hợp cụ thể Theo quy định tại
khoản 1 Điều 91 BLDS thì thời hạn để
tuyên bố chết đối với cá nhân được xác
định như sau:
Nếu tuyên bố là đ# chết đối với người
đ# qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải
qua thời hạn là ba năm kể từ ngày quyết
định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp
luật
Nếu tuyên bố là đ# chết đối với người
chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì
phải qua thời hạn là năm năm, kể từ ngày
chiến tranh kết thúc (nếu người đó mất
tích trong chiến tranh) hoặc là một năm
kể từ ngày tai nạn hoặc thiên tai, thảm
họa kết thúc (nếu người đó mất tích trong
vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa đó)
Nếu tuyên bố là đ# chết đối với người biệt tích lâu ngày mà chưa qua thủ tục tuyên bố mất tích thì phải qua thời hạn là năm năm kể từ ngày, tháng, năm biết
được tin tức cuối cùng về sự sống còn của
họ Trong trường hợp này, thời điểm bắt
đầu để tính thời hạn năm năm là ngày có tin tức cuối cùng về người đó Nếu không thể xác định được ngày thì tính từ ngày
đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng, nếu không xác định được ngày, tháng thì tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng Trong BLDS không quy định phạm vi không gian về nơi có tin tức cuối cùng nên hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này Nhiều người căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối cao để xác định không gian của nơi có tin tức cuối cùng là nơi cư trú cuối cùng của người đó
Chúng tôi cho rằng, nơi cư trú của cá nhân đ# được BLDS quy định với tinh thần hoàn toàn mới nên việc xác định phạm vi không gian về nơi có tin tức cuối cùng theo hướng dẫn của nghị quyết nói trên không còn phù hợp nữa Mặt khác, khi xác định về sự sống còn của một người cần phải chú trọng đến tính thực tế của nó Chẳng hạn, người không có tin tức sống còn tại nơi cư trú cuối cùng của
họ đ# quá năm năm nhưng nếu có căn cứ chính xác về việc người đó đ# có lần xuất hiện (có mặt) ở địa phương khác thì vẫn phải coi ngày mà họ có mặt ở địa phương
đó (không phải là nơi cư trú cuối cùng) là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn
Ví dụ: Ông A bỏ nhà ra đi (nơi ông có
đăng kí hộ khẩu thường trú) từ ngày 23/4/1994 Người có quyền, lợi ích liên quan yêu cầu tòa án tuyên bố ông A là đ# chết vì theo họ từ ngày đó cho đến khi họ
Trang 3yêu cầu (25/5/1999) không hề có tin tức
là ông A còn sống hay đ# chết Trong quá
trình thụ lí vụ án trên, do có nguồn tin
cung cấp (hoặc qua thông báo tìm kiếm)
tòa án xác định chính xác ông A còn
sống và có mặt tại tỉnh X vào ngày
20/10/1998 Trường hợp trên, về nguyên
tắc thời hạn năm năm được xác định từ
ngày 23/4/1994 đến ngày 23/4/1999
nhưng thực tế cần phải xác định thời hạn
năm năm từ ngày 20/10/1998 đến
20/10/2003
Như vậy, nếu ông A không trở về và
vẫn biệt tích thì phải sau ngày 20/10/2003
tòa án mới có thể ra quyết định tuyên bố
ông A là đ# chết
Thứ hai, phải thông qua thủ tục thông
báo tìm kiếm
Việc thông báo tìm kiếm với mục
đích nhằm xác định lại lần cuối cùng về
tin tức sống còn của một người trước khi
tòa án quyết định về thân phận pháp lí
của họ Vì vậy, nếu thủ tục này không thể
thiếu khi tuyên bố cá nhân mất tích thì dĩ
nhiên cũng không thể thiếu được khi
tuyên bố là đ# chết đối với cá nhân
Mặc dù trong BLDS không quy định
về điều kiện này nhưng chúng tôi cho
rằng không thể thiếu được khi muốn
tuyên bố một người là đ# chết Bởi lẽ, qua
thủ tục này sẽ nâng cao tính xác thực
trong quyết định của tòa án Mặt khác, về
nguyên tắc, tòa án chỉ có thể tuyên bố
một người là đ# chết khi họ "vẫn không
có tin tức là còn sống"
Qua việc phân tích trên chúng ta thấy
rằng, việc thông báo tìm kiếm là thủ tục
bắt buộc nếu muốn tuyên bố một người là
đ# chết khi chưa qua thủ tục tuyên bố mất
tích Vậy đối với người đ# bị tuyên bố
mất tích, nay muốn tuyên bố họ là đ# chết
vì đ# "sau 3 năm, kể từ ngày quyết định
tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực
pháp luật mà vẫn không có tin tức là còn sống" thì có cần phải thực hiện thủ tục thông báo tìm kiếm không?
