nghiên cứu - trao đổi phạt bằng chế tài pháp lí hình sự tính phải bị xử lí về hình sự của hành vi, trong đó bao gồm cả tính phải chịu hình phạt và các hậu quả pháp lí hình sự khác của vi
Trang 1nghiên cứu - trao đổi
chế định về Các nguyên tắc của luật hình sự việt Nam
TSKH Lê cảm*
iệc pháp điển hóa lần thứ hai luật hình
sự Việt Nam với Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 1999 (được Quốc hội khóa X
kì họp thứ sáu thông qua ngày 21/12/1999
và có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2000) đặt ra
trước các nhà khoa học pháp lí những
nhiệm vụ trong việc phân tích và lí giải để
làm sáng tỏ về mặt lí luận những vấn đề cần
được nghiên cứu Chính vì vậy, việc phân
tích một cách có hệ thống những vấn đề
xung quanh các nguyên tắc của luật hình sự
(như khái niệm nguyên tắc của luật hình sự
và số lượng các nguyên tắc của luật hình sự,
nội dung cơ bản và ý nghĩa của từng nguyên
tắc của luật hình sự) là một trong những
hướng nghiên cứu quan trọng để đảm bảo sự
nhận thức thống nhất và đúng đắn đối với tất
cả chúng ta, nhất là các luật gia, các cán bộ
khoa học và các cán bộ thực tiễn trong lĩnh
vực tư pháp hình sự Đó chính là lí do luận
chứng cho tính cấp thiết của đề tài bài báo
này
1 Khái niệm nguyên tắc của luật hình
sự
Hiện nay trong khoa học luật hình sự
của Việt Nam và của nước ngoài khi bàn về
khái niệm nguyên tắc của luật hình sự, giữa
các nhà luật hình sự học vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau Chẳng hạn như:
Theo TSKH Đào Trí úc, các nguyên tắc
của luật hình sự “là những tư tưởng chỉ đạo
và các định hướng đường lối cho toàn bộ
quá trình quy định tội phạm và hình phạt,
áp dụng pháp luật hình sự trong thực
tiễn” (1).
PGS.TS Kiều Đình Thụ viết: “Các
nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là các tư
tưởng chủ đạo, nền tảng của việc xây dựng
và thực hiện luật hình sự, phản ánh tính quy
luật của cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”(2) Tác giả Ngô Ngọc Thủy thì lại quan niệm rằng: “Các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự chính là những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ quá trình xây dựng và
áp dụng pháp luật các quy định của luật hình sự vào đấu tranh phòng chống tội phạm”(3)
Giáo sư B.V Zđravômưxlôv (LB Nga) hiểu các nguyên tắc của luật hình sự là
“Những tư tưởng nền tảng được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật hình sự xác
định nội dung của nó nói chung hoặc của các chế định riêng biệt” (4)
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các nguyên tắc của luật hình sự thì cần phải đảm bảo tính khoa học, trước hết cần phải định nghĩa một cách chính xác như thế nào là nguyên tắc (số ít), rồi sau đó mới liệt kê các nguyên tắc (số nhiều) Như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, khái niệm nguyên tắc của luật hình sự có thể được hiểu là tư tưởng chủ đạo
và là định hướng cơ bản được thể hiện trong pháp luật hình sự (PLHS) cũng như trong việc giải thích và trong thực tiễn áp dụng PLHS thông qua một hay nhiều quy phạm hoặc chế định của nó
2 Số lượng các nguyên tắc của luật hình sự
Cũng như khái niệm nguyên tắc của luật hình sự, từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự khi bàn về số lượng các nguyên tắc của luật hình sự thì giữa các nhà khoa học cũng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau
ở Việt Nam, theo PGS.TS Kiều Đình
