Theo quy định của pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật phải được giới thiệu, tham khảo ý kiến của nhân dân bằng các hình thức khác nhau; hầu hết các dự án luật, pháp lệnh được đăng
Trang 1TS NguyÔn V¨n Tu©n *
1 Các công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên
Thực hiện chủ trương nhất quán của Nhà
nước, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước
quốc tế quan trọng, trong đó có các công ước
về nhân quyền Công ước quốc tế về nhân
quyền quan trọng đầu tiên Việt Nam kí kết là
Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (Việt
Nam kí Công ước này ngày 27/11/1981 và
phê chuẩn tháng 2/1982)
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các
quyền kinh tế, văn hoá năm 1966 (Việt Nam
gia nhập 2 công ước này ngày 24/9/1982)
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và
nước thứ 2 trên thế giới trở thành thành viên
Công ước quốc tế về quyền trẻ em sau khi kí
Công ước này tháng 1/1990 và phê chuẩn
ngày 20/2/1991 Việt Nam cũng đã phê chuẩn
2 nghị định thư bổ sung Công ước quốc tế về
quyền trẻ em (Nghị định thư không bắt buộc
về trẻ em trong xung đột vũ trang và Nghị
định thư không bắt buộc về chống sử dụng trẻ
em trong mại dâm, tranh ảnh khiêu dâm)
Ngoài ra Việt Nam còn là thành viên của
một số công ước khác như: Công ước quốc
tế về xoá bỏ các hình thức phân biệt chủng
tộc năm 1966 và Công ước về ngăn ngừa và
trừng trị tội Apacthai năm 1973 (Việt Nam
gia nhập 2 công ước này ngày 9/6/1981)
2 Vấn đề nội luật hoá các quy định bảo vệ quyền con người trong các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
2.1 Nghĩa vụ nội luật hoá
Nghĩa vụ nội luật hoá các quy định của công ước quốc tế nói chung và công ước quốc tế về quyền con người nói riêng đã được ghi nhận trong bản thân các công ước
mà Việt Nam là thành viên Việc chuyển hoá các quy định của công ước quốc tế mà Việt Nam là một bên kí kết được quy định cụ thể trong Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 Khoản 3 Điều 6 Luật
kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc
tế năm 2005 quy định: "Căn cứ vào yêu cầu,
nội dung, tính chất của điều ước quốc tế, Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ khi quyết định chấp nhận sự ràng buộc của điều ước quốc tế đồng thời quyết định áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần điều ước quốc tế đó đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong trường hợp quy định của điều ước quốc tế đã đủ rõ, chi tiết để thực hiện; quyết định hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật
để thực hiện điều ước quốc tế đó"
Yêu cầu thực thi các công ước quốc tế về quyền con người phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật điều ước quốc tế Quốc gia thành viên phải có nghĩa vụ xây dựng cơ chế pháp
* Bộ tư pháp
Trang 2luật quốc gia phù hợp với yêu cầu của việc
thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con
người Điều 2 Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy
định: "1 Mỗi quốc gia thành viên của Công
ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm cho
mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm
quyền pháp lí của mình các quyền đã được
công nhận trong Công ước này, không phân
biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ,
tôn giáo, chính kiến hoặc mọi quan điểm
khác, nguồn gốc dân tộc và xã hội, tài sản,
dòng dõi hoặc các điều kiện khác
2 Trong trường hợp quy định trên đây chưa
được thể hiện bằng các biện pháp lập pháp
hoặc các biện pháp khác thì mỗi quốc gia
thành viên của Công ước này cam kết sẽ tiến
hành các biện pháp cần thiết phù hợp với quy
trình nêu trong hiến pháp của mình và những
quy định của Công ước này để ban hành
pháp luật và những biện pháp cần thiết khác,
nhằm mục đích thực hiện có hiệu quả các
quyền được công nhận trong Công ước này”
2.2 Thực trạng nội luật hoá nói chung
Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt
Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền con
người Chính sách đó dựa trên nhận thức của
Nhà nước Việt Nam coi quyền con người là
giá trị chung của nhân loại được tạo lập qua
