1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ kinh tế tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na

124 604 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 16,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tác động của ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc tới thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn n

Trang 3

CSBO

NGUYỄN HỔNG HÀ

TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG

QUỐC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG DỆT MAY THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HẬU HẠN NGÁCH

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG QUỐC

VA THỊ TRƯỜNG DỆT MAY THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN TỪ 1-1-1995 ĐẾN

1.2.3 Nhứng lợi thế và bất lợi của thương mại hàng dệt may Trung

Quốc sau khi Hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực ngày

1-1-2005 „ ' ' .' 23

1.3 Thị trường dệt may thê giới thời kỳ hậu hạn ngạch 25

1.3.1 Nhận xét chung về thị trường dệt may phi hạn ngạch 25

Ì 3.2 Một số m ô hình của bản đồ dệt may thế giới sau hiệp đinh dệt

CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA THƯƠNG MẠI HÀNG DỆT MAY TRUNG QUỐC

TRONG THỜI KỲ HẬU HẠN NGẠCH 38

2.1 Đánh giá nhứng tác động của thương mại hàng dệt may Trung

Quốc tói thị trường dệt may thê giói 38

2.1.1 Nhứng tác động tích cực 38

2.1.2 Các tác động tiêu cực 39

2.1.3 Hướng phát triển của ngành dệt may các nước trước sự cạnh

tranh mạnh mẽ của Trung Quốc 46

2.2 Nhứng tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đôi với

ngành dệt may Việt Nam 58

Trang 5

KỲ HẬU HẠN NGẠCH 62

3.1 Thực trạng ngành dệt may và xuất khẩu dệt may của Việt Nam

trong thời gian qua 62

3.1.1 Đánh giá thực trạng ngành dệt may Việt Nam 62

3.1.2 Đánh giá thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 67

3.2 Dự báo sự phát triển triển của ngành dệt may Việt Nam thời kỳ

hậu hạn ngạch 75

3.2.1 Dự báo về sự phát triển xuất khẩu dệt may 75

3.2.2 Những thuận lợi và khó khăn của ngành dệt may trong thời kỳ

hậu hạn ngạch 77 3.3 Các giải pháp cụ thể 81

3.3.1 N h ó m giải pháp và kiến nghị về nguốn cung ứng 81

3.3.2 N h ó m giải pháp và kiến nghị về thị trường 85

3.3.3 N h ó m giải pháp và kiến nghị về quản lý nhà nước đối với xuất

khẩu hàng dệt may 91 3.3.4 N h ó m giải pháp và kiến nghị khác 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

CÁC PHỤ LỤC 101

Trang 6

D A N H M Ự C C Á C C H Ữ V I Ế T T Ắ T

A G O A Đ ạ o luật về Tăng trưởng và C ơ hội Châu Phi (African Growth

and Opportunity Act)

A S E A N Hiệp hội các quốc gia Đ ô n g Nam á (Association of South East

Asia Nations)

A T C Hiệp định Hàng dệt may (Agreement ôn Textiles and Clothing)

C M T Phương thức gia công xuất khẩu uy thác

E U Liên minh châu  u (European Union)

F O B Phương thức xuất khẩu trực tiếp

G A T S Hiệp định chung về thương mại dịch vụ

G A T T Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

G S P Hệ thống Ư u đãi phổ cập chung

I L O Tổ chức lao động thế giữi (International Labour Organization)

L T A Hiệp định dài hạn về bông sợi

M F A Hiệp định đa sợi

S T A Hiệp định ngắn hạn về bông sợi

T M B C ơ quan giám sát hàng dệt (Textiles Monitoring Body)

T R I P S Hiệp định về Quyền sở hữu Trí tuệ liên quan đến thương mại

T S B C ơ quan kiểm soát hàng dệt (Textiles Surveillance Body)

V I N A T E X Tổng công ty Dệt may Việt Nam

W T O Tổ chức Thương mại Thế giữi

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Lịch trình sát nhập vào GATT 1994 13

Bảng 1.2: Lịch trình tự do hoa hạn ngạch 14 Bảng 1.3: Xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Rông và Macao trong năm

2002, triệu đô-la (thứ hạng) 28 Bảng 1.4: Thương mại dệt may thế giới năm 2007 (tính theo giá trị năm 1997) 31

Bảng 2.1: Thiệt hại giá trị xuất khẩu dệt may của các quốc gia 41

Bảng 2.2: Số lượng thất nghiệp tại Hoa Kỳ dự kiến giai đoạn 2004-2006 45

Bảng 2.3: Thoa thuận dệt may Hoa Kỳ - Trung Quốc 48

Bảng 3.1: Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam đến năm 2004 64

Bảng 3.2: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam 65

Bảng 3.3: Thị trường xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam 69

Bảng 3.4: Lợi thế so sánh tương đối của ngành dệt may của các quốc gia 70

Trang 8

DANH MỤC C Á C BIÊU Đ ổ

Biểu đồ Ì Ì: Xuất khẩu dệt may thế giới qua các năm (từ năm 1997 đến 2004) l i

Biểu đồ Ì 2: Giá xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc so vói phần còn lại của thế

21 Biểu đồ 1 3: Thi phần EU hàng đét trước và sau khi xoa bỏ quota ATC 26

Biểu đồ 1 4: Thi phần EU hàng may mác trước và sau khi xóa bỏ quota ATC 26

Biểu đồ 1 5: Thi phần hàng đét vào Mỹ trước và sau khi loai bỏ quota ATC 27

Biểu đồ 1 6 Thị phần hàng may mặc vào Mỹ trước và sau khi xoa bỏ quota ATC 27

Biểu đồ 1 8 M ư ờ i nước xuất khẩu hàng đầu vào thi trường EU 30

2002-2006 46 Biểu đồ 3.1: Sơ đồ phát triển chung của các doanh nghiệp may 72

Trang 9

LỜI CẢM Ơ N

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS TS Nguyễn Thị Mơ, nguôi đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu cho em trong quá trình hoàn thành luận văn

Em cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thày cô giáo giảng dạy tại Trường Đ ạ i học Ngoại Thương, đặc biốt là các thày cô giáo giảng dạy và làm viốc tại Khoa Sau Đ ạ i học, những người đã dìu dắt và truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích trong suốt thời gian học tập tại trường

Xin chân thành cảm ơn tất cả người thân trong gia đình, đồng nghiốp và bạn

bè đã giúp đỡ và tạo điều kiốn để em hoàn thành luận văn này

Hà Nội, tháng 5 năm 2006

Học viên

Nguyễn Hồng Hà

Trang 10

L Ờ I M Ở Đ Ầ U

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Kết thúc vòng đàm phán Urugoay, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ra đời và cùng vói nó là Hiệp định hàng Dệt may (ATC) Theo hiệp định này, hạn ngạch hàng dệt may được bãi bỏ dần từ năm 1995 và chấm dứt hoàn toàn vào ngày 1-1-2005 Kể từ sau ngày 1-1-2005, hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực, mở ra một thời kẹ phi hạn ngạch trong khuôn khổ các quốc gia thành viên WTO/ ATC

Việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may trong khuôn khổ các nước thành viên WTO được đánh giá là một bước ngoặt hứa hẹn vẽ lại bản đồ dệt may Thế giới Thời kẹ hậu hạn ngạch đã khiến hơn 30 triệu người trong ngành dệt may ở các nước đang phát triển có nguy cơ bị mất việc, chỉ còn một số lượng nhỏ (khoảng 15, 20 nước) có khả năng tồn tại và phát triển Trong số những nước có lợi thế cạnh tranh về lao động và nguồn nguyên liệu như Trung Quốc, Ân Độ, Pakistan thì Trung Quốc nổi lên như một sự kiện và bước đầu thống trị thị trường dệt may thế giới Không chỉ các nước phát triển có chi phí lao động cao bị đe doa m à ngay cả các nước đang phát triển như Indonesia, Philipines, Campuchia, Việt Nam cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn và cạnh tranh gay gắt

Trong những năm gần đây, ngành Dệt may Việt Nam liên tục tăng trưởng với tốc độ cao và giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân N ă m 2004, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đạt khoảng 4,3 tỷ USD, chỉ đứng sau ngành dầu khí, năm 2005 đạt 4,85 tỷ USD N ă m 2006, chúng ta đã đặt chỉ tiêu cho ngành là tổng k i m ngạch xuất khẩu đạt trên 5,5 tỷ USD, tăng 1 1 % so với năm 2005 [41] Tại các thị trường chính như Mỹ, EU, sản phẩm dệt may Việt Nam gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc, nước được đánh giá là có lọi nhất từ việc bãi bỏ chế độ hạn ngạch Việc gia nhập WTO của Việt Nam đang chỉ còn là tháng, ngày Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tuân theo luật chơi chung trong việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may theo ATC Giải pháp nào cho ngành dệt may Việt Nam nói chung và xuất khẩu sản phẩm dệt may Việt Nam nói riêng Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu một cách toàn diện vấn để hàng dệt may hậu hạn ngạch

Trang 11

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống về mặt lý luận cũng

như thực tiễn, tác động của ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc tới thế giới và

Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch để từ đó tìm kiếm các giải pháp cải thiện và

thúc đợy ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới là rất cần thiết Chính vì vậy,

vấn đề 'Tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc đối với thị trường dệt

may thế giới và Việt Nam trong thời kỳ hậu hạn ngạch"'đã được lựa chọn làm đề tài

nghiên cứu của luận vãn thạc sỹ kinh tế này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong và ngoài nước:

ơ ngoài nước:

Trong bối cảnh hậu hạn ngạch, hiện tượng thương mại dệt may Trung Quốc

và tác động của nó tới thị trường dệt may thế giới đang nổi lên là một vấn đề nóng

hổi và liên tục có sự biến động Cho đến nay, trên thế giới đã có một số bài báo,

công trình nghiên cứu về dệt may Trung Quốc và tác động của nó tới các quốc gia

khác kể từ sau 1/1/2005 Cụ thể như:

- "Mối đe doa Trung Quốc đối với thương mại dệt may thế giới" ('The China

Threat to World Textile and Apparel Trade") của Tổ chức các nhà sản xuất dệt may

Hoa Kỳ xuất bản năm 2005

- "Dệt may - Những thử thách trong giai đoạn mới" ỰTextiles and Clothìng:

Challenges in the New Phase') của tác giả Munir Ahmad, do ITCB xuất bản 9/2005

- "Sự phát triển của thương mại dệt may thời kỳ hậu hạn ngạch"

{"Developments in Textiỉes and Clothing Trade, Post the ATC) của tác giả Munir

Ahmad, do ITCB xuất bản 12/2005

- "Các vấn đề về lao động trong ngành dệt may thời kỳ hậu hạn ngạch"

("Labour Implications of the textiles and clothing quota phase-out"), của tác giả

Hildegunn Kyvik Nordas, do ILO xuất bản 1/2005

- "Hàng triệu người sẽ mất việc làm" ("Millions to lose textile jobs'), bài báo

của BBC, tháng 6/2005

Ở trong nước:

Trang 12

ở trong nước cũng đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về thương mại hàng dệt may Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO, cụ thể như những bài báo:

- "Thị trường dệt may phi hạn ngạch và những tác động" của tác giử Cao Thúy Nga, báo Thương mại số 29/2005

- "Ngành dệt may sau 2004: viễn tượng và thử thách" của tác giử Đ ỗ Tuyết Khanh, báo Thời đại mới số tháng 7/2004

- "Cơ hội và thách thức đối với ngành công nghiệp dệt may thế giới" của tác giử Hoàng Xuân Hoa, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 5(109)/2005

- "Ai được lợi khi xóa bỏ chế độ hạn ngạch dệt may" của tác giử Việt Nga, báo Ngoại thương số 18 ngày 21-30/06/2005

Hay như các luận văn thạc sỹ:

- "Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO đối với xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam" của tác giử Nguyễn Thị Thanh Cúc, năm 2005

- "Tác động của việc hết hiệu lực hiệp định hàng Dệt may đến các nước và các giửi pháp đối với Việt Nam" của tác giử Lê Thị Thu Hương, năm 2005

Tuy nhiên, các đề tài, bài báo, bài nghiên cứu này chỉ nghiên cứu về tác động của Trung Quốc tới dệt may Việt Nam kể từ sau khi Trung Quốc gia nhập WTO hay tác động của Hiệp định ATC tới các quốc gia kể từ khi ATC chấm dứt hiệu lực Chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về tác động của thương mại hàng dệt may Trung Quốc tới dệt may thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hậu hạn ngạch Đây là luận văn thạc sỹ kinh tế đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và

Trang 13

4 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Đ ể đạt được các mục đích nêu trên, đề tài phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Nêu được nội dung cơ bản của hiệp định dệt may ATC, tìm hiểu cơ chế tự

do hoa thương mại trong ngành dệt may thế giới kể từ sau 1-1-2005

- Phân tích sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc kể từ khi gia nhập WTO và sau khi hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực Làm rõ nhỹng thế mạnh của Trung Quốc với ý nghĩa là nhỹng yếu tố cạnh tranh đáng lưu ý

- Nêu bật được các tác động (tích cực và tiêu cực) của thương mại dệt may Trung quốc tới thị trường dệt may thế giới trong bối cảnh hậu hạn ngạch

- Đánh giá tác động (tích cực và tiêu cực) của thương mại dệt may Trung Quốc tới ngành dệt may Việt Nam, tới khả năng cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam

- Đ ề xuất các kiến nghị, giải pháp phát triển ngành dệt may Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong bối cảnh hậu hạn ngạch

và gia nhập WTO

5 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đôi tượng nghiên cứu:

Đ ố i tượng nghiên cứu của Luận văn thạc sỹ này là nhỹng vấn đề liên quan đến sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc; các tác động của nó tới ngành dệt may thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng trong thời kỳ hậu hạn ngạch Đ ố i tượng nghiên cứu của luận văn còn bao gồm các quy định của hiệp định dệt may ATC và các quy định liên quan đến ngành dệt may Việt Nam và xuất khẩu hàn dệt may Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu:

Thương mại hàng dệt may thế giới nói chung và Trang Quốc nói riêng trong bối cảnh hậu ngạch là một vấn đề rộng lớn và phức tạp Do tính chất chuyên sâu, luận văn thạc sỹ này không phân tích mọi khía cạnh pháp lý, ưu nhược điểm của việc chấm dứt hiệp định ATC cũng như tác động của môi trường tự do thương mại sau ATC tới ngành dệt may Trung Quốc và thế giới Luận văn này cũng không phân

Trang 14

tích cấu trúc ngành dệt may Trung Quốc Luận văn thạc sỹ này chỉ đi sâu phân tích

sự phát triển của thương mại dệt may Trung Quốc và các tác động của nó tới thị trường dệt may thế giới và Việt Nam trong bối cảnh hậu hạn ngạch

6 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn áp dụng các biện pháp nghiên cằu tổng hợp như phân tích, luận giải, thống kê, phân tích so sánh, kinh tế lượng và m ô hình hoa để nghiên cằu bản chất các đối tượng nghiên cằu Luận văn cũng tham khảo ý kiến của các chuyên gia kinh tế cũng như các giáo sư tiến sỹ kinh tế trong ngành nhằm đạt được kết quả nghiên cằu tốt nhất

7 Kết cấu của Luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng và biểu đồ, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận vãn được cấu thành

Trang 15

C H Ư Ơ N G 1: TỔNG QUAN VỀ T H Ư Ơ N G MẠI H À N G DỆT MAY TRUNG QUỐC V À THỊ T R Ư Ờ N G DỆT MAY T H Ế GIỚI GIAI Đ O Ạ N

kỷ qua, dệt may là ngành năng động thứ nhì trong hệ thống thương mại thế giới sau hàng điện và điện tử Các nước đang phát triển đã đóng góp phợn đáng kể trong quá trình phát triển này, và dệt may tiếp tục đóng vai trò sống còn trong nền kinh tế trong nước Đây là ngành đem lại triển vọng sáng sủa cho quá trình đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu truyền thống, tạo thêm nhiều công ân việc làm, thu hẹp dợn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, tạo nguồn thu ngoại hối Hoạt động kinh tế của ngành cũng tạo ra những ý nghĩa quan trọng đối với các vấn đề kinh tế xã hội như phân phối thu nhập bình đẳng hơn, tạo công ăn việc làm cho phụ nữ, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thúc đẩy phát triển các khu vực kinh tế khác, đưa các vùng sâu và xa hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tăng cường phát triển kinh tế nông thôn, xoa đói giảm nghèo

1.1.1 Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ WTO trước khi dỡ bỏ hạn ngạch

Ngay từ những năm đẩu của hệ thống thương mại đa phương, đánh dấu bằng

sự ra đời của tổ chức GATT, tiền thân của WTO, năm 1947, ngành dệt may đã là một vấn đề khúc mắc trong các vòng thương thuyết nhằm tự do hoa các luồng thương mại Trong hơn 30 năm, ngành này không được điều tiết bởi các qui tắc chung áp dụng cho mậu dịch hàng hoa m à bởi các chế độ riêng thông qua các hiệp

định lẻ tẻ như Hiệp định ngắn hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi năm 1961 (Short

Trang 16

Term Arrangement regarding International Trade in Cotton textiles - SĨA), Hiệp

định dài hạn về mậu dịch quốc tế bông sợi năm 1962-1973 (Long Term

Arrangement regarding ỉnternational Trade in Cotton textiles - LTA), và Hiệp định

đa sợi năm 1974-1994 {Arrangement regarding ỉnternational Trade in Textiles, thường gọi tắt là Multi/ibre Arrangement - MFA) Từ năm 1995, ngành dệt may và

thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ WTO được điều tiết bởi Hiệp định dệt

may {Agreement ôn Textiles and Clothing - ATC), một trong những hiệp định được

ký kết sau vòng đàm phán Uruguay ATC ra đời đã thay thế hiệp định MFA và đưa

ra những qui định về biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa toàn bộ hàng dệt may vào

khung pháp lý chung cỳa WTO

Đ ể phân tích diễn tiến cỳa khung pháp lý từ hiệp định STA đến Hiệp định

ATC, phải điểm sơ qua bối cảnh chung cỳa thời kỳ ấy Trong những năm ngay sau

chiến tranh thế giới lần thứ hai, đa số các luồng thương mại quốc tế bị chi phối bởi

nhiều chế độ quốc gia khác nhau Một số nước phát triển viện lý do cán cân thanh

toán gặp khó khăn sau chiến tranh để áp dụng thuế suất cao, thỳ tục thuế quan nặng

nề, và rất nhiều biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu Từ những năm 1950 trở đi,

các hàng rào mậu dịch dần dần được hạ xuống để tiến đến tự do hoa thương mại qua

các vòng đàm phán trong khuôn khổ cỳa Hiệp định GATT Song song với xu hướng

này và sự phục hồi cỳa cán cân thanh toán trong các nước phát triển, Nhật Bản cũng

tham gia trở lại vào thương mại dệt may thế giới Cùng lúc,một số nước nghèo bắt

đầu xuất khẩu hàng dệt và, trong chừng mực ít hơn, các hàng may mặc Nhờ nhân

công và nguyên liệu rẻ, các nước này nhanh chóng xuất khẩu ngày càng nhiều các

hàng dệt may bằng bông sợi sang các nước phát triển, cạnh tranh ồ ạt với ngành sản

xuất nội địa cỳa họ Trước nguy cơ lỗ, phá sản đe dọa việc làm cỳa cả một ngành

sản xuất, gây ra căng thẳng trong xã hội, một số nước phát triển đã tiến hành đàm

phán song phương với 4 nưóc xuất khẩu chính lúc ấy - Nhật, Hồng Kông, ấn Đ ộ và

Pakistan - để ép họ phải tự giới hạn lại Những thoa thuận "hạn chế xuất khẩu tự

nguyện" (voluntary export restraint) này trở thành biện pháp phổ biến để ngăn chặn

nhập khẩu, không chỉ đối với hàng dệt may m à còn trong nhiều ngành khác

Trang 17

N ă m 1959, theo yêu cầu của Bộ trưởng tài chính M ỹ Douglas Dillon, tổ chức GATT bắt đầu họp bàn về vấn đề "nhập khẩu tăng vọt trong thời gian ngắn cho vài mặt hàng và có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, chính trợ và xã hội trong nước nhập khẩu" N ă m 1960, các thành viên GATT công nhận hiện tượng

