Nghiên cứu các tình tiết trong BLHS, đặc biệt các tình tiết quy định tại Điều 46 và Điều 48 BLHS, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm “tình tiết hình sự” như sau: “Tình tiết hình sự” là những
Trang 1Nguyễn Văn Hương *
1 Khái quát chung
Từ “tình tiết” được sử dụng rộng ri không
chỉ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong các lĩnh
vực khác nhau của đời sống x hội mà còn
được sử dụng rộng ri cả trong lĩnh vực pháp
luật Khái niệm “tình tiết hình sự” chúng tôi
nêu trong bài viết này chỉ bao gồm những tình
tiết có ý nghĩa hình sự được quy định trong Bộ
luật hình sự (BLHS) BLHS năm 1999 bao gồm
344 điều luật thì đ có 12 điều luật với 25 lần
sử dụng thuật ngữ này BLHS năm 1999 (cũng
như BLHS năm 1985) còn dành riêng hai điều
luật quy định về các tình tiết giảm nhẹ và tăng
nặng trách nhiệm hình sự (TNHS)
Như vậy, “tình tiết hình sự” bao gồm
những nội dung gì? Trong BLHS, các tình tiết
giảm nhẹ TNHS (Điều 46) và các tình tiết
tăng nặng TNHS (Điều 48) với sự quy định
chưa đầy đủ đ có tới 66 tình tiết, chưa kể
trong các điều luật về các tội phạm cụ thể còn
quy định nhiều tình tiết định khung hình phạt
khác nhau
Hành vi được xác định là tội phạm thì
các tình tiết, biểu hiện của nó phải được làm
rõ để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm để
xử lí một cách thoả đáng Hơn nữa, khi quyết
định hình phạt, toà án “ cân nhắc tính chất
và mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi
phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình
tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS” (Điều 45
BLHS) Cân nhắc tính chất và mức độ nguy
hiểm cho x hội của tội phạm thực chất là việc
xem xét và đánh giá các tình tiết tạo nên tính
nguy hiểm của tội phạm Những tình tiết đó
có thể là tình tiết thuộc về hành vi phạm tội, thuộc về đối tượng tác động của tội phạm, thuộc về nhận thức, thái độ của người phạm tội đối với việc phạm tội, thuộc về những đặc
điểm riêng biệt, phẩm chất cá nhân của người phạm tội Những tình tiết đó có thể được quy
định là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS (khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 48 BLHS) Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS thì “ Toà án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ ” Như vậy, để hiểu
và vận dụng đúng thì cần có một khái niệm chung thống nhất về các tình tiết trong BLHS Nghiên cứu các tình tiết trong BLHS, đặc biệt các tình tiết quy định tại Điều 46 và Điều
48 BLHS, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm
“tình tiết hình sự” như sau: “Tình tiết hình sự”
là những biểu hiện của tội phạm bao gồm những biểu hiện của hành vi phạm tội, những
điều kiện, đặc điểm của người phạm tội, những hoàn cảnh, tình huống, đối tượng có
ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm qua đó phản ánh tính nguy hiểm của tội phạm, TNHS của người phạm tội phản ánh quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm cũng như chính sách hình sự của Nhà nước
2 Phân loại “tình tiết hình sự”
Người ta có thể có nhiều cách phân loại các “tình tiết hình sự”:
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2+ Căn cứ vào các biểu hiện của tội phạm
thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP),
có thể phân biệt:
- Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội
phạm tội;
- Tình tiết thuộc khách thể của tội phạm;
- Tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội
phạm;
- Tình tiết thuộc chủ thể của tội phạm và
nhân thân người phạm tội
+ Căn cứ vào ý nghĩa, tầm quan trọng của
các tình tiết đối với CTTP cụ thể và hậu quả
pháp lí khi các tình tiết thoả mn dấu hiệu
CTTP cũng như các điều luật quy định, có thể
phân biệt thành:
- Tình tiết định tội;
- Tình tiết định khung;
- Tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS;
- Tình tiết loại trừ TNHS;
- Tình tiết miễn TNHS;
-
+ Căn cứ vào ý nghĩa, tầm quan trọng của
các tình tiết đối với mỗi trường hợp phạm tội
cụ thể, có thể phân biệt thành:
- Tình tiết giảm nhẹ TNHS;
- Tình tiết tăng nặng TNHS
Nhưng cách phân loại phổ biến và có ý
nghĩa nhất (hơn nữa theo cách quy định tại
khoản 3 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 BLHS)
thì các “tình tiết hình sự” được phân thành ba
loại sau:
2.1 Tình tiết định tội
Tình tiết định tội là những tình tiết, biểu
hiện của tội phạm phù hợp với các dấu hiệu
định tội (dấu hiệu CTTP cơ bản) của tội cụ thể
trong BLHS
Hiện nay, trong khoa học luật hình sự,
khái niệm về định tội (định tội danh) còn chưa
thống nhất.(1) Theo chúng tôi, định tội (hay
định tội danh) là hoạt động nhận thức, là quá trình xem xét, xác định hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện có là tội phạm hay không (nếu có là tội gì) trên cơ sở đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi với các dấu hiệu của CTTP, tìm ra sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện với CTTP
cụ thể trong BLHS Nếu các dấu hiệu trong CTTP cụ thể được thoả mn thì hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện là hành vi phạm tội và hành vi đó mang tội danh mà CTTP đó phản ánh
Tình tiết định tội là tình tiết thực tế của vụ
án cụ thể được sử dụng để xác định người phạm tội trong vụ án đó đ phạm tội gì Đó là những tình tiết thoả mn dấu hiệu định tội đ
được quy định trong luật.(2)
Các “tình tiết hình sự” luôn gắn với sự kiện phạm tội, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội và những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội Khi các tình tiết phù hợp và thoả mn dấu hiệu CTTP cơ bản của tội phạm cụ thể trong BLHS sẽ cho phép xác định được người phạm tội đ phạm tội gì, theo điều nào trong BLHS
Ví dụ, xem xét trường hợp người đ có hành vi dùng vũ lực đối với người khác Dùng vũ lực
đối với người khác là dùng sức mạnh vật chất tấn công người khác; mặc dù hành vi dùng vũ lực là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể; mặc
dù bản chất của sự tấn công là bất hợp pháp Cho dù tình tiết “dùng vũ lực”, “tấn công” phù hợp với dấu hiệu “dùng vũ lực”, “tấn công” trong CTTP của tội hiếp dâm (Điều 111), tội cướp tài sản (Điều 133) nhưng cái đó vẫn chưa nói lên điều gì Khi xem xét, làm rõ những tình tiết khác như: Việc dùng vũ lực
được thực hiện bởi người là nam giới; việc dùng vũ lực nhằm “đè bẹp”, “làm tê liệt” sự
Trang 3kháng cự của người là nữ giới để “giao cấu”
với người đó - “giao cấu với người phụ nữ trái
với ý muốn của họ” Những tình tiết này cho
thấy hành vi dùng vũ lực (nói trên) phù hợp
và thoả mn các dấu hiệu CTTP của tội
hiếp dâm Điều đó cho phép khẳng định
người có hành vi nói trên đ phạm tội hiếp
dâm (Điều 111) Trường hợp trên được tiếp
tục xem xét và xác định nạn nhân của tội
phạm là em gái 15 tuổi - nạn nhân của tội
phạm là trẻ em thì hành vi phạm tội hiếp
dâm trong trường hợp này phù hợp và thoả
mn các dấu hiệu CTTP của tội hiếp dâm
trẻ em (Điều 112)
Như vậy, ý nghĩa định tội của các tình tiết
thể hiện ở chỗ các tình tiết của tội phạm phù
hợp và thoả mn dấu hiệu CTTP của tội cụ thể
trong BLHS Các tình tiết đó cho phép xác
định được người phạm tội đ phạm tội gì, theo
điều nào trong BLHS
2.2 Tình tiết định khung hình phạt
Tình tiết định khung hình phạt là những
tình tiết của tội phạm phù hợp và thoả mn
dấu hiệu định khung hình phạt (CTTP giảm
nhẹ hoặc tăng nặng) của những tội cụ thể
trong BLHS
Do tính đa dạng của tội phạm, bên cạnh
CTTP cơ bản (của một loại tội) nhà làm luật
còn quy định thêm các dấu hiệu phản ánh tội
phạm có tính nguy hiểm cho x hội cao hoặc
thấp với những khung hình phạt nặng hoặc
nhẹ khác nhau so với khung hình phạt của
CTTP cơ bản Những dấu hiệu đó được gọi là
dấu hiệu (yếu tố) định khung hình phạt Khi
các tình tiết của tội phạm không những thoả
mn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) mà còn
thoả mn dấu hiệu có thêm trong CTTP giảm
nhẹ hoặc tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung
hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ
khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng Ví dụ, các tình tiết trong hành vi phạm tội giết người của A không những thoả mn dấu hiệu mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể, chủ thể của tội giết người (khoản 2
Điều 93) mà còn thoả mn dấu hiệu (có thêm phản ánh tính nguy hiểm của tội phạm cao hơn) quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 93 Trường hợp này sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với A từ khoản 2 sang khoản 1 Điều 93 BLHS Các tình tiết đó được gọi là tình tiết định khung hình phạt Nói cách khác, đó chính là các tình tiết có ý nghĩa định khung hình phạt đối với tội phạm
2.3 Tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng TNHS
Ngoài ý nghĩa định tội, định khung hình phạt, các tình tiết của tội phạm còn phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể (trong khung hình phạt); phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội và qua đó phản ánh mức độ TNHS của người phạm tội Do vậy, các tình tiết này
được BLHS quy định làm căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội
Các tình tiết có ý nghĩa quyết định hình phạt là các tình tiết được quy định tại Điều 46
và Điều 48 BLHS Hành vi phạm tội cụ thể với những tình tiết thực tế của nó thoả mn dấu hiệu giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS đ được quy định tại hai điều luật này thì mức độ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu theo
đó cũng giảm xuống hoặc tăng lên đáng kể so với các trường hợp khác trong phạm vi khung hình phạt áp dụng với người phạm tội Ngoài
ra, một số tình tiết còn được quy định thành nguyên tắc xử lí đối với tội phạm, bắt buộc toà
án phải xem xét khi quyết định biện pháp xử lí
Trang 4đối với người phạm tội Đó là các tình tiết
được quy định tại Điều 3, Điều 69 BLHS hoặc
các tình tiết như phạm nhiều tội, phạm tội ở
giai đoạn chuẩn bị, phạm tội ở giai đoạn chưa
đạt , việc quyết định hình phạt đối với người
phạm tội có tình tiết này bắt buộc toà án phải
căn cứ vào những quy định tại Điều 50, Điều 52
BLHS Các “tình tiết hình sự” trong trường
hợp này chính là những căn cứ để toà án dựa
vào đó lựa chọn hình phạt phù hợp để hình
phạt đạt được mục đích khi áp dụng đối với
người phạm tội
3 Vai trò và mối quan hệ của các “tình
tiết hình sự”
Các “tình tiết hình sự” bao gồm nhiều
loại, có nội dung phản ánh những biểu hiện
khác nhau của tội phạm Nó phản ánh tính
chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; phản
ánh điều kiện khách quan, chủ quan ảnh
hưởng đến hành vi phạm tội; phản ánh không
gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh tội phạm
xảy ra Mặt khác, các tình tiết của tội phạm
còn phản ánh những đặc điểm nhất định,
những phẩm chất cá nhân cũng như hoàn cảnh
đặc biệt của người phạm tội
Các “tình tiết hình sự” có vai trò quan
trọng trong việc xác định và xử lí tội phạm
Các tình tiết được nhà làm luật sử dụng để
phản ánh tội phạm, xây dựng những CTTP với
những khung hình phạt khác nhau; xây dựng
các quy định về các tình tiết giảm nhẹ hay
tăng nặng TNHS, phản ánh mức độ TNHS
khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể
(trong khung hình phạt) Đồng thời các tình
tiết của tội phạm còn được nhà làm luật sử
dụng để xây dựng các chế định liên quan đến
tội phạm và hình phạt cũng như những nguyên
tắc, đường lối xử lí tội phạm
Các “tình tiết hình sự” được nhà giải thích
luật sử dụng để phân biệt các tội phạm khác nhau; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tội trong cùng loại tội; làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức
độ TNHS của các trường hợp phạm tội cụ thể Các “tình tiết hình sự” được người áp dụng luật sử dụng làm căn cứ để định tội, định khung cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh, định khung hình phạt hay quyết định hình phạt không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không
đạt được mục đích khi áp dụng đối với người phạm tội
