Khái niệmTổ hợp hương là một tổ hợp gồm nhiều cấu tử được cho lẫn vào nhau theo một tỉ lệ thích hợp, chúng tác dụng lẫn nhau làm cho mùi của từng cấu tử riêng biệt bị biếnđổi hoàn toàn v
Trang 1CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔ HỢP HƯƠNG
Trang 21.1 Khái niệm
Tổ hợp hương là một tổ hợp gồm nhiều cấu tử được cho lẫn vào nhau theo một tỉ
lệ thích hợp, chúng tác dụng lẫn nhau làm cho mùi của từng cấu tử riêng biệt bị biếnđổi hoàn toàn và chúng tạo ra một mùi hương nhất định gây ra cảm giác dễ chịu
Một tổ hợp thơm bao gồm rất nhiều chất với những tỉ lệ khác nhau, ví dụ: tổ hợphương hồng có thể có nhiều cấu tử như sau:
Hoa hồng đông phương (oriental rose)
Trên cùng một đơn công nghệ, thì khi thay đổi thành phần, hàm lượng các cấu tử
hay thay thế cấu tử này bằng cấu tử khác thì mùi của hợp hương cũng sẽ bị thay đổi 1.2 Vài nét chung về tổ hợp hương.
Để có một tổ hợp hương có hương vị đặc trưng dùng cho thực phẩm, mỹ phẩm,thuốc lá… các nhà sản xuất không dùng một chất (thường được gọi là đơn hương) màthông thường là một tập hợp nhiều chất, có khi tới hàng trăm chất (thường gọi là tổhợp hương) Hỗn hợp các chất này tạo ra một mùi hương vừa êm dịu vừa đặc trưng.Đây là một bí quyết của các nhà sản xuất để tạo ra loại sản phẩm đặc trưng chiếm lĩnhtrên thị trường, phù hợp được thị hiếu của người tiêu dùng
Tuy nhiên về nguyên tắc trong một tổ hợp thơm, hương chủ đạo thường bao gồmchất thơm (đơn hương chủ đạo), chất kích hương, chất định hương, dung môi và đôikhi có những chất phụ (chất phụ trợ) khác
Người làm công tác “phối hương” cũng phải được đào tạo và phải có nhiều kinhnghiệm thì mới có những đơn pha chế “hoàn hảo”
Nhưng cũng nên lưu ý tổ hợp hương sau khi được phối từ các chất tinh khiết phảilưu lại một thời gian ít nhất 8 ÷ 10 ngày trong một dung dịch để đồng nhất mùi hương
và xét xem có sự biến đổi không, có kết tủa, đục hay biến mùi…(cũng cần chú ýkhông khí, ánh sáng, nhiệt độ, … cũng làm biến mùi thơm điển hình Khi sản xuất đãđược ổn định rồi mới được xuất xưởng.)
Trang 3 Nước tinh khiết.
Chất màu để tạo màu cho sản phẩm
Chất phụ trợ khác
1.4 Các bước tiến hành pha chế một tổ hợp hương
Để tiến hành sản xuất một tổ hợp hương, nước hoa, nước thơm… chúng ta cầnthực hiện theo các bước sau:
Pha chế tạo tổ hợp
Pha chế thêm chất màu, dung môi, chất phụ trợ
Lưu trữ một thời gian nhất định
Đóng gói và xuất xưởngChuẩn bị các chất, phương tiện và công thức pha chế
Pha chế tạo mùi chủ thể
Trang 4CHƯƠNG II: CẤU TRÚC TỔ HỢP HƯƠNG
Một tổ hợp hương cơ bản được cấu trúc từ sự kết hợp của 4 yếu tố chính sau:
2.1 Mùi chủ thể
Là cơ sở thơm của tổ hợp hương, nó là yếu tố quan trọng nhất của tổ hợp hương
Cơ sở thơm xác định hương thơm chủ yếu của tổ hợp hương thơm về sắc thái cũngnhư cường độ Mùi chủ thể là mùi của cấu tử chính trong tổ hợp hương (thường là mùicủa một loại hoa nào đó…)
