xã hội mang tính đặc thù đó đã tạo điều kiện cho kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình phát triển nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với mô hình kinh tế hộ và kinh tế
Trang 2
Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế cá thể, tiểu chủ có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa
Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta phát triển theo mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, chỉ tồn tại một hình thức sở hữu công hữu với hai thành phần kinh tế: quốc doanh và tập thể Do đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ không được tạo điều kiện phát triển, hơn nữa còn bị coi là “phi XHCN”, là “đối tượng cải tạo XHCN” Mặc dù vậy, trên thực tế nó vẫn hoạt động dưới dạng “kinh tế ngầm”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức thực tiễn, trong đổi mới tư duy lý luận, trước hết là tư duy kinh tế Với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng và khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, phát triển LLSX, kinh tế cá thể, tiểu chủ có điều kiện phục hồi và phát triển
Nhờ vậy, trong những năm vừa qua, bộ phận kinh tế này ở nước ta đã phát triển nhanh chóng và ngày càng khẳng định là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh
tế quốc dân
Theo số liệu từ cuộc tổng điều tra các cơ sở kinh tế hành chính sự nghiệp năm
2002, hàng năm tỷ trọng đóng góp của kinh tế cá thể, tiểu chủ vào tổng sản phẩm trong nước ở mức trên 30% Đồng thời, kinh tế cá thể, tiểu chủ còn đóng vai trò rất quan trong việc giải quyết việc làm Đến năm 2005, khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ cả nước đã có trên 3 triệu hộ hoạt động trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp và trên
10 triệu hộ hoạt động sản xuất nông nghiệp, thu hút khoảng 28,6 triệu lao động tham gia làm việc (chiếm 65,6% số lao động có việc làm cả nước và 74,6% lao động trong khu vực
kinh tế ngoài quốc doanh) [4, tr.233] Do đó, kinh tế cá thể, tiểu chủ đã góp phần quan
trọng vào việc xóa đói giảm nghèo, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp Những điều kiện tự nhiên, kinh tế,
Trang 3
xã hội mang tính đặc thù đó đã tạo điều kiện cho kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình phát triển nhanh chóng, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp với mô hình kinh tế hộ và kinh tế trang trại
Hiện nay kinh tế cá thể, tiểu chủ đã và đang có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh tế cá thể, tiểu chủ đang chiếm giữ tỷ trọng rất lớn Theo số liệu của Cục Thống kê Thái Bình năm 2004 cho thấy: kinh tế cá thể, tiểu chủ chiếm tới 38,4% giá trị sản xuất nông nghiệp; 77,7% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ và chiếm 45,4% giá trị sản xuất công nghiệp
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình còn bộc lộ nhiều yếu kém, hạn chế như: quy mô nhỏ bé, phân tán, manh mún, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động thấp, sức cạnh của hàng hóa thấp Mặt khác, những khó khăn vướng mắc về cơ chế chính sách, về tâm lý xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của bộ phận kinh tế này Trên thực tế kinh tế
cá thể, tiểu chủ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng của nó
Vì vậy, với mong muốn được góp phần làm rõ hơn những cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế cá thể, tiểu chủ, trên cơ sở đó đề ra những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy kinh tế cá
thể, tiểu chủ phát triển trong phạm vi cả nước nói chung, Thái Bình nói riêng, vấn đề: " Kinh
tế cỏ thể, tiểu chủ ở Thỏi Bỡnh hiện nay " được chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Kinh tế chính trị
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Kinh tế cá thể, tiểu chủ là vấn đề khá nhạy cảm và phức tạp cả về lý luận và giải pháp thực tiễn Do vậy, nó đã và đang là đối tượng nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức và các nhà khoa học
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau, được công bố dưới dạng chuyên đề, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, các
kỷ yếu đề tài cấp bộ, các bài viết đăng trên các báo, tạp chí…như:
- GS.TS Hồ Văn Vĩnh (chủ biên), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh
tế tư nhân ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 Trong công trình
này, tác giả đã đề cập đến vị trí, vai trò của KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần; vấn
Trang 4
đề quản lý của nhà nước đối với KTTN, thực trạng KTTN ở nước ta, phương hướng, giải pháp, chiến lược phát triển KTTN trong tình hình hiện nay
- TS Hà Huy Thành (chủ biên), Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư
nhân - lý luận và chính sách, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Tác giả đã nghiên cứu
những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân, đánh giá, phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước ta trong thời kỳ đổi mới, đồng thời trình bày những quan điểm, chính sách và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực KTTN trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Luận văn thạc sĩ Đồng Hương Gấm, Kinh tế tư nhân ở tỉnh Lạng Sơn, thực trạng
và giải pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004 Tác giả đã phân tích, đánh
giá vị trí, vai trò và xu hướng vận động của KTTN trong nền KTTT định hướng XHCN Phân tích thực trạng KTTN ở tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề ra những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả KTTN ở Lạng Sơn
- Lê Xuân Tùng, Các thành phần kinh tế và quan hệ sản xuất, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1989 Tác giả đã đề cập đến các quan điểm lý luận và nhận thức mới của Đảng ta về cách mạng QHSX, những chính sách mới của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
- Cùng một số bài viết của các tác giả: PGS.TS Nguyễn Đình Kháng; TS Lê Xuân
Bá, PGS.TS Hồ Trọng Viện, PGS.TSKH Trần Nguyễn Tuyên
Tóm lại, với nhiều mức độ và cách tiếp cận khác nhau, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đi sâu phân tích những đặc điểm, vai trò, thực trạng của kinh tế cá thể, tiểu chủ, đề xuất những giải pháp thúc đẩy phát triển bộ phận kinh tế này ở nước ta Song, cho đến nay chưa có nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống kinh tế cá thể, tiểu chủ
ở Thái Bình
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu đã được công bố, tôi
hy vọng góp phần làm sáng tỏ hơn vấn đề phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ trên địa bàn tỉnh Thái Bình
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trang 5
Mục đích nghiên cứu của luận văn là khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ, làm rõ xu hướng vận động của nó, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình, trong đó nhấn mạnh những vấn đề đặt ra, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phù hợp để phát triển bộ phận kinh tế này ở Thái Bình trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Kinh tế cá thể, tiểu chủ (thuộc thành phần KTTN)
- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Thái Bình trong giai đoạn (từ năm 2001 đến nay)
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, những chủ trương, chính sách của Nhà nước về các thành phần kinh tế nói chung, kinh tế cá thể, tiểu chủ nói riêng Ngoài ra, luận văn kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến đề tài
- Về phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp lôgíc và lịch sử Ngoài các phương pháp nghiên cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: thống kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp, điều tra…
6 Những kết quả đạt được của luận văn