Trong BLHS, các “tình tiết hình sự” có sự biểu hiện hết sức đa dạng Mỗi tình tiết có ý nghĩa cũng như mức độ phản ánh khác nhau Mỗi tội phạm cụ thể bao giờ cũng là sự tổng hợp của nhiều tình tiết khác nhau Đối với vụ
án cụ thể cần phải xác định rõ vị trí, ý nghĩa pháp lí của mỗi “tình tiết hình sự” là tình tiết
định tội, định khung hình phạt hay giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS để sử dụng chúng hợp
lí Vận dụng không đúng các tình tiết này có thể dẫn đến việc định tội hoặc định khung hình phạt sai Vận dụng không đúng các “tình tiết hình sự” khi quyết định hình phạt có thể dẫn đến hậu quả là hình phạt đ tuyên quá nặng hoặc quá nhẹ đối với người phạm tội Sự phân biệt rõ các “tình tiết hình sự” là tình tiết
định tội, định khung hay giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS chỉ đối với tội cụ thể Một tình tiết
có thể là tình tiết định tội của tội này nhưng lại
là tình tiết định khung hình phạt của tội khác
và đối với tội khác nữa nó lại chỉ là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS Ví dụ: Tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết
định tội của tội trộm cắp, tội công nhiên
Trang 5chiếm đoạt tài sản hay nhiều tội phạm khác
Nhưng đối với tội cướp hay tội cướp giật tài
sản, nó chỉ là tình tiết định khung tăng
nặng (khoản 2 Điều 133, Điều 135 BLHS)
Còn đối với tội cố ý gây thương tích hoặc
nhiều tội khác nữa thì tình tiết “gây hậu
quả nghiêm trọng” lại chỉ là tình tiết tăng
nặng TNHS
Trong vụ án thường có nhiều tình tiết,
thậm chí các tình tiết có ý nghĩa trái ngược
nhau Ví dụ: Trường hợp vừa có tình tiết “gây
hậu quả nghiêm trọng” lại vừa có tình tiết “tự
nguyện sửa chữa”, “bồi thường thiệt hại” hoặc
“khắc phục hậu quả”; hoặc trường hợp vừa có
nhiều tình tiết tăng nặng nhưng đồng thời lại
vừa có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS Do
vậy, phải xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng
và ảnh hưởng của các tình tiết đối với tội
phạm Mỗi tình tiết cần được đánh giá riêng lẻ
đồng thời còn phải được đánh giá tổng hợp
trong mối liên hệ của toàn bộ vụ án Bởi lẽ, tội
phạm là thể thống nhất không thể chia cắt, tất
cả các tình tiết - biểu hiện của tội phạm đều
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trường hợp
vụ án có nhiều tình tiết thì tất cả các tình tiết
đó điều phải được xem xét, đánh giá tổng hợp;
các tình tiết có ý nghĩa trái ngược nhau thì
phải xem xét xem tình tiết nào có ý nghĩa
nhiều hơn
Mỗi “tình tiết hình sự” không có ý nghĩa
như nhau đối với mọi tội phạm và mọi trường
hợp phạm tội Ví dụ, tình tiết “phạm tội vì
hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải
do mình tự gây ra” “Hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn” nói đến trong tình tiết này thường là
khó khăn về kinh tế Do vậy, người có khó
khăn đặc biệt về kinh tế mà phạm tội xâm
phạm sở hữu, có tính chiếm đoạt như tội trộm cắp, tội cướp giật thì tình tiết “vì hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn ” có thể được xem xét giảm nhẹ TNHS Còn nếu vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế nhưng người phạm tội lại phạm tội huỷ hoại tài sản hay tội giết người, tội cố ý gây thương tích thì tình tiết “vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ” trong trường hợp này không có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội
Sự khác nhau giữa các tình tiết định tội,
định khung và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là ở chỗ: Các tình tiết định tội, định khung chỉ riêng biệt cho từng tội phạm; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS có thể áp dụng cho tất cả các tội hoặc cho nhiều tội khác nhau Tình tiết định tội được phản ánh trong CTTP cơ bản của mỗi loại tội Tình tiết
định khung hình phạt được phản ánh trong CTTP giảm nhẹ hay tăng nặng của mỗi loại tội Còn các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được quy định chung tại Điều 46 và
Điều 48 BLHS
Đối với mỗi tội phạm cụ thể, tình tiết đ là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không còn được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS Bởi vì, tình tiết khi đ được
