1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo về hành vi rửa tiền theo quy định của pháp luật hình sự việt nam

6 392 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định theo pháp luật Việt Nam Điều 251 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có là hành vi "thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặ

Trang 1

Nguyễn Hữu Thanh *

1 Vài nét về hoạt động rửa tiền trên

thế giới

Một số thông tin gần đây cho biết số tiền

tẩy rửa hàng năm ở các nước đang phát triển

từ 1 đến 2 tỉ USD, ở các nước giàu lên tới

100 tỉ USD, ở một số trung tâm tài chính lớn

trên thế giới số tiền tẩy rửa có thể từ 300 đến

500 tỉ USD Theo ước tính của Quỹ tiền tệ

quốc tế (IMF), các hoạt động phạm tội trên

thế giới có thể rửa tiền từ 1000 tỉ đến 3000 tỉ

USD/năm Người ta có thể nhắc đến Ngân

hàng Citigroup (Mĩ) với vụ dính líu đến hoạt

động rửa tiền bị phát hiện thông qua cuộc

điều tra hành vi tham nhũng của cựu Tổng

thống Philippin Joseph Estrada; vụ Cục điều

tra liên bang Mĩ (FBI) tiến hành điều tra

Ngân hàng New york về số tiền khổng lồ 7,5

tỉ USD mà một số công dân Nga đV trung

chuyển qua đây; và gần đây là vụ ông chủ

tịch Câu lạc bộ bóng đá Fiorentina (Italia)

Vittorio Cechio Gori phải tuyên bố giao phó

quyền kiểm soát công ti cổ phần của mình

cho ban đốc công vì bản thân có dính dáng

đến rửa tiền Những cái tên như Ăngtigoa,

đảo quốc Nauru, Liechtenstein, Libăng,

Urugoay đang trở thành những thiên đường

cho nạn rửa tiền hoành hành Ngay tại các

cường quốc như Mĩ, Anh, Nga, Nhật Bản

người ta đV phải lên tiếng "báo động đỏ" về

những con số tiền bị tẩy rửa khổng lồ

Những số liệu nêu trên sẽ là không chính xác bởi đó chỉ là phần nổi của tảng băng, hoạt động tẩy rửa tiền đV và đang là hoạt

động tội phạm rất nguy hiểm diễn ra hàng ngày, vừa bí mật, vừa công khai, có thể rất

đơn giản hoặc vô cùng tinh vi, phức tạp trong nhiều lĩnh vực và với phạm vi toàn thế giới

2 Khái niệm

Có nhiều cách để nhìn nhận về hoạt động rửa tiền Theo một số nhà nghiên cứu, rửa tiền là quá trình mà trong đó những đồng tiền thu được bằng những cách thức bất hợp pháp được hợp thức hóa thành những nguồn thu nhập chính đáng và được đưa trở lại lưu thông Trong "Báo cáo về rửa tiền, bí mật ngân hàng và nơi cất giấu tài chính" của một

số chuyên gia thuộc Văn phòng kiểm soát

ma tuý và phòng chống tội phạm của Liên hợp quốc năm 1988, rửa tiền được hiểu là quá trình gồm ba giai đoạn: Thứ nhất, cách li các khoản tiền thoát khỏi mối quan hệ trực tiếp với tội phạm; thứ hai, làm thay đổi các dấu vết nhằm chống lại việc điều tra; và thứ

ba, với nguồn gốc đV được giấu kín, làm cho tiền có khả năng sử dụng bình thường trở lại Cùng tồn tại với khái niệm này là quan

điểm của lực lượng thực thi các hoạt động tài

* Vụ pháp chế Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 2

chính chia hoạt động rửa tiền thành các hoạt

động: Xác định điểm "tập kết" (tuồn tiền mặt

vào nền kinh tế hợp pháp hoặc chuyển lậu

qua biên giới), tạo vỏ bọc (phân tán nguồn

gốc bằng cách tạo nên các cơ cấu vỏ bọc

phức tạp) và hợp nhất (đưa các nguồn tiền đV

được tẩy rửa trở lại nền kinh tế)

