1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo vấn đề tình tiết hình sự trong bộ luật hình sự

6 159 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 94,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các tình tiết trong BLHS, đặc biệt các tình tiết quy định tại Điều 46 và Điều 48 BLHS, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm “tình tiết hình sự” như sau: “Tình tiết hình sự” là những

Trang 1

Nguyễn Văn Hương *

1 Khái quát chung

Từ “tình tiết” được sử dụng rộng ri không

chỉ trong ngôn ngữ hàng ngày, trong các lĩnh

vực khác nhau của đời sống x hội mà còn

được sử dụng rộng ri cả trong lĩnh vực pháp

luật Khái niệm “tình tiết hình sự” chúng tôi

nêu trong bài viết này chỉ bao gồm những tình

tiết có ý nghĩa hình sự được quy định trong Bộ

luật hình sự (BLHS) BLHS năm 1999 bao gồm

344 điều luật thì đ có 12 điều luật với 25 lần

sử dụng thuật ngữ này BLHS năm 1999 (cũng

như BLHS năm 1985) còn dành riêng hai điều

luật quy định về các tình tiết giảm nhẹ và tăng

nặng trách nhiệm hình sự (TNHS)

Như vậy, “tình tiết hình sự” bao gồm

những nội dung gì? Trong BLHS, các tình tiết

giảm nhẹ TNHS (Điều 46) và các tình tiết

tăng nặng TNHS (Điều 48) với sự quy định

chưa đầy đủ đ có tới 66 tình tiết, chưa kể

trong các điều luật về các tội phạm cụ thể còn

quy định nhiều tình tiết định khung hình phạt

khác nhau

Hành vi được xác định là tội phạm thì

các tình tiết, biểu hiện của nó phải được làm

rõ để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm để

xử lí một cách thoả đáng Hơn nữa, khi quyết

định hình phạt, toà án “ cân nhắc tính chất

và mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi

phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình

tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS” (Điều 45

BLHS) Cân nhắc tính chất và mức độ nguy

hiểm cho x hội của tội phạm thực chất là việc

xem xét và đánh giá các tình tiết tạo nên tính

nguy hiểm của tội phạm Những tình tiết đó

có thể là tình tiết thuộc về hành vi phạm tội, thuộc về đối tượng tác động của tội phạm, thuộc về nhận thức, thái độ của người phạm tội đối với việc phạm tội, thuộc về những đặc

điểm riêng biệt, phẩm chất cá nhân của người phạm tội Những tình tiết đó có thể được quy

định là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS (khoản 1 Điều 46 và khoản 1 Điều 48 BLHS) Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS thì “ Toà án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ ” Như vậy, để hiểu

và vận dụng đúng thì cần có một khái niệm chung thống nhất về các tình tiết trong BLHS Nghiên cứu các tình tiết trong BLHS, đặc biệt các tình tiết quy định tại Điều 46 và Điều

48 BLHS, chúng tôi tạm đưa ra khái niệm

“tình tiết hình sự” như sau: “Tình tiết hình sự”

là những biểu hiện của tội phạm bao gồm những biểu hiện của hành vi phạm tội, những

điều kiện, đặc điểm của người phạm tội, những hoàn cảnh, tình huống, đối tượng có

ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm qua đó phản ánh tính nguy hiểm của tội phạm, TNHS của người phạm tội phản ánh quan điểm của Nhà nước ta về tội phạm cũng như chính sách hình sự của Nhà nước

2 Phân loại “tình tiết hình sự”

Người ta có thể có nhiều cách phân loại các “tình tiết hình sự”:

* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội

Trang 2

+ Căn cứ vào các biểu hiện của tội phạm

thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm (CTTP),

có thể phân biệt:

- Tình tiết thuộc mặt khách quan của tội

phạm tội;

- Tình tiết thuộc khách thể của tội phạm;

- Tình tiết thuộc mặt chủ quan của tội

phạm;