Đối với trường hợp này, có quan điểm cho rằng việc thông báo tìm kiếm đ# được thực hiện trong thủ tục tố tụng khi tuyên
bố người đó mất tích nên khi tuyên bố họ
là đ# chết thì không cần phải thực hiện lại nữa Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng mục
đích chủ yếu và thiết thực của việc thông báo tìm kiếm là để xác định lại lần cuối cùng về tin tức sống còn của một người nên trước khi tuyên bố họ là đ# chết bắt buộc phải thực hiện lại việc thông báo tìm kiếm (mặc dù họ là người đ# bị tòa án tuyên bố là mất tích) Vấn đề này BLDS không quy định cụ thể vì nó thuộc về thủ tục tố tụng nhưng chúng tôi có quan điểm trên bởi căn cứ vào mục đích thiết thực của việc thông báo tìm kiếm và căn cứ vào hướng dẫn của Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối cao(1)
Thứ ba, phải có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Người có quyền, lợi ích liên quan là những người có mối
hệ nào đó (hôn nhân gia đình, quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan hệ dân sự ) với người mà sự vắng mặt của người đó làm ảnh hưởng tới quyền lợi của
họ
Mục đích của việc tuyên bố chết đối với cá nhân là tạo ra cơ sở pháp lí để những người nói trên có thể thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích của mình Chẳng hạn, một chủ nợ yêu cầu tòa án tuyên bố một người (vốn là con nợ của mình) là đ# chết khi họ đ# biệt tích lâu ngày nhằm thu hồi khoản nợ từ tài sản mà người đó để lại theo quy định của pháp luật về thừa kế
Mặt khác, theo nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự thì tòa án chỉ thụ lí vụ
Trang 4việc khi có đơn khởi kiện của đương sự
Vì vậy, tòa án chỉ có thể ra quyết định
tuyên bố cá nhân là đ# chết khi có yêu
cầu của người có quyền, lợi ích liên quan
Thứ tư, chỉ tuyên bố là đ# chết đối với
người không nằm trong tình trạng bị truy
n# theo lệnh của cơ quan điều tra
Trong thực tế có nhiều trường hợp cá
nhân bỏ trốn sau khi thực hiện hành vi
phạm tội nhằm trốn tránh sự trừng trị của
pháp luật nên cơ quan điều tra đ# ra lệnh
truy n# đối với họ Việc bỏ trốn của cá
nhân trong những trường hợp này đa phần
tạo nên tình trạng biệt tích, không có tin
tức gì về sự sống còn của họ và hầu như
họ không trở về nếu như chưa bị bắt Tình
trạng trên sẽ làm ảnh hưởng đến quyền,
lợi ích của một số người nhất định và vì
vậy họ sẽ yêu cầu tòa án tuyên bố cá
nhân đó đ# chết để bảo vệ và thực hiện
các quyền và lợi ích của mình Nếu vì
quyền, lợi ích của những người liên quan
với người phạm tội bỏ trốn mà tòa án ra
quyết định tuyên bố là đ# chết đối với
người đó thì vụ án hình sự phải đình chỉ
và cơ quan điều tra phải đình n# (theo
quy định tại Điều 98 của Bộ luật tố tụng
hình sự) Kể từ khi quyết định của tòa án
tuyên bố một người là đ# chết có hiệu lực
pháp luật thì mọi quan hệ nhân thân, quan
hệ tài sản của người đó sẽ được giải quyết
như đối với người đ# chết Vì vậy, chúng
tôi cho rằng việc tòa án tuyên bố là đ#
chết đối với người phạm tội bỏ trốn sẽ
gây rất nhiều trở ngại đối với quá trình