Trang 6- Luận văn góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, ban ngành trong tỉnh, tham khảo, hoạch định các chính sách nhằm phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ nói riêng và phát triển kinh tế, xã hội nói chung
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương,
8 tiết
Trang 7
Chương 1
kinh tế cá thể, tiểu chủ và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1 Những vấn đề lý luận về kinh tế cá thể, tiểu chủ
1.1.1 Khái niệm, bản chất và các hình thức tổ chức của kinh tế cá thể, tiểu chủ
1.1.1.1 Khái niệm kinh tế cá thể, tiểu chủ
* Về kinh tế cá thể:
Trong sự phân loại các thành phần kinh tế của V.I Lênin không có tên thành phần kinh tế cá thể, nó được Người sử dụng bằng khái niệm “kinh tế sản xuất hàng hóa nhỏ”
ở nước ta khái niệm kinh tế cá thể xuất hiện vào thời kỳ cải tạo XHCN (1958 - 1960) khi
có phong trào hợp tác hóa mà thực chất là tập thể hóa đưa các hộ sản xuất kinh doanh độc lập, riêng lẻ vào kinh tế tập thể dưới các hình thức HTX
Trong Chỉ thị 81/CT – TW (14/5/1958), có đoạn viết: “Đặc điểm của thủ công nghiệp cá thể là sản xuất phân tán, vốn ít, công cụ thô sơ kỹ thuật lạc hậu ” ở đây kinh tế
cá thể được quy định bởi hai tiêu thức: một là trình độ thấp; hai là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán Các loại hình kinh tế có thuộc tính nhỏ lẻ phân tán đã được gộp chung lại vào một khái niệm
“kinh tế cá thể”
Như vậy, kinh tế cá thể là loại hình kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân những người nông dân, thợ thủ công, những người buôn bán kinh doanh dịch vụ, hoạt động dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX và lao động chủ yếu của chính hộ hay
Trang 8
sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước ta, kinh tế nông thôn đã có bước khởi sắc Các mô hình kinh tế trang trại đã hình thành và ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong các trang trại ngoài lao động trong gia đình còn phải thuê m-ướn thêm một số lao động Do vậy, kinh tế trang trại là một hình thức của kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Đồng hành với kinh tế trang trại, các làng nghề truyền thống cũng được phục hồi và phát triển nhanh chóng, các làng nghề đã được thu hút và sử dụng một số lượng lớn lao động, thu hút nguồn vốn rất lớn trong dân cư, tạo nhiều việc làm thúc đẩy sự phát triển của ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và thành thị Trong điều kiện đó, một số người sản xuất cá thể đã trở thành tiểu chủ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp
Như vậy, kinh tế tiểu chủ cũng là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX như kinh tế cá thể nhưng có thuê thêm lao động ngoài lao động của chủ
Loại hình kinh tế tiểu chủ đã được ghi nhận trong Báo cáo Chính trị tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII và được khẳng định lại tại Đại hội Đảng lần thứ VIII
Từ sự trình bày trên có thể định nghĩa: “kinh tế CT, TC (của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp và dịch vụ cá thể) bao gồm những đơn vị kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tư nhân quy mô nhỏ về TLSX và hoạt động chủ yếu dựa vào sức lao động của từng hộ” [40, tr.14]
Đại hội Đảng lần thứ IX, trong chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Đảng ta đã khẳng định: "Từ các hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể
và sở hữu tư nhân, hình thành nhiều thành phần kinh tế" [16, tr.98], cụ thể gồm 6 thành phần: Kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể; kinh tế CT, TC; kinh tế tư bản nhà nước; kinh tế
tư bản tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Như vậy, kinh tế CT, TC tại Đại hội Đảng lần thứ IX được thừa nhận là một trong sáu thành phần kinh tế
Đến Đại hội X, với quan điểm:
Phải có chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế cùng phát triển, không phân biệt đối xử, kỳ thị, định kiến với bất cứ thành phần kinh tế nào Ban
Trang 9
Chấp thành Trung ương khoá IX đã biểu quyết nhất trí nêu phương án để trình với Đại hội về vấn đề thành phần kinh tế Theo phương án này, ở nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế như sau: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế Doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh phổ biến, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất kinh doanh và sở hữu [17, tr.336]
Đại hội X khẳng định ở nước ta tồn tại 5 thành phần kinh tế: Kinh tế nhà nước; kinh
tế tập thể; KTTN; kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Việc phân định các thành phần kinh tế của Đại hội IX và Đại hội X có sự khác nhau, song nội hàm khái niệm kinh tế CT, TC vẫn không thay đổi
1.1.1.2 Bản chất của kinh tế cá thể, tiểu chủ
Khi nghiên cứu lý luận về thành phần kinh tế chúng ta thấy tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh, thuộc về thành phần kinh tế nào chính là dựa trên QHSX mà cơ sở của nó là quan hệ sở hữu về TLSX Do vậy, khi nghiên cứu bản chất của kinh tế CT, TC phải xem xét trên ba mặt của QHSX đó là quan hệ sở hữu về TLSX, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối
* Xét về quan hệ sở hữu:
Kinh tế CT, TC dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX Đó là hình thức sở hữu của những người lao động tự do, sản xuất ra sản phẩm chủ yếu bằng sức lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình Đây không phải là hình thức đặc trưng của một phương thức sản xuất nhất định mà nó tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau
Riêng với bộ phận kinh tế tiểu chủ cũng dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX nhưng có sự thuê mướn nhân công ngoài lao động của chủ Vậy bản chất của các loại hình kinh tế này là gì? Nó có khác với kinh tế tư bản tư nhân (bộ phận có bóc lột lao động làm
Trang 10
thuê) không? kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tiểu chủ giống nhau ở chỗ: cùng thuê mướn lao động, lao động làm thuê tạo ra một lượng giá trị thặng dư nhất định cho người chủ Như vậy tiêu chí chung để xác định một ông chủ là nhà tư sản ở chỗ: họ có thuê mướn nhân công và bóc lột giá trị thặng dư do lao động làm thuê tạo ra Nhưng không phải bất
cứ người nào thuê mướn lao động cũng trở thành nhà tư bản Sự phân biệt giữa nhà tư bản
và người tiểu chủ được thể hiện ở chỗ: khi người chủ còn trực tiếp tham gia lao động và chưa phải là chủ của một số tiền nhất định đủ để:
+ Mua các TLSX cần thiết
+ Thuê sức lao động để hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận họ thu được phải đủ: đảm bảo cho gia đình và bản thân họ có mức sống cao trong xã hội; có tích luỹ để tái sản xuất mở rộng, thì họ vẫn là người tiểu chủ
Từ sự phân tích trên ta thấy kinh tế tiểu chủ khác với kinh tế tư bản tư nhân ở chỗ: người chủ sở hữu TLSX vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất Bản thân họ và các thành viên trong gia đình vẫn là lực lượng lao động chính trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Số lao động làm thuê không nhiều và giá trị thặng dư do lao động tạo ra không đáng kể, quy mô vốn đầu tư thấp hơn so với kinh tế tư bản tư nhân Do đó, mặc dù có thuê lao động nhưng nguồn thu nhập của kinh tế tiểu chủ vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động của bản thân và gia đình người chủ
* Xét về quan hệ quản lý:
Do dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX, quan hệ quản lý của bộ phận kinh tế này có đặc điểm: dựa trên sự tự điều hành, tổ chức, phân công công việc trong nội
bộ gia đình dựa trên quyền lực của người chủ trong gia đình Các thành viên trong gia đình
có nghĩa vụ phục tùng sự phân công, điều khiển của người chủ đối với các vấn đề sản xuất kinh doanh Quan hệ giữa người chủ gia đình với các thành viên trong gia đình không phải