- Tình tiết thuộc chủ thể của tội phạm và

nhân thân người phạm tội

+ Căn cứ vào ý nghĩa, tầm quan trọng của

các tình tiết đối với CTTP cụ thể và hậu quả

pháp lí khi các tình tiết thoả mn dấu hiệu

CTTP cũng như các điều luật quy định, có thể

phân biệt thành:

- Tình tiết định tội;

- Tình tiết định khung;

- Tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS;

- Tình tiết loại trừ TNHS;

- Tình tiết miễn TNHS;

-

+ Căn cứ vào ý nghĩa, tầm quan trọng của

các tình tiết đối với mỗi trường hợp phạm tội

cụ thể, có thể phân biệt thành:

- Tình tiết giảm nhẹ TNHS;

- Tình tiết tăng nặng TNHS

Nhưng cách phân loại phổ biến và có ý

nghĩa nhất (hơn nữa theo cách quy định tại

khoản 3 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 BLHS)

thì các “tình tiết hình sự” được phân thành ba

loại sau:

2.1 Tình tiết định tội

Tình tiết định tội là những tình tiết, biểu

hiện của tội phạm phù hợp với các dấu hiệu

định tội (dấu hiệu CTTP cơ bản) của tội cụ thể

trong BLHS

Hiện nay, trong khoa học luật hình sự,

khái niệm về định tội (định tội danh) còn chưa

thống nhất.(1) Theo chúng tôi, định tội (hay

định tội danh) là hoạt động nhận thức, là quá trình xem xét, xác định hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện có là tội phạm hay không (nếu có là tội gì) trên cơ sở đối chiếu các tình tiết thực tế của hành vi với các dấu hiệu của CTTP, tìm ra sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện với CTTP

cụ thể trong BLHS Nếu các dấu hiệu trong CTTP cụ thể được thoả mn thì hành vi nguy hiểm cho x hội đ thực hiện là hành vi phạm tội và hành vi đó mang tội danh mà CTTP đó phản ánh

Tình tiết định tội là tình tiết thực tế của vụ

án cụ thể được sử dụng để xác định người phạm tội trong vụ án đó đ phạm tội gì Đó là những tình tiết thoả mn dấu hiệu định tội đ

được quy định trong luật.(2)

Các “tình tiết hình sự” luôn gắn với sự kiện phạm tội, phản ánh tính chất và mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi phạm tội và những đặc điểm riêng biệt của người phạm tội Khi các tình tiết phù hợp và thoả mn dấu hiệu CTTP cơ bản của tội phạm cụ thể trong BLHS sẽ cho phép xác định được người phạm tội đ phạm tội gì, theo điều nào trong BLHS

Ví dụ, xem xét trường hợp người đ có hành vi dùng vũ lực đối với người khác Dùng vũ lực

đối với người khác là dùng sức mạnh vật chất tấn công người khác; mặc dù hành vi dùng vũ lực là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể; mặc

dù bản chất của sự tấn công là bất hợp pháp Cho dù tình tiết “dùng vũ lực”, “tấn công” phù hợp với dấu hiệu “dùng vũ lực”, “tấn công” trong CTTP của tội hiếp dâm (Điều 111), tội cướp tài sản (Điều 133) nhưng cái đó vẫn chưa nói lên điều gì Khi xem xét, làm rõ những tình tiết khác như: Việc dùng vũ lực

được thực hiện bởi người là nam giới; việc dùng vũ lực nhằm “đè bẹp”, “làm tê liệt” sự

Trang 3

kháng cự của người là nữ giới để “giao cấu”

với người đó - “giao cấu với người phụ nữ trái

với ý muốn của họ” Những tình tiết này cho

thấy hành vi dùng vũ lực (nói trên) phù hợp

và thoả mn các dấu hiệu CTTP của tội

hiếp dâm Điều đó cho phép khẳng định

người có hành vi nói trên đ phạm tội hiếp

dâm (Điều 111) Trường hợp trên được tiếp

tục xem xét và xác định nạn nhân của tội

phạm là em gái 15 tuổi - nạn nhân của tội

phạm là trẻ em thì hành vi phạm tội hiếp

dâm trong trường hợp này phù hợp và thoả

mn các dấu hiệu CTTP của tội hiếp dâm

trẻ em (Điều 112)

