1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo vị trí của luật sư bào chữa trong phiên toà xét xử

4 200 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 70,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phiên tòa xét xử, luật sư tham gia với nhiều tư cách khác nhau: Người bào chữa của bị cáo; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền

Trang 1

Vị trí của luật sư bào chữa trong phiên tòa xét xử

PTS Phạm Hồng Hải *

1 Theo quy định của Hiến pháp 1992

và Luật tổ chức tòa án nhân dân năm

1993 thì tòa án là cơ quan xét xử của

nước Cộng hòa x1 hội chủ nghĩa Việt

Nam, có chức năng xét xử các vụ án hình

sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành

chính Xét xử các vụ án nêu trên là một

trong những giai đoạn quan trọng của các

loại tố tụng khác nhau trong đó tòa án với

tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng nhân

danh Nhà nước giải quyết vụ án Để giải

quyết vụ án một cách khách quan, bảo vệ

có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp

của bị cáo và các đương sự khác, pháp

luật nước ta đ1 quy định về sự tham gia

của luật sư trong phiên tòa xét xử của tòa

án các cấp Trong phiên tòa xét xử, luật

sư tham gia với nhiều tư cách khác nhau:

Người bào chữa của bị cáo; người bảo vệ

quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền, lợi

ích hợp pháp liên quan tới vụ án; người

được đương sự ủy quyền Trong phạm vi

bài viết này, tôi chỉ đề cập địa vị pháp lí

của luật sư trong phiên tòa xét xử về hình

sự với tư cách là người bào chữa của bị

cáo

Theo quy định tại Điều 35 Bộ luật tố

tụng hình sự, luật sư là một trong ba loại

người có thể được tham gia tố tụng với

vai trò là người bào chữa

Trước hết phải khẳng định sự tham

gia của người bào chữa trong tố tụng hình

sự là cần thiết khách quan Không thể chỉ

coi đây là hình thức để thực hiện nội

dung dân chủ trong quá trình khởi tố,

điều tra, truy tố, xét xử tội phạm khi trong các hoạt động nêu trên có thêm sự tham gia của những người có trình độ pháp lí nhưng không đại diện cho công quyền để giải quyết vụ án Sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự cần thiết trước tiên bởi vai trò của họ trong việc thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của những người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Bảo đảm quyền bào chữa của những người bị buộc tội (bao gồm người bị tạm giữ, người bị tình nghi phạm tội, bị can, bị cáo, người bị kết

án) trong thực tế không chỉ là nét dân chủ của luật tố tụng hình sự x1 hội chủ nghĩa

mà đi xa hơn là nó đ1 tạo điều kiện cho tố tụng hình sự đạt được những mục đích đặt

ra, trong đó có mục đích bảo vệ có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Sẽ là phi khoa học và không đảm bảo dân chủ nếu không thừa nhận trong

tố tụng hình sự song song tồn tại với chức năng buộc tội còn có chức năng bào chữa Chỉ có sự song song tồn tại hai chức năng nêu trên mới có thể tạo ra sự tranh tụng giữa các bên - điều kiện cần thiết để xác

định chân lí khách quan của vụ án(1) Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự trước hết thuộc về người bị buộc tội mà ở các giai đoạn khác nhau của tố tụng là người bị tình nghi phạm tội, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình

sự theo giáo sư M.S Stragovich là quyền

* Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật Trung tâm KHXH&NV quốc gia

Trang 2

của người bị buộc tội được thực hiện các

hành vi tố tụng khác nhau hướng tới việc

bác bỏ sự buộc tội, chứng minh sự vô tội

hoặc giảm tội của mình(2)