là quan hệ chủ thợ hay quan hệ bóc lột mà là quan hệ mang tính chất gia trưởng Tuy vậy, trong quá trình phát triển nhiều hộ CT, TC do nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất đã thuê nhân công Như vậy đã xuất hiện mầm mống bóc lột, nhưng chừng nào người chủ vẫn trực tiếp tham gia lao động sản xuất, nguồn thu nhập chủ yếu vẫn dựa vào lao động của họ và gia đình thì ranh giới giữa bóc lột và bị bóc lột vẫn chưa được xác định rõ ràng
Trang 11
* Xét về quan hệ phân phối:
Thực chất của quan hệ phân phối là giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất Phân phối phải đảm bảo được lợi ích của các cá nhân mới nâng cao được hiệu quả kinh doanh Phân phối phải dựa trên quan hệ
1.1.1.3 Các hình thức tổ chức kinh doanh của kinh tế cá thể, tiểu chủ
Như trên đã trình bày kinh tế CT, TC được hiểu là hình thức kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX và lao động của chính hộ gia đình hay cá nhân đó
Do đó về hình thức tổ chức kinh doanh, kinh tế CT, TC ở nước ta chủ yếu được tổ chức dưới hình thức hộ gia đình sản xuất kinh doanh
Trong nông nghiệp hình thức tổ chức cơ bản của kinh tế CT, TC là hộ nông dân tự chủ và trang trại gia đình
ở nước ta hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về việc xếp kinh tế hộ nông dân vào thành phần kinh tế tập thể hay kinh tế CT, TC
Từ khi Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (tháng 4/1988) ra đời, các hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài, vì vậy hộ nông dân đã được thừa nhận là đơn vị kinh
tế tự chủ Với việc được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cùng với 5 quyền của người
Trang 12
sử dụng ruộng đất (theo luật đất đai) họ đã trở thành những người chủ trên thực tế Trên cơ
sở chính sách của Nhà nước, hộ nông được tự do lựa chọn phương hướng sản xuất, xác định quy mô tổ chức, hình thức tổ chức quản lý và tự do hạch toán kinh doanh
Như vậy, hộ nông dân là người trực tiếp tổ chức thực hiện quá trình sản xuất và chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh tế Trong khi đó các HTX hiện nay không còn quản lý
hộ nông dân theo kiểu cũ mà chỉ hỗ trợ một số khâu dịch vụ nhất định trong quá trình sản xuất cho các hộ nông dân Do đó hiện nay hộ nông dân về thực chất là hộ CT, TC và được xếp vào kinh tế CT, TC
Trang trại gia đình cũng là một trong những hình thức tổ chức kinh doanh của kinh
tế CT, TC nó thuộc loại hình kinh tế tiểu chủ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp
Trang trại gia đình là một hình thức tổ chức ra đời phổ biến từ kinh tế hộ, phát triển dựa trên cơ sở tích tụ quyền sử dụng đất đai, vốn, lao động và các chủ thể kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị trường với mục đích thu lợi nhuận cao Xét về QHSX thì trang trại gia đình cũng giống như kinh tế hộ nông dân, cũng dựa trên sở hữu cá thể về TLSX nhưng
có trình độ chuyên môn hoá cao hơn, quy mô ruộng đất, vốn và lao động lớn hơn, do đó hiệu quả kinh tế cũng cao hơn nhiều so với kinh tế hộ nông dân Như vậy, kinh tế trang trại chính là hộ tiểu chủ trong nông nghiệp Kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay được coi là điểm tựa để phát triển hàng hoá quy mô lớn, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, mặt nước, tạo việc làm, đem lại cách làm mới, phát triển thị trường ở nông thôn
Trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ, kinh tế CT, TC được tổ chức dưới hình thức xưởng, thợ gia đình, các hộ kinh doanh thương mại và dịch vụ Với những tiềm năng và thế mạnh của các làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống đã tạo điều kiện cho một số người sản xuất cá thể vươn lên mở rộng quy mô sản xuất, thu hút và sử dụng một khối lượng khá lớn lao động, vốn và trở thành những tiểu chủ trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp
1.1.2 Những đặc điểm cơ bản của kinh tế cá thể, tiểu chủ
Trên cơ sở phân tích khái niệm, bản chất và các hình thức tổ chức của kinh tế CT,
TC, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản sau:
Trang 13
Thứ nhất, kinh tế CT,TC là loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh mang tính chất
của một hộ gia đình Mối quan hệ giữa các thành viên trong hộ chủ yếu là quan hệ hôn nhân, huyết thống
Trong gia đình, các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ ruột thịt, vợ chồng con cái, ông bà, anh em đã gắn kết họ thành một khối thống nhất, có trách nhiệm cao đối với tài sản, vốn liếng và hiệu quả sản xuất kinh doanh Hộ kinh tế CT,TC thực sự là một khối thống nhất không thể tách rời giữa quyền sử dụng đất đai, quyền tham gia lao động và quyền phân phối sản phẩm của các thành viên trong hộ Các thành viên đều có chung một mục đích và có sự thống nhất rất cao về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Mỗi người trong
hộ đều lao động theo khả năng và trách nhiệm gắn với vai trò của họ trong gia đình Do đó,
mô hình kinh tế hộ cho phép hạn chế đến mức tối đa các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế
Trong hộ, mọi người hiểu rõ năng lực, sở trường của từng thành viên nên việc bố trí, sắp xếp công việc tương đối phù hợp, hiệu quả Quan hệ quản lý ở đây là trực tuyến nên thông tin nhanh chóng Chính vì vậy, hộ CT, TC là loại hình có sự nhất trí cao trong khâu tổ chức quản lý sản xuất
Mô hình kinh tế hộ, bên cạnh những lợi thế cũng có những hạn chế nhất định: do dựa trên mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nên không tránh khỏi xu hướng biệt lập, khép kín, mang nặng tính tự cung tự cấp Do đó, họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nắm bắt thông tin thị trường, hạn chế khả năng tiếp thị, quảng bá cho sản phẩm dẫn tới khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm cũng như trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ hai, sản xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC chủ yếu là quy mô nhỏ, công nghệ
lạc hậu, trình độ lao động thấp, dễ bị phân hoá trong nền KTTT
Quy mô sản xuất kinh doanh của hộ CT, TC là quy mô nhỏ (cả về diện tích đất canh tác, quy mô vốn, lao động)
Do quy mô sản xuất nhỏ nên đòi hỏi vốn đầu tư ít, sử dụng không nhiều lao động, nên hộ CT, TC có thể chủ động thay đổi hoạt động sản xuất kinh doanh, dễ dàng đối phó với những biến động thị trường Song, cũng do quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít nên các cơ sở sản xuất kinh doanh không có điều kiện để trang bị những máy móc hiện đại, dẫn tới công nghệ lạc hậu, nhất là trong các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Trong nông
Trang 14
nghiệp lao động thủ công vẫn là chủ yếu Do đó, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp
Do bản chất của kinh tế CT, TC dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX, hình thức
tổ chức của kinh tế CT, TC là hộ nông dân tự chủ nên trình độ lao động của bộ phận kinh
tế này rất thấp Các chủ hộ sản xuất kinh doanh (trong nông nghiệp) là những người nông dân, phần lớn trong số họ có trình độ văn hoá, trình độ kỹ thuật sản xuất thấp Không ít người trong số họ có tư tưởng cố hữu, bảo thủ, trì trệ Những đặc tính này đã gây trở ngại cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật và cách thức làm ăn mới vào sản xuất nông nghiệp
Có thể nói, kinh tế CT, TC là loại hình mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, kinh doanh manh mún, tự cung tự cấp, do đó dễ bị phân hoá trong nền KTTT Đây là đặc điểm
cơ bản nhất của kinh tế CT, TC ở nước ta nói chung Chính đặc điểm này quy định xu hướng phát triển của bộ phận kinh tế này trong tương lai
Thứ ba, hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ CT, TC vừa nhằm đảm bảo thoả
mãn nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong hộ vừa nhằm mục tiêu thu lợi nhuận