V
* Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội
Trang 2nghiên cứu - trao đổi
Thụ thì luật hình sự có 9 nguyên tắc; theo
TSKH Đào Trí úc (kể cả nguyên tắc dân
chủ XHCN) và theo tác giả Ngô Ngọc Thủy
(kể cả nguyên tắc kết hợp hài hòa chủ nghĩa
yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản cũng
như nguyên tắc cá thể hóa hình phạt), luật
hình sự có 7 nguyên tắc; theo PGS.TS Đỗ
Ngọc Quang, luật hình sự chỉ có 4 nguyên
tắc(5)
ở Liên Xô cũ và Liên bang Nga hiện
nay, theo các giáo sư N.F Kuzơnhetxôva và
giáo sư G.A Kriger, luật hình sự có 14
nguyên tắc (kể cả nguyên tắc trách nhiệm
đối với hành vi có lỗi được luật quy định và
nguyên tắc tiết kiệm sự trấn áp về hình
sự)(6) ; theo viện sĩ A.A.Piôntkôvxki và các
giáo sư A.A Gertxenzôn, N.Đ Đurmanôv,
luật hình sự có 9 nguyên tắc (kể cả nguyên
tắc tác động vào những điều kiện góp phần
thực hiện tội phạm)(7); theo viện sĩ V.N
Kuđriavtxev và tiến sĩ luật học X.C Kelina,
luật hình sự có 8 nguyên tắc (kể cả nguyên
tắc dân chủ)(8); theo giáo sư B.V
Zđravômưxlôv (kể cả nguyên tắc trách
nhiệm cá nhân và do lỗi cũng như nguyên
tắc dân chủ)(9) và giáo sư A.B Xakharôv (kể
cả nguyên tắc trách nhiệm đối với hành vi
cụ thể do luật quy định, trách nhiệm cá nhân
và do lỗi, sự thống nhất của các dấu hiệu nội
dung và các dấu hiệu hình thức trong các
chế định luật hình sự, thống nhất của sự
đánh giá về mặt pháp lí và về mặt đạo đức,
khả năng thay thế TNHS bằng các biện pháp
tác động xo hội, ngăn ngừa tội phạm và cải
tạo những người bị kết án, cá thể hóa - hợp
lí - tiết kiệm hình phạt)(10), luật hình sự có 7
nguyên tắc; theo giáo sư A.V Naumôv và
giáo sư IA.M Brainhin thì luật hình sự có 6
nguyên tắc(11); theo giáo sư N.I
Zagorôđnhikôv (kể cả nguyên tắc sự tham
gia của những người đại diện của nhân dân
vào việc áp dụng các quy phạm PLHS và
nguyên tắc đánh giá có tính chất phủ định
những hành vi bị coi là tội phạm)(12) và giáo
sư M.Đ Sagôrôđxki (kể cả nguyên tắc dân
chủ XHCN nghĩa là bình đẳng trước pháp
luật)(13), luật hình sự có 5 nguyên tắc Còn theo giáo sư IU.A Đemiđôv (kể cả nguyên tắc về sự phù hợp của trách nhiệm hình sự với tính chất nguy hiểm của bọn tội phạm và của người phạm tội, nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm và "tiết kiệm” sự trấn áp về hình sự mà được hiểu là sự áp dụng nó chỉ trong trường hợp khi không thể đảm bảo
được việc cải tạo và giáo dục người có tội cũng như việc ngăn ngừa bằng biện pháp khác) (14), luật hình sự có 4 nguyên tắc Tuy nhiên, khi quy định số lượng các nguyên tắc của luật hình sự, nhà làm luật nhất thiết phải xuất phát từ các chức năng và nhiệm vụ mà ngành luật này thực hiện để nhận thức đúng nội dung cơ bản của chúng, vì các nguyên tắc của luật hình sự là nền tảng (cơ sở) chủ yếu của hoạt động sáng tạo pháp luật và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm Nghiên cứu các quy định của PLHS Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng nó, chúng tôi cho rằng có thể xác định 7 nguyên tắc sau đây của luật hình sự: a) Nguyên tắc pháp chế; b) Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự; c) Nguyên tắc công minh (công bằng); d) Nguyên tắc nhân đạo; đ) Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm; e) Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi; f) Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
3 Nội dung cơ bản và ý nghĩa của từng nguyên tắc của luật hình sự