sự phấn đấu của các dân tộc qua các thời đại
Chính sách tôn trọng quyền con người của
Nhà nước Việt Nam cũng có gốc rễ sâu xa từ
truyền thống lịch sử và văn hoá có bề dày
hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam.(1)
Việc tham gia các công ước quốc tế về
quyền con người là sự cam kết chính
trị-pháp lí của Nhà nước ta trong sự nghiệp bảo
vệ quyền con người trước cộng đồng thế
giới Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay,
đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta
là đặt con người ở vị trí trung tâm của các chính sách kinh tế, xã hội, trong đó thúc đẩy
và bảo vệ quyền con người được xem là nhân tố quan trọng cho sự bền vững của đất nước Tham gia hầu hết các công ước quốc
tế về quyền con người là nỗ lực to lớn của Nhà nước ta, đó cũng là thành tích được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao Việc tham gia các công ước quốc tế này thể hiện cam kết và quyết tâm cao độ của Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy và tôn trọng các quyền con người như các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người Một trong những nguyên tắc lập pháp của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi tham gia các quan hệ quốc tế là
“tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên" (khoản
6 Điều 3 Luật kí kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005) Về mặt lập pháp, trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, huỷ
bỏ hay ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, cơ quan đề xuất kí kết, tham gia và các cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản
đó theo quy định của pháp luật
Một trong những thuận lợi cho công tác
"nội luật hoá" các điều ước quốc tế về quyền con người là ở chỗ tự bản thân pháp luật Việt Nam mà tiêu biểu là qua bốn hiến pháp đã được ban hành hoàn toàn phù hợp và ghi nhận hầu hết các quyền cơ bản của con người được quy định trong hai công ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người và trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948
Trang 3Nhà nước Việt Nam hết sức coi trọng
việc xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện về
bảo đảm và thúc đẩy quyền con người Chỉ
tính riêng từ năm 1986 đến nay, Nhà nước ta
đã ban hành, sửa đổi khoảng 13.000 văn bản
luật và dưới luật Theo quy định của pháp
luật, các văn bản quy phạm pháp luật phải
được giới thiệu, tham khảo ý kiến của nhân
dân bằng các hình thức khác nhau; hầu hết
các dự án luật, pháp lệnh được đăng công
khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin
đại chúng để tranh thủ ý kiến các tầng lớp
nhân dân.(2) Nếu chỉ tính từ năm 1992 đến
nay, không kể các văn bản do Chính phủ và
các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền
ban hành, Quốc hội đã thông qua 183 văn bản
luật, trong đó có khoảng 48 văn bản có liên
quan trực tiếp đến bảo vệ quyền và tự do cơ
bản của công dân; Uỷ ban thường vụ Quốc
hội ban hành 125 pháp lệnh, trong đó có
khoảng 39 văn bản liên quan trực tiếp đến
bảo vệ quyền và tự do cơ bản của công dân.(3)
Quyền con người được ghi nhận trong
hàng loạt các văn bản pháp luật quốc gia, đặc
biệt là Hiến pháp Quá trình xây dựng bốn
hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp
năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp
năm 1992) cho thấy các nguyên tắc cơ bản về
quyền con người trong các công ước quốc tế
về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam
đã kí kết, được ghi nhận vào các văn bản quy
phạm pháp luật của quốc gia Trong quá trình
lập hiến, các quyền dân sự, chính trị, kinh tế,
xã hội và văn hoá, quyền của trẻ em, phụ nữ,
của người thiểu số ngày càng được thể hiện
rõ nét, đầy đủ, ngày càng được hoàn thiện cả
về bề rộng và bề sâu, được bảo đảm bằng các
cơ chế, biện pháp thực hiện hiệu quả hơn
Tuy nhiên, trong các bản hiến pháp sau, các
quyền con người, quyền công dân ngày một hoàn chỉnh, không phải là sự sao chép các quy định của hiến pháp trước Các chế định pháp luật có tính vận động và phát triển theo nguyên tắc kế thừa biện chứng