Như vậy, ý nghĩa định tội của các tình tiết

thể hiện ở chỗ các tình tiết của tội phạm phù

hợp và thoả mn dấu hiệu CTTP của tội cụ thể

trong BLHS Các tình tiết đó cho phép xác

định được người phạm tội đ phạm tội gì, theo

điều nào trong BLHS

2.2 Tình tiết định khung hình phạt

Tình tiết định khung hình phạt là những

tình tiết của tội phạm phù hợp và thoả mn

dấu hiệu định khung hình phạt (CTTP giảm

nhẹ hoặc tăng nặng) của những tội cụ thể

trong BLHS

Do tính đa dạng của tội phạm, bên cạnh

CTTP cơ bản (của một loại tội) nhà làm luật

còn quy định thêm các dấu hiệu phản ánh tội

phạm có tính nguy hiểm cho x hội cao hoặc

thấp với những khung hình phạt nặng hoặc

nhẹ khác nhau so với khung hình phạt của

CTTP cơ bản Những dấu hiệu đó được gọi là

dấu hiệu (yếu tố) định khung hình phạt Khi

các tình tiết của tội phạm không những thoả

mn dấu hiệu định tội (CTTP cơ bản) mà còn

thoả mn dấu hiệu có thêm trong CTTP giảm

nhẹ hoặc tăng nặng sẽ cho phép chuyển khung

hình phạt áp dụng đối với người phạm tội từ

khung hình phạt của CTTP cơ bản sang khung hình phạt của CTTP giảm nhẹ hoặc CTTP tăng nặng Ví dụ, các tình tiết trong hành vi phạm tội giết người của A không những thoả mn dấu hiệu mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể, chủ thể của tội giết người (khoản 2

Điều 93) mà còn thoả mn dấu hiệu (có thêm phản ánh tính nguy hiểm của tội phạm cao hơn) quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 93 Trường hợp này sẽ cho phép chuyển khung hình phạt áp dụng đối với A từ khoản 2 sang khoản 1 Điều 93 BLHS Các tình tiết đó được gọi là tình tiết định khung hình phạt Nói cách khác, đó chính là các tình tiết có ý nghĩa định khung hình phạt đối với tội phạm

2.3 Tình tiết giảm nhẹ và tình tiết tăng nặng TNHS

Ngoài ý nghĩa định tội, định khung hình phạt, các tình tiết của tội phạm còn phản ánh mức độ nguy hiểm khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể (trong khung hình phạt); phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục của người phạm tội và qua đó phản ánh mức độ TNHS của người phạm tội Do vậy, các tình tiết này

được BLHS quy định làm căn cứ quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Các tình tiết có ý nghĩa quyết định hình phạt là các tình tiết được quy định tại Điều 46

và Điều 48 BLHS Hành vi phạm tội cụ thể với những tình tiết thực tế của nó thoả mn dấu hiệu giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS đ được quy định tại hai điều luật này thì mức độ TNHS mà người phạm tội phải gánh chịu theo

đó cũng giảm xuống hoặc tăng lên đáng kể so với các trường hợp khác trong phạm vi khung hình phạt áp dụng với người phạm tội Ngoài

ra, một số tình tiết còn được quy định thành nguyên tắc xử lí đối với tội phạm, bắt buộc toà

