1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo các biện pháp trong BLHS năm 1999 và vấn đề hoàn thiện BLTTHS về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó

6 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 123 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Hồng Hải * heo các quy định trong chương VI Bộ luật hình sự BLHS năm 1999 của Nhà nước ta, các biện pháp tư pháp bao gồm: Tịch thu vật và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm Điều

Trang 1

TS Phạm Hồng Hải * heo các quy định trong chương VI Bộ

luật hình sự (BLHS) năm 1999 của

Nhà nước ta, các biện pháp tư pháp bao

gồm: Tịch thu vật và tiền trực tiếp liên

quan đến tội phạm (Điều 41); trả lại tài

sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại;

buộc công khai xin lỗi (Điều 42) và bắt

buộc chữa bệnh (Điều 43) Ngoài ra,

Điều 70 BLHS năm 1999 còn quy định

các biện pháp tư pháp áp dụng đối với

người chưa thành niên phạm tội Vai trò

của các biện pháp tư pháp thể hiện trên

hai khía cạnh: Thứ nhất, trong trường hợp

người phạm tội phải chịu hình phạt thì

cùng với hình phạt, các biện pháp tư pháp

có tác dụng cải tạo người phạm tội, có ý

nghĩa phòng ngừa chung và phòng ngừa

riêng; còn trong trường hợp người phạm

tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc

miễn hình phạt thì biện pháp tư pháp có ý

nghĩa là hậu quả của việc phạm tội thay

thế cho hình phạt để giáo dục, cải tạo họ

Thứ hai, đối với người không bị coi là

phạm tội (bắt buộc chữa bệnh đối với

người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xY hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần

hoặc bệnh khác làm mất khả năng điều

khiển hành vi của mình) hoặc người

phạm tội trước khi bị kết án hay đang

trong thời gian chấp hành hình phạt mà bị

bệnh tới mức mất khả năng nhận thức

hoặc khả năng điều khiển hành vi của

mình thì biện pháp tư pháp có ý nghĩa

nhân đạo, giúp những người nói trên trở

lại trạng thái của người bình thường

Việc tòa án quyết định áp dụng biện

pháp tư pháp tịch thu vật và tiền trực tiếp

liên quan đến tội phạm có tác dụng loại

trừ những điều kiện và khả năng phạm tội mới của người phạm tội Những vật, tiền của người phạm tội đY được dùng vào việc thực hiện tội phạm; những vật, tiền thuộc tài sản của người khác nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm; những vật, tiền mà người phạm tội do thực hiện tội phạm hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; những vật, tiền thuộc diện Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành hoặc là những phương tiện, công cụ phạm tội hoặc là những tài sản bất minh đều phải bị tịch thu để sung quỹ Nhà nước hay tiêu hủy

Song song với việc quy định tịch thu vật và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm, pháp luật hình sự còn quy định những vật và tiền không thể bị tịch thu mặc dù chúng cũng trực tiếp liên quan

đến tội phạm Đó là những vật, tiền thuộc

sở hữu XHCN hoặc thuộc tài sản của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép (khoản 2 Điều 41 BLHS) Quy định này hoàn toàn phù hợp với những tư tưởng được thể hiện trong

Điều 17 và các điều khác ở chương II Hiến pháp năm 1992 rằng sở hữu XHCN

và sở hữu riêng của công dân là bất khả xâm phạm

Khi người phạm tội chiếm đoạt, sử dụng trái phép tài sản thuộc sở hữu XHCN hay sở hữu của người khác hoặc người phạm tội gây ra thiệt hại vật chất cho người khác thì ngoài trách nhiệm

T

* Viện nghiên cứu nhà nước & pháp luật Trung tâm khoa học xY hội và nhân văn quốc gia