Trong hơn hai thập kỉ thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành quả to lớn về lập pháp trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người Đây cũng là những
cố gắng to lớn của Nhà nước ta trong việc chuyển hoá các quy định về quyền con người trong các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia Các báo cáo của Việt Nam về việc thực hiện Công ước về quyền con người đã được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, đặc biệt trong vấn đề hoàn thiện
hệ thống pháp luật bảo vệ quyền con người Trong công cuộc đổi mới nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, đáp ứng mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Việt Nam rất coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó có pháp luật bảo vệ quyền con người Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy
định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và pháp luật" Quốc hội và
Ủy ban thường vụ Quốc hội trong các khoá gần đây đã thông qua một số lượng lớn luật và pháp lệnh Nhờ đó, việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã không ngừng được đẩy mạnh Một số luật quan trọng đã được thông qua như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình
sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật lao động, Luật công đoàn, Luật giáo dục, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật luật
sư, Luật trợ giúp pháp lí có ý nghĩa quan
Trang 4trọng trong việc phát huy các quyền dân sự,
chính trị cũng như các quyền kinh tế, văn hoá
và xã hội cho mọi công dân Việc Quốc hội
thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 và Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2003, với những nội
dung phù hợp cơ chế thị trường ở Việt Nam
cũng là nhân tố có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo vệ quyền con người
Các cơ quan hành pháp và tư pháp căn cứ
trên cơ sở các văn bản đó để tiến hành đảm
bảo và bảo vệ các quyền con người trong
phạm vi, chức năng, thẩm quyền và quyền hạn
của mình Nếu như có sự vi phạm quyền con
người từ bất kì chủ thể nào thì cá nhân, chủ thể
khác có thể khiếu nại, tố cáo với cơ quan có
thẩm quyền về việc vi phạm Để bảo vệ quyền
con người, pháp luật quốc gia không chỉ phải
có hệ thống pháp luật về mặt nội dung mà còn
phải có hệ thống pháp luật về mặt hình thức
đầy đủ tương ứng để bảo đảm có cơ chế xét
xử, giải quyết tranh chấp đối với các trường
hợp vi phạm quyền con người.(4)
2.3 Thực trạng nội luật hoá trong lĩnh
vực tư pháp hình sự
1 Bộ luật hình sự đầu tiên của nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc
hội thông qua ngày 27/5/1985 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/01/1986 Bộ luật hình sự
năm 1985 đã phát huy vai trò và tác dụng to
lớn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
đồng thời là công cụ sắc bén của Nhà nước
trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân, góp phần tích cực trong việc
xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Hiến pháp năm 1992 ra đời đánh dấu
một giai đoạn phát triển mới của đất nước
Các quy định của Hiến pháp năm 1992 đã
tạo ra những cơ sở pháp lí quan trọng, tạo
động lực cho sự phát triển toàn diện đất nước
nhất là trong lĩnh vực kinh tế Các quan hệ
xã hội bảo đảm các quyền tự do, dân chủ của công dân, bảo vệ quyền con người đã được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992 thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của chế độ xã hội chủ nghĩa, của Nhà nước Việt Nam cần được quán triệt và bảo vệ bằng các quy phạm của Bộ luật hình sự
Yêu cầu đổi mới mọi mặt đời sống đất nước đặt ra nhiệm vụ xem xét để sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 một cách cơ bản toàn diện nhằm kịp thời thể chế hoá chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai đoạn mới, bảo đảm hiệu quả cao của cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo đảm quyền con người