2.2 Chất khuếch tán
Tăng cường sự bay hơi của các mùi thơm (điều khiển sự bay hơi của các cấu tử)Loại này gồm các andehyt và các tinh dầu có chứa terpen (như tinh dầu họcitrus), chúng có nhiệt độ sôi thấp
2.3 Chất hỗ trợ
Có tác dụng cải thiện mùi thơm, làm cho mùi êm dịu, đậm đà hơn và mang sắcthái riêng của tổ hợp thơm Có hai loại chất hỗ trợ:
- Chất điều phối mùi: tác dụng điều hòa mùi
- Chất biến điệu: Làm thay đổi mùi nhẹ và tạo cho mùi có vẻ điệu riêng
Chất hỗ trợ sẽ bổ sung những khiếm khuyết cho mùi chủ đạo
mà trong phân tử có chứa N và P
Tuy nhiên mỗi chất định hương chỉ thích hợp đối với một số tổ hợp hương cốđịnh
Chọn chất định hương sao cho nó không làm biến đổi mùi của tổ hợp hương mộtcách đáng kể mà đôi khi nó còn hỗ trợ cho mùi của tổ hợp hương, phải có tính giữđược mùi lâu và dư vị còn lại khi bay hết mùi thì dễ chịu
Khi cho chất định hương quá mức qui định nó sẽ làm biến đổi mùi của tổ hợphương
VD: Hoa hồng đỏ (red rose)
Trang 6CHƯƠNG III: XÂY DỰNG TỔ HỢP HƯƠNG
Để xây dựng một tổ hợp hương ta cần nắm vững các nguyên tắc sau:
- Tập hợp các mùi có tính chất cơ bản gần giống nhau, nhờ tính chất này mà người ta
có thể tạo nên mùi thơm hoàn toàn của một loài hoa hay mùi hương tưởng tượng
- Thay đổi tỉ lệ của các cấu tử chủ yếu trong tổ hợp hương sẽ thu được 1 tổ hợp hươngmới với mùi khác đi
- Thêm các chất hỗ trợ, khuếch tán để tăng cường sắc thái và cường độ của mùi thơm
- Cho các chất cố định mùi để giữ mùi lâu
3.2 Lựa chọn nguyên liệu.
Sự lựa chọn nguyên liệu cấu tạo nên một hợp hương tùy theo mục đích sử dụng,các loại sản phẩm cần ướp hương và ứng dụng của nó Ví dụ:
- Hương nước hoa cần có đặc tính thơm, quyến rũ, hương lưu lâu…
- Chất thơm dùng trong nước rửa chén: dùng mùi chanh hay chanh pha camngọt Chất thơm không chỉ có tác dụng dễ chịu đối với người rửa mà cònphải được loại đi khi chén bát đã được rửa sạch, hoặc nếu còn lưu thì cũngkhông làm người sử dụng thấy khó chịu
- Chất thơm dùng trong bột giặt quần áo: Với chất thơm này thì ngược lại, saukhi quần áo đã được giặt sạch thì mùi hương phải lưu lại trên quần áo để tạomùi dễ chịu
3.3 Phối hợp giữa các nốt hương.
Để dễ hình dung, chúng ta lấy ví dụ tạo một hợp hương dành cho quần áo:
Nốt hương đầu được cấu tạo bởi các đơn hương dễ bốc như: limonene,
dihydromyrcenol, linalool, rượu phenylethanol… do tính dễ bốc hơi, chúng biến mấtnhanh chóng khi giặt xả liên tiếp và không lưu lại trên quần áo
Nốt hương giữa được cấu tạo bởi các đơn hương có độ bốc hơi trung bình, ít hòa
tan trong nước nhất, chúng được lưu lại trên quần áo với nồng độ tương đối thấp
Trang 7Nốt hương nền được cấu tạo bởi các đơn hương có sức căng hơi và độ hòa tan rất
yếu như: galoxolid, fixolid (xạ có nhiều vòng), aldehyd, hexyl cinnamic… Do đặcđiểm này, chúng có ái lực mạnh trên quần áo và cho quần áo một mùi thơm trongnhiều ngày