Trang 2

hình sự họ đồng thời phải chịu trách

nhiệm về dân sự Bắt buộc người phạm

tội phải trả lại những vật, tiền đY chiếm

đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lí

hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường

các thiệt hại vật chất đY được xác định do

hành vi phạm tội gây ra có ý nghĩa như là

biện pháp bảo vệ tài sản của công dân

cũng như tài sản thuộc sở hữu XHCN

Biện pháp tư pháp này thông thường được

áp dụng đối với những người phạm các

tội xâm phạm sở hữu XHCN và các tội

xâm phạm sở hữu của công dân Trước

đây, trong Sắc lệnh số 150/SL ngày

12/4/1953 về việc thành lập các tòa án

nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động

quần chúng thi hành chính sách ruộng đất

và Sắc lệnh số 167/SL ngày 15/6/1956

trừng trị những âm mưu và hành động

phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân

dân cản trở việc thực hiện chính sách, kế

hoạch nhà nước thì việc bồi thường thiệt

hại được xem như hình phạt bổ sung do

tòa án đặc biệt áp dụng với người phạm

tội Quan điểm cho rằng việc bồi thường

thiệt hại và trả lại tài sản đY bị chiếm đoạt

cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp

pháp là hình phạt bổ sung đY bó tay các

cơ quan bảo vệ pháp luật vì nó chỉ được

áp dụng theo quyết định của tòa án mà

thôi Thế nhưng trong thực tế, biện pháp

này cần được áp dụng với người phạm tội

thậm chí trước giai đoạn xét xử nếu trong

vụ án có đầy đủ những căn cứ để miễn tố

hoặc miễn trách nhiệm hình sự cho họ

Trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án

nhân dân tối cao sau này, bồi thường thiệt

hại không được xem là hình phạt mà

được coi là biện pháp dân sự trong vụ án

hình sự Tuy nhiên, chỉ tới khi Nhà nước

ban hành hai pháp lệnh trừng trị các tội

xâm phạm tài sản XHCN và trừng trị các

tội xâm phạm tài sản riêng của công dân

ngày 21/10/1970 thì việc bồi thường thiệt

hại và trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho

chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp mới được chính thức khẳng định là biện pháp tư pháp chứ không phải là hình phạt

Điều 21 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN ngày 21/10/1970 với tên gọi “Trả lại và bồi thường tài sản XHCN bị xâm phạm” đY quy định: “Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản XHCN phải trả lại tài sản đó cho Nhà nước hoặc cho tập thể Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường” Và Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 với tên gọi “Trả lại và bồi thường tài sản riêng của công dân bị xâm phạm” quy định:

“Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản riêng của công dân phải trả lại tài sản cho người

có tài sản đó Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường”

Pháp luật quy định ở khoản 2 Điều 42 BLHS biện pháp tư pháp nữa là buộc người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại khi tội phạm do họ thực hiện là ít nghiêm trọng và gây thiệt hại về tinh thần Quy định này phù hợp với tình hình thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta hiện nay, đáp ứng được quá trình giải quyết nhanh chóng các vụ phạm tội ít nghiêm trọng do một bộ phận quần chúng nhân dân lao động thực hiện một cách nhất thời mà không cần tới việc

áp dụng hình phạt, thậm chí không cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Ngoài ba biện pháp tư pháp nêu trên, chương VI BLHS năm 1999 còn quy định bắt buộc chữa bệnh là biện pháp tư pháp

ở Điều 43 Biện pháp tư pháp này được áp dụng với ba loại người: 1) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xY hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc

Trang 3

khả năng điều khiển hành vi của mình; 2)

Người phạm tội trong khi có năng lực

trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị

kết án đY mắc bệnh tới mức mất khả năng

nhận thức hoặc mất khả năng điều khiển

hành vi của mình; 3) Người đang chấp

hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất

khả năng nhận thức hoặc khả năng điều

khiển hành vi của mình

Quy định bắt buộc người phạm tội

trong khi người phạm tội có năng lực

trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị

kết án đY mắc bệnh tới mức mất khả năng

nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành

vi của mình vào chữa bệnh ở cơ sở điều

trị chuyên khoa là xuất phát từ mục đích

của việc áp dụng hình phạt và tính nhân

đạo trong chính sách hình sự của Nhà

nước ta Việc kết án cũng như áp dụng

hình phạt với người phạm tội đang bị

bệnh tới mức mất khả năng nhận thức

hoặc khả năng điều khiển hành vi vừa trái

với nguyên tắc nhân đạo xY hội chủ nghĩa

vừa không đạt được mục đích giáo dục

cải tạo người phạm tội Bắt buộc họ chữa

bệnh và truy cứu trách nhiệm hình sự,

tiếp tục bắt họ chấp hành hình phạt sau

khi khỏi bệnh là việc làm vừa nhân đạo

vừa đảm bảo tính nghiêm khắc của pháp

luật - điều kiện quan trọng bảo đảm tính

hiệu quả của pháp luật hình sự

- Điều 41 BLHS 1999 với tên gọi

“Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến

tội phạm” quy định:

“1 Việc tịch thu, sung quỹ nhà nước

được áp dụng đối với:

a Công cụ, phương tiện dùng vào

việc phạm tội;

b Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc

mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;

c Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu

hành

2 Đối với vật, tiền bị người phạm tội

chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì

không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp

3 Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm thì có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà nước”

Những vật, tiền của người phạm tội đY

được dùng vào việc thực hiện tội phạm là những thứ thuộc sở hữu của người phạm tội và chúng đY được người đó sử dụng làm phương tiện hay công cụ để thực hiện hành vi phạm tội Đó là các loại vũ khí hoặc hung khí trong các vụ giết người, cố

ý gây thương tích; tiền và các giấy tờ có giá trị khác trong các vụ án có tính chất

vụ lợi; các loại xe hoặc các phương tiện vận tải trong các vụ đầu cơ buôn lậu; điện

đài, chất nổ, súng đạn trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia Những vật, tiền trên đây đều có giá trị trong việc chứng minh tội phạm và được coi là tang vật của vụ án nên sau khi dùng để chứng minh tội phạm, chúng đều bị tịch thu sung quỹ nhà nước hoặc tiêu hủy

Những vật, tiền thuộc tài sản của người khác cũng có thể bị tịch thu sung quỹ nhà nước nếu người này có lỗi để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm Cần phân biệt hai hình thức lỗi của người có tài sản, nếu người này có lỗi cố ý để cho người phạm tội sử dụng tài sản của mình để phạm tội thì ngoài việc số tài sản ấy bị tịch thu sung quỹ nhà nước, người có tài sản có thể còn

bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đY được thực hiện với vai trò là người giúp sức Còn nếu người có tài sản

có lỗi vô ý (do cẩu thả) để người phạm tội lợi dụng sử dụng tài sản để thực hiện tội phạm thì tài sản có thể bị tịch thu hay không bị tịch thu tùy theo trách nhiệm quản lí tài sản được quy định đối với người có tài sản Thí dụ, người có súng

Trang 4

săn đY không quản lí chặt chẽ để con lấy

súng đi gây án thì khẩu súng ấy có thể bị

tịch thu, ngược lại, người có xe máy

chẳng may bị con lấy đi dùng vào việc

trộm cắp thì xe máy đó không thể bị tịch

thu mặc dù trong cả hai trường hợp súng

săn và xe máy đều được coi là tang vật

trong vụ án

Những vật, tiền mà người phạm tội do

thực hiện tội phạm, do mua bán, đổi chác

những thứ ấy mà có là đối tượng của tội

phạm Đó là tài sản bị người phạm tội

chiếm đoạt, vật hối lộ, hàng hóa mua vét

và tiền thu lời bất chính, tiền thu được do

bán tài sản bị chiếm đoạt, hàng hóa, vật

dụng chiếm đoạt bằng cách lừa hoặc do

đổi tài sản bất chính Tất cả những vật,

tiền nêu trên cũng đều là tang vật của vụ

án và có thể bị tịch thu, sung quỹ nhà

nước Loại này thường không xác định

được chủ sở hữu hợp pháp của chúng

Những vật, tiền thuộc loại Nhà nước

cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành có thể bị

tịch thu khi chúng là công cụ, phương

tiện hoặc đối tượng của việc phạm tội bất

kể chúng thuộc sở hữu tư nhân, tập thể

hay Nhà nước Đó là các loại thuốc độc,

thuộc phiện hoặc các chất ma túy, các

loại kim loại màu quý hiếm, ngoại tệ, vũ

khí hoặc văn hóa phẩm đồi trụy

Theo quy định của luật thì diện các

tang vật và tiền có thể bị tịch thu chỉ là

những vật và tiền trực tiếp liên quan tới

hành vi tội phạm của người phạm tội do

cơ quan điều tra tìm thấy hoặc do người

phạm tội giao nộp Những vật, tiền thuộc

sở hữu XHCN hoặc thuộc tài sản của

người khác bị người phạm tội chiếm đoạt

hoặc sử dụng trái phép cũng trực tiếp liên

quan tới tội phạm nhưng để bảo vệ quyền

sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu đối với

những tài sản ấy, pháp luật quy định

không được tịch thu mà phải trả lại chúng

cho người sở hữu hoặc người quản lí hợp

pháp

Trước đây, theo quy định tại Điều 33 BLHS năm 1985, trong tố tụng hình sự chỉ tòa án mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp “tịch thu vật và tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm” và điều này rõ ràng là bất hợp lí, bó tay cơ quan