"xáo trộn thợ trường" (market disruption), và đã cho phép nước nhập dùng biện pháp phòng chống (sa/eguard) để bảo vệ ngành sản xuất nội đợa

N ă m 1961, để vận động cho đạo luật Thương mại năm 1962 (Trade Act

1962), chính phủ M ỹ đề xướng một hội nghợ các nước xuất khẩu hàng dệt trong

khuôn khổ của GATT Kết quả của hội nghợ oái oăm này là Hiệp đợnh STA, thực ra

là pháp lý hoa việc vi phạm các nguyên tắc của GATT, dẫu là ngắn hạn như nói rõ trong tên gọi và chỉ có hiệu lực một năm STA cho phép các nước xuất khẩu, đơn

phương hoặc qua thoa thuận song phương, ấn đợnh hạn ngạch (quota) để giói hạn

nhập khẩu khi có nguy cơ "xáo trộn thợ trường" Các cuộc thương thuyết vẫn tiếp tục và năm 1962, STA được thay thế bởi LTA L T A có hiệu lực 5 năm và để bù lại, các hạn ngạch bắt buộc phải được nâng cao và tăng 5 % mỗi năm Hiệp đợnh này được gia hạn vào năm 1967 và vào năm 1970 Tháng 12/1972, GATT hoàn tất một cuộc điều tra nghiên cứu tình hình dệt may Trên cơ sở bản báo cáo này và các thương thuyết sau đó, L T A được thay thế bởi Hiệp đợnh M F A áp dụng từ tháng 1/1974

Hai hiệp đợnh STA và L T A chỉ nhắm hàng bông sợi vì thời ấy các nước đang phát triển chỉ xuất khẩu loại hàng đó Một trong những lý do sản xuất sợi hoa học tâng nhanh trong các nước phát triển cũng vì các nước này muốn tránh bợ lệ thuộc

vào một nguyên liệu tập trung ở thế giới thứ ba, không kể là sợi hoa học ngày càng

được dùng cho đủ mọi ứng dụng tiên tiến và dựa vào một nguyên liệu rẻ và dồi dào, tưởng như có thể khai thác vô tận, cho đến cuộc khủng hoảng của dầu hoa năm

1973 Cho đến lúc ấy, nhiều người nghĩ rằng sợi hoa học sẽ rốt cuộc loại hẳn các sợi

tự nhiên khỏi thợ trường Nhưng chính khuynh hướng này cũng tác động lên các nước đang phát triển, họ cũng muốn gia tăng giá trợ xuất khẩu của mình và bắt đầu tham gia vào ngành vải sợi hoa học Do đó Hiệp đợnh M F A không chỉ chi phối sợi

Trang 18

bông m à còn áp dụng cho cả len và sợi hoa học, vì thế mới gọi là Hiệp định đa sợi

(multifibre)

Hiệp định M F A có mục tiêu mở cửa có trật tự các thị trường bị giới hạn nhằm tránh sự "xáo trôn thị trường" Giống như hai hiệp định trưóc, M F A cho phép áp đặt hoặc duy trì hạn ngạch, với điều kiện phải gia tăng 6 % mỡt năm Ngoài ra, trước khi

có thể viện lý do là thị trường bị xáo trỡn hay có sự "đổ vỡ thị trường", các nước nhập khẩu phải hỡi ý với nước xuất khẩu và tuân theo mỡt số điều kiện và tiêu chuẩn

ghi trong MFA Mỡt Cơ quan Kiểm soát Hàng dệt (Textiles Surveillance Body

-TSB) được thành lập để quản lý hiệp định và giám sát sự thi hành Các nước áp đặt

hạn ngạch phải thông báo mỗi biện pháp mới lên TSB và hàng năm báo cáo tình hình Cơ quan TSB cũng có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp và hàng năm báo cáo

hoạt đỡng của mình lên Uy ban Hàng dệt (Textiles Committeè) của GATT Tuy

nhiên, khoa học phân tích chính sách thương mại định lượng đã phát triển rất hạn chế trong những năm 1970 Do vậy m à hàng loạt các bằng chứng xây dựng nên khái niệm "đổ vỡ thị trường" không có sức thuyết phục và hiệp định này đã trở thành mỡt hiệp định điều tiết việc xuất khẩu của hầu hết các quốc gia đang phát triển vào Hoa

Kỳ và Châu Âu Vào cuối thời kỳ của Hiệp định M F A lần thứ 2 (năm 1981), 8 0 % nhập khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ được điều tiết bởi các thoa thuận hạn ngạch song phương với 20 quốc gia và vùng lãnh thổ và bởi cơ chế tư vấn với 11 quốc gia khác Hiệp định M F A do vậy đã vi phạm cơ chế đa phương trên nhiều phương diện:

V i phạm quy tắc đãi ngỡ quốc gia; nó cho phép áp dụng các biện pháp hạn chế định lượng thay vì sử dụng các biện pháp thuế quan; phân biệt đối xử giữa các quốc gia đang phát triển; là cơ chế không minh bạch

Vì M F A đi ngược lại hai quy tắc căn bản của GATT là minh bạch và không phân biệt đối xử, và nằm ngoài khung pháp lý chung nên tuy được quản lý bởi GATT, chỉ áp dụng cho các nước liên can chứ không cho tất cả các thành viên Cũng

vì yếu tố biệt lệ này m à Trung Quốc, tuy không là thành viên, cũng tham gia từ đầu thập niên 1980 Hiệp định M F A đã được thương lượng lại tổng cỡng 4 lần vào các năm 1977, 1981, 1986 và 1991, sau mỗi lần đều kèm theo nhiều điều lệ mới và nó hết hiệu lực vào năm 1994 Trong những năm cuối, tham gia M F A có 8 nước phát

Trang 19

triển ("nước nhập khẩu") bao gồm áo, Canada, Cộng đồng kinh tế Châu  u EEC,

Mỹ, Phần Lan, Nhật, Thúy Sĩ và Na Uy, và 36 nước đang phát triển ("nước xuất khẩu") Trên tổng số 8 nước nhập khẩu này, chỉ có Nhật và Thúy Sĩ là không hề áp dụng hạn ngạch Thực tế là trong suốt 21 năm thi hành, từ 1974 đến 1994, M F A đã

là công cụ cợa các nước giàu để ngăn chặn nhập khẩu từ các nước nghèo hơn là "mở

rộng thương mại, giảm các hàng rào mậu dịch và dần dần tự do hoa mậu dịch quốc

tế về hàng dệt, cùng lúc điều tiết sự phát triển của luồng thương mại này và tránh

cũng

thương lượng trên cơ sở song phương, thường xuyên xem xét lại, và tỷ lệ gia tăng

thường thấp hơn con số 6% quy định trong MFA

1.1.2 Thương mại hàng dệt may trong khuôn khổ cợa WTO sau khi dỡ

bỏ hạn ngạch

1.1.2.1 Bối cảnh ra đời của Hiệp định hàng dệt may (ATC)

Các nước xuất khẩu không ngừng đòi hỏi phải bãi bỏ chế độ hạn ngạch này

và cơ sở pháp lý cợa nó Vấn đề dệt may là một trong những đề tài khúc mắc cợa

vòng đàm phán Uruguay, và các nước nghèo cũng chỉ đồng ý với một số nhượng bộ cho hai Hiệp định GATS và Hiệp định TRIPs với điều kiện các nước giàu cũng phải

nhượng bộ về mặt nông nghiệp và dệt may Một trong những thoa thuận này là tuy không chấm dứt ngay năm 1994, chế độ M F A phải được thay thế bởi một cơ chế ràng buộc cho tất cả các thành viên như các quy chế khác cợa WTO và chuẩn bị cho việc sát nhập thương mại hàng dệt may vào khung pháp lý chung cợa WTO Hiệp

định hàng dệt may (Agreement ôn Textiles and Clothing - ATC) ra đời cùng với sự ra

đời cợa WTO năm 1995 ATC không phải là sự gia hạn kéo dài cợa hiệp định đa sợi MFA m à nó quy định các biện pháp chuyển tiếp nhằm đưa thương mại hàng dệt và

may mặc vào khung pháp lý chung cợa WTO ATC chỉ là một công cụ cho một giai đoạn chuyển tiếp và không thể dùng để kéo dài một tình trạng ngoại lệ đã quá lâu

Do đó, điều 9 cợa ATC đã khẳng định là Hiệp định này sẽ chấm dứt vào "ngày đầu

Trang 20

tiên của tháng thứ 121 sau khi Hiệp định mo cố hiệu lực, khi ấy thương mại hàng

dệt may sẽ hoàn toàn sáp nhập vào Hiệp định GATT1994", tức là ngày 1-1-2005

Điểm qua tình hình xuất khẩu hàng dệt may trên thế giói cho đến trước khi Hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực 1/1/2005 như sau:

Dệt và may chiếm 7 % tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới và là một trong

số những ngành năng động nhất Trong đó, ngành may với tính chất sử dụng nhiều lao động chiếm 5 7 % tổng thương mại dệt may Xuất khẩu hàng may tăng truỷng trung bình 5,9%/ năm trong giai đoạn 1997-2004, trong khi hàng dệt tăng trưởng trung bình 3 % / năm trong cùng giai đoạn đó (xem biểu đỷ 1.1) Các quốc gia đang phát triển chiếm tới hơn một nửa xuất khẩu dệt của thế giới và 3/4 xuất khẩu may của thế giới

Biểu đồ 1.1: Xuất khẩu dệt may thế giới qua các n ă m (từ n ă m 1997 đến 2004)

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Thống kê của ILO dựa trên dữ liệu của Global Trade Atlas