điều tra, khởi tố vụ án hình sự (dù rằng
khi người phạm tội xuất hiện, vụ án hình
sự vẫn có thể được khôi phục nếu xét thấy
cần thiết)
Để phù hợp với thực tế và tạo nên sự
thống nhất trong quy định của các ngành
luật, cơ quan nhà nước có thẩm quyền
cần ban hành các văn bản dưới luật để
quy định cụ thể hơn về việc tòa án có thể
ra quyết định tuyên bố chết đối với cá nhân hay không nếu họ là người đang bị cơ quan điều tra truy n#
Chúng tôi thấy rằng, về nguyên tắc, tòa án không được tuyên bố là đ# chết đối với người đang bị truy n# Trong những trường hợp cần thiết phải bảo vệ quyền, lợi ích của những người liên quan thì tòa
án chỉ được ra quyết định tuyên bố người
đó mất tích
2 Xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
Việc xác định ngày chết của một người hết sức quan trọng Đó là một vấn
đề có ý nghĩa thực tế, liên quan đến quyền, lợi ích của nhiều người Ngày chết của người bị tuyên bố là đ# chết là cơ sở
để xác định ngày mở thừa kế đối với di sản của người đó và là ngày để xác định các quan hệ khác mà người đó tham gia
được coi là chấm dứt Tuy nhiên, BLDS mới chỉ quy định một cách chung nhất về việc xác định ngày chết như sau:
"Tùy từng trường hợp, tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đ% chết, nếu không xác định được ngày đó thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên
bố người đó là đ% chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết" (khoản 2 Điều 91 BLDS)
Theo quy định trên thì ngày chết của người bị tuyên bố là đ# chết được xác
định theo một trong hai cơ sở sau:
Thứ nhất, xác định theo sự kiện thực
tế xảy ra
Theo cơ sở này, khi ra quyết định tuyên bố một người là đ# chết tòa án phải căn cứ vào thực tế về lí do biệt tích của người đó để xác định ngày chết của họ Vì vậy, ngày chết của người bị tuyên bố
Trang 5là đ# chết là ngày đ# được tòa án xác định
rõ trong quyết định tuyên bố là đ# chết
Thứ hai, xác định theo ngày có hiệu
lực pháp luật của quyết định tuyên bố
chết
Sự quy định này của pháp luật nhằm
dự phòng cho những trường hợp không
thể xác định cụ thể được ngày chết của
người bị tuyên bố là đ# chết
Tuy nhiên, chúng tôi lại cho rằng quy
định trên có thể sẽ gây ra nhiều bất cập
trong đời sống thực tế Ví dụ: Ông A biệt
tích đ# quá năm năm (không rõ lí do), vì
thế con của ông A là anh B yêu cầu tòa
án tuyên bố ông A là đ# chết để thừa kế
số tài sản mà ông A để lại Tòa án chưa
thụ lí đơn yêu cầu của anh B thì anh B bị
chết vì tai nạn Chị H (vợ của anh B) tiếp
tục yêu cầu tòa án tuyên bố ông A là đ#
chết Nếu vụ việc trên được tiến hành giải
quyết thì ngày chết của ông A được xác
định theo ngày quyết định tuyên bố chết
của tòa án có hiệu lực pháp luật Như vậy,
về logic pháp lí, anh B đ# chết trước ông
A nên anh B không được hưởng thừa kế
đối với tài sản mà ông A để lại (nghĩa là
chị H không được kế quyền thừa kế của
anh B để hưởng di sản của ông A), logic
pháp lí này hoàn toàn trái ngược với tính
thực tế của vụ việc là chính anh B yêu cầu
tòa án tuyên bố về cái chết của ông A
