Quy định theo pháp luật Việt Nam Điều 251 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có là hành vi "thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặ
Trang 1Nguyễn Hữu Thanh *
1 Vài nét về hoạt động rửa tiền trên
thế giới
Một số thông tin gần đây cho biết số tiền
tẩy rửa hàng năm ở các nước đang phát triển
từ 1 đến 2 tỉ USD, ở các nước giàu lên tới
100 tỉ USD, ở một số trung tâm tài chính lớn
trên thế giới số tiền tẩy rửa có thể từ 300 đến
500 tỉ USD Theo ước tính của Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), các hoạt động phạm tội trên
thế giới có thể rửa tiền từ 1000 tỉ đến 3000 tỉ
USD/năm Người ta có thể nhắc đến Ngân
hàng Citigroup (Mĩ) với vụ dính líu đến hoạt
động rửa tiền bị phát hiện thông qua cuộc
điều tra hành vi tham nhũng của cựu Tổng
thống Philippin Joseph Estrada; vụ Cục điều
tra liên bang Mĩ (FBI) tiến hành điều tra
Ngân hàng New york về số tiền khổng lồ 7,5
tỉ USD mà một số công dân Nga đV trung
chuyển qua đây; và gần đây là vụ ông chủ
tịch Câu lạc bộ bóng đá Fiorentina (Italia)
Vittorio Cechio Gori phải tuyên bố giao phó
quyền kiểm soát công ti cổ phần của mình
cho ban đốc công vì bản thân có dính dáng
đến rửa tiền Những cái tên như Ăngtigoa,
đảo quốc Nauru, Liechtenstein, Libăng,
Urugoay đang trở thành những thiên đường
cho nạn rửa tiền hoành hành Ngay tại các
cường quốc như Mĩ, Anh, Nga, Nhật Bản
người ta đV phải lên tiếng "báo động đỏ" về
những con số tiền bị tẩy rửa khổng lồ
Những số liệu nêu trên sẽ là không chính xác bởi đó chỉ là phần nổi của tảng băng, hoạt động tẩy rửa tiền đV và đang là hoạt
động tội phạm rất nguy hiểm diễn ra hàng ngày, vừa bí mật, vừa công khai, có thể rất
đơn giản hoặc vô cùng tinh vi, phức tạp trong nhiều lĩnh vực và với phạm vi toàn thế giới
2 Khái niệm
Có nhiều cách để nhìn nhận về hoạt động rửa tiền Theo một số nhà nghiên cứu, rửa tiền là quá trình mà trong đó những đồng tiền thu được bằng những cách thức bất hợp pháp được hợp thức hóa thành những nguồn thu nhập chính đáng và được đưa trở lại lưu thông Trong "Báo cáo về rửa tiền, bí mật ngân hàng và nơi cất giấu tài chính" của một
số chuyên gia thuộc Văn phòng kiểm soát
ma tuý và phòng chống tội phạm của Liên hợp quốc năm 1988, rửa tiền được hiểu là quá trình gồm ba giai đoạn: Thứ nhất, cách li các khoản tiền thoát khỏi mối quan hệ trực tiếp với tội phạm; thứ hai, làm thay đổi các dấu vết nhằm chống lại việc điều tra; và thứ
ba, với nguồn gốc đV được giấu kín, làm cho tiền có khả năng sử dụng bình thường trở lại Cùng tồn tại với khái niệm này là quan
điểm của lực lượng thực thi các hoạt động tài
* Vụ pháp chế Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 2chính chia hoạt động rửa tiền thành các hoạt
động: Xác định điểm "tập kết" (tuồn tiền mặt
vào nền kinh tế hợp pháp hoặc chuyển lậu
qua biên giới), tạo vỏ bọc (phân tán nguồn
gốc bằng cách tạo nên các cơ cấu vỏ bọc
phức tạp) và hợp nhất (đưa các nguồn tiền đV
được tẩy rửa trở lại nền kinh tế)
Thuật ngữ được sử dụng trong Công ước
của Liên hợp quốc năm 1988 về phòng
chống buôn bán bất hợp pháp ma tuý nhằm
nói đến sự chuyển đổi (tiền mặt sang các tài