Chẳng hạn, theo thống kê của WTO, k i m ngạch hàng dệt trao đổi trên thế giới trong năm 2002 là 152 tỷ USD, tức 2,4% mậu dịch hàng hoa và 3,2% mậu dịch hàng công nghiệp (xem biểu đỷ 1.1) Cho hàng may mặc, các con số tương đương là

170 tỷ USD, 3,2% mậu dịch hàng hoa và 4,3% mậu dịch hàng công nghiệp Những

tỷ số này khiêm tốn vì hàng dệt may, tuy là phổ biến và cơ bản và cần thiết cho mọi mặt của đòi sống con người, nhưng vì đã trở thành phổ biến, thậm chí tầm thường,

do đó ít giá trị, trừ một số sản phẩm cao cấp dành cho các ứng dụng chuyên môn Một lý do khác là sự cạnh tranh từ các nước nghèo có nhân công rẻ đã kéo giá thành xuống, khiến mức tăng trưởng đo bằng giá trị của thương mại dệt may thấp hơn mức tâng trưởng về lượng

Trang 21

1.1.2.2 Nội dung cơ bản của Hiệp định ATC

Hiệp định hàng dệt may ATC có một số điểm chính sau:

- Phạm vi mở rộng hom, bao gồm sợi, vải, thành phẩm (made úp articles) và quần áo, tức là hầu hết ngành may dệt, chỉ loại trừ các nguyên liệu thô

- Đưa ra một lịch trình sáp nhập dần dần nhổng mặt hàng ấy vào khuôn khổ các điều lệ của Hiệp định GATT 1994 và song song

- Đưa ra một lịch trình tự do hoa các hạn ngạch được gia tăng theo từng giai đoạn cho đến khi được bãi bỏ hoàn toàn vào ngày 1-1-2005 (xem bảng 1.1)

- Đưa ra một cơ cấu phòng chống tạm thời đặc định (specific transitional safeguard) cho trường hợp các ngành sản xuất nội địa có thể bị tổn hại trong thòi gian quá độ

- Một Cơ quan giám sát Hàng dệt (Textiles Monitoring Body - TMB) được thành lập để đảm bảo là mọi quy định được tuân thủ TMB có nhiệm vụ báo cáo

hoạt động và tiến triển của các lịch trình lên Hội đồng mậu dịch hàng hoa (Council

for Trade in Goods -CTG), là bộ phận của WTO kiểm soát sự thi hành Hiệp ước

ATC Khác với thời MFA, các tranh chấp không thuộc thẩm quyền của TMB m à

phải đưa lên Cơ quan Giải quyết Tranh chấp (Dispute Settlement Body - DSB)

Tuy WTO đã có một hiệp ước riêng cho các biện pháp phòng chống

(Agreement ôn Saỷeguards - SG) nhưng Hiệp định ATC vẫn dành một điều khoản

(điều khoản 6) cho phép các nước nhập khẩu dùng đến biện pháp này theo điều kiện khác, ngoại lệ so với Hiệp ước SG: trong khi SG qui định là các biện pháp phòng chống phải áp dụng cho tất cả mọi nguồn, theo nguyên tắc không phân biệt đối xử,

ATC cho phép nước nhập khẩu áp dụng một biện pháp "đặc định", tức là chỉ nhắm

một đối tượng, nếu xác định được là đối tượng ấy đã gây ra tổn hại cho mình tuy rằng sự gia tăng nhập khẩu là từ mọi nguồn Lý do là vì ATC không cho phép áp đặt hạn ngạch mới, nên các nước ngày trước không tham gia M F A (phi hạn ngạch) vẫn phải có cách tự vệ Cơ cấu phòng chống ATC vận hành như sau: nước nhập khẩu, khi thấy cần bảo vệ thị trường của mình, yêu cầu nước xuất khẩu hội ý với mình Hai bên có thể thoa thuận một biện pháp giói hạn nhập khẩu Thoa thuận này cũng như yêu cầu hội ý đều phải được thông báo lên TMB Nếu không đi đến thoa thuận,

Trang 22

nước nhập khẩu có thể trình lên TMB một đề nghị giới hạn đơn phương T M B có 30 ngày để điều tra và đưa ra khuyến cáo Nếu hai bên vẫn không đồng ý thì có thể kiện nhau trước DSB Vì mọi giai đoạn đều đặt dưới sự giám sát của TMB, một cơ quan đa phương, nên cơ cấu này, tuy hãy còn vi phạm nguyên tắc không phân biệt đừi xử, ít ra cũng trong suừt hơn các hạn ngạch song phương, chỉ có hai nước liên can là biết với nhau

Từ 1995 đến 2001, có 53 biện pháp phòng chừng đã được thông Dao len TMB trong đó một nửa (26) là do Mỹ, phần còn lại do các nước châu M ỹ la tinh Điều đáng nói là trong năm đầu, 1995, đã có 23 biện pháp, toàn bộ là của Mỹ, khiến

ai cũng phải hoảng hừt, từ các nước xuất khẩu đến các nhà quan sát và cả TMB Nhưng sau đó thì ngoài 3 trường hợp của Mỹ và Ì của Ba Lan (năm 2001), chỉ có 4 nước châu Mỹ la tinh dùng đến điều khoản 6: Argentina, Brazil, Ecuador, và

Colombia Cả 4 nước này đều là thành viên của tổ chức International Textile and

Clothing Bureau (ỈTCB) tại Genève Tổ chức ITCB cũng hoạt động tích cực trong

ngành dệt may

Sát nhập vào khuôn khổ GATT hay vào khung pháp lý của WTO chỉ có nghĩa đơn giản là bãi bỏ hạn ngạch, để hàng may dệt không còn là biệt lệ trong luật WTO Lịch trình sát nhập được ấn định thành 4 giai đoạn (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Lịch trình sát nhập vào G A T T 1994

Giai đoan Kỳ hạn Tỷ lệ sát nhập từi thiểu (tính trên khừi lượng

nhập năm 1990) Giai đoan 1 1.1.1995 16% (còn lại 84%)

Giai đoan 2 1.1.1998 17% (còn lại 67%)

Giai đoan 3 1.1.2002 18% (còn lại 49%)

Giai đoan 4 1.1.2005 100%

Nguồn: Văn phòng WTO

Đây là đầu mừi của nhiều tranh cãi Trước hết, nhiều nước nhập khẩu thi hành chậm hem qui định: chẳng hạn ấn Đ ộ than phiền là cho đến tháng 6 năm 2004, khi giai đoạn 4 sắp chấm dứt, Mỹ mới chỉ bãi bỏ 103 hạn ngạch trên tổng sừ 937, tức là còn lại những 89%! Sau đó, ngay cả cấu trúc của lịch trình cũng gây vấn đề Đầu tiên, tỷ lệ sát nhập tính trên khừi lượng chứ không phải trị giá nên trong hai giai đoạn đầu, các mặt hàng được chọn để đưa vào khung pháp lý đa sừ là những hàng

Trang 23

rẻ, những hàng cao cấp hơn vẫn bị giới hạn Ngoài ra, vì những tỷ lệ của 3 giai đoạn đầu tương đối thấp, số còn lại dồn cho giai đoạn chót lên tới 4 9 % , có nghĩa là ngay

cả khi các nước chấp hành nghiêm chỉnh, cũng vẫn còn gần một nẩa công cuộc tự

do hoa sẽ xảy ra cùng một lúc vào ngày 1.1.2005 Hơn nữa, vì các nước nhập khẩu

có toàn quyền chọn các mặt hàng cho 3 giai đoạn sát nhập đầu tiên, đại đa số 4 9 % (hoặc hom) này là những hàng "mẫn cảm" nhất về mặt chính trị

Tự do hoa có nghĩa là các hạn ngạch còn tồn tại sẽ phải được gia tăng mỗi năm, như thời MFA Tuy nhiên, thay vì cố định như tỷ lệ MFA, tỷ lệ ATC cũng tăng dần với thời gian, cho đến kỳ hạn cuối cùng, theo lịch trình sau đây được quy định

cụ thể ở bảng Ì 2

Bảng 1.2: Lịch trình tự do hoa hạn ngạch

Năm Tỷ lệ gia tăng Khối lượng (đơn vị)

1994 6% (như theo qui định của MFA) Thí du: 1000 đơn ví

Nguồn: Văn phòng WTO

Như thế, một hạn ngạch nếu được nâng cao đúng theo qui định của MFA, tức 6% một năm, sẽ tăng 7 9 % sau 10 năm, nhưng nếu theo các tỷ lệ của ATC, thì tăng 134% tức là hơn gấp đôi

Tuy nhiên đây là trường hợp lý tưởng vì trong thực tế, đa số các tỷ lệ gia tăng

ấn định trong các thoa thuận song phương thấp hơn, thường chỉ từ 3 % đến 6%, nên ngay cả khi nước nhập khẩu chấp hành nghiêm chỉnh lịch trình trên, hạn ngạch cũng chỉ tăng lên có chừng mực thôi Mặt khác các nước xuất khẩu cũng than phiền là các hạn ngạch có tỷ lệ cao nhất, tức là sẽ được tự do hoa nhiều nhất, cũng ít được dùng đến nhất vì gồm những mặt hàng ít có lợi cho họ

Trang 24

Các sản phẩm nằm dưới sự điều tiết của Hiệp định này được liệt kê trong danh mục đính kèm với hiệp định Tuy nhiên, danh mục này bao gồm cả các sản

phẩm không bị giới hạn theo MFA và do vậy nó được sử dụng để minh hoa cơ sở m à theo đó mừc độ tự do hoa thương mại được đo lường

1.1.2.3 Hiệp định ATC hết hiệu lực và nghĩa vụ của các nước thành viên thời kỳ sau hạn ngạch

Sau khi Hiệp định ATC hết hiệu lực (kể từ sau 1/1/2005), các quốc gia thành

viên WTO phải thực sự mở cửa tự do thương mại cho hàng dệt may trong khuôn khổ WTO Như vậy, các quốc gia sẽ phải thực sự cạnh tranh lành mạnh trong một thị

trường chung rộng lớn m à chiến thắng sẽ thuộc về quốc gia nào có ngành công nghiệp dệt may vững mạnh và xây dựng chiến lược phát triển tốt Tuy nhiên, điều này đặt ra một khả năng là xuất hiện sự thống trị và lũng đoạn thị trường thế giới

của một vài cường quốc xuất khẩu dệt may, đặc biệt là Trung Quốc, gây ra nhiều ảnh hưởng xấu tới thị trường chung thế giới và nền sản xuất nội địa của các quốc gia khác Chính vì vậy, Hiệp định ATC cho phép các nước thành viên có được một thời

kỳ chuyển tiếp (còn gọi là thời kỳ quá độ), theo đó, các nước được áp dụng các biện pháp bảo hộ có tính tự vệ Khi hết thời hạn hiệu lực của thòi kỳ quá độ, các nước không được phép áp dụng các biện pháp bảo hộ đó nữa