Bộ luật hình sự năm 1999 đã thể hiện được tư tưởng lớn của chính sách xử lí là phân hoá tội phạm, bảo đảm tính nghiêm minh, công bằng, nhân đạo bằng cách cá thể hoá các hành vi phạm tội, từ đó phân hoá tội phạm, phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt Các chế định, nguyên tắc, các chương điều, các tội danh của Bộ luật hình sự năm 1999 thể hiện định hướng rất đặc thù, tiêu biểu cho bước phát triển mới của pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: Đó là quá trình có tính chất giao thoa, đan xen giữa hai chiều hướng vừa phi hình sự hoá, vừa hình sự hoá Điều đó không phải ngẫu nhiên mà phản ánh rất rõ nét đặc trưng của xã hội Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh
Chính sách hình sự của thời kì phát triển mới của Việt Nam không những phản ánh được đầy đủ tính đa dạng của quá trình
Trang 5chuyển đổi mà còn phản ánh đầy đủ hơn bản
chất văn minh tiến bộ, bản chất nhân đạo của
xã hội Việt Nam trên cơ sở kế thừa truyền
thống nhân bản, nhân văn của xã hội Việt
Nam, vừa thể hiện bản chất ưu việt, nhân
đạo của xã hội chủ nghĩa Bộ luật hình sự
năm 1999 tiếp thu có chọn lọc các thành tựu,
tinh hoa của khoa học và thực tiễn pháp luật
hình sự của các nước trên thế giới
Sự phi hình sự hoá thể hiện trực tiếp
trước hết ở việc loại bỏ ra khỏi Bộ luật hình
sự năm 1999 những hành vi vẫn tiếp tục diễn
ra trong đời sống xã hội nhưng nay trong
hoàn cảnh mới, mức độ nguy hiểm cho xã
hội thay đổi, không nhất thiết phải xử lí bằng
biện pháp hình sự Trong tinh thần đó, một
trong những biểu hiện đặc thù được vận
dụng ở Bộ luật hình sự năm1999 là thái độ
đối với mức độ nguy hiểm cho xã hội trong
hành vi của người chưa thành niên Việc xử
lí người chưa thành niên phạm tội chủ yếu
nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm,
phát triển lành mạnh và trở thành công dân
có ích cho xã hội
Bộ luật hình sự năm 1999 tại Điều 3 đã bổ
sung nguyên tắc xử lí là: “Mọi người phạm tội
đều bình đẳng trước pháp luật không phân
biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo,
thành phần, địa vị xã hội” thể hiện nhất quán
chính sách không phân biệt đối xử, bất luận
người phạm tội là ai đều bị xử lí công minh
trước pháp luật, không thiên vị
2 Để đảm bảo trật tự kỉ cương xã hội, bảo
vệ các quyền cơ bản của công dân đã được
pháp luật ghi nhận, nhà nước phải sử dụng
quyền lực của mình để chống lại mọi hành vi
vi phạm pháp luật nhất là trong lĩnh vực hình
sự Giải quyết các vụ án hình sự một cách
khách quan, đúng pháp luật là sự thể hiện
việc bảo vệ quyền con người Nhà nước phải ngăn chặn hoặc xử lí kịp thời không để cho những hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền con người Nhưng không phải vì việc xử lí nhanh chóng vụ án hình sự mà để quyền tự do của con người bị xâm phạm
Nhà nước thông qua hoạt động tố tụng hình sự để bảo vệ quyền con người Nhưng cũng chính trong hoạt động tố tụng hình sự này mà quyền con người cũng dễ bị vi phạm nhất Thông qua hoạt động tố tụng hình sự
mà cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết
vụ án hình sự mà ở đó số phận pháp lí của một con người sẽ được định đoạt hoặc là tước bỏ ở họ một số quyền hoặc là bảo vệ quyền của họ Mục đích của tố tụng hình sự
là xử đúng người, đúng tội nhưng cũng không được làm oan người vô tội
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đánh dấu bước tiến mới của quá trình pháp điển hoá pháp luật tố tụng hình sự đồng thời cùng với Bộ luật hình sự năm 1985 là cơ sở pháp
lí đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự Trong Bộ luật tố tụng hình sự có nhiều quy định mang tính nguyên tắc là cơ
sở pháp lí quan trọng để tiến hành hoạt động
tố tụng hình sự và bảo vệ quyền con người Sau gần 15 năm thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 đã được sửa đổi, bổ sung
ba lần (6/1990; 12/1992 và 6/2000) Các lần sửa đổi, bổ sung này mới tập trung vào một
số điều để đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003 và có hiệu lực thi hành
từ ngày 01/7/2004 Với 8 phần, 37 chương
và 346 điều, trong đó có 260 điều sửa đổi, 48
Trang 6điều bổ sung và 38 điều giữ nguyên của Bộ
luật tố tụng hình sự năm 1988
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã thể
hiện được mục tiêu quan trọng là nhằm bảo
đảm thực hiện dân chủ hơn nữa trong hoạt
động tố tụng hình sự Nhiệm vụ của tố tụng
hình sự không chỉ là phát hiện tội phạm và
trừng phạt người phạm tội mà còn phải bảo