Hộ CT, TC là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng (tiêu dùng của hộ xét cả khía cạnh tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho các cá nhân), nó ảnh hưỏng trực tiếp đến sản xuất của hộ Nó là đơn vị sản xuất tự thực hiện quá trình tái sản xuất dựa trên cơ sở phân bố các nguồn lực (lao động, đất đai, vốn, kỹ thuật, nguồn thu nhập) vào các ngành sản xuất để thực hiện tất cả các chức năng của nó nhằm mục đích đảm bảo tiêu dùng cá nhân và thu lợi nhuận Do có sự kết hợp cả hai mục đích: tiêu dùng và lợi nhuận, nên nguyên tắc kinh doanh theo đuổi mục tiêu lợi nhuận luôn được kết hợp chặt chẽ với các giá trị gia đình Trong điều kiện sản xuất kinh doanh không thuận lợi, do sức ép của nhu cầu trong gia đình, các hộ sản xuất kinh doanh CT, TC vẫn sẵn sàng tiếp tục hoạt động sản xuất (cho dù không có lợi nhuận hoặc ít lợi nhuận) để duy trì việc làm cho các thành viên trong gia đình Chính điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vì nếu mua máy móc để sử dụng thay lao động thủ công, thì số lao động trong gia đình sẽ thất nghiệp
Chính vì vậy, kinh tế CT, TC là loại hình kinh tế có ý nghĩa chiến lược tình thế, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trang 15
Thứ tư, kinh tế CT, TC là loại hình hoạt động sản xuất đa ngành, trên nhiều lĩnh
vực khác nhau trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất -xã hội hoạt động ở khắp các địa bàn từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền núi
Tuy cơ cấu sản xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC phong phú đa dạng, hoạt động trong hầu hết các ngành kinh tế nhưng nông nghiệp vẫn là ngành chủ yếu và là cơ sở cho mọi hoạt động kinh tế của các hộ CT, TC Bởi vì mục tiêu chính của nông nghiệp gia đình vẫn nhằm đảm bảo đủ khẩu phần lương thực tối thiểu cho mọi thành viên trong hộ gia đình, sau đó mới tính đến lợi nhuận Do đó sản xuất nông nghiệp luôn được coi là cơ sở kinh tế cho phép kết hợp và phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các hộ CT,TC ở nước ta
Hơn nữa kinh tế CT, TC với cơ cấu đa ngành nghề hoạt động khắp các địa bàn nên
nó có khả năng to lớn trong việc huy động, khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng sẵn
có như: vốn, lao động, tay nghề, bí quyết nghề, đất đai… tận dụng thời gian và không gian
để phát triển sản xuất Chính vì vậy, nó là bộ phận kinh tế tạo nhiều việc làm cho lao động, nhất là lao động nhàn rỗi ở địa bàn nông thôn, tăng thu nhập, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội của đất nước
Tuy nhiên, do các hộ CT, TC sinh sống chủ yếu ở nông thôn, miền núi với điều kiện sản xuất, kết cấu hạ tầng còn kém phát triển, thiếu thông tin nên các hộ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất hàng hóa, tìm kiếm thị trường tiêu thụ, áp dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất
Tóm lại, kinh tế CT, TC ở nước ta dù hoạt động ở lĩnh vực nào, địa bàn và môi
trường nào cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản nói trên Tuy nhiên, tùy từng loại hình tổ chức của kinh tế CT, TC có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau Với những đặc điểm trên chúng ta khẳng định kinh tế CT, TC là loại hình sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của một nền kinh tế kém phát triển, sản xuất nhỏ còn phổ biến đang trong quá trình chuyển đổi sang nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta
1.2 Vai trò và xu hướng vận động của kinh tế cá thể, tiểu chủ
1.2.1 Vai trò của kinh tế cá thể, tiểu chủ đối với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 16
Thực tiễn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã cho thấy kinh tế CT, TC ở nước
ta đã trở thành lực lượng kinh tế quan trọng và có những đóng góp đáng kể vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hội của đất nước
Đến nay, khu vực kinh tế CT, TC cả nước đã có trên 3 triệu hộ hoạt động trong các ngành và các lĩnh vực kinh tế và trên 10 triệu hộ hoạt động sản xuất nông nghiệp (chiếm khoảng hơn 20 triệu lao động) [29, tr.122] Riêng hộ CT, TC phi nông nghiệp phát triển rộng khắp ở thành thị và nông thôn, đặc biệt ở hàng trăm làng nghề Kinh tế CT, TC đã góp phần quan trọng vào tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, huy động các nguồn vốn đầu tư vào phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo sự ổn định và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
1.2.2.1 Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo
Lao động - việc làm là vấn đề đặc biệt quan tâm của toàn xã hội Đảng và nhà nước
ta luôn đặt vấn đề lao động - việc làm vào vị trí hàng đầu trong các chính sách kinh tế, xã hội, coi đó là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng cần phải giải quyết
- Nhu cầu hàng năm phải tạo thêm được hàng triệu việc làm đang là một áp lực lớn đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, bởi lẽ: không có việc làm sẽ dẫn tới tình trạng “thất nghiệp” – một trong những nguyên nhân cơ bản gây suy thoái kinh tế và làm nảy sinh những hiện tượng tiêu cực trong xã hội như: trộm cắp, ma tuý, buôn lậu, nghèo đói Do đó, giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập của các tầng lớp dân cư không chỉ là những vấn đề kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội rất sâu sắc
- Hiện nay, kinh tế CT, TC đang đóng vai trò quyết định trong giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là khi tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn cao, nhu cầu việc làm mới rất lớn
Tuy trong mấy năm vừa qua tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị có giảm (từ 6,44% năm
2000 xuống 6,01% năm 2002 và 5,6% năm 2003), tỷ lệ thời gian không lao động ở nông thôn khoảng 26 - 27% và cũng đang có xu hướng giảm, nhưng hiện nay, với 1,5 – 1,8 triệu lao động mới bổ sung hàng năm thì sức ép tạo việc làm mới vẫn còn rất lớn đối với nước
ta Trong khi đó, theo con số thống kê năm 2003, khu vực kinh tế nhà nước mới giải quyết
Trang 17
được việc làm cho 3,858 triệu lao động (chiếm gần 10% lực lượng lao động cả nước) [1, tr 59] Lao động trong khu vực này có đang có xu hướng giảm do cải cách hành chính và sắp xếp lại Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cũng đang trong quá trình chuyển đổi và có xu thế giảm tỷ lệ lao động Số lao động còn lại của cả nước (90%) thuộc về KTTN (trong đó chủ yếu của kinh tế CT, TC) Trong điều kiện đó, kinh tế CT, TC càng khẳng định vai trò
to lớn trong giải quyết việc làm cho đại bộ phận lao động trong toàn xã hội, thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế vĩ mô của đất nước
- Trên thực tế, kinh tế CT, TC có những điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn lực lao động, ở chỗ:
+ Kinh tế CT, TC thích hợp với quy mô vốn nhỏ, suất đầu tư cho một chỗ làm việc của khu vực kinh tê này thấp hơn nhiều so với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
+ Không hoặc ít có nhu cầu tăng quy mô vốn
+ Không cần đầu tư vào công nghệ vừa đòi hỏi vốn lớn, vừa rủi ro cao
+ Nhanh chóng thu hồi vốn, đồng thời vừa năng động, vừa dễ rút ra khỏi thị trường + Là khu vực kinh doanh phù hợp với tâm lý kinh doanh của người Việt Nam
Do quy mô vốn nhỏ nên các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC có khả năng thích nghi rất cao với điều kiện nông thôn, nơi có nhiều lao động dôi dư, lao động nông nhàn, trình độ dân trí thấp và đời sống còn nhiều khó khăn
Với những ưu thế trên, kinh tế CT, TC trong những năm gần đây đã thu hút được khối lượng lớn lao động Theo công bố của Ban chỉ đạo điều tra lao động – việc làm Trung ương cho thấy: lao động đang làm việc tại thời điểm 1/7/2005 trong khu vực kinh tế ngoài Nhà nước, tập trung chủ yếu trong khu vực KTTN là 38,355 triệu người, chiếm 88,2% số lao động có việc làm thường xuyên trong cả nước [2, tr.5] Trong đó số lao động làm việc trong khu vực KTTN thì lao động trong hộ kinh doanh CT, TC có số lượng lớn (28,6 triệu lao động, chiếm 65,6% số lao động có việc làm cả nước, 74,6% lao động trong khu vực ngoài quốc doanh) [4, tr 182]