án phải xem xét khi quyết định biện pháp xử lí

Trang 4

đối với người phạm tội Đó là các tình tiết

được quy định tại Điều 3, Điều 69 BLHS hoặc

các tình tiết như phạm nhiều tội, phạm tội ở

giai đoạn chuẩn bị, phạm tội ở giai đoạn chưa

đạt , việc quyết định hình phạt đối với người

phạm tội có tình tiết này bắt buộc toà án phải

căn cứ vào những quy định tại Điều 50, Điều 52

BLHS Các “tình tiết hình sự” trong trường

hợp này chính là những căn cứ để toà án dựa

vào đó lựa chọn hình phạt phù hợp để hình

phạt đạt được mục đích khi áp dụng đối với

người phạm tội

3 Vai trò và mối quan hệ của các “tình

tiết hình sự”

Các “tình tiết hình sự” bao gồm nhiều

loại, có nội dung phản ánh những biểu hiện

khác nhau của tội phạm Nó phản ánh tính

chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm; phản

ánh điều kiện khách quan, chủ quan ảnh

hưởng đến hành vi phạm tội; phản ánh không

gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh tội phạm

xảy ra Mặt khác, các tình tiết của tội phạm

còn phản ánh những đặc điểm nhất định,

những phẩm chất cá nhân cũng như hoàn cảnh

đặc biệt của người phạm tội

Các “tình tiết hình sự” có vai trò quan

trọng trong việc xác định và xử lí tội phạm

Các tình tiết được nhà làm luật sử dụng để

phản ánh tội phạm, xây dựng những CTTP với

những khung hình phạt khác nhau; xây dựng

các quy định về các tình tiết giảm nhẹ hay

tăng nặng TNHS, phản ánh mức độ TNHS

khác nhau của các trường hợp phạm tội cụ thể

(trong khung hình phạt) Đồng thời các tình

tiết của tội phạm còn được nhà làm luật sử

dụng để xây dựng các chế định liên quan đến

tội phạm và hình phạt cũng như những nguyên

tắc, đường lối xử lí tội phạm

Các “tình tiết hình sự” được nhà giải thích

luật sử dụng để phân biệt các tội phạm khác nhau; đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của các trường hợp phạm tội trong cùng loại tội; làm rõ mức độ nguy hiểm cũng như mức

độ TNHS của các trường hợp phạm tội cụ thể Các “tình tiết hình sự” được người áp dụng luật sử dụng làm căn cứ để định tội, định khung cũng như quyết định hình phạt đối với người phạm tội Nếu thiếu những tình tiết cụ thể, những căn cứ xác đáng có thể dẫn đến việc định tội danh, định khung hình phạt hay quyết định hình phạt không đúng, không phù hợp, làm cho hình phạt không

đạt được mục đích khi áp dụng đối với người phạm tội

Trong BLHS, các “tình tiết hình sự” có sự biểu hiện hết sức đa dạng Mỗi tình tiết có ý nghĩa cũng như mức độ phản ánh khác nhau Mỗi tội phạm cụ thể bao giờ cũng là sự tổng hợp của nhiều tình tiết khác nhau Đối với vụ

án cụ thể cần phải xác định rõ vị trí, ý nghĩa pháp lí của mỗi “tình tiết hình sự” là tình tiết

định tội, định khung hình phạt hay giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS để sử dụng chúng hợp

lí Vận dụng không đúng các tình tiết này có thể dẫn đến việc định tội hoặc định khung hình phạt sai Vận dụng không đúng các “tình tiết hình sự” khi quyết định hình phạt có thể dẫn đến hậu quả là hình phạt đ tuyên quá nặng hoặc quá nhẹ đối với người phạm tội Sự phân biệt rõ các “tình tiết hình sự” là tình tiết

định tội, định khung hay giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS chỉ đối với tội cụ thể Một tình tiết

có thể là tình tiết định tội của tội này nhưng lại

là tình tiết định khung hình phạt của tội khác

và đối với tội khác nữa nó lại chỉ là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS Ví dụ: Tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết

định tội của tội trộm cắp, tội công nhiên

Trang 5

chiếm đoạt tài sản hay nhiều tội phạm khác

Nhưng đối với tội cướp hay tội cướp giật tài

sản, nó chỉ là tình tiết định khung tăng

nặng (khoản 2 Điều 133, Điều 135 BLHS)

Còn đối với tội cố ý gây thương tích hoặc

nhiều tội khác nữa thì tình tiết “gây hậu

quả nghiêm trọng” lại chỉ là tình tiết tăng

nặng TNHS

Trong vụ án thường có nhiều tình tiết,

thậm chí các tình tiết có ý nghĩa trái ngược

nhau Ví dụ: Trường hợp vừa có tình tiết “gây

hậu quả nghiêm trọng” lại vừa có tình tiết “tự

nguyện sửa chữa”, “bồi thường thiệt hại” hoặc

“khắc phục hậu quả”; hoặc trường hợp vừa có

nhiều tình tiết tăng nặng nhưng đồng thời lại

vừa có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS Do

vậy, phải xác định rõ ý nghĩa, tầm quan trọng

và ảnh hưởng của các tình tiết đối với tội

phạm Mỗi tình tiết cần được đánh giá riêng lẻ

đồng thời còn phải được đánh giá tổng hợp

trong mối liên hệ của toàn bộ vụ án Bởi lẽ, tội

phạm là thể thống nhất không thể chia cắt, tất

cả các tình tiết - biểu hiện của tội phạm đều

có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Trường hợp

vụ án có nhiều tình tiết thì tất cả các tình tiết

đó điều phải được xem xét, đánh giá tổng hợp;

các tình tiết có ý nghĩa trái ngược nhau thì

phải xem xét xem tình tiết nào có ý nghĩa

nhiều hơn

Mỗi “tình tiết hình sự” không có ý nghĩa

như nhau đối với mọi tội phạm và mọi trường

hợp phạm tội Ví dụ, tình tiết “phạm tội vì

hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải

do mình tự gây ra” “Hoàn cảnh đặc biệt khó

khăn” nói đến trong tình tiết này thường là

khó khăn về kinh tế Do vậy, người có khó

khăn đặc biệt về kinh tế mà phạm tội xâm

phạm sở hữu, có tính chiếm đoạt như tội trộm cắp, tội cướp giật thì tình tiết “vì hoàn cảnh

đặc biệt khó khăn ” có thể được xem xét giảm nhẹ TNHS Còn nếu vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về kinh tế nhưng người phạm tội lại phạm tội huỷ hoại tài sản hay tội giết người, tội cố ý gây thương tích thì tình tiết “vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ” trong trường hợp này không có ý nghĩa giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội

Sự khác nhau giữa các tình tiết định tội,

định khung và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS là ở chỗ: Các tình tiết định tội, định khung chỉ riêng biệt cho từng tội phạm; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS có thể áp dụng cho tất cả các tội hoặc cho nhiều tội khác nhau Tình tiết định tội được phản ánh trong CTTP cơ bản của mỗi loại tội Tình tiết

định khung hình phạt được phản ánh trong CTTP giảm nhẹ hay tăng nặng của mỗi loại tội Còn các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được quy định chung tại Điều 46 và

Điều 48 BLHS

Đối với mỗi tội phạm cụ thể, tình tiết đ là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không còn được coi là tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS Bởi vì, tình tiết khi đ được

sử dụng (và sử dụng một cách triệt để) trong việc xử lí tội phạm thì nó không còn cơ sở để

sử dụng cho lần tiếp theo Nếu mỗi tình tiết của tội phạm lại được sử dụng hai lần hoặc nhiều hơn hai lần thì lần thứ hai và những lần tiếp sau đều là việc sử dụng không có cơ sở