Trong thực tiễn, do có hạn chế về đặc

điểm thể chất hoặc tinh thần hoặc hạn chế

về trình độ hiểu biết pháp luật nên không

phải bất cứ người bị buộc tội nào cũng có

khả năng thực hiện được và thực hiện có

hiệu quả quyền bào chữa của mình Chính

vì vậy, sự giúp đỡ về mặt pháp lí cho họ

từ phía luật sư, luật gia và những người

am hiểu pháp luật khác là cần thiết Xuất

phát từ đặc điểm nêu trên, không thể

quan niệm quyền bào chữa chỉ là quyền

tự bào chữa của người bị buộc tội mà phải

quan niệm quyền bào chữa bao gồm hai

bộ phận không thể tách rời nhau: Quyền

tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào

chữa Thực hiện quyền tự bào chữa không

làm mất đi (triệt tiêu) quyền được nhờ

người khác bào chữa và ngược lại, sự

tham gia của người bào chữa trong tố

tụng hình sự cũng không làm mất đi

quyền tự bào chữa của người bị buộc tội

Mối quan hệ giữa người bào chữa và

người được bào chữa (người bị buộc tội)

chỉ xuất hiện ở một trong hai trường hợp:

1) Người bị buộc tội mời người bào chữa

cho họ và được cơ quan tiến hành tố tụng

chấp nhận; 2) Cơ quan tiến hành tố tụng

cử người bào chữa cho người bị buộc tội

và được người này đồng ý Như vậy,

trong cả hai trường hợp nêu trên, ý chí

của người bị buộc tội luôn là yếu tố quyết

định có hay không có sự tham gia của

người bào chữa trong tố tụng hình sự nói

chung và trong phiên tòa xét xử nói riêng

Bản thân người bào chữa không có lợi ích

liên quan tới vụ án hình sự, sự tham gia

của họ trong tố tụng dù dưới hình thức

được mời hay được cử thì cũng vẫn nhằm

mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp

của người bị buộc tội Chính vì vậy, có

thể khẳng định thực hiện công việc bào chữa cho người bị buộc tội là trách nhiệm, nghĩa vụ của người bào chữa Trách nhiệm, nghĩa vụ này tồn tại trên cơ

sở sự thỏa thuận giữa người bị buộc tội (người mời hoặc đồng ý sau khi có sự chỉ

định người bào chữa từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng) và người bào chữa (người được mời hoặc chỉ định) Sự thỏa thuận giữa những người nói trên là một dạng của hợp đồng dân sự (hợp đồng dịch

vụ pháp lí) và sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự xuất phát từ hợp đồng này Mục đích của sự tham gia của người bào chữa trong tố tụng hình sự

là nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội khỏi sự vi phạm có thể có từ phía người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác Vì vậy, xuất phát từ ý thức chủ quan của mình, người bị buộc tội có thể

từ chối người bào chữa ở bất kì giai đoạn nào của tố tụng nếu họ thấy sự tham gia của người bào chữa không làm tốt hơn hoặc làm xấu đi tình trạng của họ Chính vì lẽ này nên tôi cho rằng không thể coi người bào chữa là người tham gia tố tụng

độc lập Một số tác giả đ1 dựa vào quy

định của pháp luật tố tụng hình sự thực

định cho người bào chữa quyền được tự mình kháng cáo bản án theo hướng có lợi cho bị cáo khi bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần để coi người bào chữa là người tham gia tố tụng độc lập là không

đủ cơ sở xác đáng(3) Khi tham gia tố tụng hình sự, trong phạm vi được pháp luật cho phép, người bào chữa có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các hành vi tố tụng khác nhau nhằm bào chữa cho người bị buộc tội một cách

