Thứ hai, BLHS năm 1999 không quy định hành vi xâm phạm quyền sáng chế phát minh trong chương "Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân" mà chuyển sang quy định tại chương “Các t
Trang 1Đỗ Đức Hồng Hà * iều 2 Hiến pháp Việt Nam năm 1992
quy định: "Nhà nước Cộng hoà x hội
chủ nghi Việt Nam là Nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân" Sứ mệnh
của Nhà nước ta là phục vụ lợi ích của nhân
dân Vì vậy trong mối quan hệ với công dân,
Nhà nước là sự đảm bảo quan trọng nhất,
quyết định nhất đối với các quyền tự do, dân
chủ của công dân Sự bảo đảm ấy được biểu
hiện trên nhiều phương diện khác nhau từ tổ
chức, kinh tế đến tư tưởng Nhưng theo
chúng tôi, phương diện trực tiếp nhất, hữu
hiệu nhất để bảo vệ quyền tự do dân chủ của
công dân là phương diện pháp lí
Đáp ứng đòi hỏi này, Bộ luật hình sự
(BLHS) Việt Nam ngay từ khi ra đời đL quy
định những hành vi xâm phạm quyền tự do
dân chủ của công dân là tội phạm Tuy
nhiên, để bảo vệ có hiệu quả hơn các quyền
tự do, dân chủ của công dân vì mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xL hội công bằng, dân chủ,
văn minh, ngày 21/12/1999, Quốc hội khoá
X đL thông qua BLHS mới ( gọi tắt là BLHS
năm 1999)
So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999
đL có một số điểm mới như sau:
1 Về phạm vi bảo vệ các quyền tự do
dân chủ của công dân
BLHS năm 1985 đL cụ thể hoá bằng các
quy định để bảo vệ 9 trong số 19 nhóm
quyền cơ bản của công dân được Nhà nước
ghi nhận và bảo vệ tại chương V Hiến pháp
năm 1992 gồm:
- Quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 119)
- Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân (Điều 120)
- Quyền được thông tin (Điều 121)
- Quyền bầu cử (Điều 122)
- Quyền lao động (Điều 123)
- Quyền tự do tín ngưỡng, quyền hội họp, lập hội (Điều 124)
- Quyền bình đẳng giữa nam và nữ (Điều 125)
- Quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh (Điều 126)
- Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 127)
So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999
về phạm vi bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân đL có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, BLHS năm 1999 quy định để bảo vệ thêm hai quyền là quyền ứng cử và quyền tự do tôn giáo (Điều 126 và Điều 129)
Thứ hai, BLHS năm 1999 không quy
định hành vi xâm phạm quyền sáng chế phát minh trong chương "Các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân" mà chuyển sang quy định tại chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế” thành hai
điều: Điều 170 (Tội vi phạm các quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công
Đ
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2nghiệp) và Điều 171 (Tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp), quy định này theo
chúng tôi là khoa học và chính xác hơn bởi
lẽ:
- Theo quy định tại Điều 60 Hiến pháp
năm 1992, Nhà nước đảm bảo cho công dân
quyền tác giả; quyền phát minh, sáng chế;
quyền sở hữu công nghiệp nhưng BLHS năm
1985 chỉ quy định bảo vệ quyền tác giả và
quyền sáng chế, phát minh còn quyền sở hữu
công nghiệp lại không được đề cập
- Hành vi xâm phạm quyền sáng chế,
phát minh khi sáng chế, phát minh được ứng
dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh và
đL được tổ chức hoặc cá nhân đăng kí quyền
sở hữu công nghiệp có tính nguy hiểm đáng
kể cho xL hội và cần bị coi là tội phạm vì nó
không chỉ xâm phạm đến quyền của công
dân đL được quy định tại Điều 60 Hiến pháp
năm 1992 mà còn xâm phạm đến quyền, lợi
ích của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
và xâm phạm đến trật tự quản lí kinh tế Đây
là cơ sở, là lí do để nhà làm luật quy định
hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
là tội phạm trong chương “Các tội xâm phạm
trật tự quản lí kinh tế” và người thực hiện
hành vi này sẽ bị xét xử theo Điều 170 (Tội
vi phạm các quy định về cấp văn bằng bảo
hộ quyền sở hữu công nghiệp) hoặc Điều
171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp)
Tuy nhiên, cũng như BLHS năm 1985,
BLHS năm 1999 vẫn còn chưa bao quát một
số quyền tự do dân chủ của công dân đL
được quy định trong Hiến pháp năm 1992
như:
- Quyền tham gia thảo luận các vấn đề
của cả nước và địa phương;
- Quyền tự do kinh doanh;
- Quyền học tập;
- Quyền nghiên cứu khoa học, kĩ thuật; sáng kiến cải tiến kĩ thuật, hợp lí hoá sản xuất; sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật;
- Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền biểu tình
2 Về quy định tội phạm Bên cạnh 9 tội đL được quy định trong BLHS năm 1985 là tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 123); tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124); tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều 125); tội xâm phạm quyền bầu cử của công dân (Điều 126); tội buộc người lao động thôi việc trái pháp luật (Điều 128); tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng (Điều 129); tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ (Điều 130); tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131); tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 132), về cơ bản vẫn
được giữ nguyên, BLHS năm 1999 đL quy
định bổ sung 4 tội mới là:
- Tội xâm phạm quyền ứng cử của công dân (Điều 126);
- Tội làm sai lệch kết quả bầu cử (Điều 127);
- Tội buộc cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật (Điều 128);
- Tội xâm phạm quyền tự do tôn giáo của công dân (Điều 129)
Các quy định mới này đL góp phần khắc phục những thiếu sót và mâu thuẫn trong BLHS năm 1985 và là cơ sở pháp lí để bảo vệ
có hiệu quả hơn quyền tự do, dân chủ của công dân
Trang 33 Về ranh giới giữa tội phạm và vi
phạm pháp luật khác
Nếu BLHS năm 1985 chưa xác định rõ
ranh giới giữa tội xâm phạm quyền tự do,
dân chủ của công dân với hành vi vi phạm
pháp luật khác thì điều này đL được khắc
phục trong BLHS năm 1999 Điều này thể
hiện ở 4 điểm sau đây:
Thứ nhất, Điều 121 BLHS năm 1985 quy
định: “Người nào chiếm đoạt thư, điện báo
hoặc có những hành vi trái pháp luật khác
xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện
thoại, điện báo của người khác” là phạm tội
Theo chúng tôi, quy định này không rõ ràng
và không phù hợp với thực tế Để khắc phục
điểm này, khoản 1 Điều 125 BLHS năm
1999 đL quy định: Một người chỉ bị coi là
phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư
tín, điện thoại, điện tín của người khác khi
họ đL bị xử lí kỉ luật hoặc đL bị xử phạt hành
chính về hành vi này mà còn vi phạm
Thứ hai, Điều 123 BLHS năm 1985 quy
định: “Người nào buộc người lao động thôi
việc trái pháp luật” dù chưa gây hậu quả
nghiêm trọng cũng đL bị coi là phạm tội
Theo chúng tôi, quy định này cũng không rõ
ràng và không phù hợp với thực tế Để khắc
phục điểm này, Điều 128 BLHS năm 1999
đL quy định: Một người chỉ bị coi là phạm
tội buộc người lao động, cán bộ, công chức
thôi việc trái pháp luật khi hành vi đó gây
hậu quả nghiêm trọng
Thứ ba, Điều 124 BLHS năm 1985 quy
định: “Người nào cản trở công dân thực hiện
quyền tự do, tín ngưỡng, quyền hội họp, lập
hội” là phạm tội cho dù họ chưa bị xử lí kỉ
luật hoặc cho dù họ chưa bị xử phạt hành
chính về hành vi này Theo chúng tôi, quy
định này cũng không rõ ràng và không phù hợp với thực tế Để khắc phục điểm này, khoản 1 Điều 129 BLHS năm 1999 quy định một người chỉ bị coi là phạm tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân khi họ đL bị
xử lí kỉ luật hoặc đL bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm
Thứ tư, Điều 126 BLHS năm 1985 quy
định: “Người nào xâm phạm quyền tác giả”
là phạm tội, cho dù chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa bị xử phạt hành chính và cũng chưa bị kết án về tội này Theo chúng tôi, quy định này cũng không rõ ràng và không phù hợp với thực tế Để khắc phục
điểm này, tại khoản 1 Điều 131 BLHS năm
1999 quy định: Một người chỉ bị coi là phạm tội xâm phạm quyền tác giả khi họ đL thực hiện một trong bốn hành vi dưới đây và đL gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đL bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy
định tại điều này hoặc đL bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm:
- Chiếm đoạt quyền tác giả;
- Mạo danh tác giả;
- Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm;
- Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm
Những nội dung vừa trình bày cho thấy ranh giới giữa tội phạm và vi phạm pháp luật khác đL được quy định rõ ràng trong BLHS năm 1999 Điểm mới này không những đL khắc phục được một số quy định bất hợp lí của BLHS năm 1985 mà còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật áp dụng đúng và thống nhất các quy định của BLHS, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, góp
Trang 4phần loại bỏ tiêu cực trong hoạt động tư
pháp, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân
4 Về phân hóa trách nhiệm hình sự
4.1 Theo quy định tại khoản 2 Điều 122
BLHS năm 1985 thì hành vi làm sai lệch kết
quả bầu cử cũng bị xét xử về tội xâm phạm
quyền bầu cử Nhưng BLHS năm 1999 đL
tách tội xâm phạm phạm quyền bầu cử của
công dân thành hai tội danh độc lập là tội
xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử
(Điều 126) và tội làm sai lệch kết quả bầu cử
(Điều 127)
4.2 Nếu hai tội trong BLHS năm 1985
chỉ được quy định một khung hình phạt (một
cấu thành tội phạm cơ bản) là tội xâm phạm
bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện
báo của người khác (Điều 121) và tội xâm
phạm quyền tác giả (Điều 126) thì trong
BLHS năm 1999, hình phạt của cả hai tội này
đều được tách thành hai khung hình phạt,
trong đó có một khung thuộc cấu thành tội
phạm cơ bản và một khung thuộc cấu thành
tội phạm tăng nặng Cụ thể là:
- Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư
tín, điện thoại, điện tín của người khác (Điều
125) có hai khung hình phạt:
+ Khung 1 (cấu thành cơ bản): Phạt cảnh
cáo, phạt tiền từ một triệu đồng đến năm
triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ
đến một năm
+ Khung 2 (cấu thành tăng nặng): Phạt
cải tạo không giam giữ từ một năm đến hai
năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm
nếu kèm theo một trong năm tình tiết tăng
nặng định khung là có tổ chức (điểm a); phạm tội nhiều lần (điểm c); lợi dụng chức
vụ, quyền hạn (điểm b); gây hậu quả nghiêm trọng (điểm d); tái phạm (điểm đ)
- Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) cũng có hai khung hình phạt:
+ Khung 1 (cấu thành cơ bản): Phạt tiền
từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu
đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm
+ Khung 2 (cấu thành tăng nặng): Phạt tù
từ sáu tháng đến ba năm nếu kèm theo một trong ba tình tiết tăng nặng định khung sau:
Có tổ chức (điểm a); phạm tội nhiều lần (điểm b); phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng (điểm c) Việc phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong BLHS năm 1999 đL góp phần cá thể hóa hình phạt, đáp ứng được đòi hỏi của thực tế Bởi lẽ, những trường hợp phạm tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác hay phạm tội xâm phạm quyền tác giả có tổ chức, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả rất nghiêm trọng cần phải bị xử phạt nặng hơn trường hợp phạm tội không có những tình tiết này
5 Về hình phạt chính 5.1 Theo quy định của BLHS năm 1999 thì đường lối xử lí đối với năm trên chín tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân có chiều hướng nghiêm khắc hơn Điều này được thể hiện ở bảng phân tích dưới
đây:
Trang 5STT Tội danh BLHS năm 1985 BLHS năm 1999
1
Tội bắt, giữ hoặc
giam người trái pháp
luật
Điều 119
* Khoản 1: Phạt cải tạo không giam giữ
đến 1 năm
* Khoản 2: Phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm
Điều 123
* Khoản 1: Phạt cải tạo không giam giữ
đến 2 năm
* Khoản 2: Phạt tù từ 1 năm đến 5 năm
2
Tội xâm phạm chỗ
ở của công dân
Điều 120
* Khoản 2: Phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
Điều 124
* Khoản2: Phạt tù từ 1 năm đến 3 năm
3
Tội xâm phạm bí
mật, an toàn thư
tín, điện thoại, điện
tín của người khác
Điều 121 (Không có khoản): Phạt tù từ 3 tháng
đến 1 năm
Điều 125
* Khoản 2: Phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm
4 Tội xâm phạm quyền
tác giả
Điều 126 (Không có khoản):
- Phạt cảnh cáo
- Phạt tiền đến 5 triệu đồng
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm
- Phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm
Điều 131
* Khoản 1:
- Bỏ hình phạt cảnh cáo
- Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu
đồng
- Phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm
* Khoản 2: Phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
5
Tội xâm phạm
quyền khiếu nại, tố
cáo
Điều 127
* Khoản 2: Phạt cải tạo không giam giữ
đến 2 năm
Điều 132
* Khoản 2: Phạt cải tạo không giam giữ
đến 3 năm
Những quy định mới này thể hiện rõ
quan điểm của Nhà nước ta là trừng trị
nghiêm khắc những hành vi xâm phạm
quyền tự do, dân chủ của công dân
5.2 BLHS năm 1999 bổ sung hình phạt
chính là hình phạt tiền trong tội xâm phạm
bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện
tín của người khác (khoản 1 Điều 125) với
mức từ một triệu đồng đến năm triệu đồng
Trong tình hình hiện nay, mở rộng phạm vi
áp dụng hình phạt tiền là cần thiết không
những nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội phạm, trừng trị và giáo dục người
phạm tội mà còn mang lại lợi ích cho xL
hội, giảm chi phí thi hành án phạt tù khi
chưa cần thiết
6 Về hình phạt bổ sung 6.1 Khác với BLHS năm 1985, BLHS năm
1999 đL quy định hình phạt bổ sung trong từng tội phạm cụ thể Điểm mới này giúp cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật được tiện lợi, thống nhất và chính xác hơn
6.2 Nếu BLHS năm 1985 chỉ quy định một hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ hai năm đến năm năm (Điều 128) thì BLHS năm 1999 đL quy định ba hình phạt
bổ sung có thể áp dụng đối với người phạm tội thuộc chương này Đó là:
(Xem tiếp trang 31)