nhưng lại chết trước ông A
Qua ví dụ trên, chúng tôi thấy rằng
nếu ngày chết của người bị tuyên bố là đ#
chết được xác định theo ngày có hiệu lực
pháp luật của quyết định tuyên bố là đ#
chết sẽ gây ra bất cập trong nhiều trường
hợp tương tự Vì lẽ đó, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền cần ban hành văn bản để
hướng dẫn cụ thể về vấn đề này
Để khắc phục tình trạng trên thì ngày
chết của người bị tuyên bố là đ# chết phải
được xác định cụ thể trong mọi trường
hợp, không nên coi ngày có hiệu lực pháp luật của quyết định là ngày chết của họ Trong thực tế có rất nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho người bị biệt tích dẫn
đến việc tòa án ra quyết định tuyên bố là
đ# chết đối với họ nhưng tựu trung lại thì chỉ có ba trường hợp sau: Cá nhân biệt tích quá lâu ngày mà không rõ lí do; cá nhân mất tích trong vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa; cá nhân mất tích trong chiến tranh Vì vậy, khi tuyên bố chết đối với cá nhân, tòa án cần căn cứ vào một trong
ba trường hợp trên để xác định cụ thể về ngày chết của họ
Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Tòa án nhân dân tối cao
đ# hướng dẫn việc xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đ# chết Tuy nhiên, BLDS của Nhà nước ta hiện nay đ# quy
định về vấn đề tuyên bố chết đối với cá nhân với nội dung và tinh thần khác với
sự quy định của các văn bản pháp luật trước đây rất nhiều Hơn nữa, để việc giải quyết của tòa án phù hợp với tính thực tế của vụ việc, chúng tôi cho rằng nên xác
định ngày chết của người bị tuyên bố là
đ# chết như sau:
Đối với người bị tuyên bố là đ# chết vì biệt tích quá lâu ngày thì ngày chết của
họ là ngày tròn năm năm kể từ khi có tin tức cuối cùng về sự sống còn của họ Nếu người bị tuyên bố là đ# chết là người đ#
bị tuyên bố mất tích thì ngày chết của họ
là ngày tròn ba năm kể từ khi quyết định tuyên bố mất tích có hiệu lực pháp luật
Đối với người bị tuyên bố là đ# chết vì không xác định được là còn sống hay đ# chết sau vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa thì ngày chết của họ là ngày tròn một năm kể
từ khi vụ tai nạn, thiên tai, thảm họa đó chấm dứt
Đối với người bị tuyên bố là đ# chết vì mất tích trong chiến tranh thì ngày chết
Trang 6của họ là ngày tròn năm năm kể từ khi
cuộc chiến tranh đó kết thúc
3 Giải quyết hậu quả pháp lí khi
người bị tuyên bố là đã chết trở về
Khi quyết định tuyên bố chết đối với
cá nhân của tòa án có hiệu lực pháp luật
thì cá nhân đó coi như đ# chết Có thể có
trường hợp trong thực tế người đó vẫn còn
sống nhưng họ vẫn bị coi là đ# chết về
mặt pháp lí Vì vậy, tất cả các quan hệ mà
người đó tham gia đều sẽ được giải quyết
như đối với người đ# chết Chẳng hạn như
quan hệ hôn nhân đương nhiên chấm dứt,
các khoản nợ về tài sản mà người đó chưa
trả sẽ được thanh toán bằng tài sản mà họ
để lại, các tài sản còn lại của người đó trở
thành di sản thừa kế và sẽ được giải quyết
theo quy định của pháp luật về thừa kế
Nếu m#i m#i người bị tuyên bố là đ#