có hiệu quả Người bào chữa không được

từ chối bào chữa nếu không có những lí

do chính đáng, bởi từ chối bào chữa chính

Trang 3

là hành vi đơn phương hủy bỏ hợp đồng

Trong trường hợp có lí do chính đáng để

từ chối bào chữa, người bào chữa phải

thông báo cho người bị buộc tội và nêu rõ

các lí do để người này có kế hoạch thực

hiện quyền bào chữa mà pháp luật quy

định đối với họ

2 Sự tham gia của luật sư với tư cách

là người bào chữa tại phiên tòa xét xử dù

ở cấp xét xử nào cũng có nét đặc thù so

với giai đoạn tố tụng trước đó Trước hết,

giai đoạn xét xử phải được hiểu theo

nghĩa rộng của từ này tức là không chỉ

bao gồm phiên tòa xét xử mà còn bao

gồm cả khoảng thời gian chuẩn bị xét xử

Vì vậy, ngay trong thời gian chuẩn bị xét

xử, với vai trò là người bào chữa, luật sư

phải thể hiện tính năng động, tinh thần

trách nhiệm của mình Cho dù luật sư đ1

được mời và tham gia vào các giai đoạn

tố tụng trước giai đoạn xét xử thì luật sư

vẫn phải nghiên cứu hồ sơ, gặp bị can

(nếu chưa có quyết định đưa vụ án ra xét

xử) để hiểu chắc nội dung vụ án, hiểu

được các tình tiết mà viện kiểm sát cũng

như cơ quan điều tra trước đó dùng làm

chứng cứ buộc tội bị can và giúp đỡ bị

can về mặt pháp lí Chính trong thời gian

nghiên cứu hồ sơ tại tòa án khi chưa có

quyết định đưa vụ án ra xét xử (ở giai

đoạn xét xử sơ thẩm) hoặc chưa tiến hành

phiên tòa xét xử (ở cấp xét xử khác), luật

sư được quyền trình bày quan điểm bước

đầu và yêu cầu, đề nghị thẩm phán được

phân công giải quyết vụ án thực hiện

những hành vi tố tụng khác nhau theo các

quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình

sự, ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, trong

trường hợp chưa có quyết định đưa vụ án

ra xét xử, nếu có căn cứ, luật sư được

quyền đề nghị tòa án quyết định trả hồ sơ

điều tra bổ sung (Điều 154), quyết định

tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án (Điều 155), thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (Điều 152) hoặc đề nghị viện kiểm sát rút một phần hoặc toàn bộ quyết

định truy tố (Điều 156) Còn trường hợp

đ1 có quyết định đưa vụ án ra xét xử (nếu

là giai đoạn xét xử sơ thẩm) hoặc trong thời gian chuẩn bị xét xử ở cấp xét xử khác, luật sư được quyền đề nghị với hội

đồng xét xử mời thêm những người tham gia tố tụng khác như người làm chứng, người giám định Trong thời gian trước phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, luật sư cũng có quyền cung cấp cho hội đồng xét xử các chứng

cứ mà trong hồ sơ vụ án chưa có hoặc viết

đề nghị của mình

Phiên tòa xét xử là phần quan trọng nhất của giai đoạn xét xử Khác với quan niệm của một số người hiện nay cho rằng phiên tòa xét xử chỉ là việc tòa án kiểm tra tính đúng đắn của cáo trạng thông qua quá trình thẩm vấn và tranh luận tại phiên tòa, tôi cho rằng đây chính là cuộc điều tra công khai về vụ án hình sự mặc dù cả tòa án với tư cách là cơ quan xét xử, viện kiểm sát với tư cách là cơ quan công tố - một bên của tố tụng và luật sư với tư cách

là người bào chữa cho bị cáo đều đ1 nắm

được tương đối kĩ về nội dung vụ án Tuy nhiên, thực tế đ1 chứng minh rằng kết luận điều tra của cơ quan điều tra, cáo trạng của viện kiểm sát không phải khi nào cũng phản ánh đúng diễn biến của sự việc đ1 xảy ra Nếu chỉ căn cứ vào kết luận điều tra và cáo trạng có thể sẽ dẫn

đến xét xử sai Để khắc phục tình trạng

đó, theo tôi, trước hết cần nhận thức đúng vai trò của luật sư với tư cách là người bào chữa tham gia phiên tòa xét xử Hiện nay, cách quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 27) cũng như thực tiễn hoạt