Mặc dù trong lần pháp điển hóa thứ hai vừa qua, các nguyên tắc của luật hình sự vẫn chưa được ghi nhận trong BLHS Việt Nam năm 1999 với tính chất là chế định riêng biệt nhưng thông qua một số quy phạm của
Bộ luật chúng ta có thể nhận thấy ở chừng mực nhất định tinh thần của các nguyên tắc
đo nêu trên Chính vì vậy, chế định này cần phải được làm sáng tỏ về mặt lí luận mà dưới đây chúng ta sẽ lần lượt xem xét 3.1 Nguyên tắc pháp chế
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: a) Bất kì hành vi nào chỉ bị coi là tội phạm (tính chất phạm tội của hành vi) và bị trừng
Trang 3nghiên cứu - trao đổi
phạt bằng chế tài pháp lí hình sự (tính phải
bị xử lí về hình sự của hành vi, trong đó bao
gồm cả tính phải chịu hình phạt) và các hậu
quả pháp lí hình sự khác của việc thực hiện
hành vi đó chỉ và phải do BLHS quy định; b)
Địa vị pháp lí - các quyền và nghĩa vụ của
người phạm tội đo được miễn trách nhiệm
hình sự hoặc không bị truy cứu trách nhiệm
hình sự do hết thời hiệu của người bị kết án
đo được miễn hình phạt hoặc không phải
chấp hành bản án do hết thời hiệu cũng như
của người đo chấp hành xong hình phạt và
đo được xóa án tích theo các quy định của
BLHS không thể bị hạn chế so với địa vị
những công dân khác không có án tích; c)
Việc thực hiện pháp luật hình sự nhất thiết
phải trên cơ sở tuân thủ, chấp hành và áp
dụng nghiêm chỉnh và nhất quán các quy
phạm pháp luật hình sự; d) Không được áp
dụng pháp luật hình sự theo nguyên tắc
tương tự
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở
các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại
các quy phạm của BLHS năm 1999 như
BLHS quy định tội phạm và hình phạt đối
với người phạm tội (đoạn 2 Điều 1); chỉ
người nào phạm tội đo được BLHS quy định
mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2);
người không tố giác tội phạm chỉ phải chịu
trách nhiệm hình sự trong những trường hợp
được quy định tại Điều 313 BLHS (khoản 1
Điều 22), khi đo hết thời hạn do BLHS này
quy định thì người phạm tội không bị truy
cứu trách nhiệm hình sự (khoản 1 Điều 23);
khi quyết định hình phạt, tòa án phải căn cứ
vào các quy định của BLHS (Điều 45)
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó
không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS
nguyên tắc của Hiến pháp Việt Nam (khoản
1 Điều 12) mà còn phù hợp với tư tưởng
pháp lí tiến bộ của nhân loại "không có tội
phạm, không có hình phạt nếu điều đó
không được luật quy định" đo được thể hiện
trong hai văn bản quốc tế về nhân quyền của
Liên hợp quốc mà Việt Nam đo kí và cam
kết thực hiện(15), đó là Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948 (điểm
2 Điều 11) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966 (khoản 1 Điều 15) chống lại nguyên tắc tương tự như là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng vô pháp luật, tùy tiện, xâm phạm thô bạo các quyền
và tự do của công dân trong việc áp dụng pháp luật hình sự tại các nhà nước phong kiến và cực quyền
3.2 Nguyên tắc bình đẳng trước luật hình sự
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là những người phạm tội đều phải chịu trách nhiệm một cách bình đẳng trước luật hình sự không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp, địa vị xo hội và tình trạng tài sản không kể họ là thường dân,
bộ trưởng, nguyên thủ quốc gia hay người