Tuy nhiên, Hiệp định cũng quy định rất chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp bảo hộ mang tính tự vệ này: Chỉ những thành viên đã tiến hành những chương trình

"nhất thể hoa" mới được áp dụng biện pháp này Việc áp dụng các biện pháp tự vệ chỉ có thể được tiến hành trên cơ sở đã bảo đảm được hai điều kiện, như điều 6 của Hiệp định ATC, đó là:

Thứ nhất, đã chừng minh được có sự tổn hại nghiêm trọng hay đe doa gây tổn

hại nghiêm trọng do nhập khẩu hàng dệt may tăng lên đột ngột

Thứ hai, có mối liên hệ trực tiếp giữa sự tổn hại nghiêm trọng đó đối vói

ngành công nghiệp dệt may của nước nhập khẩu do có sự tăng vọt trong số lượng nhập khẩu từ nước xuất khẩu

Ngoài ra, để được áp dụng biện pháp tự vệ, Hiệp định ATC quy định các

nước phải thông báo cho WTO ý định của họ về việc muốn bảo lưu quyền sử dụng

Trang 25

các điều khoản trong một thời kỳ cụ thể sau khi Hiệp định A T C bắt đầu có hiệu lực Nước đề nghị áp dụng biện pháp bảo hộ phải tham vấn với nước hoác các nước xuất khẩu có liên quan và phải chứng minh tình trạng có tẠn hại nghiêm trọng hoặc thực

tế đe doa có tẠn hại

Trung Quốc đã xuất khẩu tơ lụa sang Trung Đông và châu  u từ nhiều thế

kỷ qua Con Đường Tơ Lụa trong hơn cả 1000 năm Vào thế kỷ 19, tiền thân của kỹ nghệ dệt may đương thời được thành lập trong các tỉnh dọc bờ biển, với những phương pháp và kỹ thuật của nước Anh, lúc ấy dẫn đầu thế giới về ngành dệt N ă m

1949 có vào khoảng 179.000 xí nghiệp dệt tư với khoảng 745.000 công nhân, trong

đó chỉ có 8.000 chuyên viên kỹ thuật [10] Những trung tâm sản xuất chính nằm tại Thượng Hải, Thiên Tân và Thanh Đảo Khi nước Cộng Hoa Nhân Dân Trung Quốc

ra đời, tất cả các cơ sở sản xuất được quốc hữu hoa và sát nhập thành một trong những ngành chính của Nhà nước Từ năm 1949 đến năm 1978, việc đẩy mạnh sản xuất mọi loại hàng dệt là một trong những ưu tiên của chính sách phát triển kinh tế Tuy thế, sản xuất lúc nào cũng thiếu hụt so với nhu cầu tiêu thụ và chế độ tem phiếu vẫn còn phải duy trì cho hàng may mặc cho đến năm 1983 N ă m 1978, Đặng Tiểu Bình ban hành chính sách mới khuyến khích liên doanh với vốn nưác ngoài, đặc biệt

từ Hồng Kông, Macao và Đài Loan Do vậy, các xí nghiệp Hồng Kông ồ ạt chuyển

cơ sở sản xuất sang tỉnh Quảng Đông trong thập niên 1980, để khai thác nhân công

rẻ

Với sự gia nhập WTO năm 2001 và Hiệp định A T C chấm dứt hiệu lực từ năm

2005 thì ngành dệt may Trung Quốc không ngừng đầu tư phát triển cho thời kỳ hậu hạn ngách N ă m 2003, đầu tư tài sản cố định trong ngành công nghiệp dệt may đạt 59,8 tỷ nhân dân tệ (tương đương 7,5 tỷ USD), đạt mức tăng 66,7% so với năm trước

Trang 26

và cao hơn 3 8 % so mức tăng trưởng tổng đầu tư tài sản cố định của quốc gia Từ năm 2002 đến 2004, tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ngành dệt may Trung Quốc tăng đến 6,82 tỷ USD, cao hơn 46,5% so với tổng F D I của giai đoạn 3 năm trước N ă m 2004, số lượng doanh nghiệp dệt may của Trung Quốc vượt quá 30.000 doanh nghiệp, so vói 6000 doanh nghiệp năm 2002 và tổng lao động trực tiếp liên quan đến ngành này là 19 triệu lao động, 7 0 % trong số này xuỉt thân từ nông thôn Ngoài ra, ngành công nghiệp này còn cung cỉp hàng triệu việc làm cho các ngành công nghiệp như hoa dầu và giao nhận vận tải Đây cũng là ngành đóng góp lớn vào ổn định xã hội và chống đói nghèo của Trung Quốc [50]

N ă m 2005, năm bãi bỏ chế độ hạn ngạch trong khuôn khổ WTO, doanh thu ngành dệt may của Trung Quốc đạt 3,3 ngàn tỉ nhân dân tệ, tương đương 408 tỷ USD, tăng 115,7% so năm 2001 (năm gia nhập WTO) Ngành công nghiệp dệt may của Trung Quốc ngày càng trở thành ngành công nghiệp quan trọng, có sức cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường thế giới, nhờ các cải tổ về công nghiệp lẫn nâng cáp công nghệ, theo nhận định của Uy ban cải cách và phát triển quốc gia iTrủrí' ỌbW.

Nhiều xí nghiệp đét may lớn ghi nhận lãi 60,7 tỷ USD năm 2005, dù có nhiều tranhl

chỉp thương mại lẫn giá dầu tăng cao và đồng nhân dân tệ tăng giá [471 THS ũưte ý 1.2.1.2 Thực trạng xuất khẩu ị Zũũf I

Trung Quốc là cường quốc dệt may lớn nhỉt thế giới, hiện là quốc gia co Sầu

tư lớn nhỉt về dệt nhuộm Xuỉt khẩu hàng dệt may luôn chiếm vị trí quan trọng trong tổng kim ngạch xuỉt khẩu của Trung Quốc Theo số liệu của Bộ Ngoại thương Trung Quốc, năm 2004, trong tổng số 590 tỷ USD xuỉt khẩu, xuỉt khẩu dệt may chiếm 95 tỷ USD, tương đương 16%, trong khi kim ngạch nhập khẩu dệt may chỉ có 16-18 tỷ USD Dệt may là ngành xuỉt siêu lớn nhỉt của Trung Quốc do nước này có thể sản xuỉt và xuỉt khẩu đa dạng với quy m ô lớn các chủng loại hàng dệt may từ quần áo, chăn ga gối, thảm, hàng vải sợi dùng trong công nghiệp, đồng thòi tự sản xuỉt không phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào cho ngành, bao gồm sản xuỉt nguyên vật liệu như sợi (bông và nhân tạo), sản xuỉt vải và các phụ kiện khác

Đ ể thỉy được sự phát triển lớn mạnh của ngành dệt may Trung Quốc, chúng

ta có thể điểm qua các số liệu thống kê xuỉt khẩu qua các năm của nước này Xuỉt

Trang 27

khẩu hàng dệt và may của Trung Quốc tăng vọt từ 2,3 tỷ đô-la năm 1978 lên 61,86

tỷ năm 2002 nếu tính riêng, hoặc 98,55 tỷ nếu cộng cả Hồng Kông và Macao Nói cách khác, chỉ trong vòng 22 năm, trị giá xuất khẩu đã được nhân lên 27 lần cho Trang Quốc nói riêng, và nhân lên 43 lần cho Trung Quốc cộng vại Hồng Rông và Macao Từ năm 2002, sau khi Trung Quốc gia nhập WTO và được thoát khỏi một số hạn ngạch, sự phát triển của xuất khẩu dệt may Trung Quốc dường như không có gì cản nổi Tại Nhật, một nưạc phi hạn ngạch, Trung Quốc chiếm 7 8 , 1 % thị trường quần áo và 47,5% thị trường vải sợi năm 2002, vại mức tăng trưởng là 6 6 % trong 10 năm, cho thấy khả năng chiếm lĩnh thị trường của Trung Quốc khi không có hạn ngạch Tại Mỹ và trong Liên hiệp châu Âu, năm 2002, tức là ngay sau khi một số hạn ngạch được bãi bỏ, nhập khẩu các mặt hàng này từ Trung Quốc vào M ỹ tăng bình quân 125%, nhập khẩu vào Liên hiệp châu Âu tăng 5 3 % về trị giá và 1 6 4 % về

số lượng, và giá đơn vị trung bình thì giảm 42% Có thể nêu lên vài con số khá kinh

khủng: chỉ trong mót năm, nhập khẩu vào Mỹ từ Trung Quốc tăng 2 4 2 % cho găng

tay, 3 0 6 % cho quần áo trẻ em, 2 5 0 % cho nịt ngực và 557 % cho áo choàng, áo ngủ [10] Chưa hết, khi chính ấn Đ ộ cũng chỉ được chỗ này nhưng lại mất chỗ kia, Trung

Quốc là nưạc duy nhất đã gia tăng xuất khẩu trong tất cả các loại hàng

Sau khi Hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực từ 1-1-2005, xuất khẩu của Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh hơn bao giờ hết

Đ ố i vại Liên minh châu Âu (EU), một số mặt hàng dệt may của Trung Quốc xuất khẩu sang tăng nhanh ngoài sức tưởng tượng Tính riêng trong tháng Ì năm