động xét xử trong nhiều năm qua đ1 dẫn tới quan niệm, theo tôi là không đúng, là

Trang 4

kiểm sát viên cũng là người tiến hành tố

tụng tại phiên tòa Xuất phát từ chức

năng, nhiệm vụ của từng cơ quan tiến

hành tố tụng và lí luận về các giai đoạn tố

tụng, tôi cho rằng không thể coi kiểm sát

viên là người tiến hành tố tụng tại phiên

tòa xét xử được (điều này cũng tương tự

với quan niệm điều tra viên không phải là

người tiến hành tố tụng trong giai đoạn

truy tố hoặc giai đoạn xét xử, hội thẩm

nhân dân không phải là người tiến hành

tố tụng trong giai đoạn điều tra hay giai

đoạn truy tố) Việc coi kiểm sát viên là

người tiến hành tố tụng tại phiên tòa là hạ

thấp vai trò điều khiển phiên tòa xét xử và

quyết định tất cả những vấn đề thuộc

chức năng của tòa án Hơn nữa, việc coi

kiểm sát viên là người tiến hành tố tụng

tại phiên tòa còn vi phạm Điều 20

BLTTHS quy định về sự bình đẳng giữa

các bên trong tố tụng (bởi không thể có

sự bình đẳng giữa người tiến hành tố tụng

và người tham gia tố tụng) Với vai trò

thực hiện chức năng công tố thì kiểm sát

viên, người bị hại, nguyên đơn dân sự tạo

thành một bên trong tố tụng - bên buộc

tội; với vai trò là người bào chữa của bị

cáo thì luật sư, bị cáo, bị đơn dân sự tạo

thành bên thứ hai trong tố tụng - bên bào

chữa (bên gỡ tội) Sự bình đẳng giữa các

bên nói trên tại phiên tòa xét xử phải

được thể hiện bằng nhiều nội dung và

dưới nhiều hình thức khác nhau và nó

phải được thể chế hóa bằng các quy định

của pháp luật tố tụng hình sự Chỉ có thể

thực hiện sự bình đẳng giữa các bên trong

tố tụng hình sự nói chung và trong phiên

tòa xét xử nói riêng thì mới tạo ra được sự

tranh tụng với đúng nghĩa của nó - biện

pháp hữu hiệu nhất làm sáng tỏ tất cả các

vấn đề về vụ án hình sự Theo tôi, khắc

phục tình trạng bất bình đẳng hiện nay

giữa các bên không phải là làm điều gì đó

hạ thấp vai trò của kiểm sát viên mà phải

nâng cao vai trò của luật sư - người bào chữa lên ngang hàng với kiểm sát viên Trong phiên tòa xét xử, ngay từ vị trí ngồi của những người tiến hành tố tụng, kiểm sát viên, luật sư (người bào chữa) cách thức thẩm vấn và tranh luận không chỉ

đơn thuần thể hiện văn hóa xét xử mà còn thể hiện tính dân chủ của tố tụng hình sự Tôi đồng tình với Dự thảo Pháp lệnh luật sư mới đang được ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét để thông qua khi khẳng định quyền của luật sư tại Điều 13 là: " tại phiên tòa, luật sư có vị trí ngồi ngang với kiểm sát viên, tham gia xét hỏi

và tranh luận ", hội đồng xét xử là người điều khiển phiên tòa có quyền cho phép hoặc không cho phép ai đó phát biểu Để đảm bảo phiên tòa thực sự là cuộc điều tra công khai, những gì chưa

được tiến hành hoặc tiến hành không

đúng quy định của pháp luật (như đối chất, nhận dạng, giám định ) khi có đề nghị của luật sư hoặc người tham gia tố tụng khác có thể được tiến hành ngay tại phiên tòa Hiện nay, có những trường hợp

bị can bị bức cung, mớm cung hoặc vì những lí do khác nên ở giai đoạn điều tra

họ buộc phải nhận tội, đến khi ra tòa họ phản cung Vì trong luật chưa có quy

định tỉ mỉ và cặn kẽ về kiểm tra, giám sát việc hỏi cung bị can nên vẫn còn tình trạng điều tra viên chỉ dùng lời khai bất lợi của bị can để buộc tội họ còn những lời khai khác thì hoặc bị loại khỏi hồ sơ hoặc không được sử dụng tới Theo tôi, khi có căn cứ cho rằng đ1 có một trong những trường hợp nêu trên thì cần phải

(xem tiếp trang 55)

Ngày đăng: 19/12/2015, 21:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w