sản khác) có thể liên quan đến việc xác định
điểm "tập kết" trong một tổ chức tín dụng;
che giấu nguồn gốc hoặc quyền sở hữu thực
sự và tạo ra cho chúng cách hiểu hợp pháp
Dù cách đánh giá như thế nào, tựu chung
lại, "luật chơi" của những kẻ rửa tiền là làm
sao tạo được khoảng cách xa nhất giữa khoản
tiền, tài sản định tẩy rửa với nguồn gốc tội
phạm của chúng Lợi dụng tính chất địa lí,
bọn tội phạm thường tìm cách đưa các khoản
tiền "bẩn" ra nước ngoài và cùng với những
khác biệt về quy định của pháp luật, sự tồn
tại của luật bí mật ngân hàng, luật bí mật hợp
tác và những mối quan hệ mang tính quốc tế,
bọn tội phạm có thể xóa nhoà sợi dây liên hệ
giữa khoản tiền "bẩn" và nguồn gốc tội
phạm, từ đó gây khó khăn cho các cơ quan
thực thi pháp luật trong việc lần theo dấu vết
Sau khi thành công trong hoạt động này, tiền
phải được tội phạm sử dụng trở lại như
những khoản thu nhập hợp pháp
3 Quy định theo pháp luật Việt Nam
Điều 251 BLHS Việt Nam năm 1999 quy
định về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do
phạm tội mà có là hành vi "thông qua các
nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các
giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản
do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản
đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác" Đây có thể xem như khái niệm về "rửa tiền" theo pháp luật Việt Nam
Như vậy, theo luật hình sự Việt Nam thì
có hai loại hành vi có thể dẫn đến tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có: Hành vi "thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa” hoặc hành vi “sử dụng tiền, tài sản
do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác"
a Nếu ở loại hành vi thứ nhất thể hiện rõ tính chủ động lẫn mục đích của kẻ phạm tội -
kẻ phạm tội biết rõ tài sản do phạm tội mà
có, dùng các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng
để hợp pháp hóa tài sản đó thì ở loại hành vi thứ hai tính mục đích không được thể hiện
rõ Căn cứ vào tội danh, người ta có thể nói tội phạm cũng phải có mục đích như loại hành vi thứ nhất, tuy nhiên, nếu như vậy có
lẽ không cần phải nêu lên hành vi thứ hai khi việc tiến hành các hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế cũng có thể hiểu là việc
"thông qua các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có" Vậy sự khác nhau của hai loại hành vi này thể hiện ở
điểm nào? Trên thực tế, kẻ bị tình nghi đV tiến hành tẩy rửa tiền không bao giờ tự thú nhận tội lỗi của mình và luận điệu thường
được chúng đưa ra là "không biết tiền, tài sản này có nguồn gốc tội phạm" Vấn đề đặt ra là
đối với loại hành vi thứ hai, yếu tố kẻ phạm tội biết được tiền, tài sản có nguồn gốc tội
Trang 3phạm có được đặt ra hay không? Việc người
sử dụng tiền có nguồn gốc tội phạm để mở
cửa hàng có thể là việc thực hiện hợp pháp
hóa tiền bằng các giao dịch khác ở loại hành
vi thứ nhất, cũng có thể là việc sử dụng tiền
có nguồn gốc tội phạm vào hoạt động kinh
doanh Phải chăng quy định của BLHS về
loại hành vi thứ hai cho phép trừng trị những
người không tham gia vào quá trình tẩy rửa
tiền nhưng sau này lại được hưởng khoản
tiền đV được tẩy rửa?