Trong 5 năm (2001 – 2005) khu vực KTTN (trong đó có kinh tế CT, TC) đã thu hút hơn 2 triệu việc làm mới
Trang 18
Hiện nay cả nước có 151.004 doanh nghiệp dân doanh và trên 10 triệu hộ kinh doanh CT, TC, đã và đang đảm bảo cho khoảng 90% lực lượng lao động trong xã hội có việc làm [4, tr 184]
Nhờ tạo ra việc làm cho người lao động, kinh tế CT, TC đã góp phần tạo ra thu nhập cho các tầng lớp dân cư, cải thiện đời sống nhân dân Hiện nay thu nhập bình quân của một lao động trong khu vực kinh tế CT, TC khoảng 600.000 đồng/người/tháng Mức thu nhập bình quân trên tuy còn khiêm tốn nhưng có ý nghĩa rất to lớn trong việc cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xoá đói giảm nghèo và thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế, xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra
Như vậy, có thể nói, trong điều kiện lực lượng lao động ở nước ta ngày càng tăng,
tỷ lệ thất nghiệp còn cao, trong khi khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể khả năng thu hút lao động rất hạn chế thì kinh tế CT, TC ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần xoá đói giảm nghèo
1.2.2.2 Kinh tế cá thể, tiểu chủ khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội, góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất thúc đẩy sản xuất phát triển
Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần được khởi xướng từ Đại hội VI là một trong những chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm mục đích giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho sự phát triển kinh tế,
xã hội Những chủ trương đó đã được tiếp tục khẳng định qua các kỳ đại hội Đảng, được
cụ thể hoá bằng các văn bản, pháp luật của Nhà nước, tạo nên môi trường kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế, mọi người dân yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh Nhờ vậy đã khơi dậy được những nguồn lực, những tiềm năng còn tiềm ẩn trong dân cư, phát huy sức sáng tạo của nhân dân, huy động ngày càng nhiều các nguồn lực về vốn, lao động, tài nguyên cho công cuộc CNH, HĐH nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế , xã hội
Một trong những tiềm năng lớn của kinh tế CT, TC là nguồn vốn:
Trang 19
Kinh tế CT, TC tuy quy mô nhỏ nhưng với số lượng lớn cơ sở sản xuất kinh doanh
CT, TC nên đã huy động được nhiều nguồn vốn nằm rải rác trong dân cư vào sản xuất kinh doanh
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, trong 5 năm 2001 – 2005, tổng vốn đầu tư của kinh tế CT, TC có đăng ký kinh doanh là 23.378 tỷ đồng Các trang trại đã thu hút 11.500 tỷ đồng [4, tr.183]
Ngoài ra còn nhiều cơ sở quy mô quá nhỏ, nhiều hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp hoặc sản phẩm có tính chất thời vụ nên chủ hộ không đăng ký kinh doanh và chưa
có những điều tra tổng thể nên chưa xác định được tổng nguồn vốn mà các hộ CT, TC đầu
tư Thực tế số vốn kinh doanh của các hộ CT, TC còn lớn hơn nhiều so với số đăng ký
Có thể nói các số liệu trên chưa phản ảnh thật đầy đủ nhưng cũng cho thấy sự đóng góp của kinh tế CT, TC trong việc huy động vốn vào đầu tư phát triển ở nước ta thời gian qua
Ngoài nguồn vốn, kinh tế CT, TC cũng tạo nhiều điều kiện thuận lợi để huy động một nguồn nhân lực lớn cho phát triển sản xuất kinh doanh
ở nông thôn, hình thức kinh doanh hộ và trang trại thu hút một lượng lao động khá lớn ở thành thị, các cơ sở cá thể và tiểu chủ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và dịch
vụ, thủ công nghiệp, là những nơi tạo ra khá nhiều việc làm Đây không những là nơi thu hút, giải quyết việc làm mà còn là môi trường để phát huy khả năng sáng tạo, tính năng động, nhạy bén trong sản xuất kinh doanh của người lao động Trên thực tế, đã có không ít những chủ thể sản xuất kinh doanh CT, TC đã trở thành những cá nhân điển hình tiên tiến,
có những sáng kiến, kinh nghiệm tạo ra những sản phẩm mới, được xã hội công nhận tôn vinh Họ thực sự là những người dám, nghĩ dám làm, tự chịu trách nhiệm trước những thử thách của cơ chế thị trường Chính họ là nguồn lực quan trọng, trong tương lai sẽ trở thành những ông chủ xí nghiệp lớn, bứt phá khỏi quy mô nhỏ, trở thành những doanh nhân làm chủ cơ sở sản xuất quy mô lớn hơn
Cùng với việc huy động một khối lượng lớn về vốn và lao động, khu vực kinh tế
CT, TC còn khai thác và sử dụng các nguồn lực khác như: đất đai, tài nguyên, công nghệ nhỏ truyền thống ở địa phương
Trang 20
ở nước ta, một số vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều diện tích đất chưa được đưa vào sử dụng Do vậy, với việc phát triển kinh tế CT, TC đặc biệt với loại hình kinh tế trang trại, nhiều diện tích đất đã được đưa vào sử dụng có hiệu quả
Bên cạnh việc khai thác và sử dụng những nguồn lực trên, kinh tế CT, TC còn có vai trò quan trọng trong khôi phục và phát triển những ngành nghề truyền thống Với những phương pháp đào tạo nghề theo kiểu “cha truyền con nối”, với những kinh nghiệm
và bí quyết trong sản xuất kinh doanh, kinh tế CT, TC đã góp phần lưu giữ và khôi phục lại những ngành nghề truyền thống có thời gian đã bị mai một Hiện nay cả nước có 2.017 làng nghề, trong đó có khoảng 300 làng nghề truyền thống (kể cả phố nghề) có từ hàng trăm năm nay, bao gồm hàng triệu gia đình, thu hút hàng triệu lao động [4, tr.184] Các làng nghề đã có mặt ở hầu khắp các địa phương trên cả nước, nhiều địa phương đã có những làng nghề truyền nối trong từng hộ gia đình, từng dòng họ với những sản phẩm nổi tiếng đặc trưng cho từng vùng như: làng gốm Bát Tràng (Hà Nội); chạm khắc gỗ Đồng Kỵ (Bắc Ninh), chiếu cói Nga Sơn, dệt thổ cẩm (Hoà Bình), Chế tác đá mỹ nghệ Non nước (Đà Nẵng) Qua đó phát huy được những kinh nghiệm sản xuất, tay nghề, bí truyền sản xuất, kinh nghiệm quản lý đã được tích luỹ qua nhiều thế hệ trong từng gia đình và dòng họ, gắn công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, thúc đẩy sản xuất phát triển
Như vậy, với tính chất phong phú, đa dạng, gọn nhẹ, linh hoạt, năng động, kinh tế
CT, TC có ưu thế về khả năng huy động các nguồn lực phân tán tại chỗ như: vốn, lao động, đất đai, tài nguyên, công nghệ truyền thống vào sản xuất kinh doanh Nhờ đó giải quyết việc làm cho đông đảo người lao động, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân
1.2.2.3 Kinh tế cá thể, tiểu chủ đóng góp quan trọng vào việc gia tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) và đóng góp ngân sách nhà nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Sự phát triển kinh tế CT, TC thời gian qua đã khơi dậy những tiềm năng của đất nước cho phát triển kinh tế, xã hội Nguồn tiềm năng đó là trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh, tiền vốn, sức lao động, tài nguyên và các nguồn lực khác Nhờ khai thác và sử dụng tốt những nguồn tiềm năng này vào quá trình sản xuất, kinh tế CT, TC đã tạo ra một khối lượng lớn sản phẩm cho xã hội, đồng thời nâng cao thu nhập của người lao động, tạo động lực thúc đẩy quá trình sản xuất phát triển, góp phần vào tăng trưởng của nền kinh tế
Trang 21Qua bảng trên, giá trị sản lượng của kinh tế CT, TC trong GDP của nền kinh tế có
xu hướng ngày càng tăng Bình quân hàng năm bộ phận kinh tế này đã đóng góp vào GDP
cả nước 32,8% - một tỷ lệ khá cao so với các thành phần kinh tế khác
Như vậy, trong thời gian vừa qua, kinh tế CT, TC đã góp phần cùng các thành phần kinh tế khác thúc đẩy nền kinh tế nước ta đạt tốc độ tăng trưởng cao (7,51%) liên tục trong năm năm 2001 – 2005 [17, tr 14]
Không chỉ đóng góp lớn vào tổng sản phẩm quốc nội và thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, kinh tế CT, TC còn góp phần làm tăng ngân sách nhà nước