chết không trở về thì mọi sự sẽ lặng im như
sự lặng im của chính họ Tuy nhiên, mọi
điều sẽ trở nên hết sức phức tạp khi họ lại trở
về sau khi đ# bị tuyên bố là đ# chết
BLDS đ# có dự liệu và quy định cách
thức giải quyết đối với trường hợp trên tại
Điều 93 Điều luật này kết hợp được giữa
việc bảo vệ quyền lợi của người bị tuyên
bố là đ# chết nhưng còn sống với việc đưa
ra những giải pháp để áp dụng đối với
từng quan hệ cụ thể trong thực tế
Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng việc
quy định chỉ khi tòa án ra quyết định hủy
bỏ quyết định tuyên bố là đ# chết thì "các
quan hệ nhân thân" của người bị tuyên bố
là đ# chết mới được khôi phục (khoản 2
Điều 93 BLDS) là bất hợp lí Chúng ta
đều biết rằng khi còn sống, công dân luôn
được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các
quyền nhân thân trong khi đó, việc tuyên
bố chết đối với cá nhân của tòa án chỉ là
sự suy đoán Sự xuất hiện của cá nhân là
bằng chứng cho thấy sự suy đoán của tòa
án là không chính xác và thời điểm họ
xuất hiện cũng chính là thời điểm làm
cho sự suy đoán rơi vào tình trạng không
còn cơ sở Mặt khác, việc xuất hiện của
cá nhân bị tuyên bố là đ# chết dù ở tình
trạng nào thì họ vẫn là thực thể đang tồn tại nên vẫn phải chịu sự tác động của pháp luật và các mối quan hệ khác Nghĩa
là pháp luật vẫn phải đảm bảo quyền lợi cho họ và họ vẫn phải gánh vác các nghĩa
vụ nhất định Vì vậy, chúng tôi cho rằng tại thời điểm người bị tuyên bố là đ# chết xuất hiện thì các quyền nhân thân hợp pháp của họ đương nhiên được khôi phục
đồng thời họ phải chịu trách nhiệm với những hành vi của chính mình Nếu áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của BLDS thì thân phận pháp lí của họ sẽ như thế nào trong thời gian tòa án chưa ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố là
đ# chết đối với họ? Các quyền nhân thân của họ trong thời gian đó có được pháp luật thừa nhận và bảo vệ không? Các quyền về tài sản của họ như thế nào? Nếu
vợ hoặc chồng của họ chưa kết hôn với người khác thì quan hệ vợ chồng của họ
có đương nhiên tái lập không? Tái lập từ thời điểm họ trở về hay từ thời điểm quyết định tuyên bố chết bị hủy bỏ? Khi tái lập quan hệ hôn nhân họ có phải thực hiện lại việc đăng kí kết hôn không hay vẫn thừa nhận và duy trì bản đăng kí kết hôn trước đó Có quan điểm cho rằng kể
từ khi quyết định của tòa án tuyên bố một người là đ# chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân của họ đương nhiên chấm dứt nên khi họ trở về muốn tiếp tục
có quan hệ hôn nhân với vợ hoặc chồng
cũ thì dứt khoát phải thực hiện lại thủ tục
đăng kí kết hôn
Có thể nói, pháp luật chỉ chặt chẽ khi các nhà làm luật đ# dự liệu được các tình huống có thể xảy ra Vì vậy, nếu người bị tòa án tuyên bố là đ# chết trở về thì khi giải quyết hậu quả pháp lí cần phải chú trọng đến tính thực tế của vụ việc trong một số trường hợp sau đây:
- Trong trường hợp người vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố là đ# chết đ# kết hôn với người khác thì việc kết hôn