Thuật ngữ được sử dụng trong Công ước

của Liên hợp quốc năm 1988 về phòng

chống buôn bán bất hợp pháp ma tuý nhằm

nói đến sự chuyển đổi (tiền mặt sang các tài

sản khác) có thể liên quan đến việc xác định

điểm "tập kết" trong một tổ chức tín dụng;

che giấu nguồn gốc hoặc quyền sở hữu thực

sự và tạo ra cho chúng cách hiểu hợp pháp

Dù cách đánh giá như thế nào, tựu chung

lại, "luật chơi" của những kẻ rửa tiền là làm

sao tạo được khoảng cách xa nhất giữa khoản

tiền, tài sản định tẩy rửa với nguồn gốc tội

phạm của chúng Lợi dụng tính chất địa lí,

bọn tội phạm thường tìm cách đưa các khoản

tiền "bẩn" ra nước ngoài và cùng với những

khác biệt về quy định của pháp luật, sự tồn

tại của luật bí mật ngân hàng, luật bí mật hợp

tác và những mối quan hệ mang tính quốc tế,

bọn tội phạm có thể xóa nhoà sợi dây liên hệ

giữa khoản tiền "bẩn" và nguồn gốc tội

phạm, từ đó gây khó khăn cho các cơ quan

thực thi pháp luật trong việc lần theo dấu vết

Sau khi thành công trong hoạt động này, tiền

phải được tội phạm sử dụng trở lại như

những khoản thu nhập hợp pháp

3 Quy định theo pháp luật Việt Nam

Điều 251 BLHS Việt Nam năm 1999 quy

định về tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do

phạm tội mà có là hành vi "thông qua các

nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các

giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản

do phạm tội mà có hoặc sử dụng tiền, tài sản

đó vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác" Đây có thể xem như khái niệm về "rửa tiền" theo pháp luật Việt Nam

Như vậy, theo luật hình sự Việt Nam thì

có hai loại hành vi có thể dẫn đến tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có: Hành vi "thông qua các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác để hợp pháp hóa” hoặc hành vi “sử dụng tiền, tài sản

do phạm tội mà có vào việc tiến hành các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động kinh tế khác"

a Nếu ở loại hành vi thứ nhất thể hiện rõ tính chủ động lẫn mục đích của kẻ phạm tội -

kẻ phạm tội biết rõ tài sản do phạm tội mà

có, dùng các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng

để hợp pháp hóa tài sản đó thì ở loại hành vi thứ hai tính mục đích không được thể hiện

rõ Căn cứ vào tội danh, người ta có thể nói tội phạm cũng phải có mục đích như loại hành vi thứ nhất, tuy nhiên, nếu như vậy có

lẽ không cần phải nêu lên hành vi thứ hai khi việc tiến hành các hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế cũng có thể hiểu là việc

"thông qua các giao dịch khác để hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có" Vậy sự khác nhau của hai loại hành vi này thể hiện ở

điểm nào? Trên thực tế, kẻ bị tình nghi đV tiến hành tẩy rửa tiền không bao giờ tự thú nhận tội lỗi của mình và luận điệu thường

được chúng đưa ra là "không biết tiền, tài sản này có nguồn gốc tội phạm" Vấn đề đặt ra là

đối với loại hành vi thứ hai, yếu tố kẻ phạm tội biết được tiền, tài sản có nguồn gốc tội

Trang 3

phạm có được đặt ra hay không? Việc người

sử dụng tiền có nguồn gốc tội phạm để mở

cửa hàng có thể là việc thực hiện hợp pháp

hóa tiền bằng các giao dịch khác ở loại hành

vi thứ nhất, cũng có thể là việc sử dụng tiền

có nguồn gốc tội phạm vào hoạt động kinh

doanh Phải chăng quy định của BLHS về

loại hành vi thứ hai cho phép trừng trị những

người không tham gia vào quá trình tẩy rửa

tiền nhưng sau này lại được hưởng khoản

tiền đV được tẩy rửa?

Khó có thể kết luận đến khi nào thì

khoản tiền được xem là "đV được tẩy rửa",

cho dù khoản tiền này đV ở vào giai đoạn

cuối của chu kì rửa tiền, nghĩa là đV được tội

phạm sử dụng trở lại Như trên đV nói, một

khoản tiền "bẩn" mVi mVi là khoản tiền

"bẩn", ngay cả khi tội phạm "yên tâm" sử

dụng trở lại khoản tiền đó thì vẫn là động

thái tạo vỏ bọc mà thôi Do đó, nếu như

người được hưởng khoản tiền có nguồn gốc

tội phạm mà bản thân họ không biết thì

không phải bao giờ cũng kết luận họ phạm

tội tẩy rửa tiền, cũng giống như không phải

lúc nào người mua phải đồ ăn cắp cũng bị

cáo buộc về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài

sản do người khác phạm tội mà có Có nghĩa

là, đối với loại hành vi thứ hai, để khép tội

thì phải làm rõ yếu tố lỗi của kẻ tội phạm là

biết được tiền, tài sản do phạm tội mà có

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa trên kết luận như

vậy thì vẫn chưa làm rõ được sự khác nhau

của hai loại hành vi này Cùng là tội danh

"hợp pháp hóa", cùng biết rõ tiền, tài sản do

phạm tội mà có thông qua các nghiệp vụ tài

chính, ngân hàng, các giao dịch khác hoặc

các hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế

khác Sự phân biệt ở đây có thể được làm rõ hơn ở hai khía cạnh sau:

- Về phương thức thực hiện: ở hành vi thứ nhất, đó là các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng hoặc các giao dịch khác (cho vay, gửi tiền, mua bán, tặng cho ) trong khi ở loại hành vi thứ hai là hoạt động kinh doanh, hoạt

động kinh tế khác Trên khía cạnh nhất định, phương thức thực hiện ở loại hành vi thứ hai

có tính chất đầu tư lâu dài và liên tục Nhà làm luật thể hiện ý tưởng của mình khi nhấn mạnh đến tính chất "giao dịch" và tính chất

"hoạt động", trong đó có thể nói tính giao dịch được thực hiện nhanh chóng và ngắn hạn Kẻ rửa tiền đem tiền gửi vào ngân hàng

- việc làm chiếm không nhiều thời gian - đV

có thể hoàn chỉnh hành vi thứ nhất Nhưng

để hoạt động kinh doanh được thì kẻ đó phải mất nhiều thời gian hơn, chẳng hạn mua nhà xưởng, máy móc, thuê cửa hàng và tiến hành buôn bán để kiếm lời

- Về đối tượng sử dụng: ở loại hành vi thứ hai, tài sản và tiền do phạm tội mà có

được trực tiếp đưa vào sử dụng trong hoạt

động kinh doanh, hoạt động kinh tế, trong khi đó chưa hẳn các tài sản đó đV có mặt trong loại hành vi thứ nhất Một tài sản do phạm tội mà có có thể được nguỵ trang bằng hợp đồng tặng, cho, di chúc Tài sản thực tế không tham gia vào các giao dịch này nhưng

được nguỵ trang bởi các giao dịch này Trong khi đó khoản tiền có được do buôn bán ma túy chẳng hạn được đầu tư dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần vào công ti nhất

định được xem là việc sử dụng tiền, tài sản

do phạm tội mà có vào hoạt động kinh

Trang 4

doanh, nói cách khác, trong loại hành vi thứ

hai, tiền và tài sản do phạm tội mà có trở

thành công cụ của tội phạm rửa tiền

b Có 3 yếu tố thể hiện trong quy định

hiện hành về hành vi rửa tiền, gồm:

- Biết tài sản, tiền do phạm tội mà có;

- Sử dụng các nghiệp vụ tài chính, ngân

hàng, các giao dịch khác hoặc tiến hành các

hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế;

- Mục đích hợp pháp hóa

Nếu như vậy, phải chăng hành vi rửa tiền

luôn phải là hành vi chủ động, nghĩa là phải

đáp ứng được đầy đủ 3 yếu tố trên? Trên thực

tế sẽ có những người tham gia vào chu kì tẩy

rửa tiền mà không đáp ứng đủ cả 3 yếu tố đó

Ví dụ, người nhận chuyển khoản tiền có

nguồn gốc tội phạm qua biên giới chỉ nhằm

kiếm được khoản tiền công nào đó; hoặc

nhân viên hải quan không tuân thủ nghiêm

chỉnh quá trình khám xét, để cho khoản tiền

có nguồn gốc tội phạm qua cửa khẩu thì liệu

rằng họ có bị xử lí về tội tẩy rửa tiền trong

khi họ không chủ động tiến hành các hoạt

động theo như quy định hoặc không vì mục

đích hợp pháp hóa? Liệu rằng có thể căn cứ

vào 2 yếu tố trên để kết luận về mục đích

phạm tội của họ? Nghĩa là người vì động cơ

nào đó (tham lam, tư lợi, nể nang, tắc

trách ) đV tham gia vào các hoạt động có

dính líu đến tiền, tài sản do phạm tội mà có

nhưng không vì mục đích hợp pháp hóa, nói

cách khác, với lỗi cố ý gián tiếp, người thực

hiện hành vi có bị truy cứu về tội tẩy rửa tiền

không?