Điều đó dẫn đến hậu quả là giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS đối với người phạm tội một cách không có căn cứ Và như vậy cũng chính

là vi phạm nguyên tắc pháp chế và các nguyên

Trang 6

tắc khác của luật hình sự

Đối với mỗi tội phạm cụ thể, các tình tiết

có ý nghĩa độc lập trong việc phản ánh tội

phạm Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, một

số tình tiết cụ thể chỉ có ý nghĩa hay thể hiện

đầy đủ ý nghĩa của nó khi kết hợp với các tình

tiết khác Ví dụ: Tình tiết “phạm tội lần đầu và

thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” Đây là

trường hợp có hai tình tiết cụ thể kết hợp với

nhau tạo thành một tình tiết có ý nghĩa về mặt

hình sự Tình tiết “phạm tội lần đầu” chỉ có ý

nghĩa giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội

nếu việc “lần đầu” phạm tội đó “thuộc trường

hợp ít nghiêm trọng” Cũng tương tự như vậy,

tại Điều 95 BLHS, tình tiết “phạm tội trong

trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có

ý nghĩa định tội khi kết hợp với tình tiết “do

hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn

nhân đối với người đó hoặc đối với người thân

thích của người đó”

Mỗi tội phạm đều là thể thống nhất của

các tình tiết Các tình tiết của tội phạm luôn

có quan hệ chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau Các

tình tiết phải được xem xét, đánh giá một cách

độc lập, riêng rẽ nhưng đồng thời cũng phải

cân nhắc, đánh giá chúng trong mối liên hệ

biện chứng của toàn bộ vụ án Có như vậy mới

xác định được rõ vị trí, ý nghĩa cũng như ảnh

hưởng của chúng đối với tội phạm để từ đó có

biện pháp xử lí thoả đáng, đúng người, đúng

tội, đúng pháp luật

4 Phân biệt “tình tiết hình sự” và dấu

hiệu pháp lí của tội phạm

“Tình tiết hình sự” là những tình tiết thực

tế của tội phạm Nó là những biểu hiện cụ thể

của tội phạm hoặc những biểu hiện có liên

quan trực tiếp đến hành vi nguy hiểm cho x

hội có ý nghĩa về mặt hình sự khi giải quyết TNHS đối với người thực hiện Còn dấu hiệu của tội phạm là những tình tiết cụ thể của tội phạm được quy định trong BLHS, là dấu hiệu pháp lí bắt buộc của tội phạm

Hành vi phạm tội có thể bao gồm rất nhiều tình tiết thực tế khác nhau (có ý nghĩa

về mặt hình sự) nhưng không phải tất cả những tình tiết ấy đều là dấu hiệu pháp lí (bắt buộc) của tội phạm Tuy nhiên, có những tình tiết thực tế của hành vi phạm tội giống nhau hay phù hợp với dấu hiệu CTTP, dấu hiệu định khung hình phạt của loại tội phạm đó hoặc dấu hiệu giảm nhẹ, tăng nặng TNHS đ được quy định trong BLHS Trường hợp này, tình tiết hình sự và các dấu hiệu của tội phạm là trùng nhau Đó chính là trường hợp có sự

đồng nhất giữa các tình tiết thực tế của hiện tượng khách quan với các dấu hiệu của khái niệm pháp lí trong luật hình sự Nhà làm luật khi quy định tội phạm đ lựa chọn những tình tiết thực tế điển hình của hiện tượng x hội điển hình phản ánh vào trong luật hình

sự Thông qua nhà làm luật, một số tình tiết

đặc trưng, điển hình của tội phạm trở thành những dấu hiệu định tội, dấu hiệu định khung hình phạt hay dấu hiệu giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS./

(1).Xem: - TSKH Lê Cảm, “Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự”, Nxb Công an nhân dân, năm 2000, tr.11

- PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), “Từ

điển giải thích thuật ngữ luật học”, Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr.47

(2).Xem: - PGS.TS Nguyễn Ngọc Hoà (chủ biên), “Từ

điển giải thích thuật ngữ luật học", Nxb Công an nhân dân, năm 1999, tr.116

Ngày đăng: 19/12/2015, 21:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm