1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo chế định về các nguyên tắc của luật hình sự việt nam

7 418 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 118,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiên cứu - trao đổi phạt bằng chế tài pháp lí hình sự tính phải bị xử lí về hình sự của hành vi, trong đó bao gồm cả tính phải chịu hình phạt và các hậu quả pháp lí hình sự khác của vi

Trang 1

nghiên cứu - trao đổi

chế định về Các nguyên tắc của luật hình sự việt Nam

TSKH Lê cảm*

iệc pháp điển hóa lần thứ hai luật hình

sự Việt Nam với Bộ luật hình sự

(BLHS) năm 1999 (được Quốc hội khóa X

kì họp thứ sáu thông qua ngày 21/12/1999

và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2000) đặt ra

trước các nhà khoa học pháp lí những

nhiệm vụ trong việc phân tích và lí giải để

làm sáng tỏ về mặt lí luận những vấn đề cần

được nghiên cứu Chính vì vậy, việc phân

tích một cách có hệ thống những vấn đề

xung quanh các nguyên tắc của luật hình sự

(như khái niệm nguyên tắc của luật hình sự

và số lượng các nguyên tắc của luật hình sự,

nội dung cơ bản và ý nghĩa của từng nguyên

tắc của luật hình sự) là một trong những

hướng nghiên cứu quan trọng để đảm bảo sự

nhận thức thống nhất và đúng đắn đối với tất

cả chúng ta, nhất là các luật gia, các cán bộ

khoa học và các cán bộ thực tiễn trong lĩnh

vực tư pháp hình sự Đó chính là lí do luận

chứng cho tính cấp thiết của đề tài bài báo

này

1 Khái niệm nguyên tắc của luật hình

sự

Hiện nay trong khoa học luật hình sự

của Việt Nam và của nước ngoài khi bàn về

khái niệm nguyên tắc của luật hình sự, giữa

các nhà luật hình sự học vẫn còn nhiều ý

kiến khác nhau Chẳng hạn như:

Theo TSKH Đào Trí úc, các nguyên tắc

của luật hình sự “là những tư tưởng chỉ đạo

và các định hướng đường lối cho toàn bộ

quá trình quy định tội phạm và hình phạt,

áp dụng pháp luật hình sự trong thực

tiễn” (1).

PGS.TS Kiều Đình Thụ viết: “Các

nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là các tư

tưởng chủ đạo, nền tảng của việc xây dựng

và thực hiện luật hình sự, phản ánh tính quy

luật của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”(2) Tác giả Ngô Ngọc Thủy thì lại quan niệm rằng: “Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự chính là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và

áp dụng pháp luật các quy định của luật hình sự vào đấu tranh phòng chống tội phạm”(3)

Giáo sư B.V Zđravômưxlôv (LB Nga) hiểu các nguyên tắc của luật hình sự là

“Những tư tưởng nền tảng được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật hình sự xác

định nội dung của nó nói chung hoặc của các chế định riêng biệt” (4)

Tuy nhiên, khi nghiên cứu các nguyên tắc của luật hình sự thì cần phải đảm bảo tính khoa học, trước hết cần phải định nghĩa một cách chính xác như thế nào là nguyên tắc (số ít), rồi sau đó mới liệt kê các nguyên tắc (số nhiều) Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm nguyên tắc của luật hình sự có thể được hiểu là tư tưởng chủ đạo

và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật hình sự (PLHS) cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng PLHS thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó

2 Số lượng các nguyên tắc của luật hình sự

Cũng như khái niệm nguyên tắc của luật hình sự, từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự khi bàn về số lượng các nguyên tắc của luật hình sự thì giữa các nhà khoa học cũng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau

ở Việt Nam, theo PGS.TS Kiều Đình

V

* Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 2

nghiên cứu - trao đổi

Thụ thì luật hình sự có 9 nguyên tắc; theo

TSKH Đào Trí úc (kể cả nguyên tắc dân

chủ XHCN) và theo tác giả Ngô Ngọc Thủy

(kể cả nguyên tắc kết hợp hài hòa chủ nghĩa

yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản cũng

như nguyên tắc cá thể hóa hình phạt), luật

hình sự có 7 nguyên tắc; theo PGS.TS Đỗ

Ngọc Quang, luật hình sự chỉ có 4 nguyên

tắc(5)

ở Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện

nay, theo các giáo sư N.F Kuzơnhetxôva và

giáo sư G.A Kriger, luật hình sự có 14

nguyên tắc (kể cả nguyên tắc trách nhiệm

đối với hành vi có lỗi được luật quy định và

nguyên tắc tiết kiệm sự trấn áp về hình

sự)(6) ; theo viện sĩ A.A.Piôntkôvxki và các

giáo sư A.A Gertxenzôn, N.Đ Đurmanôv,

luật hình sự có 9 nguyên tắc (kể cả nguyên

tắc tác động vào những điều kiện góp phần

thực hiện tội phạm)(7); theo viện sĩ V.N

Kuđriavtxev và tiến sĩ luật học X.C Kelina,

luật hình sự có 8 nguyên tắc (kể cả nguyên

tắc dân chủ)(8); theo giáo sư B.V

Zđravômưxlôv (kể cả nguyên tắc trách

nhiệm cá nhân và do lỗi cũng như nguyên

tắc dân chủ)(9) và giáo sư A.B Xakharôv (kể

cả nguyên tắc trách nhiệm đối với hành vi

cụ thể do luật quy định, trách nhiệm cá nhân

và do lỗi, sự thống nhất của các dấu hiệu nội

dung và các dấu hiệu hình thức trong các

chế định luật hình sự, thống nhất của sự

đánh giá về mặt pháp lí và về mặt đạo đức,

khả năng thay thế TNHS bằng các biện pháp

tác động xo hội, ngăn ngừa tội phạm và cải

tạo những người bị kết án, cá thể hóa - hợp

lí - tiết kiệm hình phạt)(10), luật hình sự có 7

nguyên tắc; theo giáo sư A.V Naumôv và

giáo sư IA.M Brainhin thì luật hình sự có 6

nguyên tắc(11); theo giáo sư N.I

Zagorôđnhikôv (kể cả nguyên tắc sự tham

gia của những người đại diện của nhân dân

vào việc áp dụng các quy phạm PLHS và

nguyên tắc đánh giá có tính chất phủ định

những hành vi bị coi là tội phạm)(12) và giáo

sư M.Đ Sagôrôđxki (kể cả nguyên tắc dân

chủ XHCN nghĩa là bình đẳng trước pháp

luật)(13), luật hình sự có 5 nguyên tắc Còn theo giáo sư IU.A Đemiđôv (kể cả nguyên tắc về sự phù hợp của trách nhiệm hình sự với tính chất nguy hiểm của bọn tội phạm và của người phạm tội, nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và "tiết kiệm” sự trấn áp về hình sự mà được hiểu là sự áp dụng nó chỉ trong trường hợp khi không thể đảm bảo

được việc cải tạo và giáo dục người có tội cũng như việc ngăn ngừa bằng biện pháp khác) (14), luật hình sự có 4 nguyên tắc Tuy nhiên, khi quy định số lượng các nguyên tắc của luật hình sự, nhà làm luật nhất thiết phải xuất phát từ các chức năng và nhiệm vụ mà ngành luật này thực hiện để nhận thức đúng nội dung cơ bản của chúng, vì các nguyên tắc của luật hình sự là nền tảng (cơ sở) chủ yếu của hoạt động sáng tạo pháp luật và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Nghiên cứu các quy định của PLHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng nó, chúng tôi cho rằng có thể xác định 7 nguyên tắc sau đây của luật hình sự: a) Nguyên tắc pháp chế; b) Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự; c) Nguyên tắc công minh (công bằng); d) Nguyên tắc nhân đạo; đ) Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm; e) Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi; f) Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân

3 Nội dung cơ bản và ý nghĩa của từng nguyên tắc của luật hình sự

Mặc dù trong lần pháp điển hóa thứ hai vừa qua, các nguyên tắc của luật hình sự vẫn chưa được ghi nhận trong BLHS Việt Nam năm 1999 với tính chất là chế định riêng biệt nhưng thông qua một số quy phạm của

Bộ luật chúng ta có thể nhận thấy ở chừng mực nhất định tinh thần của các nguyên tắc

đo nêu trên Chính vì vậy, chế định này cần phải được làm sáng tỏ về mặt lí luận mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét 3.1 Nguyên tắc pháp chế

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: a) Bất kì hành vi nào chỉ bị coi là tội phạm (tính chất phạm tội của hành vi) và bị trừng

Trang 3

nghiên cứu - trao đổi

phạt bằng chế tài pháp lí hình sự (tính phải

bị xử lí về hình sự của hành vi, trong đó bao

gồm cả tính phải chịu hình phạt) và các hậu

quả pháp lí hình sự khác của việc thực hiện

hành vi đó chỉ và phải do BLHS quy định; b)

Địa vị pháp lí - các quyền và nghĩa vụ của

người phạm tội đo được miễn trách nhiệm

hình sự hoặc không bị truy cứu trách nhiệm

hình sự do hết thời hiệu của người bị kết án

đo được miễn hình phạt hoặc không phải

chấp hành bản án do hết thời hiệu cũng như

của người đo chấp hành xong hình phạt và

đo được xóa án tích theo các quy định của

BLHS không thể bị hạn chế so với địa vị

những công dân khác không có án tích; c)

Việc thực hiện pháp luật hình sự nhất thiết

phải trên cơ sở tuân thủ, chấp hành và áp

dụng nghiêm chỉnh và nhất quán các quy

phạm pháp luật hình sự; d) Không được áp

dụng pháp luật hình sự theo nguyên tắc

tương tự

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở

các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại

các quy phạm của BLHS năm 1999 như

BLHS quy định tội phạm và hình phạt đối

với người phạm tội (đoạn 2 Điều 1); chỉ

người nào phạm tội đo được BLHS quy định

mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2);

người không tố giác tội phạm chỉ phải chịu

trách nhiệm hình sự trong những trường hợp

được quy định tại Điều 313 BLHS (khoản 1

Điều 22), khi đo hết thời hạn do BLHS này

quy định thì người phạm tội không bị truy

cứu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 23);

khi quyết định hình phạt, tòa án phải căn cứ

vào các quy định của BLHS (Điều 45)

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó

không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS

nguyên tắc của Hiến pháp Việt Nam (khoản

1 Điều 12) mà còn phù hợp với tư tưởng

pháp lí tiến bộ của nhân loại "không có tội

phạm, không có hình phạt nếu điều đó

không được luật quy định" đo được thể hiện

trong hai văn bản quốc tế về nhân quyền của

Liên hợp quốc mà Việt Nam đo kí và cam

kết thực hiện(15), đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 (điểm

2 Điều 11) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966 (khoản 1 Điều 15) chống lại nguyên tắc tương tự như là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng vô pháp luật, tùy tiện, xâm phạm thô bạo các quyền

và tự do của công dân trong việc áp dụng pháp luật hình sự tại các nhà nước phong kiến và cực quyền

3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là những người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm một cách bình đẳng trước luật hình sự không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp, địa vị xo hội và tình trạng tài sản không kể họ là thường dân,

bộ trưởng, nguyên thủ quốc gia hay người

đứng đầu chính phủ nhưng khi đo phạm tội thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau theo các quy định của BLHS mà không thể có bất kì sự phân biệt hay đặc quyền,

đặc lợi chỉ dành riêng cho loại công dân nào

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này lần

đầu tiên có thể nhận thấy tại quy phạm sau

đây của BLHS năm 1999: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xF hội” (đoạn 1 khoản 2 Điều 3)

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS nguyên tắc của Hiến pháp Việt Nam năm

1992 về sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 52) mà còn phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến bộ của nhân loại về

sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật đo ghi nhận tương ứng trong hai văn bản quốc tế của Liên hợp quốc đo nêu (Điều 7 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và Điều 26 Công ước quốc tế về các

Trang 4

nghiên cứu - trao đổi

quyền dân sự, chính trị) như là thành quả

của cuộc đấu tranh hàng bao thế kỉ của các

dân tộc trên trái đất chống lại tình trạng đặc

quyền, đặc lợi và bất bình đẳng của nền tư

pháp hình sự với bản chất đàn áp và do man

dưới các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong

kiến, phát xít và cực quyền

3.3 Nguyên tắc công minh

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là:

a) Các biện pháp tư pháp và các chế định

pháp lí hình sự khác được áp dụng đối với

người phạm tội cần đảm bảo sự công minh,

tức là phải phù hợp với tính chất và mức độ

nghiêm trọng của hậu quả tội phạm đo xảy

ra, động cơ và mục đích phạm tội, mức độ

lỗi cũng như tính chất nguy hiểm cho xo hội

của nhân thân người phạm tội Trong BLHS

có các quy định để đảm bảo cho tòa án có

thể (hoặc phải) lựa chọn loại và mức hình

phạt phù hợp hơn cả đối với người phạm tội

căn cứ vào các tình tiết cụ thể của việc thực

hiện tội phạm (ví dụ: Danh mục các hình

phạt từ nhẹ đến nặng, các chế tài lựa chọn,

các chế tài xác định tương đối, danh mục

các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách

nhiệm hình sự ); b) Không người phạm tội

nào có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về

cùng một tội phạm

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở

các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại

các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:

Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ

huy, khoan hồng đối với người tự thú,

tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt

hại (các đoạn 2 và 3 khoản 2 Điều 3); trong

trường hợp trước khi tội phạm bị phát giác,

người phạm tội có thể được miễn trách

nhiệm hình sự nếu đo thể hiện sự ăn năn hối

cải bằng việc thực hiện những hành vi nhất

định do luật định (khoản 2 Điều 25); hệ

thống các hình phạt (các điều từ 29-35); và

các điều từ 45 - 54;

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó

hoàn toàn phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến

bộ của nhân loại về sự công bằng của pháp

luật đo có từ thời đại xa xưa với câu ngạn

ngữ La tinh cổ đại nổi tiếng “Jus est ars bony aequi” (pháp luật là nghệ thuật của sự thật và công lí) và nó được thể hiện trong Công ước quốc tế và các quyền dân sự, chính trị đo nêu bằng quy định cấm kết án hoặc trừng phạt hai lần đối với cùng một tội phạm (điểm 7 Điều 15)

3.4 Nguyên tắc nhân đạo Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: a) Hình phạt, các biện pháp tư pháp và chế

định pháp lí hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây nên những đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người; b) Nếu trong việc gây thiệt hại về mặt pháp lí hình sự mà thiếu dù chỉ là một trong năm đặc điểm của tội phạm (thiếu một trong năm dấu hiệu của chủ thể tội phạm, thiếu một trong năm điều kiện của TNHS) thì hành vi ấy không phải là tội phạm, người thực hiện hành vi ấy không phải là chủ thể của tội phạm và do đó TNHS

bị loại trừ; c) Mức độ TNHS của người phạm tội là người có năng lực TNHS hạn chế, người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, người đo quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được giảm nhẹ hơn so với người bình thường phạm tôị Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:

Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đo hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù hoặc gia đình giám sát, giáo dục (đoạn 3 khoản 2 Điều 3); người đo chấp hành xong hình phạt được tạo

điều kiện làm ăn, .khi có đủ điều kiện do luật định thì xóa án tích (khoản 5 Điều 3); hiệu lực của BLHS về thời gian (Điều 7); các trường hợp tuy về hình thức là sự gây thiệt hại về mặt pháp lí hình sự nhưng không

bị BLHS coi là tội phạm (khoản 4 Điều 8, các điều từ 11-13, khoản 1 Điều 15, đoạn 1

Điều 16); miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (khoản 1 Điều 19); miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25); các tình tiết giảm nhẹ

Trang 5

nghiên cứu - trao đổi

trách nhiệm hình sự (Điều 46); quyết định

hình phạt nhẹ hơn luật định (Điều 47); miễn

hình phạt (Điều 54); một loạt các chế định

nhân đạo của luật hình sự (các điều từ 57-

63); các quy định đối với người chưa thành

niên phạm tội (các điều từ 68 -77)

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó

không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS

các quy định của Hiến pháp Việt Nam năm

1992 (các khoản 1 và 3 Điều 71) mà còn

phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến bộ của

nhân loại về sự nhân đạo của pháp luật đo

được thể hiện trong hai văn bản quốc tế của

Liên hợp quốc đo nêu (Điều 5 Tuyên ngôn

toàn thế giới về nhân quyền và Điều 7 Công

ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị)

cũng như trong Công ước của Liên hợp quốc

ngày 10/12/1984 chống việc tra tấn và các

hình thức đối xử và hình phạt khác tàn nhẫn,

vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm của

người khác

3.5 Nguyên tắc không tránh khỏi trách

nhiệm

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là

những người phạm tội phải chịu trách nhiệm

hình sự theo các quy định của luật hình sự,

tức là nếu không có các căn cứ của luật định

để miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình

phạt thì họ phải chịu hình phạt hoặc các

biện pháp có tác động, có tính chất pháp lí

hình sự khác do luật hình sự quy định

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở

các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại

các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:

Mọi hành vi phạm tội phải được xử lí công

minh theo đúng pháp luật (khoản 1 Điều 3);

BLHS được áp dụng đối với mọi hành vi

phạm tội trên lonh thổ Việt Nam (khoản 1

Điều 5); người vi phạm các điều kiện hợp

pháp của sự phòng vệ chính đáng hoặc tình

thế cấp thiết đều phải chịu trách nhiệm hình

sự (khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17); phải

chịu trách nhiệm hình sự trong các trường

hợp say rượu hoặc chất kích thích mạnh

khác (Điều 14), chuẩn bị phạm tội rất

nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng

(đoạn 2 Điều 17), phạm tội chưa đạt (đoạn 2

Điều 18), hành vi tự ý chấm dứt tội phạm đo

có đủ yếu tố cấu thành của tội phạm khác (đoạn 2 Điều 19);

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó không chỉ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ đối với hai nguyên tắc pháp chế và bình đẳng trước luật hình sự mà còn phản ánh rõ tư tưởng của “nguyên tắc xử lí” trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng và công minh theo đúng pháp luật nhằm góp phần đạt được mục đích cơ bản của hoạt động tư pháp hình sự trong nhà nước pháp quyền là bảo vệ vững chắc các quyền tự do của công dân với phương châm

“không bỏ lọt kẻ tội phạm, tránh làm oan người vô tội”

3.6 Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi (còn gọi là nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi hoặc ngắn gọn - nguyên tắc lỗi)

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là không ai có thể phải chịu trách nhiệm hình

sự về hành vi nguy hiểm cho xo hội cũng như về việc gây nên hoặc đe dọa thực tế gây nên thiệt hại cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự mà không phải do lỗi của mình, tức là hành vi đó bị luật hình sự cấm (bị nhà làm luật coi là phạm tội) chỉ trong trường hợp nó được người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định và mặc dù về mặt chủ quan hoàn toàn có khả năng tự lựa chọn cho mình cách xử lí hợp pháp nhưng

đo không lựa chọn cách xử sự hợp pháp mà

đo thực hiện hành vi đó một cách có lỗi - đo

có thái độ tâm lí thể hiện dưới hình thức cố

ý hoặc vô ý đối với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi đó gây nên

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999: Nghiêm trị người cố ý gây hậu quả nghiêm trọng (đoạn 3 khoản 2 Điều 3); tính chất lỗi của hành vi trong khái niệm tội phạm (khoản 1 Điều 8); chế định lỗi (các điều từ

Trang 6

nghiên cứu - trao đổi

9-12), chế định tái phạm (Điều 49); và trong

hàng loạt các cấu thành tội phạm cơ bản mà

dấu hiệu bắt buộc của chúng được nhà làm

luật xây dựng trên cơ sở các hình thức lỗi

(các điều 98, 99, 104, 105, 106, 108, 109,

165, 169, 263, 264, 286, 287 )

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó

xuất phát từ quan điểm tiến bộ được thừa

nhận chung của khoa học luật hình sự trong

nhà nước pháp quyền coi tính chất lỗi là dấu

hiệu chủ quan bắt buộc của tội phạm và

tương ứng như vậy, một trong những điều

kiện không thể thiếu được của trách nhiệm

hình sự nên luật hình sự chỉ được phép buộc

tội chủ quan mà không được phép buộc tội

khách quan như là biểu hiện rõ nét nhất của

tình trạng vô pháp luật và tùy tiện trong lĩnh

vực tư pháp hình sự - truy cứu trách nhiệm

hình sự người thực hiện hành vi bị luật hình

sự cấm hay gây thiệt hại cho các lợi ích

được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tránh

khỏi sự xâm hại của tội phạm (về mặt khác

quan) nhưng lại không xác định được lỗi của

người ấy (về mặt chủ quan)

3.7 Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là

chỉ người nào có lỗi trong việc thực hiện

hành vi nguy hiểm cho xo hội mà luật hình

sự quy định là tội phạm mới phải chịu trách

nhiệm hình sự, dựa trên nguyên tắc trách

nhiệm do lỗi nhưng nhất thiết phải là lỗi của

chính người phạm tội (chứ không thể vì lỗi

của cá nhân người đó mà truy cứu trách

nhiệm hình sự những người khác như những

người ruột thịt, thân thích, bà con họ hàng

hoặc bạn bè gần gũi với người phạm tội)

Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở

các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại

các quy phạm của BLHS năm 1999 như chỉ

có người phạm tội mới phải chịu trách

nhiệm hình sự (Điều 2); nguyên tắc xử lí đối

với từng loại người phạm tội (các đoạn 2-3

khoản 2 và các khoản 3, 4 và 5 Điều 3); các

điều liên quan đến chế định lỗi (từ 8-12,

Điều 49); quyết định hình phạt trong trường

hợp đồng phạm (Điều 53)

ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó nhằm loại trừ nguyên tắc trách nhiệm hình

sự tập thể như là di sản pháp lí phi nhân tính

và đáng nguyền rủa của cái gọi là “nền tư pháp hình sự” với bản chất đàn áp và do man dưới các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, phát xít và cực quyền

4 Mô hình lí luận của việc điều chỉnh chế định về các nguyên tắc của luật hình

sự Việt Nam Các nguyên tắc của luật hình sự là chế

định chủ yếu và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các quy phạm của Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS nước ta, vì

nó không chỉ góp phần cụ thể hóa một số các quy định của Hiến pháp năm 1992 có liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự mà còn thể hiện những tư tưởng pháp lí tiến bộ của nhân loại khi xuất phát từ một số nguyên tắc và quy phạm pháp luật được thừa nhận chung trong các văn bản quốc tế về nhân quyền (như đo phân tích ở trên) mà Việt Nam đo kí và cam kết thực hiện với tính chất là một trong gần 190 thành viên của Liên hợp quốc Mặc dù trong lần pháp

điển hóa thứ hai vừa qua, các nguyên tắc của luật hình sự vẫn chưa được ghi nhận như là chế định độc lập trong BLHS năm 1999 nhưng với ý nghĩa nhận thức khoa học để hoàn thiện pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng tôi cho rằng mô hình lí luận của việc điều chỉnh chế định này có thể theo hai phương án + Phương án I: Có một điều luật đề cập

số lượng các nguyên tắc của pháp luật hình

sự Việt Nam trong đó có liệt kê tên gọi của

7 nguyên tắc (như đo nêu trên đây) và tiếp theo là 7 điều luật đề cập nội dung cơ bản của từng nguyên tắc(16)

+ Phương án II: Chỉ có một điều luật trong đó bao gồm 8 khoản tương ứng với 8

điều của phương án I nói trên và nội dung của điều này là:

Điều: Các nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam

Trang 7

nghiên cứu - trao đổi

1 Bộ luật này được xây dựng trên các

nguyên tắc pháp chế, bình đẳng trước luật

hình sự, công minh, nhân đạo, không tránh

khỏi trách nhiệm, trách nhiệm do lỗi và

trách nhiệm cá nhân

2 Tính chất phạm tội của hành vi, tính

phải xử lí về hình sự và các hậu quả pháp lí

hình sự khác của nó phải do Bộ luật này quy

định; không được áp dụng luật hình sự theo

nguyên tắc tương tự

3 Những người phạm tội đều bình đẳng

trước luật hình sự không phân biệt giới tính,

dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp,

địa vị xo hội và trình trạng tài sản

4 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và

các chế định pháp lí hình sự khác được áp

dụng đối với người phạm tội cần đảm bảo sự

công minh, tức là phải phù hợp với tính chất

và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được

thực hiện, thiệt hại do tội phạm gây nên,

động cơ và mục đích phạm tội, mức độ lỗi,

cũng như nhân thân của người đó; không ai

có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng

một tội phạm

5 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và

các chế định pháp lí hình sự khác được áp

dụng đối với người phạm tội không nhằm

mục đích gây nên những đau đớn về thể xác

và hạ thấp nhân phẩm con người; mức độ

trách nhiệm hình sự của người phạm tội là

người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc

nuôi con nhỏ, người mà năng lực trách

nhiệm hình sự bị hạn chế, người đo quá già

yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo cần phải

được giảm nhẹ hơn so với mức độ trách

nhiệm hình sự của người phạm tội là người

bình thường

6 Những người phạm tội phải chịu trách

nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật

này

7 Không ai có thể phải chịu trách nhiệm

hình sự về hành vi nguy hiểm cho xo hội

(bằng hành động hoặc không hành động)

cũng như về việc gây nên thiệt hại mà không

phải do lỗi của mình; không được phép buộc

tội khách quan

8 Chỉ bản thân người nào có lỗi trong

việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xo hội

mà Bộ luật này quy định là tội phạm mới phải chịu trách nhiệm hình sự./

(1).Xem: Đào Trí úc - “Bản chất và vai trò của các nguyên tắc Luật hình sự Việt Nam” Tạp chí nhà nước

và pháp luật, số 1/1999, tr.7

(2).Xem: Kiều Đình Thụ - Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam; Nxb Đồng Nai, 1998, tr.16

(3).Xem: Ngô Ngọc Thủy - Chương I "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung", Trường đại học luật

Hà Nội, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.13

(4).Xem: B.V Zđravômưxlôv - Các nguyên tắc của luật hình sự Mục 4 chương I "Giáo trình Luật hình sự -Phần chung" Nxb, Sách pháp lí Maxcơva, 1994,

tr.14-15 (tiếng Nga)

(5).Xem: Đỗ Ngọc Quang - "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung", Trường đại học cảnh sát nhân dân, H 1996, tr.31

(6).Xem: G.A Kriger, N.F Kuznhetxôva - "Những vấn

đề về tính quyết định xo hội của luật hình sự" - Đại hội lần thứ XXV Đảng cộng sản Liên Xô và việc tiếp tục củng cố pháp chế XHCN, Maxcơva 1977, tr.120 (tiếng Nga)

(7).Xem: "Giáo trình luật hình sự Xô Viết - Phần chung", tập 1 Maxcơva, 1970 tr.130 (tiếng Nga) (8).Xem: X.G Kelina, V.N Kuđriavtxev - Các nguyên tắc của luật hình sự Xô Viết, Nxb Khoa học Maxcơva

1988, tr.64 (tiếng Nga)

(9).Xem: B.V Zđravômưxlôv Sđd, tr.15 -18

(10).Xem: A.B Xakharôv - Về những nguyên tắc của luật hình sự XHCN, Tạp chí Luật học, 1969, số 4,

tr.59-60 (tiếng Nga)

(11).Xem: B.V.Naumôv - "Luật hình sự - Phần chung", Giáo trình các bài giảng; Nxb Béc.Maxcơva, 1996; tr.46 -57 (tiếng Nga); IA.M Brainhin - "Luật hình sự Xô Viết - Phần chung" Kiev, 1955, tr.12-18 (tiếng Nga)

(12).Xem: N.I Zagorôđnhikôv - "Những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Xô Viết", Tạp chí nhà nước và pháp luật xô viết 1966, số 5, tr.66 (tiếng Nga)

(13) Xem: "Giáo trình luật hình sự xô viết - Phần chung", tập 1 Lêningrađ, 1968 tr.18 (tiếng Nga) (14).Xem: IU.A Đemiđôv - "Những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Xô Viết - Những vấn đề đấu tranh chống tội phạm" Quyển 9 Maxcơva, 1969, tr.32 (tiếng Nga)

(15) Xem: Các văn kiện quốc tế về quyền con người (xuất bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.62 - 69 và 175 -202 (16).Xem: Lê Cảm - Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung) Nxb CAND, H.1999, tr.39-69

Ngày đăng: 19/12/2015, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w