đảm và tôn trọng các quyền tự do, dân chủ
của công dân, không được làm oan người vô
tội Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 kế
thừa, phát triển những nguyên tắc truyền
thống và được khẳng định trong thực tế áp
dụng và bổ sung một số nguyên tắc mới
nhằm bảo đảm hơn nữa quyền con người
trong tố tụng hình sự
* Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi
công dân trước pháp luật và toà án
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật và toà án là nguyên tắc tố tụng hình sự
được thể hiện trong Điều 5 và Điều 19 của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật thể hiện
ở chỗ là mỗi người đều được pháp luật bảo
vệ và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi
có vi phạm pháp luật, được sử dụng những
quyền và nghĩa vụ như nhau không phân biệt
nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành
phần xã hội, địa vị xã hội, trình độ học vấn
Bất kì người nào có hành vi vi phạm
pháp luật đều bị xử lí, đối với người phạm
tội thì phải chịu trách nhiệm hình sự cho dù
họ là ai, ở cương vị nào Ngược lại đối với
những người không có hành vi trái pháp luật
thì không ai có quyền xâm phạm đến quyền
và lợi ích hợp pháp của họ
Mọi công dân đều bình đẳng trước toà án
có nghĩa là mọi công dân đều chịu trách
nhiệm về hành vi phạm tội của mình trước
một toà án có thẩm quyền xét xử vụ án đó Đối với tất cả người phạm tội đều áp dụng thống nhất các quy định trong Bộ luật hình
sự và Bộ luật tố tụng hình sự mà không có quy định riêng nào mang tính ưu đãi cho người này so với người khác và cũng không
có cơ quan tiến hành tố tụng cũng như thủ tục đặc biệt để áp dụng riêng, mang tính ưu tiên cho bất cứ ai
Bình đẳng trước pháp luật và toà án có nghĩa là mọi công dân đều chịu trách nhiệm như nhau trước nhà nước và xã hội đối với hành vi phạm tội của mình Người phạm tội
bị truy cứu trách nhiệm hình sự không phụ thuộc vào vị trí công tác, thành tích đã có… Quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật và toà án được thể hiện trong việc bảo đảm quyền bình đẳng của những người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Những người tham gia
tố tụng và những người đại diện cho họ trong phiên toà được sử dụng quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ và yêu cầu Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và toà án không chỉ thể hiện ở giai đoạn xét xử mà còn thể hiện
ở tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự
* Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc quan trọng trong tố tụng hình sự và được ghi nhận trong nhiều quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ trong hoạt động
tố tụng hình sự, luôn luôn đề cao và tôn trọng quyền của con người Cùng với nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm, không để lọt tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng còn bảo đảm các quyền cơ bản của công dân không bị xâm
Trang 7phạm, không vì mục đích tìm ra tội phạm mà
có những hành vi trái pháp luật, xâm phạm
đến quyền của con người
Các cơ quan điều tra, viện kiểm sát và
toà án áp dụng các biện pháp ngăn chặn
cũng như các biện pháp cưỡng chế khác chỉ
khi thật sự cần thiết cho việc thực hiện
nhiệm vụ tố tụng hình sự theo những căn cứ
và thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy
định Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các
quyền cơ bản của công dân trong tố tụng
hình sự không chỉ nhằm bảo vệ quyền và tự
do của bị can, bị cáo mà còn đối với những
người tham gia tố tụng hình sự khác
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là
một trong các quyền cơ bản của công dân đã
được Hiến pháp và Bộ luật tố tụng hình sự ghi
nhận Bất khả xâm phạm về thân thể là quyền
thiêng liêng của con người, không ai có quyền
động đến tự do cá nhân của con người Quyền
bất khả xâm phạm về thân thể của công dân
được pháp luật bảo đảm thông qua các quy
định chặt chẽ trong việc bắt, giam, giữ
Trong hoạt động tố tụng hình sự, những
người tiến hành tố tụng phải tôn trọng tính
mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự và nhân phẩm
của công dân, nghiêm cấm mọi hình thức truy
bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm
của công dân đều bị xử lí theo pháp luật
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét
xử trái pháp luật có quyền được bồi thường
thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự
Người nào có hành vi trái pháp luật trong việc
bắt, giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người
khác phải bị xử lí nghiêm minh theo pháp luật
Bộ luật hình sự quy định trách nhiệm hình sự
đối với những người tiến hành tố tụng có hành
vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt giam người
trái pháp luật, bức cung, nhục hình
* Suy đoán vô tội
Suy đoán vô tội trong lịch sử pháp luật của nước ta lần đầu tiên được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988: “Không
ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực của toà án” (Điều 10)
Nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm
1992 ghi nhận và thể hiện một cách chính
xác hơn: “Không ai bị coi là có tội và phải
chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72)
Nguyên tắc này tiếp tục được ghi nhận trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 với nội dung không đổi mà chỉ thay đổi một chút về tên gọi của điều luật, cụ thể là: Điều 9
"Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật" Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, một người không được coi là có tội cho đến khi tội của người đó chưa được xác định bằng bản án của toà án có hiệu lực pháp luật Không có một cơ quan, người có chức vụ nào có quyền xác nhận một công dân có tội trong việc thực hiện tội phạm Chỉ có toà án mới có quyền xét xử vụ án hình sự và xác nhận một người là có tội
Chỉ có bằng bản án của toà án được quyết định phù hợp với các quy định của luật, công dân mới có thể bị coi là có tội cũng như chịu hình phạt
Bản án được toà án tuyên do kết quả trực tiếp của phiên toà tuân theo đúng các nguyên tắc, yêu cầu, hình thức của tố tụng Đó là ý nghĩa quan trọng về lí luận và thực tiễn của suy đoán vô tội trong việc ra bản án của toà
án Suy đoán vô tội xuyên suốt cả quá trình tiến hành vụ án nhưng vai trò quan trọng của
nó là ở chỗ lúc ra bản án, khi toà án kiểm tra xem có đầy đủ căn cứ cần thiết để ra bản án kết tội hoặc bị cáo được trắng án
Trang 8Phù hợp nguyên tắc suy đoán vô tội, bản
án kết tội chỉ có thể được quyết định trong
điều kiện là tội của bị cáo được chứng minh
đầy đủ và không còn nghi ngờ nào cả, được
chứng minh ở toà án trên cơ sở chỉ của
những chứng cứ mà đã được xem xét và
kiểm tra ở phiên toà phù hợp với các quy
định của Bộ luật tố tụng hình sự và bảo đảm
cho bị can, bị cáo quyền bào chữa Nếu còn
nghi ngờ trong việc kết tội bị cáo thì không
được ra bản án kết tội
* Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo
Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là nguyên tắc tố tụng
hình sự quan trọng đã được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 Người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa
hoặc nhờ người khác bào chữa Quyền bào
chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
không chỉ là bảo đảm khỏi sự buộc tội không
có căn cứ mà còn là phương tiện quan trọng
để nhận biết sự thật, để thực hiện các bảo đảm
tố tụng nhằm bảo vệ quyền của con người
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo được xem xét trong hai hình
thức: Tự bào chữa và bào chữa với sự giúp
đỡ của người bào chữa Hai hình thức này
được tiến hành song song và có thể sử dụng
trong tất cả các trường hợp một cách đầy đủ
Quyền bào chữa không thể coi là bảo đảm
nếu như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
không được người bào chữa giúp đỡ Bảo
đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có nghĩa là cơ quan điều tra,
viện kiểm sát và toà án có trách nhiệm giải
thích cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo
biết những quyền của họ và bảo đảm tạo mọi
điều kiện để cho họ có thể sử dụng được
quyền của họ Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo thực hiện quyền bào chữa có nghĩa là vi phạm các quy định của tố tụng và có thể dẫn đến việc phải điều tra hoặc xét xử lại vụ án
Bộ luật tố tụng hình sự còn quy định một
số trường hợp sự tham gia của luật sư là bắt buộc ở giai đoạn điều tra cũng như giai đoạn xét xử Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là nguyên tắc dân chủ của tố tụng hình sự, thể hiện tính nhân đạo trong tố tụng hình sự Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cần được hoàn thiện và thực hiện theo hướng mở rộng quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; cho phép người bào chữa tham gia tố tụng trong mọi giai đoạn, trong mọi vụ án; tăng cường trách nhiệm của cơ quan nhà nước và người có chức vụ trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của người được bào chữa
* Thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Khi xét xử vụ án hình sự, thẩm phán và hội thẩm phải tuân theo những quy định của pháp luật tố tụng hình sự, phải đưa vào những căn cứ pháp luật, những tình tiết cụ thể của vụ án phù hợp với ý thức pháp luật
để đi đến một quyết định đúng đắn Ý thức pháp luật giúp thẩm phán và hội thẩm nhận thức đúng đắn và rõ ràng những quy định của pháp luật để áp dụng sát và đúng vào những trường hợp cụ thể, không máy móc hình thức, đánh giá đúng ý nghĩa của chứng
cứ, tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo mà quyết định loại hình phạt và mức hình phạt tương ứng để đạt được mục đích của công tác xét xử
Không một cơ quan nhà nước, tổ chức hay cá nhân nào có quyền can thiệp vào
Trang 9công tác xét xử của toà án Không ai được
quyền gây sức ép bằng bất cứ hình thức nào
trong việc xét xử từng vụ án cụ thể Toà án
xét xử độc lập được thể hiện ở chỗ thẩm
phán và hội thẩm đánh giá chứng cứ theo
niềm tin nội tâm của mình trên cơ sở nghiên
cứu mọi tình tiết của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ Đối với họ không
có chứng cứ nào có giá trị trước
Nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm độc
lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật nâng
cao trách nhiệm của người thẩm phán, hội
thẩm, buộc họ phải nghiêm chỉnh tuân thủ
pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự,
chủ động nghiên cứu mọi tình tiết của vụ án,
ra những quyết định phù hợp và không lệ
thuộc vào những lí do, ý kiến của những
người tham gia tố tụng, những kết luận buộc
tội của kiểm sát viên, nếu những lí do, ý kiến
và kết luận đó không phù hợp với thực tế,
với pháp luật Nguyên tắc này bảo đảm cho
việc xét xử được đúng đắn và càng làm tăng
thêm tinh thần trách nhiệm của thẩm phán và
hội thẩm Sự độc lập của thẩm phán cũng thể
hiện giữa những thẩm phán với nhau, giữa
cấp xét xử này với cấp xét xử khác
Chủ trương tăng cường dân chủ trong
hoạt động tố tụng hình sự nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, hạn
chế việc oan sai đã được thể hiện trong nội
dung của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Vấn đề bảo đảm bình đẳng, dân chủ và bảo
vệ quyền con người thể hiện sự tiến bộ của
xã hội Có thể nói Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 là bộ luật của sự tiến bộ, dân chủ,
bình đẳng và bảo vệ quyền con người
3 Một số vấn đề đặt ra đối với nội luật hoá
Chủ trương tham gia công ước quốc tế,
trong đó có các công ước quốc tế về quyền
con người đã chứng tỏ quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm thực hiện ngày càng tốt các quyền về con người đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận Chính sách của Nhà nước Việt Nam được thể hiện bằng pháp luật, thực hiện bằng nhiều cơ chế khác nhau và đã đạt được những kết quả tích cực trên thực tế Nhà nước Việt Nam rất chú trọng xây dựng hệ thống pháp luật toàn diện
về bảo đảm và thúc đẩy quyền con người Trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam
đã có nhiều cố gắng đáng kể trong công tác lập pháp, trong đó chuyển hoá nhiều quy định của các công ước quốc tế về quyền con người thành các quy phạm pháp luật của Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của Việt Nam
"còn thiếu sự đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo, mâu thuẫn, chưa theo kịp thực tiễn, dẫn đến khó khăn, thậm chí hiểu sai, làm ảnh hưởng đến đảm bảo tính hợp hiến, tính khả thi và sự minh bạch Việc nghiên cứu, thực hiện các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên chưa được quan tâm đầy đủ Hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật còn hạn chế Thiết chế bảo đảm thi hành pháp luật còn thiếu và yếu
Trình độ nhận thức của một bộ phận cán
bộ còn bất cập, thể hiện rõ nét nhất là chưa nắm được quy định của các công ước quốc
tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; đôi khi còn không nắm chắc chính sách của Nhà nước, quy định của pháp luật Việt Nam Vì vậy, có nơi, có lúc còn để xảy ra các vi phạm, ảnh hưởng đến việc thụ hưởng của người dân Cùng với đó là tình trạng kỉ cương, kỉ luật ở nhiều nơi chưa nghiêm".(5)
Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm thực hiện có hiệu quả
Trang 10các quyền về con người đã được ghi nhận
trong các công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên Nhiệm vụ
cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm
1992 về quyền con người là nội dung được
ưu tiên trong chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm
2020 Trong quá trình nội luật hoá các quy
định của các công ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên trong lĩnh vực tố tụng hình sự
cần chú ý các quy định mang tính nguyên tắc
chung như sau: 1) Quyền bình đẳng trước
pháp luật và được pháp luật bảo vệ; 2)
Quyền xét xử công bằng; 3) Quyền được suy
đoán vô tội; 4) Quyền bào chữa; 5) Quyền
của vị thành niên; 6) Quyền của phụ nữ
Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp
luật cũng cần chú ý đến việc hoàn thiện cơ
chế bảo đảm quyền con người, nâng cao nhận
thức về quyền con người Việc bảo đảm
quyền con người hiện là một trong những vấn
đề được quan tâm hàng đầu của cộng đồng
quốc tế và cũng là của Việt Nam Mục tiêu
cao nhất đồng thời cũng là biểu hiện cụ thể về
quyền con người ở Việt nam là phấn đấu hết
sức mình để xây dựng dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng dân chủ, văn minh Việc
bảo đảm ngày càng tốt hơn dân chủ, quyền
con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của công cuộc đổi mới, thể hiện quan hệ gắn
bó máu thịt giữa Nhà nước và nhân dân(6)
./
(1).Xem: Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 6/2009,
tr 3, 4
(2).Xem: Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 6/2009, tr 4
(3).Xem: Tạp chí k hoa học pháp lí, số 5/2009, tr 27
(4).Xem: Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 7/2009, tr 17
(5).Xem: Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 6/2009, tr 7
(6).Xem: Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 6/2009, tr 8
BÀN VỀ CÁC BIỆN PHÁP KHẨN CẤP
TẠM THỜI (tiếp theo trang 33)
tranh chấp thì chưa phát huy hết hiệu quả của biện pháp này trong việc bảo toàn tài sản, bảo đảm hiệu quả thi hành án Vì vậy, Điều
109 BLTTDS nên mở rộng phạm vi áp dụng, tức là áp dụng BPKCTT này đối với các tài sản của đương sự có nghĩa vụ, không chỉ đối với tài sản tranh chấp
- Về các BPKCTT phong toả tài khoản, tài sản của người có nghĩa vụ được quy định tại Điều 112, Điều 113 và Điều 114 BLTTDS Theo tác giả, mặc dù BLTTDS tách bạch thành ba BPKCTT phong toả khác nhau tại Điều 112, Điều 113 và Điều 114 nhưng thực chất cả ba điều luật này đều quy định về BPKCTT phong toả tài sản của người có nghĩa vụ Ba điều luật này nên được quy định chung thành BPKCTT phong toả tài sản của người có nghĩa vụ Tài sản của người có nghĩa vụ được phát hiện có ở đâu thì toà án
có thể áp dụng BPKCTT phong toả tài sản của người có nghĩa vụ ở đó nhằm bảo toàn chứng cứ, tài sản, đảm bảo việc thi hành án của người có nghĩa vụ
Mặt khác, để phân biệt với BPKCTT kê biên tài sản, điều kiện áp dụng BPKCTT phong toả tài sản cần được quy định rõ hơn nữa Bản chất của phong toả tài sản là cô lập, niêm phong, cắt đứt mọi mối liên hệ của tài sản đối với bên ngoài, vì vậy BPKCTT phong toả sẽ được áp dụng khi đã biết rõ về tài sản, nắm rõ về hiện trạng, chủng loại tài sản đó Tài sản bị phong toả phải là những tài sản sau khi bị cô lập, niêm phong không thể giao cho một ai sử dụng, bảo quản mà “đóng kín” xong thì để nguyên tại đó, tránh tình trạng tài sản đó bị thay đổi, tẩu tán./