2005, xuất khẩu của Trung Quốc sang 15 nưạc trong khu vực này đã tăng tại 4 7 %

so vại cùng kỳ năm ngoái

Trong khi đó, tại Mỹ, k i m ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc trong những tháng đầu năm 2005 tăng 6 3 % so vại cùng kỳ năm ngoái Chỉ tính riêng tháng 1/2005, xuất khẩu dệt may của Trung Quốc sang M ỹ đạt 1,4 tỷ USD, tăng tại 65,26% Tính chung cả ba tháng đầu năm 2005, Trung Quốc đã xuất khẩu khoảng 84,48 triệu áo sơ m i chất liệu cotton sang Mỹ Trong hai tháng đầu năm 2005, Trung Quốc đã xuất sang Mỹ 27 triệu quần bò thay vì Ì ,9 triệu (như trong thời kỳ còn hạn ngạch)

Trang 28

Trong 3 tháng đầu năm 2005, xuất khẩu của Trung Quốc vào EU tăng 2 7 % , vào Mỹ tăng 29% Trong đó xuất khẩu dệt may Trung Quốc vào M ỹ đối với một số

mã hàng có tốc độ tăng chóng mặt trên 1.000% như: cát 338/339 (áo dệt k i m cotton), cát 347/348 (quần dệt thoi cotton), cát 332 (tất), cát 342 (váy chất liệu cotton), cát 647/648 (quần dệt thoi chất liệu nhân tạo)

Ngoài hai thị trường trọng điểm kể trên, xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc vào các quốc gia và khu vực khác cũng tăng khá: Sang Thả Nhĩ Kỳ tăng 78,9%, Nhật Bản 11,9% và Hồng Rông 18,26%

Trong 9 tháng đầu năm 2005, kim ngạch xuất khẩu quần áo và đồ phụ liệu của nước này đạt 4,5 tỷ USD, tăng 19%

Kim ngạch xuất nhập khẩu dệt may của Trung Quốc trong 10 tháng đầu năm

2005 đạt 111,174 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm 97,154 tỷ USD, tăng 22,31% và

nhập khẩu chỉ chiếm 14,02 tỷ USD, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm 2004 [22]

Trong năm 2005, ngành công nghiệp dệt may của Trang Quốc phát triển mạnh mẽ nhờ vào việc chấm dứt hệ thống hạn ngạch Sản lượng chỉ soi cotton của Trung Quốc đã tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước đó, trong khi đó xuất khẩu các sản phẩm cotton đạt mức tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2004 Ngành này đã mang lại khoản lợi nhuận khảng lồ, 16 tỷ Nhân dân tệ (2 tỷ USD), tăng 7 7 % so với cùng

kỳ năm trước

Sang năm 2006, tốc độ xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc dự đoán sẽ giảm từ mức tăng trưởng 20,7% năm 2005 xuống còn 15%, do vấp phải sự khống chế hạn ngạch của EU và Hoa Kỳ cũng như những đối sách của các quốc gia đối thủ cạnh tranh khác

Theo dự báo thì thị phẩn của dệt may Trung Quốc trong nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ sẽ tăng 1 6 % từ trong năm 2003 đến 7 1 % vào cuối năm 2006 đạt 42 tỷ USD

1.2.2 Thê mạnh và điểm yêu của ngành dệt may Trung Quốc

1.2.2.1 Thế mạnh của ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc

- Về chi phí nhân công và năng suất lao động: Dệt may là ngành công nghiệp

truyền thống của Trung Quốc và có khả năng cạnh tranh cao nhất thế giói Nhân

Trang 29

công có chi phí thấp nhưng tay nghề cao, đặc biệt là sự sẵn có của nguyên phụ liệu nội địa, quy m ô thị trường lớn là các yếu tố chiếm ưu thế vượt trội của Trung Quốc

so với các nước xuất khẩu dệt may khác và Trung Quốc đã biết tận dụng tối đa các

ưu thế sẵn có này Tại Trung Quốc, lương công nhân dệt may thấp hơn Nhật 57 lản

và thấp hơn Thái Lan 3 lản Một điểm mạnh nữa của dệt may Trang Quốc chính là năng suất lao động cao cũng như năng lực sản xuất của ngành là rất lớn Trung Quốc

có khả năng sản xuất một khối lượng hàng khổng l ồ trong một thời gian ngắn Chẳng hạn, một xí nghiệp may của Trung Quốc có thể sản xuất 100.000 chiếc quản trong vòng một tuản lễ trong khi doanh nghiệp Việt Nam cẩn 4 tuản lễ Trung Quốc còn có thế mạnh là ngành sản xuất nguyên phụ liệu nội địa phát triển mạnh mẽ và đồng bộ, giúp các doanh nghiệp may Trung Quốc rút ngắn được thòi gian sản xuất xuống còn chỉ bằng 1/4 so với các doanh nghiệp Việt Nam vì các doanh nghiệp Việt Nam còn phải mất nhiều thời gian nhập khẩu nguyên phụ liệu

- Về đầu tư cho ngành: Trong khi ngành may mặc cản nhiều nhân công, việc

sản xuất sợi, vải , nhuộm lại yêu cảu nhiều vốn và công nghệ hơn Trung Quốc là một quốc gia có đảu tư rất lớn và lâu dài trong lĩnh vực dệt nhuộm nhờ có ngành công nghiệp hoa dảu tương đối hoàn chỉnh nên nước này đã tạo ra được nguồn nguyên liệu khá lớn và đa dạng, vói nhiều phẩm cấp chất lượng khác nhau, phục vụ sản xuất và gia công hàng may mặc Đ ố i mặt với xu thế ngày càng gia tăng của phí nhân công, nước này cho biết hướng đảu tư vào thiết kế, mẫu m ã và các sản phẩm giá cao, cũng như chiến lược hiện đại hoa ngành dệt may sẽ trở thành lợi thế cạnh tranh mới của ngành Trung Quốc cũng mở cửa cho đảu tư nước ngoài vào ngành này, coi đây là hướng đi đúng đắn trong việc thu hút vốn và hiện đại hoa ngành dệt may Hiện vốn đảu tư nước ngoài sản xuất khoảng 1/3 k i m ngạch xuất khẩu dệt may của cả nước Trung Quốc

- Về khả năng cạnh tranh của ngành: Trang Quốc luôn nỗ lực gia tăng khả

năng cạnh tranh ngành trên cả ba cấp độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Ngoài

ra, nhờ nỗ lực đàm phán trong suốt thời gian dài của Chính phủ, ngành dệt may của Trung Quốc đã được dỡ bỏ hạn ngạch xuất khẩu vào các thị trường, đặc biệt là Hoa

Kỳ và EU Trung Quốc cũng cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp, tập trang năng lực

Trang 30

cạnh tranh những tập đoàn dệt may lớn để gia tăng khả năng xâm nhập vào những thị trường lòn khi được dỡ bỏ hạn ngạch Các sản phẩm dệt may luôn được quan tâm đầu tư vào mẫu mã, kiểu dáng, trong đó khâu thiết kế luôn được coi trọng với mặc tiêu giá thành sản phẩm ngày càng hợp lý Chính phủ Trung Quốc luôn coi ngành dệt và may mặc là ngành công nghiệp trặ cột của quốc gia và đã đầu tư hàng chặc tỷ

đô la Mỹ để xây dựng một ngành công nghiệp lớn mạnh m à không một quốc gia nào

có được Các hình thức hỗ trợ của Chính phủ như gia hạn nợ, đầu tư công trình công cộng, giảm chi phí bến bãi và vận chuyển, hỗ trợ công nghiệp trực tiếp và các hình thức khác Sự liên kết chặt chẽ giữa Chính phủ Trung Quốc và ngành dệt và may mặc đã tạo điều kiện giúp các nhà xuất khẩu dệt may Trang Quốc có thể cắt giảm giá thành so với các đối thủ cạnh tranh, kể cả các quốc gia như Bănglađét và ấn Đ ộ vốn có chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc Theo như nghiên cứu của Liên hợp quốc, Trung Quốc đã xuất khẩu hàng dệt may trên khắp thế giới với mức giá trung bình thấp hơn 5 8 % so với các quốc gia khác (xem biểu đồ 1.2) Và tại các quốc gia không bị khống chế hạn ngạch, Trung Quốc chiếm tới 60-85% thị trường dệt may của những nước này

Biểu đồ 1.2: Giá xuất khẩu hàng dệt may của Trung Quốc so với phần còn lại

của thế giới (trung bình thấp hơn 5 8 % )

Đơn vị: USD/sp

Quần Á o dệt thoi Á o dệt kim Đ ồ lót

Nguồn: Dữ liệu của Liên Hợp Quốc, 2003

- Về chính sách xuất nhập khẩu: Trung Quốc đã áp dặng chính sách khuyến

khích xuất khẩu tự do hoa tối đa nhưng có quản lý và đối với chính sách nhập khẩu duy trì mức thuế nhập khẩu trung bình 11,4%, mức này thấp hơn mức 1 2 % của

Trang 31

WTO quy định cho các nước thành viên Trung Quốc chỉ duy trì hạn ngạch với sợi bông hoa học và lông cừu, còn các mặt hàng khác đều tự do nhập khẩu

Vói lợi thế về nhân công, thị trường và khả năng cung cấp dịch vụ tốt hơn, nhanh hơn, thích ủng linh hoạt hơn với sự thay đổi mẫu mã, khả năng đáp ủng tiêu chuẩn của khách hàng tốt hơn, Trung Quốc đã xây dựng được ngành công nghiệp dệt may vững mạnh và có sủc cạnh tranh vào hàng bậc nhất trên thế giới

Không những thế, Trung Quốc còn là một quốc gia rất nhanh nhạy trong việc kịp thời đưa ra các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu dệt may Cụ thể, ngay sau khi Hiệp định ATC hết hiệu lực, Trung Quốc đã nhanh chóng áp dụng 8 biện pháp khuyến khích xuất khẩu như sau trong năm 2005:

- Khuyên khích xuất khẩu những sản phẩm có giá trị cao thông qua việc tăng thuế xuất khẩu theo biểu mẫu thuế chi tiết đối với một số sản phẩm dệt may

- Các phòng ban khác nhau của chính phủ sẽ tăng cường các dịch vụ đối với các doanh nghiệp thông qua việc cung cấp kịp thời những thông tin xuất khẩu, hướng dẫn xuất khẩu và khuyến khích tính tự giác tại ngành công nghiệp