Khó có thể kết luận đến khi nào thì
khoản tiền được xem là "đV được tẩy rửa",
cho dù khoản tiền này đV ở vào giai đoạn
cuối của chu kì rửa tiền, nghĩa là đV được tội
phạm sử dụng trở lại Như trên đV nói, một
khoản tiền "bẩn" mVi mVi là khoản tiền
"bẩn", ngay cả khi tội phạm "yên tâm" sử
dụng trở lại khoản tiền đó thì vẫn là động
thái tạo vỏ bọc mà thôi Do đó, nếu như
người được hưởng khoản tiền có nguồn gốc
tội phạm mà bản thân họ không biết thì
không phải bao giờ cũng kết luận họ phạm
tội tẩy rửa tiền, cũng giống như không phải
lúc nào người mua phải đồ ăn cắp cũng bị
cáo buộc về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài
sản do người khác phạm tội mà có Có nghĩa
là, đối với loại hành vi thứ hai, để khép tội
thì phải làm rõ yếu tố lỗi của kẻ tội phạm là
biết được tiền, tài sản do phạm tội mà có
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên kết luận như
vậy thì vẫn chưa làm rõ được sự khác nhau
của hai loại hành vi này Cùng là tội danh
"hợp pháp hóa", cùng biết rõ tiền, tài sản do
phạm tội mà có thông qua các nghiệp vụ tài
chính, ngân hàng, các giao dịch khác hoặc
các hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế
khác Sự phân biệt ở đây có thể được làm rõ hơn ở hai khía cạnh sau:
- Về phương thức thực hiện: ở hành vi thứ nhất, đó là các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác (cho vay, gửi tiền, mua bán, tặng cho ) trong khi ở loại hành vi thứ hai là hoạt động kinh doanh, hoạt
động kinh tế khác Trên khía cạnh nhất định, phương thức thực hiện ở loại hành vi thứ hai
có tính chất đầu tư lâu dài và liên tục Nhà làm luật thể hiện ý tưởng của mình khi nhấn mạnh đến tính chất "giao dịch" và tính chất
"hoạt động", trong đó có thể nói tính giao dịch được thực hiện nhanh chóng và ngắn hạn Kẻ rửa tiền đem tiền gửi vào ngân hàng
- việc làm chiếm không nhiều thời gian - đV
có thể hoàn chỉnh hành vi thứ nhất Nhưng
để hoạt động kinh doanh được thì kẻ đó phải mất nhiều thời gian hơn, chẳng hạn mua nhà xưởng, máy móc, thuê cửa hàng và tiến hành buôn bán để kiếm lời
- Về đối tượng sử dụng: ở loại hành vi thứ hai, tài sản và tiền do phạm tội mà có
được trực tiếp đưa vào sử dụng trong hoạt
động kinh doanh, hoạt động kinh tế, trong khi đó chưa hẳn các tài sản đó đV có mặt trong loại hành vi thứ nhất Một tài sản do phạm tội mà có có thể được nguỵ trang bằng hợp đồng tặng, cho, di chúc Tài sản thực tế không tham gia vào các giao dịch này nhưng
được nguỵ trang bởi các giao dịch này Trong khi đó khoản tiền có được do buôn bán ma túy chẳng hạn được đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần vào công ti nhất
định được xem là việc sử dụng tiền, tài sản
do phạm tội mà có vào hoạt động kinh
Trang 4doanh, nói cách khác, trong loại hành vi thứ
hai, tiền và tài sản do phạm tội mà có trở
thành công cụ của tội phạm rửa tiền
b Có 3 yếu tố thể hiện trong quy định
hiện hành về hành vi rửa tiền, gồm:
- Biết tài sản, tiền do phạm tội mà có;
- Sử dụng các nghiệp vụ tài chính, ngân
hàng, các giao dịch khác hoặc tiến hành các
hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế;
- Mục đích hợp pháp hóa
Nếu như vậy, phải chăng hành vi rửa tiền
luôn phải là hành vi chủ động, nghĩa là phải
đáp ứng được đầy đủ 3 yếu tố trên? Trên thực
tế sẽ có những người tham gia vào chu kì tẩy
rửa tiền mà không đáp ứng đủ cả 3 yếu tố đó
Ví dụ, người nhận chuyển khoản tiền có
nguồn gốc tội phạm qua biên giới chỉ nhằm
kiếm được khoản tiền công nào đó; hoặc
nhân viên hải quan không tuân thủ nghiêm
chỉnh quá trình khám xét, để cho khoản tiền
có nguồn gốc tội phạm qua cửa khẩu thì liệu
rằng họ có bị xử lí về tội tẩy rửa tiền trong
khi họ không chủ động tiến hành các hoạt
động theo như quy định hoặc không vì mục
đích hợp pháp hóa? Liệu rằng có thể căn cứ
vào 2 yếu tố trên để kết luận về mục đích
phạm tội của họ? Nghĩa là người vì động cơ
nào đó (tham lam, tư lợi, nể nang, tắc
trách ) đV tham gia vào các hoạt động có
dính líu đến tiền, tài sản do phạm tội mà có
nhưng không vì mục đích hợp pháp hóa, nói
cách khác, với lỗi cố ý gián tiếp, người thực
hiện hành vi có bị truy cứu về tội tẩy rửa tiền
không?