đó vẫn có hiệu lực Nếu người vợ hoặc chồng chưa kết hôn với người khác và khi
Trang 7người bị tuyên bố là đ# chết trở về mà
tình cảm giữa họ vẫn còn, muốn tiếp tục
hôn nhân thì khi ra quyết định hủy quyết
định tuyên bố chết, tòa án nên công nhận
việc tái tục cuộc hôn nhân của họ
Nếu người vợ hay chồng chưa kết hôn
với người khác nhưng khi người bị tuyên
bố là đ# chết trở về mà tình cảm giữa họ
đ# rạn nứt, không muốn sống chung với
nhau nữa thì khi ra quyết định hủy quyết
định tuyên bố chết, tòa án không công
nhận tái tục hôn nhân Quan hệ hôn nhân
giữa họ vẫn coi như đ# chấm dứt từ trước
Vì vậy, mỗi người trong số họ đều có
quyền kết hôn với người khác
- Trong trường hợp người bị tuyên bố
là đ# chết trở về mà tài sản của họ chưa
phân chia cho những người thừa kế thì
quyền sở hữu đối với tài sản của họ
đương nhiên được khôi phục Họ có
quyền nhận lại tài sản do người đang
quản lí tài sản chuyển giao, sau khi đ#
thanh toán chi phí quản lí Nếu tài sản
của họ đ# được phân chia cho những
người thừa kế thì họ "có quyền yêu cầu
những người đ% nhận tài sản thừa kế trả
lại tài sản hiện còn Trong trường hợp
người thừa kế của người bị tuyên bố là đ%
chết biết người này còn sống mà cố tình
giấu giếm nhằm hưởng thừa kế thì người
đó phải hoàn trả toàn bộ tài sản đ% nhận,
kể cả hoa lợi, lợi tức; nếu gây thiệt hại thì
phải bồi thường" (khoản 3 Điều 93
BLDS)
Theo quy định trên thì người thừa kế
nào đ# cố tình giấu giếm việc trở về của
người bị tuyên bố là đ# chết hoặc giấu
giếm tài sản thừa kế nhằm hưởng thừa kế
thì phải trả lại tất cả những khoản lợi
được hưởng từ thừa kế, kể cả khi khoản
lợi đó không còn với bất kì lí do gì
Những người thừa kế khác được giữ lại
hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản thừa kế,
chỉ phải trả lại những tài sản thừa kế mà
họ đ# nhận khi tài sản đó hiện còn
Tuy nhiên, khái niệm "tài sản hiện còn" chưa được sự hướng dẫn cụ thể của văn bản dưới luật nên hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau Để phù hợp với thực tế và đáp ứng được việc bảo vệ quyền lợi cho người bị tuyên bố là đ# chết khi họ trở về cũng như quyền lợi của những người đ# nhận tài sản thừa kế, chúng tôi cho rằng nên hiểu khái niệm
"tài sản hiện còn" theo nghĩa rộng Nghĩa
là được coi là tài sản hiện còn (và vì vậy người thừa kế phải trả lại tài sản đó) trong hai trường hợp sau đây:
- Tài sản thừa kế còn hiện hữu (chưa
sử dụng hết, chưa bị tiêu hủy, thiệt hại, chưa bị định đoạt)
- Tài sản thừa kế đ# bị định đoạt nhưng có đủ căn cứ để xác định người thừa kế đ# định đoạt tài sản thừa kế đó để tạo lập tài sản khác (thông qua hợp đồng mua bán, đổi tài sản ) Trong trường hợp này tài sản mà người thừa kế phải trả lại cho người bị tuyên bố là đ# chết nhưng còn sống là phần giá trị mà người thừa kế
đ# thu được thông qua việc định đoạt tài sản thừa kế đó./
(1) Nghị quyết 03/HĐTP đ# có hướng dẫn như sau:
"Trình tự tố tụng đối với việc xác định một người là
đ% chết cũng giống như xác định một người đ% mất tích"