điều tra và viện kiểm sát Bản thân biện pháp tư pháp không phải là hình phạt và vì vậy, nếu chỉ để tòa án mới có quyền áp dụng biện pháp này có nghĩa là tất cả các

vụ án bao giờ cũng phải trải qua giai

đoạn chuyển tòa mặc dù trong giai đoạn truy tố hay giai đoạn điều tra hoàn toàn

có căn cứ đình chỉ vụ án Điều này đY làm cho tố tụng hình sự trở nên phức tạp, không đáp ứng kịp thời cho nhu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm một cách linh hoạt Khắc phục sự bất cập nêu trên, Điều 41 BLHS năm 1999 đY không quy định cụ thể cơ quan tiến hành tố tụng nào (cơ quan điều tra, viện kiểm sát hay tòa án) được quyền áp dụng biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan tới tội phạm Điều này cũng có thể hiểu rằng khi vụ án được kết thúc ở giai đoạn nào thì cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng hoàn toàn có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp nêu trên để xử lí các vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

Từ ý kiến này chúng tôi cho rằng nên sửa khoản 1 Điều 58 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) thành như sau:

“1 Những người sau đây có thẩm quyền ra quyết định xử lí vật chứng:

- Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan

điều tra trong trường hợp vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra;

- Viện trưởng, phó viện trưởng viện kiểm sát nếu vụ án được đình chỉ ở giai

đoạn truy tố;

- Chánh án, phó chánh án hoặc hội

đồng xét xử nếu vụ án được giải quyết ở giai đoạn xét xử”

- Điều 42 BLHS năm 1999 với tên gọi

“Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường

Trang 5

thiệt hại; buộc công khai xin lỗi” quy

định:

“1 Người phạm tội phải trả lại tài

sản đO chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc

người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa

hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đO

được xác định do hành vi phạm tội gây

ra;

2 Trong trường hợp phạm tội gây

thiệt hại về tinh thần, tòa án buộc người

phạm tội phải bồi thường về vật chất,

công khai xin lỗi người bị hại”

Điều luật quy định hai biện pháp tư

pháp mà việc thi hành chúng có tác dụng

bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị

hại trong các vụ án hình sự Đó là các

quyền sở hữu về tài sản, quyền bất khả

xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, nhân

phẩm, danh dự của công dân đY được

hiến pháp quy định

Những vật, tiền đY bị người phạm tội

chiếm đoạt khi đY xác định được chủ sở

hữu thì không được tịch thu mà phải trả

lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp

pháp đối với tài sản đó

Người phạm tội có trách nhiệm sửa

chữa hoặc bồi thường các thiệt hại vật

chất đY được xác định do hành vi phạm

tội gây ra theo những quy định của pháp

luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp

đồng Theo những quy định của luật dân

sự hiện nay, trong những trường hợp vật,

tiền bị chiếm đoạt không còn hay đY bị

người phạm tội tiêu dùng hết thì người

phạm tội phải bồi thường 100% giá trị

những tài sản bị chiếm đoạt bằng tiền

hoặc các vật dụng cùng chủng loại có giá

trị tương đương Đối với những tài sản bị

người phạm tội làm hư hỏng do hành vi

cố ý hủy hoại tài sản của tập thể hay của

công dân thì người phạm tội phải sửa

chữa, khôi phục lại nguyên trạng các tài

sản đó cả về hình thức và giá trị sử dụng

Trong trường hợp không thể khắc phục

những hư hỏng của tài sản bị hủy hoại hoặc bị chiếm đoạt, người phạm tội phải bồi thường giá trị của tài sản ấy vào thời

điểm vụ án được giải quyết

Đối với các vụ phạm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe của công dân, người phạm tội cũng phải bồi thường các thiệt hại vật chất gây ra cho người bị hại như tiền phí tổn thuốc men, tiền chênh lệch về thu nhập, mai táng phí Số tiền bồi thường bằng số tiền nạn nhân hoặc người nhà nạn nhân đY chi dùng một cách hợp lí trong thực tế

Bồi thường thiệt hại là biện pháp tư pháp đồng thời cũng là biện pháp có tính chất dân sự, vì thế trong trường hợp nó