- Thông báo các tin tủc về việc tăng đầu tư trong ngành công nghiệp dệt may, đưa ra những cảnh báo về độ rủi ro đối với các doanh nghiệp Trung Quốc, và tránh đầu tư quá mủc và lặp lại nhiều lần trong lĩnh vực này

- Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài và tạo những thuận lợi trong trao đổi thương mại đồng thời đưa ra những chính sách hỗ trợ nhằm huống dẫn họp tác nước ngoài và tham gia vào quá trình toàn cầu hoa kinh tế

- V a i trò của các cơ quan trung gian là kết hợp và hướng dẫn tính tự giác trong các ngành công nghiệp và xuất khẩu

- Xúc tiến sử dụng hệ thống chủng chỉ chất lượng ISO9000 và các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường ISO14000

- Khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và có nhãn hiệu nổi tiếng riêng của mình, tăng cường đầu tư cho nghiên củu và phát triển thông qua những biện pháp xúc tiến thương mại khác nhau và tăng tính cạnh tranh

- Tăng cường đối thoại song phương cũng như đa phương, trao đổi và hiểu biết lẫn nhau giữa các chính phủ, các tổ chủc công nghiệp và các doanh nghiệp

Trang 32

trong hợp tác và độ an toàn hấp dẫn của các doanh nghiệp Trung Quốc đối với mục đích phát triển chung

1.2.2.2 Những điểm yếu của ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc

Nhìn chung, ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc chủ yếu tập trang vào các đơn hàng lớn mang tính chất sản xuất hàng loạt m à ít chú ý tới các đơn hàng nhỏ vì việc sản xuất sẽ khó khăn hơn, tốn kém chi phí hơn Chính vì vậy, thị trường dành cho sản phỗm đắt tiền, tinh xảo, chất lượng cao đang dần hình thành sẽ vẫn là

cơ hội tạo chỗ đứng cho những nước nhỏ hơn trước sự cạnh tranh của Trang Quốc

1.2.3 Những lợi thế và bất lợi của thương mại hàng dệt may Trung Quốc sau khi Hiệp định A T C châm dứt hiệu lực ngày 1-1-2005

Trong cuộc đua giá cả xuất khỗu vào các thị trường lớn như Mỹ cũng thể hiện khả năng cạnh tranh về giá cả của Trung Quốc so với các quốc gia xuất khỗu dệt may khác như Ấn Độ, Pakistan, Bănglađét, Inđônêxia, Việt Nam Trong số các nước xuất khỗu lớn, Trung Quốc có đơn giá giảm nhất đối với những mặt hàng không bị

áp hạn ngạch (ví dụ cát 636) trong khi các mặt hàng bị hạn ngạch hầu hết bị tăng giá Trung bình, hàng Trung Quốc giảm khoảng 6% so với cùng kỳ năm ngoái Các nước xuất khỗu lớn thì ngược lại, đơn giá lại tăng Giá hàng may mặc của Pakistan tăng khoảng 1 % còn của Bănglađét tăng tới 6% ấn Đ ộ và Việt Nam thậm chí còn tăng cao hơn nữa, đạt mức 1 1 % và 1 4 % tương ứng (xem phụ lục 3)

Trang 33

1.2.3.2 Những bất lợi

Tuy nhiên, việc bãi bỏ hạn ngạch không có nghĩa là Trung Quốc hoàn toàn

chỉ có thuận lợi Thứ nhất, trong khi nhiều nước sản xuất nghèo nhất, điển hình là

các nưóc châu Phi ở phía Nam sa mạc Xahara sẽ vẫn được lợi từ việc xuất khẩu vào thị trưặng Mỹ và EU miễn thuế thì Trung Quốc sẽ phải đối mặt trực tiếp vói các biểu thuế đối vói hàng dệt may, nói chung là cao hơn so với các mặt hàng công nghiệp khác Ngoài ra, theo Hiệp định gia nhập WTO năm 2001 của Trung Quốc, các nước thành viên WTO đã đòi hỏi được quyền áp đặt một số biện pháp ngăn ngừa, ghi trong Điều lệ 16, cho phép đến tháng 12/2013, các thành viên WTO áp dụng các biện pháp phòng chống (Safeguards) nhắm vào một hay vài mặt hàng của Trang Quốc (trong đó có dệt may) có thể lập hàng rào bảo hộ đối với ngành dệt may của Trung Quốc và hạn chế kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may Trung Quốc chỉ ở mức vượt 7,5% so vói mức nhập khẩu của năm trước, nếu họ chứng minh được rằng thị trưặng nội địa đang bị sụp đổ bởi dệt may Trung Quốc nhập khẩu vào nước họ Điều này thể hiện qua việc tăng trưởng hàng may mặc xuất khẩu của Trung Quốc bị chậm lại trong tháng 4/2005, chỉ còn tăng 14,8% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi mức tăng trưởng ba tháng đầu năm là 15,9% và sự giảm sút này là vì "bị kiềm chế". Thứ hai, hiện nay, Mỹ và EU đều không muốn phụ thuộc quá nhiều vào một

nhà cung cấp nào, kể cả Trung Quốc Họ muốn đa dạng hoa quan hệ thương mại dệt may, đặc biệt là dành ưu đãi nhập khẩu dệt may với các quốc gia dành cho họ những

ưu đãi tương ứng trong việc nhập khẩu những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của họ

Thứ ba, sự lớn mạnh của ngành dệt may các quốc gia khác, điển hình là Ân Độ Rất

ít doanh nghiệp đét may Ân Đ ộ coi Trung Quốc là mối đe doa lòn vì họ cho rằng không một khách hàng nào muốn phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc và theo quy chế của WTO thì mức độ rủi ro chính sách rất cao Hem nữa, các sản phẩm và thị trưặng của Trung Quốc khác so vói ấn Độ 4 5 % xuất khẩu của Trung Quốc vào thị trưặng Nhật Bản, Hồng Kông, trong khi 7 0 % xuất khẩu của Ân Đ ộ là vào thị trưặng

Mỹ, EU và Canada Thế mạnh của Trung Quốc là vải thủ công, của Ấn Đ ộ là vải

Trang 34

bông Trung Quốc thường tập trung vào các đơn hàng lớn về trang phục công sở, còn Ấn Đ ộ thường tập trung vào những đơn đặt hàng nhỏ với nhiều thiết kế phụ như thêu, đan Ấn Đ ộ lôi cuốn khách hàng vì là một nhà cung cấp khá hoàn hảo, có cơ sở sản xuất rộng, đủ nguyên liệu và là nước sản xuất vải bông lớn thứ ba trên thế giới chị sau Trang Quốc và Mỹ Ấn Đ ộ cũng là nơi có lao động rẻ và lành nghề, chi phí

nhân công còn rẻ hơn Trung Quốc 15% Thứ tư, mặc dù hàng dệt may Trung Quốc

chiếm lĩnh đa số hai thị trường hàng dệt may lớn trên thế giới là M ỹ và EU nhưng người tiêu dùng ở hai thị trường này cũng đang có tư tưởng nhàm chán hàng Trung Quốc

1.3 THỊ T R Ư Ờ N G D Ệ T M A Y T H Ế G I Ớ I T H Ờ I K Ỳ H Ậ U H Ạ N N G Ạ C H

1.3.1 Nhận xét chung về thị trường dệt may phi hạn ngạch

Có thể nói, sau khi dỡ bỏ hạn ngạch dệt may, các nước sẽ có lợi nhiều nhất chính là các thành viên của WTO (vì ATC và sự chấm dứt của hiệp định này chị có hiệu lực cho các thành viên) Trong số các cường quốc xuất khẩu dệt may, phải kể đến Ấn Độ, Pakixtan và đặc biệt là Trung Quốc Mặc dù rất mạnh nhưng các nước như Trung Quốc, Ân Độ, Pakistan đã chuẩn bị rất kỹ cho giai đoạn hậu hạn ngạch này: Trang Quốc có kế hoạch cải tổ ngành dệt may từ năm 1998, thay đổi trang thiết

bị, công nghệ, các chính sách hỗ trợ và đưa k i m ngạch X K 2004 trên 60 tỷ USD Một số phân tích cho rằng năm 2007, Trung Quốc có thể đạt 5 0 % thị phần hàng may mặc thế giới (100 tỷ USD) ấn Đ ộ đầu tư 6 tỷ USD để đổi mới trang thiết bị, công nghệ trong 5 năm qua (2000 đến 2004), kế hoạch phấn đấu đến 2010 X K 50 tỷ USD Pakistan cũng vậy, hiện nay đã X K trên 7 tỷ USD, xếp hàng thứ năm chị sau Trung Quốc, Ấ n Độ, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ Điều này thiện rõ qua thị phần các thị trường lớn EU, Hoa Kỳ trước và sau khi dỡ bỏ hạn ngạch (biểu đồ 1.3 ~ 1.6)

Trang 35

Biểu đồ 1.3: Thị phần EU hàng dệt trước và sau khi xoa bỏ quota ATC Trước 2005 Sau 2005

Ghi chú: Châu Phi trong hình là Châu Phi hạ Sahara, XNF là Bắc Phi gồm Morocco, XCE là Trung và Đông Âu ngoại trừ Hungary và Ba Lan vì đứng riêng trong mô hình

Có thể thấy sau 2005, với sự dỡ bỏ hạn ngạch dệt may, thị phần hàng dệt của Biểu đồ 1.4: Thị phần EU hàng may mặc trước và sau khi xóa bỏ quota ATC Trước 2005 Sau 2005