Theo cuốn Bình luận khoa học BLHS
1999 thì "chủ thể của tội phạm bao gồm cả
người có tiền, tài sản đem đi "rửa" (hợp
pháp hóa) và người tiếp tay cho người đi
"rửa tiền" (nhân viên tài chính, ngân hàng nhận tiền gửi mà biết rõ đó là tiền bất hợp pháp " và "tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp".(1) Như vậy, vấn đề nữa đặt
ra ở đây là mục đích hợp pháp hóa có phải là yếu tố bắt buộc của tội phạm hay không? Theo chúng tôi, để làm rõ vấn đề này cần căn cứ vào hai loại hành vi đV nêu ở điểm a:
- Đối với loại hành vi thứ nhất khi tiền, tài sản do phạm tội mà có được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch và đối với loại hành
vi thứ hai, mục đích đV bao hàm trong hành
vi và không cần phải chứng minh Kẻ tội phạm biết rõ tiền, tài sản do phạm tội mà có,
do đó hiểu rõ tính chất nguy hiểm cho xV hội nếu tiến hành sử dụng tiền và tài sản đó vì mục đích của mình bởi rõ ràng luật pháp đV
có quy định cấm Theo như Điều 19 Luật các
tổ chức tín dụng thì: 1) Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kì dịch
vụ nào liên quan đến khoản tiền đV có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp 2) Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy vậy, kẻ tội phạm vẫn sử dụng chúng vào các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng, các giao dịch khác hoặc các hoạt
động kinh tế, hoạt động kinh doanh cũng như
hỗ trợ, tiếp tay cho quá trình này Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện do lỗi cố
ý, có thể là cố ý trực tiếp (kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xV hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và
Trang 5mong muốn cho hậu quả xảy ra) hoặc cố ý
gián tiếp (kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi
của mình nguy hiểm cho xV hội, thấy trước
hậu quả của hành vi đó, không mong muốn
nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra) Do đó,
chỉ cần làm rõ yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ
hai là có thể xác định hành vi tẩy rửa tiền
Cần xem xét dấu hiệu này trong mối
quan hệ với hành vi chứa chấp, tiêu thụ tiền,
tài sản do phạm tội mà có được quy định ở
Điều 250 BLHS năm 1999 Cuốn Bình luận
khoa học BLHS của Viện nghiên cứu khoa
học pháp lí năm 1992 giải thích hành vi chứa
chấp hoặc tiêu thụ như sau: "Người phạm tội
đ= chứa chấp, cất, giấu giếm hoặc tiêu thụ
như mua, bán, trao đổi Tiêu thụ tức là
chuyển tài sản chiếm đoạt bằng con đường
phạm tội dưới bất kì hình thức nào vào trong
tay người khác Cất giữ ở đây là việc chiếm
giữ tạm thời tài sản đó".(2) Có lẽ cơ quan tiến
hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn khi kết luận một
người đang thực hiện hành vi chứa chấp tài
sản do người khác phạm tội mà có khi phát
hiện người này đang cất giữ, giấu giếm tài
sản đó; tuy nhiên, đối với hành vi tiêu thụ thì
không đơn giản như vậy Hành vi mua bán,
trao đổi, tặng cho, sử dụng cũng có thể kết
luận là phạm tội theo Điều 250 BLHS 1999
(Điều 201 BLHS 1985), cũng có thể xem đấy
là hành vi "thông qua các giao dịch khác để
hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà
có"? Để giải quyết được vấn đề này, ngoài
quy định của pháp luật còn cần phải dựa trên
kinh nghiệm điều tra, xét xử của các cơ quan
chức năng
- Đối với loại hành vi thứ nhất khi tiền,
tài sản do phạm tội mà có không được sử
dụng trực tiếp trong các giao dịch thì cần phải làm rõ mục đích của tội phạm là nhằm hợp pháp hóa bởi đấy chính là sợi dây liên hệ giữa các hành vi có thể là hợp pháp với một khối tài sản bất hợp pháp Người ta không thể khép vào tội tẩy rửa tiền với người chỉ mua lại vé xổ số trúng thưởng của người khác hoặc tìm cách có được một phần thừa
kế nào đó nhưng điều này có thể xảy ra nếu các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ được mục đích của những hành động này là nhằm tạo nên cách hiểu hợp pháp về khoản thu nhập thực chất có nguồn gốc tội phạm Trường hợp này mục đích của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc
c Theo đó, liệu rằng trên thực tế, để cáo buộc người có hành vi rửa tiền, cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ rõ tội phạm nguồn là tội phạm cụ thể này hay chỉ cần chứng minh can phạm biết tiền của mình sử dụng có nguồn gốc tội phạm nói chung là đủ? Tội phạm nguồn có thể do chính kẻ đang tiến hành tẩy rửa tiền thực hiện trước đó hoặc do
kẻ khác thực hiện Nếu theo như yêu cầu thứ nhất, sẽ rất khó khăn cho cơ quan tiến hành
tố tụng, nhất là khi tiền, tài sản có nguồn gốc tội phạm đV được quay vòng nhiều lần hoặc tiền, tài sản được tẩy rửa bởi những tên rửa tiền chuyên nghiệp, chỉ cần nhận tiền để tẩy rửa và lấy chi phí mà không hề biết tiền đấy
từ đâu ra Quá trình điều tra có thể từ tội phạm nguồn lần tìm theo con đường chu chuyển của khoản tiền đó hoặc tìm ngược trở lại nguồn gốc của khoản tiền này trong giao dịch có nghi vấn Đây là việc làm cực kì khó khăn nhưng cũng mang tính thuyết phục rất
Trang 6cao Nếu xét theo yêu cầu thứ hai, cơ quan
tiến hành tố tụng sẽ phải dựa trên rất nhiều
yếu tố suy đoán, nhân chứng, tình tiết vụ
án để chứng minh rằng đối tượng không
thể không biết tiền đó là tiền có nguồn gốc
bất chính Điều này có vẻ khả dĩ hơn, nhất là
khi đối tượng là những người có hoạt động
liên quan đến tiền như nhân viên ngân hàng,
môi giới chứng khoán hay thương gia bởi
bên cạnh nghĩa vụ chứng minh của cơ quan
tiến hành tố tụng còn tồn tại những nghĩa vụ
của đương sự (phải làm hoặc không được
làm những công việc nhất định khi thực thi
nhiệm vụ của mình) mà nếu vi phạm, đấy có
thể là căn cứ để kết luận đương sự "không
thể không biết"
Tuy nhiên, thực tế sẽ có người sử dụng
những khoản tiền không rõ nguồn gốc -
những khoản tiền có dấu hiệu nghi vấn về
nguồn gốc hợp pháp - mà không thể bị xử lí
theo Điều 251 BLHS, đơn giản vì là không
thể đồng nhất tiền bất hợp pháp là tiền có
nguồn gốc tội phạm Phạm vi Điều 251
BLHS chỉ xử lí đối với trường hợp hợp pháp
hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, ngoài lí
lẽ "không biết tài sản có nguồn gốc tội
phạm" can phạm còn có thể nói rằng "tài sản
đó là tài sản hợp pháp" Theo đó, dù rất khó
khăn, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải
chứng minh được tội phạm nguồn bởi nếu
chứng minh được tội phạm nguồn thì mới có
thể kết luận can phạm biết (hay không biết)
tài sản đó có nguồn gốc tội phạm
4 Kết luận
Kể từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực
ngày 01/7/2000 đến nay chưa có vụ án nào bị
khởi tố với tội danh quy định tại Điều 251 Tuy nhiên, trên thực tế không phải không có những dấu hiệu tẩy rửa tiền đV và đang tồn tại ở Việt Nam, đặc biệt thời gian vừa qua hàng loạt những vụ án về buôn bán ma tuý, tham nhũng, những vụ án kinh tế với các khoản tiền và tài sản kếch sù bị xử lí không thể không làm người ta nghi ngờ về nguồn gốc và đường đi của chúng Tẩy rửa tiền có
sự khởi nguồn từ các tội phạm khác và đến lượt mình, nó lại trở thành điểm xuất phát cho hàng loạt các tội phạm mới Cơ chế xử lí
đối với vấn đề này rất phức tạp, vừa tấn công, vừa phòng thủ, cần một cơ chế thông tin và
xử lí thông tin, hợp tác giữa các cơ quan chức năng, hợp tác quốc tế làm sao ngăn chặn được các luồng tiền "bẩn" mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường,
đặc biệt là các hoạt động kinh tế Bài viết này chỉ xin được nêu một số suy nghĩ làm rõ
được phần nào các khía cạnh về nội dung,
đặc điểm của hành vi tẩy rửa tiền nói chung
và tội tẩy rửa tiền nói riêng Để thay cho lời kết luận, xin được dẫn lời ông Joel Sollier - Phó giám đốc Nhà pháp luật Việt - Pháp từng nói trong cuộc hội thảo pháp luật về đấu tranh phòng chống tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có: "Nếu muốn phòng chống hiện tượng tẩy rửa tiền thì phải nghiên cứu về mặt lí luận rất nhiều để hiểu thế nào
là tẩy rửa tiền "./
(1).Xem: Bình luận khoa học BLHS 1999 (Phần các tội phạm của Nxb CAND 2001, tr 554, 555
(2).Xem: Bình luận khoa học BLHS của Viện nghiên cứu khoa học pháp lí, Nxb Pháp lí 1992