được áp dụng ở giai đoạn điều tra, truy tố thì mức độ bồi thường phải được sự thỏa thuận của người phạm tội và người bị hại Nếu không có sự thỏa thuận này, cơ quan

điều tra và viện kiểm sát không được ra quyết định bắt bồi thường và quyết định miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội mà phải chuyển hồ sơ sang tòa

án theo thủ tục tố tụng bình thường Buộc người phạm tội phải bồi thường

về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại

là biện pháp tư pháp chỉ được áp dụng trong những trường hợp gây thiệt hại về tinh thần Pháp luật quy định biện pháp này chỉ do tòa án áp dụng và như vậy, nó

có thể được áp dụng cùng với hình phạt hoặc thay cho hình phạt khi người phạm tội được miễn hình phạt hay miễn trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chỉ nên áp dụng biện pháp tư pháp này trong những trường hợp miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội và như vậy thì ngoài tòa

án, cần dành cho viện kiểm sát và cơ quan điều tra quyền áp dụng biện pháp tư pháp này

Biện pháp buộc người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại chỉ có thể được

áp dụng trên cơ sở tự nguyện của người

Trang 6

phạm tội và sự đồng ý của người bị thiệt

hại

Pháp luật không quy định cụ thể thủ

tục người phạm tội công khai xin lỗi

người bị hại và BLTTHS hiện hành chưa

có các điều luật quy định về thủ tục trên

đây, thiết nghĩ trong Dự thảo BLTTHS

sửa đổi phải có các điều luật ghi nhận các

thủ tục đó

- Điều 43 BLHS năm 1999 với tên gọi

“Bắt buộc chữa bệnh” quy định:

“1 Đối với người thực hiện hành vi

nguy hiểm cho xO hội trong khi mắc bệnh

quy định tại khoản 1 Điều 13 của Bộ luật

này thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, viện

kiểm sát hoặc tòa án căn cứ vào kết luận

của hội đồng giám định pháp y, có thể

quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị

chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu

thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ

sở điều trị chuyên khoa thì có thể giao

cho gia đình hoặc người giám hộ trông

nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà

nước có thẩm quyền

2 Đối với người phạm tội trong khi có

năng lực trách nhiệm hình sự nhưng

trước khi bị kết án đO mắc bệnh tới mức

mất khả năng nhận thức hoặc khả năng

điều khiển hành vi của mình thì căn cứ

vào kết luận của hội đồng giám định

pháp y, tòa án có thể quyết định đưa họ

vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt

buộc chữa bệnh Sau khi khỏi bệnh, người

đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự

3 Đối với người đang chấp hành hình

phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng

nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành

vi của mình thì căn cứ vào kết luận của

hội đồng giám định pháp y, tòa án có thể

quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị

chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh Sau

khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục

chấp hành hình phạt nếu không có những

lí do khác để được miễn chấp hành hình

phạt”

Hành vi nguy hiểm cho xY hội do người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình thực hiện không phải là tội phạm Người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác nói trên là người không có năng lực trách nhiệm hình sự nên họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xY hội do họ thực hiện Vì vậy, trong quá trình tố tụng hình sự nếu đY có kết luận của hội đồng giám định pháp y rằng người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự đY thực hiện hành vi nguy hiểm cho xY hội trong trạng thái không có năng lực trách nhiệm hình sự do mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành

vi của mình thì viện kiểm sát hoặc tòa án

đình chỉ vụ án và quyết định đưa người

đó vào cơ sở điều trị chuyên khoa vừa nhằm mục đích ngăn ngừa họ tiếp tục thực hiện những hành vi nguy hiểm cho

xY hội vừa thực hiện các biện pháp y tế cần thiết giúp họ khỏi bệnh

Khoản 1 Điều 43 BLHS là quy phạm tùy nghi nên việc áp dụng hay không áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho

xY hội khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm họ mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do viện kiểm sát hay tòa án quyết định Căn cứ vào kết luận của hội

đồng giám định pháp y, xét mức độ của bệnh tật và hoàn cảnh cụ thể của người bệnh nếu thấy không cần thiết phải đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa, viện kiểm sát hoặc tòa án có thể giao người bệnh cho gia đình hoặc người giám hộ của người bệnh trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

(Xem tiếp trang 38)

Ngày đăng: 19/12/2015, 20:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w