3.4 Triển khai một hợp hương.
Khi thiết lập công thức một số tổ hợp hương, việc đầu tiên là phải xác định loạihương, người tạo hương phải khảo sát và tìm hiểu các loại nguyên liệu cần thiết bằngkinh nghiệm hoặc tài liệu có sẵn để có một định hướng phối chế tương đối chính xác.Tiếp theo, người tạo hương phải điều chỉnh để có một hợp hương đạt yêu cầu hươngtính và các chỉ tiêu kĩ thuật cần thiết
Các tính chất của các cấu tử trong hợp hương, sự chuyển mùi hương giữa các nốthương đầu, giữa và nền phải được thực hiện hài hòa trên nền đối tượng sử dụng, tươngtác giữa các thành phần trong hương, tính hài hòa, tính lưu hương trong khuôn khổ sửdụng được giới hạn và ràng buộc chặt chẽ, để đảm bảo sự ổn định cả về các chỉ tiêuhóa lý và hương thơm, tính tương quan giữa chất lượng giá thành sản phẩm
Cần quan tâm đến sự biến đổi của một số cấu tử riêng biệt do phản ứng đồngphân hóa hay thủy phân các ester làm thay đổi một ít hương thơm Ví dụ, trong hợphương có chứa linalylacetate, linalylacetate có thể bị thủy phân cho linalool một phần,
sự biến đổi này không làm thay đổi độ ổn định về mùi Tuy nhiên, người phối hươngvẫn thích dùng ester hơn do sự hiện diện của nó làm hương ngát hơn
Khi có sự biến đổi hương (mùi, màu…), người phối hương phải xác định đượcphạm vi sử dụng cũng như dự đoán các nguyên nhân gây ra, sau đó tiến hành các thínghiệm đưa hợp hương vào các nền tương ứng và lưu trữ trong các điều kiện mà kháchhàng đòi hỏi để phát hiện các yếu tố làm ảnh hưởng, từ đó điều chỉnh hợp hương hoặcđưa vào những khuyến cáo cần thiết Những kiểm nghiệm về độ ổn định thường kéodài, có thể đến một vài tháng, nên người phối chế có thể dựa vào kinh nghiệm củamình để điều chỉnh, khi sự điều chỉnh do kinh nghiệm không hữu hiệu mới thực hiệncác bước trên Người phối chế có thể dựa vào các tài liệu liên quan của các tác giảnhư:
- Mc Donough, Morel, Pickhall, Karas và Wynne nghiên cứu phản ứng giữacác nguyên liệu của hợp hương lên sự ổn định của hệ nhũ
- Wight, Tomlinson và Kirmeier nghiên cứu các phản ứng sinh ra trong bìnhchứa bằng polyethylene khi chứa sản phẩm chứa hương
Trang 8- Kilmer nghiên cứu vấn đề phối hương cho xà phòng và bột giặt tổng hợp.
- Foresman và Pantaleoni nghiên cứu về những hợp chất thích hợp trongaerosol khi sử dụng hương
- Sagarin và balsam nghiên cứu về các sản phẩm tạo dạng cho tóc khi chứathioglycolat có phối hương…
Hiện nay, nhiều phương pháp phân tích dụng cụ đã được sử dụng trong lĩnh vựchương liệu, như sắc kí khí, phổ hồng ngoại, quang phổ UV, khối phổ, phổ cộng hưởng
từ hạch nhân…Với những phương tiện này người ta phát hiện ra được rất nhiều cấu tửmang hương và xác định các tính chất của chúng, giúp cho việc phối chế và sử dụng
dễ dàng hơn
3.5 Một số hương có mùi hoa đơn giản
3.5.1 Ví dụ một số đơn phối chế hương hoa đơn giản
Trong những công thức từ 1 đến 6, tác giả đã dùng 8 cấu tử cơ bản, thay đổilượng, dùng vết musk keton làm chất định hương để tạo 6 mẫu hương đơn giản
Bảng 1: Một số công thức hương hoa đơn giản
TT Thành phần
1Lilac(%)
2Rose(%)
3Muguet(%)
4Jasmin(%)
5Violet(%)
6Carnation(%)
Với 6 công thức trên chúng ta thấy, mỗi hợp hương hoa chỉ gồm hai hay ba cấu
tử chủ lực Ngoài ra, các cấu tử còn lại chỉ đóng vai trò phối hợp, được sử dụng vớilượng nhỏ Ví dụ:
- Lilac được xây dựng chủ yếu trên các cấu tử: terpineol, hydroxycitronellal
Trang 9Để xây dựng các công thức của các loại hương này, lượng cấu tử sử dụng đóngvai trò rất quan trọng, phải điều phối như thế nào để các cấu tử chính dù được sử dụnglượng lớn, cường độ hương cũng như độ dai quá mạnh vẫn không át hẳn những cấu tửcần khác hiện diện trong hợp hương.