Trang 36

Sau khi dỡ bỏ hạn ngạch, thị phần hàng may mặc của Trung Quốc tăng lên

nhanh chóng tại thị trường EU Nếu như trước năm 2005, thị phẩn của Trung Quốc

là 18% thì sau 2005 có thể tăng lên 29%

Biểu đồ 1.5: Thị phần hàng dệt vào Mỹ trước và sau khi loại bỏ quota ATC

Không chỳ dần tăng dần thị phần vào thị trường EU, Trung Quốc còn không

ngừng tấn công và tăng thị phần tại thị trường Hoa Kỳ Xét về hàng dệt, thị phần của Trung Quốc tăng với tốc độ khá lớn, thay vì chiếm 11% trước khi dỡ bỏ hạn ngạch

thì có thể chiếm tới 18% sau khi hạn ngạch dệt may được dỡ bỏ

Biểu đồ 1.6: Thị phần hàng may mặc vào Mỹ trước và sau khi bỏ quota ATC

Trang 37

Đ ố i với hàng may mặc, tốc độ chiếm lĩnh thị truồng của Trung Quốc tại Hoa

Kỳ tăng cao chưa từng thấy, nếu như trước 2005 chỉ chiếm 1 6 % thì sau khi hiệp định ATC chấm dứt hiệu lực, Trung Quốc có khả năng chiếm tới 5 0 %

Kầ từ sau 1-1-2005, bức tranh thị trường dệt may thế giới đã có sự thay đổi rõ nét, trong đó phần thắng chủ yếu thuộc về ngành dệt may Trung Quốc, trong khi các doanh nghiệp dệt may ở nhiều nước khác đang lao đao vì không thầ cạnh tranh, hàng nghìn nhân công mất việc làm kéo theo nhiều vấn đề xã hội khác Sau khi bãi

bỏ hạn ngạch, thị trường dệt may thế giới tưởng chừng không còn biên giới, các doanh nghiệp được tự do làm ăn không hạn chế, tự do buôn bán hàng dệt may trên toàn thế giới đã tạo ra sự bất ổn lớn đối với các nước sản xuất hàng dệt may, người lao động và các doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng này

Đ ầ có được cái nhìn tổng quan hơn về sức mạnh của Trung Quốc, các thành tích xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Kông và Macao trong năm 2001, tính riêng và cộng chung, được trình bày trong bảng dưới đây, k i m ngạch tính bằng triệu đô-la và con số ghi trong ngoặc là thứ hạng

Bảng Lì: Xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Rông và Macao trong

năm 2002, triệu đô-la (thứ hạng)

Macao Hồng Rông Trung Quốc Trung Quốc

(cộng chung) Dệt Xuất khẩu 326 (30) 12 374 (3) 20 563 (2) 33 263 (2) Thị phần, Canada 21 (14) 310(5) 331 (2) Thị phần, Mỹ 157 (15) 2 682 ự) 2 839 ự)

Châu Âu

468 (25) 2 204 (9) 9 764 (2) 12436(2) Thị phần, Nhật 9(25) 63 (12) 13 755 ự) 13 827 ự)

Nguồn: WTO, International Trade Statistics, 2003

Từ những thống kê này có thầ rút ra vài nhận xét Một là ngay cả khi tính riêng, Trung Quốc vẫn toàn đứng nhất nhì, tệ nhất là hạng 3 Cộng chung với Macao

và Hồng Kông, Trung Quốc chiếm hạng nhất trên thế giới cho k i m ngạch xuất khẩu

Trang 38

quần áo, trong khi tính riêng thì cũng vẫn hạng nhì sau Liên hiệp Châu Âu (50.452 triệu) Như thế, một mình Trung Quốc đã chiếm ưu hạng, nếu cộng thêm phần đóng góp rất đáng kể của Hồng Kông và khiêm tốn hơn của Macao thì có khác gì anh khổng l ồ lại còn đi giày cao gót! Hai là ưu thế của Trung Quốc còn nổi trội cho hàng may mặc hơn cả cho hàng dệt Lý do là vì một phần hàng dệt được dùng trong nước để sản xuất quần áo, là những mặt hàng có trỹ giá gia tăng cao hơn và đem lại nhiều ngoại tệ hơn

Sau khi dỡ bỏ hạn ngạch, đơn hàng của các doanh nghiệp M ỹ ngày càng đổ dồn vào các nhà sản xuất Trung Quốc (xem biểu đồ 1.6) Đ ế n nay, các mặt hàng như áo sơ mi, quần âu, jacket của các nhà sản xuất Trung Quốc chiếm tói 70-80% thỹ trường Mỹ Sự xâm thập quá mạnh của hàng dệt may Trung Quốc ở thỹ trường

Mỹ đã khiến cho hàng trăm nghìn công nhân của các công ty dệt may Mỹ thất nghiệp cho dù họ đã được trợ cấp nhiều từ Chính phủ V ớ i chiều hướng này, chỉ trong vòng hai năm tới, hàng dệt may Trung Quốc sẽ kiểm soát phần lớn thỹ trường

Mỹ (xem biểu đồ 1.6) Ngành công nghiệp dệt may của Mỹ, EU và nhiều nước khác đang phải gồng mình chống chọi lại "cơn lũ" hàng dệt may giá rẻ từ Trung Quốc đang tràn vào nước họ Thực tế cho thấy, do không còn chế độ hạn ngạch gây cản trở, Trang Quốc đã sẵn sàng chi phối hoạt động buôn bán hàng dệt may toàn cầu và làm gia tăng những căng thẳng thương mại trên thế giới N ă m 2003, Trung Quốc sản xuất 1 7 % hàng dệt may thế giới Theo dự báo của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ năm 2004 đến năm 2008, thỹ phần hàng dệt may Trung Quốc sẽ tăng từ

1 8 % lên 2 9 % ở Liên hiệp châu Âu (EU) (xem biểu đồ Ì 8) và từ 1 6 % lên 5 0 % ở M ỹ (xem biểu đồ 1.7)

Trang 39

Biểu đồ 1.7: M ư ờ i nước xuất khẩu hàng đầu vào thị trường Mỹ

Trang 40

Bảng 1.4: Thương mại dệt may thế giới năm 2007 (tính theo giá trị năm 1997)

Sahara Châu Phi -30.8 -0.5 -7.7 -0.1 -1.1 0.0 -2.3 -0.1

Phần còn lại của

thế giới

-22.9 -2.3 -5.4 -0.4 -1.1 -0.1 -1.9 -0.3

Nguồn: từ nghiên cứu IMF WP1041108, 612004 ịtr 35)

Theo Hiệp hội quốc tế các nghiệp đoàn tự do (ICFTU), việc xoa bỏ hạn ngạch dệt may dẫn đến việc nhiều nước chuyên xuất khẩu dệt may theo hạn ngạch như Campuchia, Việt Nam, Philippin, Băng la đét, Đ ô m i n i ca, Góa tê ma la, phải đối đầu với cuộc cạnh tranh giá rẻ của Trung Quốc và Ân Độ Gần đây, nhiều doanh

nghiệp châu á đã hiện diện khá đòng ở Châu Phi để tận dởng những lợi thế so sánh

như chi phí lao động rẻ hơn, thuế xuất khẩu ưu đãi hơn, để mở rộng quy m ô sản xuất Khơi mào cho xu thế này của các công ty Châu Á là các doanh nghiệp Đài Loan, Malaysia, Trung Quốc lởc địa,., đang xúc tiến mở chi nhánh sản xuất ở châu Phi để tận dởng cơ hội ưu đãi, bởi vì Đ ạ i diện thương mại M ỹ gần đây đã tuyên bố,

sẽ dành ưu đãi về thuế đối với sản phẩm dệt may có xuất xứ châu Phi (AGOA) Theo chiều hướng này, châu Phi đang trở thành khu vực sản xuất thứ hai của các doanh nghiệp dệt may châu Á

Những nước có nguy cơ thiệt thòi nhiều nhất sau k h i hạn ngạch chấm dứt là

những nưóc xuất khẩu còn ít, chưa đạt được mức tới hạn (critical level), mới chen

vào thị trường hoặc chưa củng cố được chỗ đứng, tiềm năng phát triển bị giới hạn vì không có nguyên liệu tại chỗ, và nhất là quá lệ thuộc vào ngành dệt may và vào một

số ít thị trường nhập khẩu như Bănglađét và Campuchia Đ ố i với các nước xuất khẩu

Ngày đăng: 19/12/2015, 20:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Lịch trình tự do hoa hạn ngạch - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 1.2 Lịch trình tự do hoa hạn ngạch (Trang 23)
Bảng Lì: Xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Rông và Macao trong - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
ng Lì: Xuất khẩu và thị phần của Trung Quốc, Hồng Rông và Macao trong (Trang 37)
Bảng 1.4: Thương mại dệt may  thế giới năm 2007 (tính theo giá trị năm 1997) - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 1.4 Thương mại dệt may thế giới năm 2007 (tính theo giá trị năm 1997) (Trang 40)
Bảng 2.1: Thiệt hại giá trị xuất khẩu dệt may của các quốc gia - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 2.1 Thiệt hại giá trị xuất khẩu dệt may của các quốc gia (Trang 50)
Bảng 2.2: Sô lượng thất nghiệp tại Hoa Kỳ dự kiên giai đoạn 2004-2006 - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 2.2 Sô lượng thất nghiệp tại Hoa Kỳ dự kiên giai đoạn 2004-2006 (Trang 54)
Bảng 2.3: Thoa thuận dệt may Hoa Kỳ - Trung Quốc - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 2.3 Thoa thuận dệt may Hoa Kỳ - Trung Quốc (Trang 57)
Bảng 2.4: Mức tăng trưấng qua các năm theo thoa thuận - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 2.4 Mức tăng trưấng qua các năm theo thoa thuận (Trang 61)
Bảng 3.1: Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam đến năm 2004 - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 3.1 Đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam đến năm 2004 (Trang 73)
Bảng 3.2: Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 3.2 Năng lực sản xuất của ngành dệt may Việt Nam (Trang 74)
Bảng 3.4:  L ọ i t h ế so sánh tương đối của ngành dệt may của các quốc gia. - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
Bảng 3.4 L ọ i t h ế so sánh tương đối của ngành dệt may của các quốc gia (Trang 79)
Biểu đồ 3.1: Sơ đồ phát triển chung của các doanh nghiệp may - Luận văn thạc sĩ kinh tế  tác động của thương mại hàng dệt may trung quốc đối với thị trường dệt may thế giới và việt na
i ểu đồ 3.1: Sơ đồ phát triển chung của các doanh nghiệp may (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w