Năm 2000: kinh tế CT, TC cùng với kinh tế tư bản tư nhân nộp ngân sách 11.003 tỷ đồng, chiếm 16,1% tổng thu ngân sách nhà nước, trong đó hộ nông nghiệp nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp là 1.598 tỷ đồng
Năm 2001: nếu dựa vào tỷ trọng của kinh tế CT, TC trong thu nộp ngân sách nhà nước thì số tiền lên đến 2.020 tỷ đồng, riêng hộ nông nghiệp nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp là 630 tỷ đồng [3, tr.34]
Theo số liệu của Bộ tài chính: năm 2004 số thu từ KTTN (trong đó có kinh tế CT,
TC và tư bản tư nhân đạt khoảng 13.100 tỷ đồng, chiếm khoảng 7,8% tổng thu ngân sách nhà nước Nếu loại số thu từ dầu khí và thu xuất nhập khẩu (thường chiếm 60% tổng thu ngân sách nhà nước) thì KTTN đóng góp 13% tổng ngân sách nhà nước [1, tr.10]
Trang 22
Ngoài đóng góp trực tiếp vào ngân sách, một số hộ CT, TC còn tích cực tham gia
và có đóng góp đáng kể vào xây dựng các công trình văn hoá, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc lợi xã hội khác ở tất cả các địa phương trong cả nước
Qua những số liệu trên cho thấy, những đóng góp của kinh tế CT, TC vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước là không nhỏ, nó càng khẳng định vai trò to lớn trong nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta
1.2.2.4 Kinh tế cá thể, tiểu chủ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam là nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở khu vực nông thôn và hơn 60% lao động trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, Việt Nam đang thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH
Trong thời gian qua, cơ cấu kinh tế đang có bước chuyển dịch tích cực:
+ Trong GDP: Tỷ trọng nông nghiệp từ 24,5% năm 2000, giảm xuống còn 20,9% năm 2005
Tỷ trọng công nghiệp từ 36,7% năm 2000, tăng lên 41% năm 2005
Thực tế đã cho thấy, kinh tế CT, TC có vai trò to lớn trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH, bởi vì:
Hiện nay, ở nước ta kinh tế CT, TC chiếm tuyệt đại bộ phận của ngành nông nghiệp cũng như khu vực kinh tế nông thôn Các hình thức kinh tế hộ gia đình của nông dân, kinh
tế trang trại và các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC hoạt động trong các ngành công
Trang 23
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn đang có xu hướng phát triển khá nhanh, tạo nên sự thay đổi to lớn bộ mặt của nhiều vùng nông thôn
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, trong những năm gần đây nông thôn cả nước
có 18 – 20% số hộ gia đình tham gia hoạt động phi nông nghiệp ở những vùng nông thôn
có hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng cả giá trị và lao động nông nghiệp giảm, lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ tăng, thu nhập của người lao động nhờ đó cũng tăng thêm Trong những năm gần đây, số cơ sở sản xuất và lao động CT, TC phi nông nghiệp có xu hướng tăng Theo kết quả tổng điều tra các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC 2 năm 2003 và 2004 của Tổng cục thống kê cho thấy:
Bảng 1.2: Số cơ sở và lao động của khu vực kinh tế cá thể, tiểu chủ
phi nông nghiệp [33]
2003 2004 Tổng số cơ sở (cơ sở) 2.712.177 2.913.907
từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp
Như vậy, sự phát triển của kinh tế CT, TC đã thu hút ngày càng nhiều lao động nông nghiệp vào các ngành phi nông nghiệp Có thể nói, các cơ sở sản xuất kinh doanh
CT, TC trong lĩnh vực phi nông nghiệp là những chủ thể cơ bản ban đầu đóng vai trò thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế từng địa phương, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo hướng CNH, HĐH
Trang 24
Cùng với sự gia tăng số cơ sở, lao động trong các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, các hộ sản xuất nông nghiệp cũng đang phát triển theo hướng như: phân vùng chuyên canh, ứng dụng công nghệ sinh học (nuôi trồng những giống cây, con có hiệu quả kinh tế cao, phương pháp canh tác tiên tiến); cơ giới hoá sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến nông sản, mở rộng các ngành, nghề Từ đó, tỷ trọng các ngành nông nghiệp (nông, lâm nghiệp, thuỷ sản) trong cơ cấu các ngành kinh tế giảm (tuy số lượng tuyệt đối vẫn tăng) và tỷ trọng công nghiệp và dịch
vụ sẽ tăng lên, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Đồng thời, với sự phát triển kinh tế CT, TC, thúc đẩy sản xuất nông phẩm hàng hoá, mở rộng thị trường nội địa, thực hiện thuỷ lợi hoá và xây dựng đường giao thông nông thôn, phát triển thông tin liên lạc, các khu thương mại dịch vụ, vui chơi giải trí , từ
đó làm thay đổi bộ mặt văn hoá nông thôn theo hướng văn minh, hiện đại, đó cũng là yếu
tố góp phần vào việc thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng và nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.2.2.5 Kinh tế cá thể, tiểu chủ sản xuất ra nhiều hàng hoá đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Với đặc điểm là sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, hoạt động trên khắp các địa bàn cả nước, cùng với tiềm năng sẵn có, kinh tế CT, TC đã và đang tỏ rõ là một bộ phận kinh tế quan trọng, cung cấp đầy đủ và kịp thời các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu cho toàn
xã hội
Tuy số lượng sản phẩm mỗi đơn vị sản xuất ra không nhiều do quy mô nhỏ, nhưng với số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC lớn, nên đã tạo ra được một khối lượng lớn các sản phẩm hàng hoá đa dạng, phong phú về chủng loại và mẫu mã, từ các mặt hàng giản đơn đến các mặt hàng cao cấp, từ những nhu cầu tiêu dùng nhỏ nhất: như cái kim, sợi chỉ, hộp tăm, đôi đũa đến những nhu cầu lớn, xuất khẩu những hàng cao cấp ra nước ngoài Trong những năm qua, các sản phẩm tiêu dùng và xuất khẩu như: hàng dệt may, giày dép, thuỷ sản, gạo, cà phê, thủ công mỹ nghệ, rau quả, thực phẩm, gỗ và sản phẩm từ
gỗ phần lớn được cung cấp từ các bộ phận kinh tế này Có thể nói kinh tế CT, TC là những đơn vị sản xuất nắm bắt rất nhanh các yêu cầu của thị trường để từ đó tìm cách đáp ứng nó
Trang 25
Chính vì vậy, bộ phận kinh tế này không những góp phần tạo ra khối lượng lớn hàng hoá phục
vụ nhu cầu thị trường và xuất khẩu mà còn góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng như: tạo sự cân đối quỹ hàng hoá, tiền tệ, bình ổn giá cả, cân đối phát triển kinh tế giữa các vùng, ổn định đời sống nhân dân, thực hiện xoá đói giảm nghèo
Tóm lại, kinh tế CT, TC là một khu vực năng động, đầy tiềm năng, đang không ngừng
phát triển và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta Với những vai trò của kinh tế CT, TC nêu trên đã chứng tỏ chủ trương, đường lối chính sách của Đảng ta về phát triển bộ phận kinh tế này là hoàn toàn đúng đắn Mặc dù còn những hạn chế nhất định như “tính tự phát sinh ra CNTB” nhưng những đóng góp của kinh tế CT, TC cho nền kinh tế đất nước trong thời gian qua là không thể phủ nhận Để tiếp tục giữ vững và phát huy vai trò của kinh tế CT, TC, đồng thời hạn chế những mặt tiêu cực của nó đòi hỏi Đảng và nhà nước ta cần có những chủ trương, chính sách để hỗ trợ, giúp
đỡ bộ phận kinh tế này phát triển trong thời gian tới, để cùng với các thành phần kinh tế khác thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển
1.2.3 Xu hướng vận động của kinh tế cá thể, tiểu chủ
Nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều hình thức sở hữu TLSX, trong đó có hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX
Như phần trên đã nghiên cứu, bản chất của loại hình sở hữu này, sở hữu tư nhân nhỏ về TLSX hay sở hữu tư nhân cá thể, sở hữu tiểu chủ là sở hữu của người sản xuất trực tiếp (nông dân, thợ thủ công, tiểu thương) Xét về bản chất, sở hữu tư nhân cá thể, sở hữu tiểu chủ là cơ sở kinh tế của cá nhân (của từng hộ gia đình) người lao động, là cơ sở để vận dụng sức lao động của từng cá nhân và gia đình người lao động Điều này quy định sự hạn chế của sở hữu tư nhân cá thể trong phát triển LLSX: “nó gạt bỏ sự tập trung sản xuất nên