sử dụng (và sử dụng một cách triệt để) trong việc xử lí tội phạm thì nó không còn cơ sở để
sử dụng cho lần tiếp theo Nếu mỗi tình tiết của tội phạm lại được sử dụng hai lần hoặc nhiều hơn hai lần thì lần thứ hai và những lần tiếp sau đều là việc sử dụng không có cơ sở
Điều đó dẫn đến hậu quả là giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS đối với người phạm tội một cách không có căn cứ Và như vậy cũng chính
là vi phạm nguyên tắc pháp chế và các nguyên
Trang 6tắc khác của luật hình sự
Đối với mỗi tội phạm cụ thể, các tình tiết
có ý nghĩa độc lập trong việc phản ánh tội
phạm Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một
số tình tiết cụ thể chỉ có ý nghĩa hay thể hiện
đầy đủ ý nghĩa của nó khi kết hợp với các tình
tiết khác Ví dụ: Tình tiết “phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” Đây là
trường hợp có hai tình tiết cụ thể kết hợp với
nhau tạo thành một tình tiết có ý nghĩa về mặt
hình sự Tình tiết “phạm tội lần đầu” chỉ có ý
nghĩa giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội
nếu việc “lần đầu” phạm tội đó “thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng” Cũng tương tự như vậy,
tại Điều 95 BLHS, tình tiết “phạm tội trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có
ý nghĩa định tội khi kết hợp với tình tiết “do
hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn
nhân đối với người đó hoặc đối với người thân
thích của người đó”
Mỗi tội phạm đều là thể thống nhất của
các tình tiết Các tình tiết của tội phạm luôn
có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau Các
tình tiết phải được xem xét, đánh giá một cách
độc lập, riêng rẽ nhưng đồng thời cũng phải
cân nhắc, đánh giá chúng trong mối liên hệ
biện chứng của toàn bộ vụ án Có như vậy mới
xác định được rõ vị trí, ý nghĩa cũng như ảnh
hưởng của chúng đối với tội phạm để từ đó có
biện pháp xử lí thoả đáng, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật
4 Phân biệt “tình tiết hình sự” và dấu
hiệu pháp lí của tội phạm
“Tình tiết hình sự” là những tình tiết thực
tế của tội phạm Nó là những biểu hiện cụ thể
của tội phạm hoặc những biểu hiện có liên
quan trực tiếp đến hành vi nguy hiểm cho x
hội có ý nghĩa về mặt hình sự khi giải quyết TNHS đối với người thực hiện Còn dấu hiệu của tội phạm là những tình tiết cụ thể của tội phạm được quy định trong BLHS, là dấu hiệu pháp lí bắt buộc của tội phạm
Hành vi phạm tội có thể bao gồm rất nhiều tình tiết thực tế khác nhau (có ý nghĩa
về mặt hình sự) nhưng không phải tất cả những tình tiết ấy đều là dấu hiệu pháp lí (bắt buộc) của tội phạm Tuy nhiên, có những tình tiết thực tế của hành vi phạm tội giống nhau hay phù hợp với dấu hiệu CTTP, dấu hiệu định khung hình phạt của loại tội phạm đó hoặc dấu hiệu giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đ được quy định trong BLHS Trường hợp này, tình tiết hình sự và các dấu hiệu của tội phạm là trùng nhau Đó chính là trường hợp có sự
đồng nhất giữa các tình tiết thực tế của hiện tượng khách quan với các dấu hiệu của khái niệm pháp lí trong luật hình sự Nhà làm luật khi quy định tội phạm đ lựa chọn những tình tiết thực tế điển hình của hiện tượng x hội điển hình phản ánh vào trong luật hình
sự Thông qua nhà làm luật, một số tình tiết
đặc trưng, điển hình của tội phạm trở thành những dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hình phạt hay dấu hiệu giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS./
(1).Xem: - TSKH Lê Cảm, “Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự”, Nxb Công an nhân dân, năm 2000, tr.11
- PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), “Từ
điển giải thích thuật ngữ luật học”, Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr.47
(2).Xem: - PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), “Từ
điển giải thích thuật ngữ luật học", Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr.116