9Muguet
10Jasmin
11Violet
12carnationNền căn bản (lấy từ 6
Trang 10Với mỗi loại hợp hương, ngoài nền chiếm 65%, người ta them vào một số cấu tửkhác với hàm lượng tương đối lớn để định hướng gu hương tương ứng Ví dụ:
- Lilac (công thức 7): thêm cinnamic alcol (11%), Helitropin (12%)
- Rose (công thức 8): thêm geraniol (15%), geranium oil (7%), cinnemic(6%)
- Muguet (công thức 9): Linalool (8%), cinnamic alcol (7%)
- Jasmin (công thức 10): Linalyl acetate (7%), Indol (10% trong diethylphthalate) (8%), Linalool (7%), Ylang ylang oil (7%)
- Violet (công thức 11): Methylionone (13%), Heliotropine (7%),Linalylacetate (7%)
- Carnation (công thức 12): Iso eugenol (14%), Heliotropine (5%)
Ngoài những cấu tử có hàm lượng đã nêu trong các hợp hương, còn có một sốcấu tử khác được thêm vào hợp hương để làm hợp hương hài hòa, đầy đặn và có độbốc đủ tạo hấp dẫn cho người tiêu dùng
3.6 Khảo sát những công thức đã được công bố
Khi phối chế hương, người ta có thể sử dụng những công thức hương có sẵn vàphối chế lại theo ý thích, thực ra với những công thức đã công bố, chúng ta cũng khólòng phối chế để có sản phẩm có hương tính giống hệt Việc phối chế rất dễ gặp trởngại như:
- Nguồn nguyên liệu khác nhau, khó có thể tìm đúng những nguồn nguyênliệu như công thức
- Trong phối chế đòi hỏi tính chuyên môn cao, vì việc phối chế không ởmức độ đơn thuần pha chế mà còn đòi hỏi óc tưởng tượng phong phú,khướu giác tinh tế trong việc nhận xét từng nốt hương, sự hài hòa giữacác cấu tử trong hợp hương…
Sau đây là 7 đơn phối chế của các chuyên gia tên tuổi trên cùng một loại hương
“chypre perfume oil” từ đơn phối chế 13 đến 18, công thức 13 của Poucher, 14 củaCola, 15 của Gerhardt, 16 của Burger, 17 của Winter, 18 của Mann và 19 là công thứctập hợp từ những đề nghị và những tính chất đặc trưng chính rút từ 6 công thức kia.Sáu đơn phối chế đầu đã sử dụng 56 nguyên liệu khác nhau, chứng tỏ sự phức tạpcủa mỗi hợp hương Tuy nhiên, ta có thể thêm bớt lượng hoặc thay thế bằng một sốnguyên liệu cơ bản tương ứng Vì vậy việc đầu tiên là phải tìm được những nhómnguyên liệu cơ bản trong đơn phối chế
Trang 11Nhóm thứ nhất là nhóm trung tâm của mọi loại hương chypre bao gồm oakmoss,patchouki, vetiver (hay vetiverol), sandalwood (hay santalol), bergamot và methylionone, hàm lượng chiếm từ khoảng 28 đến 55% cho mỗi công thức, những cấu tử này
có thể thay thế cho nhau
Ví dụ trong công thức 15, linalool và linalyl acetate được dùng thay thế choberganmot (tỷ lệ nhóm thứ nhất tăng lên đến 65%), methyllionone thay cho vetiver.Nhóm kế tiếp nhóm citrus (citrus notes), với cấu tử chính là Bergamot Ngoài ra
có lavender oil, sweet orange oil, hydroxycitronellal, linalool và linalylacetat
Nhóm tạo tính bốc cho hợp hương: rose, jasmine hay lilac…
Nhóm cuối là những chất có tác dụng định hương, kéo dài thời gian sống củahương như resin, tincture, fixative, chất tạo vị ngọt Có thể sử dụng một số chất kháccũng có tác dụng định hương như musk thiên nhiên hay tổng hợp: labdanum, benzoinstyrax, vanillin và vanilla, coumarin và tonka… phối trộn với oakmoss
Bảng 3: Công thức phối chế của của hương chypre.