đứng đầu chính phủ nhưng khi đo phạm tội thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự như nhau theo các quy định của BLHS mà không thể có bất kì sự phân biệt hay đặc quyền,
đặc lợi chỉ dành riêng cho loại công dân nào
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này lần
đầu tiên có thể nhận thấy tại quy phạm sau
đây của BLHS năm 1999: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xF hội” (đoạn 1 khoản 2 Điều 3)
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS nguyên tắc của Hiến pháp Việt Nam năm
1992 về sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 52) mà còn phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến bộ của nhân loại về
sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật đo ghi nhận tương ứng trong hai văn bản quốc tế của Liên hợp quốc đo nêu (Điều 7 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền và Điều 26 Công ước quốc tế về các
Trang 4nghiên cứu - trao đổi
quyền dân sự, chính trị) như là thành quả
của cuộc đấu tranh hàng bao thế kỉ của các
dân tộc trên trái đất chống lại tình trạng đặc
quyền, đặc lợi và bất bình đẳng của nền tư
pháp hình sự với bản chất đàn áp và do man
dưới các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong
kiến, phát xít và cực quyền
3.3 Nguyên tắc công minh
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là:
a) Các biện pháp tư pháp và các chế định
pháp lí hình sự khác được áp dụng đối với
người phạm tội cần đảm bảo sự công minh,
tức là phải phù hợp với tính chất và mức độ
nghiêm trọng của hậu quả tội phạm đo xảy
ra, động cơ và mục đích phạm tội, mức độ
lỗi cũng như tính chất nguy hiểm cho xo hội
của nhân thân người phạm tội Trong BLHS
có các quy định để đảm bảo cho tòa án có
thể (hoặc phải) lựa chọn loại và mức hình
phạt phù hợp hơn cả đối với người phạm tội
căn cứ vào các tình tiết cụ thể của việc thực
hiện tội phạm (ví dụ: Danh mục các hình
phạt từ nhẹ đến nặng, các chế tài lựa chọn,
các chế tài xác định tương đối, danh mục
các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách
nhiệm hình sự ); b) Không người phạm tội
nào có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về
cùng một tội phạm
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở
các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại
các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:
Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ
huy, khoan hồng đối với người tự thú,
tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại (các đoạn 2 và 3 khoản 2 Điều 3); trong
trường hợp trước khi tội phạm bị phát giác,
người phạm tội có thể được miễn trách
nhiệm hình sự nếu đo thể hiện sự ăn năn hối
cải bằng việc thực hiện những hành vi nhất
định do luật định (khoản 2 Điều 25); hệ
thống các hình phạt (các điều từ 29-35); và
các điều từ 45 - 54;
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó
hoàn toàn phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến
bộ của nhân loại về sự công bằng của pháp
luật đo có từ thời đại xa xưa với câu ngạn
ngữ La tinh cổ đại nổi tiếng “Jus est ars bony aequi” (pháp luật là nghệ thuật của sự thật và công lí) và nó được thể hiện trong Công ước quốc tế và các quyền dân sự, chính trị đo nêu bằng quy định cấm kết án hoặc trừng phạt hai lần đối với cùng một tội phạm (điểm 7 Điều 15)
3.4 Nguyên tắc nhân đạo Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là: a) Hình phạt, các biện pháp tư pháp và chế
định pháp lí hình sự khác được áp dụng đối với người phạm tội không nhằm mục đích gây nên những đau đớn về thể xác và hạ thấp nhân phẩm con người; b) Nếu trong việc gây thiệt hại về mặt pháp lí hình sự mà thiếu dù chỉ là một trong năm đặc điểm của tội phạm (thiếu một trong năm dấu hiệu của chủ thể tội phạm, thiếu một trong năm điều kiện của TNHS) thì hành vi ấy không phải là tội phạm, người thực hiện hành vi ấy không phải là chủ thể của tội phạm và do đó TNHS
bị loại trừ; c) Mức độ TNHS của người phạm tội là người có năng lực TNHS hạn chế, người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, người đo quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được giảm nhẹ hơn so với người bình thường phạm tôị Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:
Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đo hối cải thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù hoặc gia đình giám sát, giáo dục (đoạn 3 khoản 2 Điều 3); người đo chấp hành xong hình phạt được tạo
điều kiện làm ăn, .khi có đủ điều kiện do luật định thì xóa án tích (khoản 5 Điều 3); hiệu lực của BLHS về thời gian (Điều 7); các trường hợp tuy về hình thức là sự gây thiệt hại về mặt pháp lí hình sự nhưng không
bị BLHS coi là tội phạm (khoản 4 Điều 8, các điều từ 11-13, khoản 1 Điều 15, đoạn 1
Điều 16); miễn trách nhiệm hình sự do người phạm tội tự ý nửa chừng chấm dứt tội phạm (khoản 1 Điều 19); miễn trách nhiệm hình sự (Điều 25); các tình tiết giảm nhẹ
Trang 5nghiên cứu - trao đổi
trách nhiệm hình sự (Điều 46); quyết định
hình phạt nhẹ hơn luật định (Điều 47); miễn
hình phạt (Điều 54); một loạt các chế định
nhân đạo của luật hình sự (các điều từ 57-
63); các quy định đối với người chưa thành
niên phạm tội (các điều từ 68 -77)
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó
không chỉ góp phần cụ thể hóa trong BLHS
các quy định của Hiến pháp Việt Nam năm
1992 (các khoản 1 và 3 Điều 71) mà còn
phù hợp với tư tưởng pháp lí tiến bộ của
nhân loại về sự nhân đạo của pháp luật đo
được thể hiện trong hai văn bản quốc tế của
Liên hợp quốc đo nêu (Điều 5 Tuyên ngôn
toàn thế giới về nhân quyền và Điều 7 Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị)
cũng như trong Công ước của Liên hợp quốc
ngày 10/12/1984 chống việc tra tấn và các
hình thức đối xử và hình phạt khác tàn nhẫn,
vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm của
người khác
3.5 Nguyên tắc không tránh khỏi trách
nhiệm
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là
những người phạm tội phải chịu trách nhiệm
hình sự theo các quy định của luật hình sự,
tức là nếu không có các căn cứ của luật định
để miễn trách nhiệm hình sự hay miễn hình
phạt thì họ phải chịu hình phạt hoặc các
biện pháp có tác động, có tính chất pháp lí
hình sự khác do luật hình sự quy định
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở
các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại
các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999:
Mọi hành vi phạm tội phải được xử lí công
minh theo đúng pháp luật (khoản 1 Điều 3);
BLHS được áp dụng đối với mọi hành vi
phạm tội trên lonh thổ Việt Nam (khoản 1
Điều 5); người vi phạm các điều kiện hợp
pháp của sự phòng vệ chính đáng hoặc tình
thế cấp thiết đều phải chịu trách nhiệm hình
sự (khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 17); phải
chịu trách nhiệm hình sự trong các trường
hợp say rượu hoặc chất kích thích mạnh
khác (Điều 14), chuẩn bị phạm tội rất
nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng
(đoạn 2 Điều 17), phạm tội chưa đạt (đoạn 2
Điều 18), hành vi tự ý chấm dứt tội phạm đo
có đủ yếu tố cấu thành của tội phạm khác (đoạn 2 Điều 19);
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó không chỉ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ đối với hai nguyên tắc pháp chế và bình đẳng trước luật hình sự mà còn phản ánh rõ tư tưởng của “nguyên tắc xử lí” trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành là mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lí nhanh chóng và công minh theo đúng pháp luật nhằm góp phần đạt được mục đích cơ bản của hoạt động tư pháp hình sự trong nhà nước pháp quyền là bảo vệ vững chắc các quyền tự do của công dân với phương châm
“không bỏ lọt kẻ tội phạm, tránh làm oan người vô tội”
3.6 Nguyên tắc trách nhiệm do lỗi (còn gọi là nguyên tắc trách nhiệm trên cơ sở lỗi hoặc ngắn gọn - nguyên tắc lỗi)
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là không ai có thể phải chịu trách nhiệm hình
sự về hành vi nguy hiểm cho xo hội cũng như về việc gây nên hoặc đe dọa thực tế gây nên thiệt hại cho các lợi ích được bảo vệ bằng pháp luật hình sự mà không phải do lỗi của mình, tức là hành vi đó bị luật hình sự cấm (bị nhà làm luật coi là phạm tội) chỉ trong trường hợp nó được người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo luật định và mặc dù về mặt chủ quan hoàn toàn có khả năng tự lựa chọn cho mình cách xử lí hợp pháp nhưng
đo không lựa chọn cách xử sự hợp pháp mà
đo thực hiện hành vi đó một cách có lỗi - đo
có thái độ tâm lí thể hiện dưới hình thức cố
ý hoặc vô ý đối với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi đó gây nên
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại các quy phạm sau đây của BLHS năm 1999: Nghiêm trị người cố ý gây hậu quả nghiêm trọng (đoạn 3 khoản 2 Điều 3); tính chất lỗi của hành vi trong khái niệm tội phạm (khoản 1 Điều 8); chế định lỗi (các điều từ
Trang 6nghiên cứu - trao đổi
9-12), chế định tái phạm (Điều 49); và trong
hàng loạt các cấu thành tội phạm cơ bản mà
dấu hiệu bắt buộc của chúng được nhà làm
luật xây dựng trên cơ sở các hình thức lỗi
(các điều 98, 99, 104, 105, 106, 108, 109,
165, 169, 263, 264, 286, 287 )
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó
xuất phát từ quan điểm tiến bộ được thừa
nhận chung của khoa học luật hình sự trong
nhà nước pháp quyền coi tính chất lỗi là dấu
hiệu chủ quan bắt buộc của tội phạm và
tương ứng như vậy, một trong những điều
kiện không thể thiếu được của trách nhiệm
hình sự nên luật hình sự chỉ được phép buộc
tội chủ quan mà không được phép buộc tội
khách quan như là biểu hiện rõ nét nhất của
tình trạng vô pháp luật và tùy tiện trong lĩnh
vực tư pháp hình sự - truy cứu trách nhiệm
hình sự người thực hiện hành vi bị luật hình
sự cấm hay gây thiệt hại cho các lợi ích
được bảo vệ bằng pháp luật hình sự, tránh
khỏi sự xâm hại của tội phạm (về mặt khác
quan) nhưng lại không xác định được lỗi của
người ấy (về mặt chủ quan)
3.7 Nguyên tắc trách nhiệm cá nhân
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là
chỉ người nào có lỗi trong việc thực hiện
hành vi nguy hiểm cho xo hội mà luật hình
sự quy định là tội phạm mới phải chịu trách
nhiệm hình sự, dựa trên nguyên tắc trách