nó cũng gạt bỏ sự hợp tác, sự phân công lao động trong cùng một quá trình sản xuất, gạt
bỏ việc thống trị xã hội điều tiết, gạt bỏ sự phát triển tự do của LLSX xã hội, nó chỉ thích hợp với những giới hạn tự nhiên chật hẹp của sản xuất xã hội mà thôi [25, tr.591] Vì vậy,
để phát triển LLSX thì không thể duy trì loại hình sở hữu tư nhân cá thể và kinh tế cá thể, vì: “muốn làm cho phương thức sản xuất này tồn tại vĩnh viễn thì điều đó có nghĩa là muốn
ra lệnh giữ lạimột tình trạng kém cỏi phổ biến” [25, tr.592]
Trang 26
Tuy nhiên, cũng cần nhận rõ sở hữu tư nhân cá thể là cơ sở của nền sản xuất nhỏ
mà nền sản xuất nhỏ lại là điều kiện để hình thành sản xuất lớn Muốn có sản xuất lớn, con đường tự nhiên tất yếu là sở hữu tư nhân CT, TC phải chuyển hoá thành sở hữu tư bản tư nhân, kinh tế CT, TC phải chuyển thành kinh tế tư bản tư nhân Chỉ có ở trình độ này sở hữu
tư nhân mới có khả năng xã hội hoá LLSX Khi LLSX được xã hội hoá, đến lượt nó lại đòi hỏi
xã hội hoá sở hữu tư bản tư nhân ở trình độ cao hơn để mở đường cho nó phát triển
Chính từ nhận thức đó, chúng ta phải xem xét xu hướng phát triển của kinh tế CT,
TC để có những định hướng cho nó đi đúng quỹ đạo của XHCN Đề ra những chính sách khuyến khích nó phát triển, phát huy những mặt tích cực, những tiềm năng thuộc về thế mạnh của bộ phận kinh tế này, đồng thời hạn chế, ngăn chặn những tác động tiêu cực của
nó đối với nền kinh tế
Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước, kinh tế CT, TC vận động theo các xu hướng cơ bản sau:
Một là, phát triển kinh tế CT, TC phải gắn với sự phát triển kinh tế hàng hoá Kinh
tế hàng hoá hay sản xuất hàng hoá là nền kinh tế mà ở đó các chủ thể sản xuất ra sản phẩm
để bán, chính vì vậy trong nền kinh tế hàng hoá các chủ thể sản xuất kinh doanh phải sản xuất ra sản phẩm để bán và thu lại giá trị bằng tiền của hàng hoá Có nghĩa là quá trình sản xuất phải mang lại thu nhập tính bằng tiền cho người sản xuất
Trong thực tế, một số hộ CT, TC vẫn còn tình trạng tự cấp tự túc (ngay cả các hộ sản xuất bậc trung, hộ giàu có, khá giả), với mục đích sản xuất chỉ đảm bảo đủ số lương thực thực phẩm cần thiết cho gia đình mình, khi có sản phẩm dư thừa mới đem ra thị trường bán Những hộ này sống sung túc nhưng lại có ít tiền nên sức mua rất thấp Chính loại hộ bậc trung, khá giả nhưng mang tính chất tự cấp, tự túc này là trở ngại cho phát triển nông nghiệp hợp lý và sự phát triển KTTT Cạnh tranh gay gắt sẽ thúc đẩy sự phân hoá các hộ nông dân bậc trung này thành những người bị phá sản phải đi làm thuê và một số ít trở thành chủ trang trại kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, mua sức lao động trên thị trường
Xu hướng vận động của các hộ này là:
Trang 27
- Nếu không muốn bị phân tán thì phải thành lập các HTX hay các tổ, nhóm hợp tác
để tập trung quyền sử dụng đất hoặc hình thành các doanh nghiệp quy mô lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường
- Phân hoá 2 cực như nói trên
- Làm vệ tinh cho các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá lớn, kể cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài nước, như: cung ứng nguyên liệu, nông sản theo hợp đồng ổn định, dài hạn, nhận gia công
Vì vậy, các hộ tự cấp, tự túc trong quá trình vận động, thông qua các chính sách và biện pháp thích hợp, sẽ dần dần chuyển thành các hộ sản xuất hàng hoá Đến một trình độ nhất định, hình thành các xu hướng phát triển phù hợp hơn để tính “tự cung tự cấp” sớm bị tiêu vong
Hai là, kinh tế CT, TC phát triển gắn liền với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường
Về lý luận cũng như thực tiễn đã chứng minh rằng, các thành phần kinh tế tuy có bản chất kinh tế, xã hội khác nhau, nhưng do sự phân công lao động xã hội nên các thành phần kinh tế đó không thể tồn tại một cách biệt lập mà có mối liên hệ tác động lẫn nhau và phụ thuộc vào nhau Các thành phần kinh tế, các khu vực kinh tế chỉ có thể tồn tại và phát triển trong mối quan hệ phụ thuộc vào nhau qua các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội Các thành phần kinh tế là những bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân thống nhất, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Như vậy, mỗi thành phần kinh tế đều có vị trí, vai trò nhất định trong nền kinh tế nhiều thành phần Các thành phần kinh tế vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với nhau Chính trong những mối liên hệ ràng buộc phụ thuộc lẫn nhau đó đã tạo tiền đề, cơ sở thúc đẩy nhau cùng phát triển năng động theo cơ chế thị trường Chính vì vậy, đòi hỏi việc định hướng, hoạch định chiến lược phát triển kinh tế CT, TC phải được đặt trong một tổng thể chiến lược phát triển chung của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong mối quan hệ với chiến lược phát triển của các thành phần kinh tế khác Đồng thời phải tạo môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng trước pháp luật
Trang 28
Ba là, phát triển kinh tế CT, TC phải kết hợp các mục tiêu độc lập tự chủ, CNXH
trong cơ chế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, con đường của Đảng và nhân dân
ta đã lựa chọn Sự lựa chọn đó đã được lịch sử chứng minh và thực tiễn sau 20 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, chứng tỏ sự lựa chọn đó là hoàn toàn đúng đắn Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mới chỉ là định hướng chung của đất nước Do vậy, cần phải làm rõ và cụ thể hoá nó trong điều kiện cơ chế thị trường mở cửa, hội nhập khu vực
và quốc tế
Những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước từ sau năm 1986
đã tạo môi trường và điều kiện cho kinh tế CT, TC phát triển Song chúng ta cần nhận rõ các thành phần KTTN (trong đó có kinh tế CT, TC) đều thuộc phạm trù kinh tế dễ chệch hướng, tự phát sang CNTB, là “hậu bị quân” của CNTB, “hàng ngày, hàng giờ tự phát sinh ra CNTB” như nhận xét của Lênin
Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay ở nước ta, với vai trò, chức năng quản lý của Nhà nước, với sự phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và nhất là các chủ thể của kinh tế CT, TC đều là nhân dân lao động, được rèn luyện và thử thách qua các cuộc đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo thì nguy cơ chệch hướng sang CNTB khó trở thành hiện thực
Mặc dù vậy, để kinh tế CT, TC phát triển đúng định hướng XHCN, chúng ta cần phải: một mặt, không ngừng phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, tạo điều kiện
để kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; mặt khác, tăng cường vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với kinh tế
CT, TC để hạn chế và khắc phục những mặt tiêu cực, phát huy mặt tích cực của nó, hướng
sự phát triển của bộ phận kinh tế này đi theo đúng quỹ đạo XHCN mà ta đã lựa chọn trong điều kiện cơ chế thị trường mở cửa và hội nhập kinh tế
Bốn là, liên kết, hợp tác là xu hướng vận động khách quan của kinh tế CT, TC
Với đặc điểm của kinh tế CT, TC: quy mô nhỏ lẻ, phân tán, manh mún, hoạt động chủ yếu dựa vào lao động của cá nhân các thành viên trong gia đình, vốn ít, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh hàng hoá yếu Bên cạnh đó, cùng với tác động của các quy luật kinh
Trang 29Thực tiễn khả năng đã và đang diễn ra trong nền kinh tế nước ta, cụ thể là: cả nước
đã có 130.000 trang trại, 66.750 doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần, công ty hợp doanh và 2.017 làng nghề tiểu thủ công nghiệp [29, tr.122]