Trang 12-Ghi chú: 1- hỗn hợp dầu và nhựa; 2- vetiverol thay thế cho vetiver oil; 3- santalol
thay thế cho sandalwood oil; 4- có thể dùng lượng lớn linalool và linalyl acetate thaythế cho bergamot oil; 5- công thức có tên là sesquiterpenless oil; 6- công thức tên làionone 100% được thay thế cho methyl ionone; 7- tương tự như Jasmin absolute 1%
và jasmine synthetic 2%; 8- tương tự như rose absolute 1% và rose synthetic 8%; tương tự như rose absolute 1% và rose synthetic 3,5%; 10- nitromusks gồm có muskambrette, musk keton và musk xylol; 11- độ dai của dung dịch chiết không cho, có thểđảm bảo từ 24 : 128; 12- ambreine trong đơn phối chế 18 và riêng biệt; 13- dùng 10%resinoid
9-Như vậy, để xây dựng một hợp hương dạng này phải tiến hành các bước sau:
Trang 13- Đầu tiên tìm kiếm tài liệu để định hướng chọn công thức cơ bản làm điểmtựa cho các phối chế tiếp theo.
- Lựa chọn và nhóm hợp một số công thức mà điều kiện thực tế có khả năngkhả thi được
- Đánh giá, nhận xét từng công thức lại một lần nữa để chọn một công thức cơbản
- Xem xét, đánh giá hương tính của từng cấu tử một trong công thức, từ đóđiều phối lượng chất và thêm một số nguyên liệu mới nếu cần
- Cuối cùng thăm dò ý kiến người tiêu dùng để tìm những điểm yếu của hợphương để điều chỉnh lại đến khi hợp hương hoàn chỉnh
3.7 Phân tích và tìm điều kiện thích nghi
Giả sử chúng ta đã chọn được công thức đơn phối chế, ví dụ công thức 20, và đãtiến hành phối chế thành công, như vậy ta đã hoàn chỉnh bước thứ nhất Tiếp theo tacần tiến hành trong phòng thí nghiệm để xác định các hiện tượng liên quan như độ ổnđịnh, khả năng gây dị ứng và đánh giá giá thành sản phẩm Trong việc sản xuất hươngdầu, chủ yếu sử dụng phương pháp phối trộn Nguyên liệu dạng rắn được cân trước,sau đó cho vào nguyên liệu dạng lỏng và khuấy đều đến khi tan hoàn toàn, không nênkhuấy quá mạnh để tránh bọt khí, có thể gia nhiệt nhẹ để chất rắn hòa tan nhanh hơnnếu cần
Khả năng gây dị ứng
Tiến hành rà soát theo nguyên liệu ban đầu, loại những nguyên liệu nghi ngờ cókhả năng gây dị ứng Qua nghiên cứu, Klarmann thống kê cho thấy khả năng gây dịứng từ hương rất hiếm, nên vấn đề này cũng ít gây hạn chế trong việc phối chế
Giá thành sản phẩm
Xem xét để tìm những nguyên liệu thay thế thích hợp, có thể làm hạ giá thành sảnphẩm bằng cách thay thế những nguyên liệu thiên nhiên đắt tiền bằng nguyên liệu tổnghợp
Sản phẩm phối chế từ công thức 20 có giá tương đối thấp (theo American market
1969, giá nguyên liệu thô 1lb thay đổi trong khoảng 3$ đến 25$/lb), có thể sử dụngtrong nước tắm, kem mỹ phẩm… Giá có thể hạ 50% nếu người ta thay một phần hoặchoàn toàn dịch ngâm của tonquin musk bằng macrocyclic musk (ethylene brassylate).Sản phẩm từ công thức 17 và 18 chủ yếu dùng cho các sản phẩm mỹ phẩm
Trang 14Người ta cũng có thể hạ giá bằng cách thay sandalwood oil bằng patchouli,balsam, guaiacwood và cedarwood, thay hoàn toàn tonquin musk bằng macrocyclicmusk.
Trong công thức 18 và 19, giá thành giảm khi dùng linalylacetat thay chobergamot oil (thời điểm 1960 giá rất cao), hiện nay được thay bằng terpinyl acetat.Sandalwood và patchouli oil được thay một phần hay toàn phần, musk xylol đượcdùng để thay thế cho những musk khác, ngay cả tinh dầu chanh lemon oil cũng bị thaytrong công thức 25 bằng hỗn hợp lemon terpen và citrat
Trong công thức 25, các floral absolutes bị giới hạn do rất đắt, vanilla beantincture và vanillin cũng có thể thay thế bằng cấu tử rẻ hơn
Để bù vào lượng vanillin, tỷ lệ coumarin được tăng lên và giữ lại musk tonquin
0
4,0
13,0
14,0
0
13,0
7,0 15,0
13,0
Terpinyl acetate - - - 17,
0
17,0
Trang 15-Rose de mai
absolute
0,5
-Rose specialty 3,
0
3,5
Resin bezoin 2,
0
2,0
Resin opoponax 3,
0
3,0
2,5
3,5
0
1,0
0
7,0
Ethylen
brassylate, 10%
- 2,5
2,5
0
3,0
-Musk ambrett 2,
0
2,0
0
3,0
5
0,5
Trang 16anthranilate
0,2
0,2
0,5
- Methyl anthranilat không bền trong xà phòng trắng, hydroxycitronellalkhông bền trong kem, son môi, dầu massage, brillantine, lotion mật vàshampoo lỏng
Trong công thức 20 đến 24 khi dùng trong mỹ phẩm, cần phải thay đổi một sốchất để tránh biến đổi màu
Trong công thức 26, tất cả các tác chất đổi màu đều bị loại trước trong công thứccũng như một vài yếu tố về kinh tế cũng đã được phân tích trước đó để điều chỉnh chothích hợp
Trong công thức 21, tinh dầu bergamot không được dùng vì nhạy sáng và đượcthay thế bằng lemon và lime oil, linalyl acetate và lavender…
Trang 17Sản phẩm từ công thức 22 có hương đậm hơn và ngọt hơn các hương từ các côngthức trước Hương đậm do tỷ lệ sandalwod và patchouli oil cao hơn, tỷ lệ benzoin vàopoponax cao và có mặt coumarin và vanillin tạo mùi ngọt
Trong công thức 23 có mặt một số cấu tử mới có hương tính khác các nguyênliệu trước Hydroxycitronellal phối hợp rất tốt với linalool và nốt citrus; methyl iononeảnh hưởng nốt woody và floral; ylang oil phối hợp tốt với jasmin và rose hoặc indole
và linalool vào hợp hương làm tăng giá trị hương tính
Trong công thức 24, bằng cách cho thêm chất mới, ta sẽ được một tông mới, tinh
tế hơn cho hợp hương, như styrallyl actat làm tăng tính bốc Methyl ionone và ylangylang oil đã dùng trong công thức 29, lại có tác dụng kéo dài độ bền hương
3.8 Hòa tan hương liệu.
Trong các công thức nêu trên, không có hương dầu nào tan trong nước Thực tế
có rất ít hương dầu tan trong nước, độ tan dao động từ 0,1÷1% ngoại trừ phenylethylalcol Trong quá trình phối chế hương vào các sản phẩm ( mỹ phẩm …), người tanhận thấy cần phải hòa tan hương ( tính dầu ) vào nước Một số công trình nghiên cứulàm tăng tính tan hương dầu trong nước cho thấy:
- Một số hương gốc terpen có chứa một số cấu tử chứa oxy tan trong nước, cóhợp chất có thể tan đến 2% nhưng do quá trình tách bằng lôi cuốn hơi nước hoặc dùngdung môi phân cực để chiết tách thì phần giàu oxy bị giữ lại trong nước hoặc trongdung môi phân cực
- Tất cả các hương dầu có thể hòa tan bằng tỷ lệ các chết thích hợp Các loạihương dầu có chứa các loại nhựa cây hợp chất terpen, phải sử dụng lượng tác nhân hòatan lớn Ngược lại, hương dầu chỉ chứa chủ yếu hợp chất không terpen, rượu, hợp chất
có khối lượng phân tử thấp, hợp chất phân cực thì lượng tác nhân hòa tan sử dụng íthơn.Việc lựa chọn chất hòa tan phụ thuộc vào bản chất của chất hòa tan,tính chất củahương, thành phần của sản phẩm…
- Việc sử dụng những chất như xà phòng, bột giặt tổng hợp hay những hợpchất nhũ hóa thường dùng khác cũng làm tăng tính tan của hương dầu trong nước Một
số chất hoạt động bề mặt thuộc dẫn xuất polyoxyethylen của ester acid béo sorbitan vàngay cả ester acid béo sorbitan cũng được dùng khá thôngdụng(polyoxyethylenderivatives của sorbitanfatty acid esterrsvà sorbitan fatty acid esters) Những sản phẩmnày này được bán trên thị trường với tên thương mại là TWEENS và SPANS
3.9 Sự hòa hợp của hương
Trang 18Hương liệu là một thành phần rất quan trọng trong sản phẩm, đặc biệt là các sảnphẩm mỹ phẩm Hương có mặt trong hầu hết các sản phẩm, đặc biệt trong sản phẩmtẩy rửa và chăm sóc cá nhân Hương giúp làm át mùi nền và tạo mùi hấp dẫn cho sảnphẩm Những mùi nền trong sản phẩm cần phải che bao gồm:
- Mùi khó chịu do chất béo trong sản phẩm có thể bị oxy hóa cho aldehyd
- Mùi tanh cá của chất hoạt động bề mặt cationic, thường là dẫn xuất của cáchợp chất amin
- Mùi chua các acid béo, enzyme như lipase thủy phân các vết béo(bơ hay cácsản phẩm béo gốc sữa) cho các acid béo dây ngắn có mùi rất khó chịu
- Mùi của các polymer như polyvinyl dùng trong bột giặt để tránh sự chuyểnmàu
- Mùi từ các chất bẩn vây quần áo, mồ hôi…
Việc đưa hương vào sản phẩm mỹ phẩm phải thực hiện cẩn thận để hương kếthợp hài hòa vào sản phẩm, tạo hương tốt và không bị các thành phần trong sản phẩmlàm át hương Nếu sự hòa hợp hương trong sản phẩm không tốt sẽ gây hiện tượnggiảm hương, phân bố hương không đồng đều và dễ gây hiện tượng vữa sản phẩm dophối hương
Hợp hương phải bám chặt trên sản phẩm sử dụng, phóng thích từ từ và tạo hươngthơm trên nền đối tượng sửdụng hương Để đạt được yêu cầu này, người phối chế phảiquan tâm đến rất nhiều yếu tố, tùy theo từng loại sản phẩm cụ thể Ví dụ, sử dụnghương cho bột giặt
Hợp hương trong bột giặt có nhiệm vụ tạo hương thơm cho quần áo sau khi giặt.Hàm lượng hương sử dụng trong sản phẩm tẩy rửa rất thấp, đồng thời hương phải chịunhiều tác động như:
- Phần lớn các cấu tử trong hợp hương bị hòa tan trong nước giặt Chất hoạtđộng bề mặt càng có ái lực tốt với các hợp hương chứa nhiều cấu tử ưa béo làm tăng
độ hòa tan của hương nước
- Môi trường giặt quầnn áo thường kiềm(9.0÷10.5) và có chất tẩy trắng oxyhóa làm thủy phân các ester trong hương, nhất là các ester bậc 1, thành acid vàalcoltương ứng
- Trong bột giặt có tác nhân làm trắng TAED, chất này sẽ chuyển hóa ester,chẳng hạn như benzyl salicylat, một trong những chất định hướng có trong bột giặt,thành benzyl acetate
Trang 19
TAED
Benzyl salicylat Benzyl acetat
Ngày nay, người ta sử dụng một số phương pháp cải thiện hiệu quả sử dụng củahương liệu, để hương liệu bám lại dễ dàng và kiểm soát được quá trình giải phónghương thơm như:
- Sử dụng chất hấp thụ (hạt xốp làm cầu nối), trộn hợp hương với các chấthấp phụ như các polymer hữu cơ, các khoáng zeolit, silic hay đất sét
- Hợp hương được phân tán vào một chất tan trong nước như cyclodextrin(dạng hình lồng), sau đó hạt được hình thành hoặc bằng cách khử nước hoặc bằng cách
ép đùn hoặc bằng sự kết tinh vi tinh thể các hợp chất thơm, hợp hương sẽ được bảo vệbởi một tấm chắn polymer (dùng phương pháp hình thành các giọt tụ hay polymerhóa)
- Ùng chất tiền hương liệu:với những chất đầu có tính chất ít bốc hơi, bám tốtvào vật liệu, phân hủy hoặc phản ứng tạo ra các hương dễ bay hơi, như các estergeranyl hoặc neryl (họ ester allylic) trong sản phẩm làm mềm vải, các chất này thủyphân chậm chogeraniol hoặc nerol nên hương có thể tồn tại lâu
Hương dầu hòa hợp tốt nhất trong sản phẩm mỹ phẩm ở chu kỳ đầu tiên trongquá trình phối chế Hạn chế các quá trình nhiệt các cấu tử trong hương dầu có thể bịphân hủy hay thất thoát do bốc hơi Trong một số trường họp, người ta phối hợphương dầu sản phẩm mỹ phẩm bằng cách cho hương dầu vào tướng dầu có chứa chấtnhũ hóa, sau đó thực hiện quá trình phối trộn tạo nhũ, nhiệt độ có thể lên đến 85÷900C.Mỗi loại sản phẩm được phối một loại hương riêng biệt Tuy việc thiết lập mộtcông thức hương cho một loại sản phẩm rất phức tạp nhưng người ta có xu hướng thiết
kế những hợp hương có thể sử dụng cho nhiều sản phẩm khác nhau, nhằm mục đích hạgiá thành
Trang 20CHƯƠNG IV: XÂY DỰNG TỔ HỢP HƯƠNG HỒNG
4.1 Vài nét về hoa hồng
Tên khoa học: Rosa chinensis
Thuộc họ: Hoa hồng (Rosaceae).
Mô tả: Cây hoa hồng là loại cây thấp, lùn, có gai cong, lá hình lông cánh chim, mỗi
tàu có 3-5 lá nhỏ hình bầu dục Hoa có năm cánh sắc hồng, quả đặc, hình trứng hoặcvặn ốc
Bộ phận dùng: Hoa
Thành phần hóa học: Hoa có tinh dầu thơm
Từ xưa đến nay, hoa hồng được coi là
loài hoa đẹp và quí giá, là "Bà chúa củamuôn hoa", là biểu tượng của tình yêu, sựtôn trọng, lòng thành kính và của những điềutốt đẹp, cao thượng Ở Nhật Bản, trong cáccuộc triển lãm, hoa hồng bao giờ cũng chiếmngôi vị "Nữ hoàng của các loài hoa" ỞBulgari, đất nước được mệnh danh là "Xứ sởcủa hoa hồng" vì trồng nhiều hoa hồng nhấtthế giới, người ta có câu châm ngôn "Quínhư tinh dầu hoa hồng" để đánh giá một vậtnào đó có giá trị rất lớn Bởi vì phải cần đến
2000 cánh hoa cho ra 1gr tinh dầu hoa hồng người ta mới cất được một giọt tinh dầu(giá trị hơn cả vàng ròng) Người Hy Lạp cổ đại cho rằng hoa hồng là tặng phẩm quí