nhiệm do lỗi nhưng nhất thiết phải là lỗi của
chính người phạm tội (chứ không thể vì lỗi
của cá nhân người đó mà truy cứu trách
nhiệm hình sự những người khác như những
người ruột thịt, thân thích, bà con họ hàng
hoặc bạn bè gần gũi với người phạm tội)
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này ở
các mức độ khác nhau có thể nhận thấy tại
các quy phạm của BLHS năm 1999 như chỉ
có người phạm tội mới phải chịu trách
nhiệm hình sự (Điều 2); nguyên tắc xử lí đối
với từng loại người phạm tội (các đoạn 2-3
khoản 2 và các khoản 3, 4 và 5 Điều 3); các
điều liên quan đến chế định lỗi (từ 8-12,
Điều 49); quyết định hình phạt trong trường
hợp đồng phạm (Điều 53)
ý nghĩa của nguyên tắc này là ở chỗ nó nhằm loại trừ nguyên tắc trách nhiệm hình
sự tập thể như là di sản pháp lí phi nhân tính
và đáng nguyền rủa của cái gọi là “nền tư pháp hình sự” với bản chất đàn áp và do man dưới các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, phát xít và cực quyền
4 Mô hình lí luận của việc điều chỉnh chế định về các nguyên tắc của luật hình
sự Việt Nam Các nguyên tắc của luật hình sự là chế
định chủ yếu và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ các quy phạm của Phần chung và Phần các tội phạm trong BLHS nước ta, vì
nó không chỉ góp phần cụ thể hóa một số các quy định của Hiến pháp năm 1992 có liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự mà còn thể hiện những tư tưởng pháp lí tiến bộ của nhân loại khi xuất phát từ một số nguyên tắc và quy phạm pháp luật được thừa nhận chung trong các văn bản quốc tế về nhân quyền (như đo phân tích ở trên) mà Việt Nam đo kí và cam kết thực hiện với tính chất là một trong gần 190 thành viên của Liên hợp quốc Mặc dù trong lần pháp
điển hóa thứ hai vừa qua, các nguyên tắc của luật hình sự vẫn chưa được ghi nhận như là chế định độc lập trong BLHS năm 1999 nhưng với ý nghĩa nhận thức khoa học để hoàn thiện pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, chúng tôi cho rằng mô hình lí luận của việc điều chỉnh chế định này có thể theo hai phương án + Phương án I: Có một điều luật đề cập
số lượng các nguyên tắc của pháp luật hình
sự Việt Nam trong đó có liệt kê tên gọi của
7 nguyên tắc (như đo nêu trên đây) và tiếp theo là 7 điều luật đề cập nội dung cơ bản của từng nguyên tắc(16)
+ Phương án II: Chỉ có một điều luật trong đó bao gồm 8 khoản tương ứng với 8
điều của phương án I nói trên và nội dung của điều này là:
Điều: Các nguyên tắc của pháp luật hình sự Việt Nam
Trang 7nghiên cứu - trao đổi
1 Bộ luật này được xây dựng trên các
nguyên tắc pháp chế, bình đẳng trước luật
hình sự, công minh, nhân đạo, không tránh
khỏi trách nhiệm, trách nhiệm do lỗi và
trách nhiệm cá nhân
2 Tính chất phạm tội của hành vi, tính
phải xử lí về hình sự và các hậu quả pháp lí
hình sự khác của nó phải do Bộ luật này quy
định; không được áp dụng luật hình sự theo
nguyên tắc tương tự
3 Những người phạm tội đều bình đẳng
trước luật hình sự không phân biệt giới tính,
dân tộc, tôn giáo, chính kiến, nghề nghiệp,
địa vị xo hội và trình trạng tài sản
4 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và
các chế định pháp lí hình sự khác được áp
dụng đối với người phạm tội cần đảm bảo sự
công minh, tức là phải phù hợp với tính chất
và mức độ nghiêm trọng của tội phạm được
thực hiện, thiệt hại do tội phạm gây nên,
động cơ và mục đích phạm tội, mức độ lỗi,
cũng như nhân thân của người đó; không ai