Theo cuốn Bình luận khoa học BLHS

1999 thì "chủ thể của tội phạm bao gồm cả

người có tiền, tài sản đem đi "rửa" (hợp

pháp hóa) và người tiếp tay cho người đi

"rửa tiền" (nhân viên tài chính, ngân hàng nhận tiền gửi mà biết rõ đó là tiền bất hợp pháp " và "tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp".(1) Như vậy, vấn đề nữa đặt

ra ở đây là mục đích hợp pháp hóa có phải là yếu tố bắt buộc của tội phạm hay không? Theo chúng tôi, để làm rõ vấn đề này cần căn cứ vào hai loại hành vi đV nêu ở điểm a:

- Đối với loại hành vi thứ nhất khi tiền, tài sản do phạm tội mà có được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch và đối với loại hành

vi thứ hai, mục đích đV bao hàm trong hành

vi và không cần phải chứng minh Kẻ tội phạm biết rõ tiền, tài sản do phạm tội mà có,

do đó hiểu rõ tính chất nguy hiểm cho xV hội nếu tiến hành sử dụng tiền và tài sản đó vì mục đích của mình bởi rõ ràng luật pháp đV

có quy định cấm Theo như Điều 19 Luật các

tổ chức tín dụng thì: 1) Tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kì dịch

vụ nào liên quan đến khoản tiền đV có bằng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp 2) Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền Tuy vậy, kẻ tội phạm vẫn sử dụng chúng vào các nghiệp vụ tài chính, ngân hàng, các giao dịch khác hoặc các hoạt

động kinh tế, hoạt động kinh doanh cũng như

hỗ trợ, tiếp tay cho quá trình này Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện do lỗi cố

ý, có thể là cố ý trực tiếp (kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xV hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và

Trang 5

mong muốn cho hậu quả xảy ra) hoặc cố ý

gián tiếp (kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi

của mình nguy hiểm cho xV hội, thấy trước

hậu quả của hành vi đó, không mong muốn

nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra) Do đó,

chỉ cần làm rõ yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ

hai là có thể xác định hành vi tẩy rửa tiền

Cần xem xét dấu hiệu này trong mối

quan hệ với hành vi chứa chấp, tiêu thụ tiền,

tài sản do phạm tội mà có được quy định ở

Điều 250 BLHS năm 1999 Cuốn Bình luận

khoa học BLHS của Viện nghiên cứu khoa

học pháp lí năm 1992 giải thích hành vi chứa

chấp hoặc tiêu thụ như sau: "Người phạm tội

đ= chứa chấp, cất, giấu giếm hoặc tiêu thụ

như mua, bán, trao đổi Tiêu thụ tức là

chuyển tài sản chiếm đoạt bằng con đường

phạm tội dưới bất kì hình thức nào vào trong

tay người khác Cất giữ ở đây là việc chiếm

giữ tạm thời tài sản đó".(2) Có lẽ cơ quan tiến

hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn khi kết luận một

người đang thực hiện hành vi chứa chấp tài

sản do người khác phạm tội mà có khi phát

hiện người này đang cất giữ, giấu giếm tài

sản đó; tuy nhiên, đối với hành vi tiêu thụ thì

không đơn giản như vậy Hành vi mua bán,

trao đổi, tặng cho, sử dụng cũng có thể kết

luận là phạm tội theo Điều 250 BLHS 1999

(Điều 201 BLHS 1985), cũng có thể xem đấy

là hành vi "thông qua các giao dịch khác để

hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà

có"? Để giải quyết được vấn đề này, ngoài

quy định của pháp luật còn cần phải dựa trên

kinh nghiệm điều tra, xét xử của các cơ quan

chức năng

- Đối với loại hành vi thứ nhất khi tiền,

tài sản do phạm tội mà có không được sử

dụng trực tiếp trong các giao dịch thì cần phải làm rõ mục đích của tội phạm là nhằm hợp pháp hóa bởi đấy chính là sợi dây liên hệ giữa các hành vi có thể là hợp pháp với một khối tài sản bất hợp pháp Người ta không thể khép vào tội tẩy rửa tiền với người chỉ mua lại vé xổ số trúng thưởng của người khác hoặc tìm cách có được một phần thừa

kế nào đó nhưng điều này có thể xảy ra nếu các cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ được mục đích của những hành động này là nhằm tạo nên cách hiểu hợp pháp về khoản thu nhập thực chất có nguồn gốc tội phạm Trường hợp này mục đích của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc

c Theo đó, liệu rằng trên thực tế, để cáo buộc người có hành vi rửa tiền, cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ rõ tội phạm nguồn là tội phạm cụ thể này hay chỉ cần chứng minh can phạm biết tiền của mình sử dụng có nguồn gốc tội phạm nói chung là đủ? Tội phạm nguồn có thể do chính kẻ đang tiến hành tẩy rửa tiền thực hiện trước đó hoặc do

kẻ khác thực hiện Nếu theo như yêu cầu thứ nhất, sẽ rất khó khăn cho cơ quan tiến hành

tố tụng, nhất là khi tiền, tài sản có nguồn gốc tội phạm đV được quay vòng nhiều lần hoặc tiền, tài sản được tẩy rửa bởi những tên rửa tiền chuyên nghiệp, chỉ cần nhận tiền để tẩy rửa và lấy chi phí mà không hề biết tiền đấy

từ đâu ra Quá trình điều tra có thể từ tội phạm nguồn lần tìm theo con đường chu chuyển của khoản tiền đó hoặc tìm ngược trở lại nguồn gốc của khoản tiền này trong giao dịch có nghi vấn Đây là việc làm cực kì khó khăn nhưng cũng mang tính thuyết phục rất

