BLHS năm 1999 đB nhập hai chương của BLHS 1985 chương IV: Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và chương VI: Các tội xâm phạm sở hữu công dân thành một chương với tên gọi "các tội xâm phạm sở hữ
Trang 1tạp chí luật học - 33
Các tội xâm phạm sở hữu Trong Bộ luật hình sự năm 1999
TS Trương Quang Vinh *
ác tội xâm phạm sở hữu được quy
định tại chương XIV Bộ luật hình sự
(BLHS) năm 1999 bao gồm 13 tội, từ
Điều 133 đến Điều 145 Đây là một trong
những chương có nhiều thay đổi, bổ sung
cho phù hợp với chính sách kinh tế-xB hội
của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì
đổi mới Những điểm mới của các tội
xâm phạm sở hữu được thể hiện ở một số
điểm cơ bản sau đây:
1 BLHS năm 1999 đB nhập hai
chương của BLHS 1985 (chương IV: Các
tội xâm phạm sở hữu XHCN và chương
VI: Các tội xâm phạm sở hữu công dân)
thành một chương với tên gọi "các tội
xâm phạm sở hữu" vì những lí do sau:
- Xuất phát từ chính sách của Đảng và
Nhà nước ta trong thời kì hiện nay là xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần dựa
trên cơ sở nhiều hình thức sở hữu khác
nhau, vận hành theo cơ chế thị trường
theo định hướng XHCN, các thành phần
kinh tế này đều bình đẳng trước pháp luật
và đều được Nhà nước bảo hộ như nhau
Chính sách này đB được Hiến pháp 1992
và Bộ luật dân sự của nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam thể chế hóa bằng việc
quy định 7 hình thức sở hữu Trước tình
hình đó, BLHS năm 1985 vẫn duy trì 2
chương về các tội xâm phạm sở hữu
(XHCN và công dân) trong khi thực tế
tồn tại 7 hình thức sở hữu khác nhau là
điều không còn phù hợp;
- Về mặt thực tiễn, trong nền kinh tế
nhiều thành phần hiện nay, các hình thức
sở hữu đan xen, có sự liên doanh, liên kết
và cả hỗn hợp Với tỉ lệ góp vốn khác
nhau, do đó rất khó khăn, thậm chí không thể xác định được hình thức sở hữu khi
xử lí tội phạm nếu BLHS vẫn duy trì 2 chương về các tội xâm phạm sở hữu như
hiện nay;
- Các tội phạm được quy định ở 2 chương về các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1985 về cơ bản là giống nhau
ở các dấu hiệu khách quan, chủ quan và chủ thể của tội phạm (trừ tội tham ô tài sản XHCN đB được quy định tại Điều 278 chương XXI - Các tội về chức vụ, Mục A
- Các tội phạm về tham nhũng BLHS năm 1999)
Tuy nhiên, những lí do đB nêu ở trên dẫn đến việc nhập 2 chương của BLHS năm 1985 thành một chương trong BLHS năm 1999 hoàn toàn không có nghĩa là xoá nhoà sự phân biệt, đánh đồng vai trò,
vị trí của các hình thức sở hữu, không coi trọng định hướng XHCN trong những quy định của BLHS trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Yếu tố
đối tượng tác động của tội phạm là tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước đB được các nhà làm luật chú ý và quy định bổ sung thành tình tiết tăng nặng TNHS tại Điều
điểm i khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999
Điều này đB thể hiện một cách cụ thể thái
độ bảo vệ đặc biệt của Nhà nước ta đối với sở hữu XHCN trong một số trường hợp Trong 13 tội xâm phạm sở hữu thì
chỉ có một tội quy định tại Điều 144 có quy định “tài sản của Nhà nước” là dấu hiệu bắt buộc, có ý nghĩa trong việc định
C
* Giảng viên Khoa tư pháp Trường đại học luật Hà Nội
Trang 234 - tạp chí luật học
tội Đây là tội có tính đặc thù vì chỉ người
nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác
quản lí tài sản của Nhà nước vì thiếu
trách nhiệm nên đB để mất mát, hư hỏng,
lBng phí gây thiệt hại nghiêm trọng cho
tài sản của Nhà nước mới cấu thành tội
phạm Các hành vi tương ứng gây thiệt
hại nghiêm trọng cho tài sản thuộc các
hình thức sở hữu khác không cấu thành
tội này và chỉ bị xử lí bằng các biện pháp
không phải là hình sự
2 Về mặt kết cấu các điều luật trong
chương, nhà làm luật đB tách một số tội
được quy định chung trong một điều luật
của BLHS năm 1985 thành các tội độc
lập và được quy định tại các điều luật
khác nhau (ví dụ: Điều 131, 154 BLHS
năm 1985 nhập lại với nhau thành các
Điều 136, 137 BLHS năm 1999) Việc
tách một số tội trong BLHS năm 1999 có
ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn áp dụng
nhất là trong việc cá thể hoá TNHS đối
với người phạm tội
Đổi tên tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt
tài sản của công dân (Điều 152 BLHS
năm 1985) thành tội bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản (Điều 134 BLHS năm 1999)
Về mặt lí luận cũng như thực tế, ở nhiều
nước trên thế giới hiện nay, hành vi bắt
cóc người khác làm con tin không phải
chỉ nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân
mà trong nhiều trường hợp thông qua
việc bắt cóc này người phạm tội còn
nhằm chiếm đoạt tài sản của Nhà nước
thậm chí với số lượng rất lớn Việc quy
định tên tội danh như vậy trong BLHS
năm 1999 là phù hợp với tình hình mới
khi mà loại tội này đang có những diễn
biến hết sức phức tạp Vì vậy, hành vi
phạm tội này cũng chung cho các hình
thức sở hữu khác nhau
3 Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế
XHCN trong áp dụng pháp luật, tránh
hiểu không thống nhất về những quy định
của pháp luật, đồng thời cũng tránh sự tùy tiện trong xử lí tội phạm, BLHS năm
1999 đB quy định rất cụ thể dấu hiệu định lượng tài sản để làm căn cứ phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính, vi phạm kỉ luật (dấu hiệu định tội) Đồng thời cũng căn cứ vào dấu hiệu định lượng này có thể phân biệt sự khác nhau giữa các khung hình phạt trong cùng một tội (dấu hiệu định khung)
- Trong một số tội phạm, nếu người chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500.000
đồng trở lên hoặc dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đB
bị xử phạt hành chính về hành vi này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội phạm Dấu hiệu định lượng tối thiểu không chỉ quy định đối với một số tội phạm chiếm đoạt tài sản, như tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137); tội trộm cắp tài sản (Điều 138); tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) mà còn quy định đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) Dấu hiệu định lượng tối thiểu này không quy định đối với các tội cướp tài sản (Điều133); tội bắt cóc nhằm chiếm
đoạt tài sản (Điều 134) Vì các tội này
đồng thời xâm phạm hai khách thể đều rất quan trọng đó là tính mạng, sức khoẻ
và sở hữu của người khác ở một số tội phạm khác mức định lượng tối thiểu quy
định nếu tài sản thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội tội phạm, ví dụ tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142); tội cố ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều145)
- Mức giá trị tài sản bị gây thiệt hại hoặc bị chiếm đoạt được quy định rất cụ thể trong mỗi khung hình phạt chính là những căn cứ để xác định những tình tiết tăng nặng TNHS đối với các tội xâm phạm sở hữu
Trang 3tạp chí luật học - 35
4 Phù hợp với việc phân loại tội
phạm thành 4 loại đồng thời nhằm thu
hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu với
mức tối đa của mỗi khung hình phạt
trong BLHS , hầu hết các tội xâm phạm
sở hữu được xây dựng thành 4 khung
hình phạt mà khoảng cách giữa mức tối
thiểu với mức tối đa lớn nhất là 8 năm
5 Hình phạt áp dụng đối với các tội
xâm phạm sở hữu nói chung là nghiêm
khắc Tù có thời hạn là hình phạt chủ yếu
được áp dụng đối với người phạm các tội
trong nhóm này: Đối với một số tội phạm
ít nguy hiểm như tội trộm cắp tài sản
(Điều 138); tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản (Điều 140); tội sử dụng trái
phép tài sản (Điều 142); tội vô ý gây thiệt
hại đến tài sản (Điều145) trong CTTP
cơ bản đều quy định hình phạt cải tạo
không giam giữ đến 3 năm trong chế tài
lựa chọn với hình phạt tù có thời hạn
Hầu hết các tội đều quy định hình phạt
tiền là hình phạt bổ sung thấp nhất là 5 triệu đồng, cao nhất là 100 triệu đồng
Đặc biệt, trong BLHS năm 1999 đB bỏ hình phạt tử hình đối với một số tội như tội trộm cắp tài sản (Điều 138); tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) Đây chính là sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo XHCN của pháp luật hình sự nước ta Bên cạnh đó, BLHS 1999 cũng
đB quy định hình phạt tù chung thân
được áp dụng đối với hành vi phạm tội cướp giật (Điều 136) và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134) trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng Việc quy định hình phạt tù chung thân đối với hai tội này theo hướng nghiêm khắc hơn quy định của BLHS năm 1985 chính là sự thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, đối với một số tội phạm nguy hiểm, diễn biến phức tạp và có xu hướng phát triển ngày một gia tăng./
Một số điểm mới (tiếp theo trang 6) của họ thì "nội dung mới được quy
định trong Điều 111 là dấu hiệu “đe dọa
dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng
không thể tự vệ được của nạn nhân” Đây
là những thủ đoạn tương đối phổ biến,
điển hình Những nội dung này trong thời
gian qua, toà án các cấp đB vận dụng và
coi đó là "các thủ đoạn khác" Đến nay
điều luật mới nêu cụ thể hơn, tạo thuận
lợi cho sự thống nhất đánh giá của các cơ
quan tư pháp trong áp dụng đấu tranh
phòng chống loại tội phạm này
+ Tội dâm ô đối với trẻ em
Điều 202b BLHS năm 1985 quy định:
"người nào có hành vi dâm ô đối với trẻ
em thì phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm"
Điều 116 BLHS năm 1999 đB quy
định: "người nào đ+ thành niên mà có hành vi dâm ô đối với trẻ em thì bị phạt
tù từ 6 tháng đến 3 năm"
Như vậy điều luật mới đB nêu rõ dấu hiệu chủ thể của tội phạm là người đB thành niên, thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta về chủ thể phạm tội dâm ô
đối với trẻ em
Trên đây là một số điểm mới trong quy định về tội phạm của các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người Hi vọng rằng việc nghiên cứu và làm rõ nội dung mới trong BLHS năm1999 nói chung và chương XII nói riêng góp phần vào việc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhằm bảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con người./