có thể phải chịu trách nhiệm hai lần về cùng
một tội phạm
5 Hình phạt, các biện pháp tư pháp và
các chế định pháp lí hình sự khác được áp
dụng đối với người phạm tội không nhằm
mục đích gây nên những đau đớn về thể xác
và hạ thấp nhân phẩm con người; mức độ
trách nhiệm hình sự của người phạm tội là
người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc
nuôi con nhỏ, người mà năng lực trách
nhiệm hình sự bị hạn chế, người đo quá già
yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo cần phải
được giảm nhẹ hơn so với mức độ trách
nhiệm hình sự của người phạm tội là người
bình thường
6 Những người phạm tội phải chịu trách
nhiệm hình sự theo các quy định của Bộ luật
này
7 Không ai có thể phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi nguy hiểm cho xo hội
(bằng hành động hoặc không hành động)
cũng như về việc gây nên thiệt hại mà không
phải do lỗi của mình; không được phép buộc
tội khách quan
8 Chỉ bản thân người nào có lỗi trong
việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xo hội
mà Bộ luật này quy định là tội phạm mới phải chịu trách nhiệm hình sự./
(1).Xem: Đào Trí úc - “Bản chất và vai trò của các nguyên tắc Luật hình sự Việt Nam” Tạp chí nhà nước
và pháp luật, số 1/1999, tr.7
(2).Xem: Kiều Đình Thụ - Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam; Nxb Đồng Nai, 1998, tr.16
(3).Xem: Ngô Ngọc Thủy - Chương I "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung", Trường đại học luật
Hà Nội, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.13
(4).Xem: B.V Zđravômưxlôv - Các nguyên tắc của luật hình sự Mục 4 chương I "Giáo trình Luật hình sự -Phần chung" Nxb, Sách pháp lí Maxcơva, 1994,
tr.14-15 (tiếng Nga)
(5).Xem: Đỗ Ngọc Quang - "Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung", Trường đại học cảnh sát nhân dân, H 1996, tr.31
(6).Xem: G.A Kriger, N.F Kuznhetxôva - "Những vấn
đề về tính quyết định xo hội của luật hình sự" - Đại hội lần thứ XXV Đảng cộng sản Liên Xô và việc tiếp tục củng cố pháp chế XHCN, Maxcơva 1977, tr.120 (tiếng Nga)
(7).Xem: "Giáo trình luật hình sự Xô Viết - Phần chung", tập 1 Maxcơva, 1970 tr.130 (tiếng Nga) (8).Xem: X.G Kelina, V.N Kuđriavtxev - Các nguyên tắc của luật hình sự Xô Viết, Nxb Khoa học Maxcơva
1988, tr.64 (tiếng Nga)
(9).Xem: B.V Zđravômưxlôv Sđd, tr.15 -18
(10).Xem: A.B Xakharôv - Về những nguyên tắc của luật hình sự XHCN, Tạp chí Luật học, 1969, số 4,
tr.59-60 (tiếng Nga)
(11).Xem: B.V.Naumôv - "Luật hình sự - Phần chung", Giáo trình các bài giảng; Nxb Béc.Maxcơva, 1996; tr.46 -57 (tiếng Nga); IA.M Brainhin - "Luật hình sự Xô Viết - Phần chung" Kiev, 1955, tr.12-18 (tiếng Nga)
(12).Xem: N.I Zagorôđnhikôv - "Những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Xô Viết", Tạp chí nhà nước và pháp luật xô viết 1966, số 5, tr.66 (tiếng Nga)
(13) Xem: "Giáo trình luật hình sự xô viết - Phần chung", tập 1 Lêningrađ, 1968 tr.18 (tiếng Nga) (14).Xem: IU.A Đemiđôv - "Những nguyên tắc cơ bản của Luật hình sự Xô Viết - Những vấn đề đấu tranh chống tội phạm" Quyển 9 Maxcơva, 1969, tr.32 (tiếng Nga)
(15) Xem: Các văn kiện quốc tế về quyền con người (xuất bản lần thứ hai có sửa chữa, bổ sung), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.62 - 69 và 175 -202 (16).Xem: Lê Cảm - Hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền (Một số vấn đề cơ bản của phần chung) Nxb CAND, H.1999, tr.39-69