Trang 6

cao Nếu xét theo yêu cầu thứ hai, cơ quan

tiến hành tố tụng sẽ phải dựa trên rất nhiều

yếu tố suy đoán, nhân chứng, tình tiết vụ

án để chứng minh rằng đối tượng không

thể không biết tiền đó là tiền có nguồn gốc

bất chính Điều này có vẻ khả dĩ hơn, nhất là

khi đối tượng là những người có hoạt động

liên quan đến tiền như nhân viên ngân hàng,

môi giới chứng khoán hay thương gia bởi

bên cạnh nghĩa vụ chứng minh của cơ quan

tiến hành tố tụng còn tồn tại những nghĩa vụ

của đương sự (phải làm hoặc không được

làm những công việc nhất định khi thực thi

nhiệm vụ của mình) mà nếu vi phạm, đấy có

thể là căn cứ để kết luận đương sự "không

thể không biết"

Tuy nhiên, thực tế sẽ có người sử dụng

những khoản tiền không rõ nguồn gốc -

những khoản tiền có dấu hiệu nghi vấn về

nguồn gốc hợp pháp - mà không thể bị xử lí

theo Điều 251 BLHS, đơn giản vì là không

thể đồng nhất tiền bất hợp pháp là tiền có

nguồn gốc tội phạm Phạm vi Điều 251

BLHS chỉ xử lí đối với trường hợp hợp pháp

hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có, ngoài lí

lẽ "không biết tài sản có nguồn gốc tội

phạm" can phạm còn có thể nói rằng "tài sản

đó là tài sản hợp pháp" Theo đó, dù rất khó

khăn, cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phải

chứng minh được tội phạm nguồn bởi nếu

chứng minh được tội phạm nguồn thì mới có

thể kết luận can phạm biết (hay không biết)

tài sản đó có nguồn gốc tội phạm

4 Kết luận

Kể từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực

ngày 01/7/2000 đến nay chưa có vụ án nào bị

khởi tố với tội danh quy định tại Điều 251 Tuy nhiên, trên thực tế không phải không có những dấu hiệu tẩy rửa tiền đV và đang tồn tại ở Việt Nam, đặc biệt thời gian vừa qua hàng loạt những vụ án về buôn bán ma tuý, tham nhũng, những vụ án kinh tế với các khoản tiền và tài sản kếch sù bị xử lí không thể không làm người ta nghi ngờ về nguồn gốc và đường đi của chúng Tẩy rửa tiền có

sự khởi nguồn từ các tội phạm khác và đến lượt mình, nó lại trở thành điểm xuất phát cho hàng loạt các tội phạm mới Cơ chế xử lí

đối với vấn đề này rất phức tạp, vừa tấn công, vừa phòng thủ, cần một cơ chế thông tin và

xử lí thông tin, hợp tác giữa các cơ quan chức năng, hợp tác quốc tế làm sao ngăn chặn được các luồng tiền "bẩn" mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường,

đặc biệt là các hoạt động kinh tế Bài viết này chỉ xin được nêu một số suy nghĩ làm rõ

được phần nào các khía cạnh về nội dung,

đặc điểm của hành vi tẩy rửa tiền nói chung

và tội tẩy rửa tiền nói riêng Để thay cho lời kết luận, xin được dẫn lời ông Joel Sollier - Phó giám đốc Nhà pháp luật Việt - Pháp từng nói trong cuộc hội thảo pháp luật về đấu tranh phòng chống tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có: "Nếu muốn phòng chống hiện tượng tẩy rửa tiền thì phải nghiên cứu về mặt lí luận rất nhiều để hiểu thế nào

là tẩy rửa tiền "./

(1).Xem: Bình luận khoa học BLHS 1999 (Phần các tội phạm của Nxb CAND 2001, tr 554, 555

(2).Xem: Bình luận khoa học BLHS của Viện nghiên cứu khoa học pháp lí, Nxb Pháp lí 1992

Ngày đăng: 19/12/2015, 21:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w