+ Thứ hai: Đại bộ phận các hộ sản xuất cá thể muốn tồn tại và phát triển được trong nền KTTT thì sớm hay muộn cũng phải liên kết hợp tác lại với nhau dưới nhiều hình thức
từ thấp đến cao, từ nhỏ đến lớn, từ hợp tác 1-2 khâu hay nhiều khâu tuỳ thuộc ở nhu cầu của sản xuất và trình độ phát triển của LLSX quyết định Thực tiễn của nền kinh tế nước ta hiện nay cho thấy: trong lĩnh vực nông nghiệp đã có khoảng 50 triệu dân với 10 triệu hộ nông dân đã chuyển sang kinh tế hộ tự chủ; trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và nông thôn cũng đã khôi phục và phát triển với 3 triệu hộ kinh doanh CT, TC [29, tr.122] Các khu vực này đang phát triển quan hệ liên kết, hợp tác và thành lập HTX kiểu mới Tính đến 30/6/2004, cả nước có 16.899 liên hiệp HTX, thu hút 13,6 triệu lao động [24, tr.5]
Tóm lại, các xu hướng vận động và phát triển nói trên của kinh tế CT, TC xét cho
cùng đó là quá trình thực hiện xã hội hoá nền sản xuất trên cơ sở xã hội hoá sở hữu tư nhân của người sản xuất nhỏ, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn trên cả các mặt LLSX, QHSX, phương thức tổ chức quản lý, nền sản xuất Con đường hợp quy luật là chuyển hoá sở hữu tư nhân CT, TC thành sở hữu tư bản tư nhân, kinh tế cá thể và tiểu chủ thành kinh tế tư bản tư nhân Đây là quá trình mang kết quả hai mặt, một mặt tập trung sản xuất để xã hội hoá, một mặt làm phá sản hàng triệu người sản xuất nhỏ và tiểu chủ Vì vậy, cần khuyến khích, hỗ trợ các tiểu chủ có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh những
Trang 30
ngành nghề có tương lai phát triển, bứt lên thành sản xuất lớn tư bản, số khác khuyến khích trở thành kinh tế tập thể hay những đơn vị vệ tinh gia công cho các doanh nghiệp Đây cũng là hướng đi tích cực để phát triển
Một vấn đề quan trọng đặt ra: chúng ta không chỉ nhận biết dự báo xu hướng phát triển của kinh tế CT, TC để nhận biết nó sẽ phát triển như thế nào trong thời gian tới mà điều quan trọng là nó sẽ đi theo định hướng nào, nó sẽ vận động, thay đổi như thế nào Trong điều kiện nền KTTT định hướng XHCN của nước ta, đương nhiên nó mang định hướng XHCN Chính vì vậy, kinh tế CT, TC phụ thuộc rất nhiều vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế của nhà nước
1.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ ở một số nước và một số tỉnh – bài học kinh nghiệm
1.3.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ ở một số nước và một số tỉnh
Trên thế giới hiện nay đã có nhiều nước thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó rất quan tâm tới kinh tế CT, TC Chính phủ của các nước đã đưa ra các giải pháp chiến lược có tính khả thi nhằm tạo điều kiện phát triển bộ phận kinh
tế này Nhờ vậy, kinh tế CT, TC ở các nước đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Kinh tế CT, TC ở Việt Nam đang trong quá trình phục hồi và phát triển Chính vì vậy, việc nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc và một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam trong phát triển kinh tế CT, TC để rút ra những bài học cho Thái Bình là hết sức cần thiết Dưới đây xin nêu một vài ví dụ cụ thể
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có nhiều điểm tương đồng về kinh tế, chính trị, xã hội với Việt Nam Trong quá trình phát triển kinh tế CT, TC ở Trung Quốc cũng trải qua nhiều bước thăng trầm, cho đến khi Trung Quốc thực hiện công cuộc cải cách kinh tế, bộ phận kinh tế này mới được phục hồi và phát triển
Trang 31
Bước đột phá của công việc cải cách mở cửa theo hướng thị trường của Trung Quốc
là sự chuyển biến về nhận thức và thực hiện phát triển KTTN của Đảng cộng sản Trung Quốc
Những năm 1978 – 1987, kinh tế CT, TC ở Trung Quốc được phục hồi trở lại Từ sau cách mạng năm 1949 đến 1956, kinh tế CT, TC ở Trung Quốc, mặc dù vẫn tồn tại nhưng giảm đáng kể về số lượng theo tiến trình cải tạo XHCN Từ 1957 đến 1978, kinh tế
CT, TC bị xoá bỏ hoàn toàn Sau khi tiến hành cải cách mở cửa năm 1979, trước những bức bách về việc làm nên mặc dù KTTN chưa được chính thức thừa nhận, nhưng Trung Quốc đã thừa nhận sự tồn tại của hộ công thương cá thể Trong thời gian này, kinh tế CT,
TC mới chỉ đóng vai trò phụ, bổ sung cho khu vực nhà nước và tập thể Trong diễn văn kỷ niệm 30 năm quốc khánh Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, ông Diệp Kiếm Anh khẳng định: Kinh tế CT, TC ở thành thị và nông thôn là một bộ phận gắn liền và bổ sung cho kinh tế nhà nước XHCN
Tháng 8 năm 1980, Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định:
Kinh tế cá thể có thể tiến hành kinh doanh hợp pháp và không mang tính bóc lột là thành phần kinh tế bổ sung không thể thiếu được cho kinh tế nhà nước XHCN Vì vậy, bộ phận kinh tế này cần được khuyến khích phát triển, các cơ quan hữu quan cần nỗ lực hỗ trợ kinh tế CT, TC không được có các hành vi cản trở hoặc phân biệt đối xử [22, tr.6]
Tháng 8 năm 1987, Quốc vụ viện lại ban hành quy định tạm thời về hộ CT, TC ở nông thôn và thành thị, cùng với các văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể đối với hộ CT,
TC Nhờ vậy, đến năm 1988, hộ CT, TC phát triển mạnh, đạt 23,05 triệu hộ phi nông nghiệp trong toàn quốc
Sự kiện Thiên An Môn năm 1989 đã tác động tiêu cực, dẫn đến một bước thụt lùi cho kinh tế CT, TC vì sau đó chính quyền đã có nhiều chính sách mang tính bảo thủ Số lượng hộ
CT, TC giảm từ 23,05 triệu hộ cuối 1988 xuống còn 19,41 triệu hộ năm 1989 Xu hướng này chỉ dừng lại sau chuyến công tác nổi tiếng của ông Đặng Tiểu Bình xuống phía Nam vào tháng 9/1992, mà tại đó ông đã kêu gọi tiếp tục các nỗ lực cải cách Nhờ vậy, đến năm 1992 số lượng hộ CT, TC ở Trung Quốc đăng ký hoạt động đã lên tới 27 triệu hộ [22, tr.10]
Trang 32
Từ năm 1999 đến nay, Đại hội lần thứ XV Đảng cộng sản Trung Quốc là mốc quan trọng trên con đường cải cách mở cửa và xây dựng nền KTTT mang đặc sắc Trung Quốc Trong báo cáo tại Đại hội lần thứ XV, Đảng cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nêu rõ chế độ kinh tế tư bản của Trung Quốc Nền kinh tế trong đó chế độ công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển là chế độ kinh tế cơ bản của nước ta trong giai đoạn đầu XHCN
Báo cáo đã chỉ ra kinh tế phi công hữu là một bộ phận cấu thành quan trọng của KTTT
Quan điểm đúng đắn đó đã tạo môi trường thuận lợi cho kinh tế phi công hữu phát triển, đặc biệt nó xoá bỏ được thái độ kỳ thị đối với kinh tế phi công hữu; Chủ trương chính sách đúng đắn của Đảng cộng sản và chính phủ Trung Quốc đã tạo điều kiện cho kinh tế CT, TC phát triển, nó đã đóng vai trò to lớn về nhiều mặt đối với nền kinh tế quốc dân Được thể hiện:
- Một là, góp phần giải quyết việc làm, tính đến cuối năm 1997, kinh tế CT, TC
toàn quốc đã tạo việc làm cho hơn 19 triệu người chưa có việc làm, đã thu hút được 35,22 triệu lao động dư thừa ở nông thôn Kết quả này đã đem lại tác dụng tích cực là giảm bớt sức ép về giải quyết việc làm của xã hội, nâng cao sự ổn định về mọi mặt cho xã hội
- Hai là, huy động được nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế Năm 1991, vốn cố định của kinh tế CT, TC đầu tư đạt mức 342,68 tỷ nhân dân tệ, chiếm 13,5% tổng mức đầu tư vốn cố định của xã hội Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng 8,8% GDP
- Ba là, thúc đẩy sự phát triển của ngành dịch vụ và công nghiệp Trong lĩnh vực
công nghiệp, năm 1997 kinh tế CT, TC đã tạo được giá trị lãi xuất là 1.785,19 tỷ nhân dân
tệ, chiếm tỷ trọng 15,9% của 11.212,76 tỷ nhân dân tệ, tổng giá trị sản xuất công nghiệp cẳ nước Lĩnh vực thương nghiệp doanh số bán lẻ hàng hoá của kinh doanh CT, TC năm 1997
là 859,58 tỷ nhân dân tệ tổng doanh số hàng hoá bán lẻ trên toàn quốc
- Bốn là, mở rộng và làm sôi động thị trường Hộ công thương CT, TC là chủ thể giao dịch
ở hơn 80 nghìn thị trường chợ phiên trong cả nước, số lượng đó đã khuấy động thị trường Trung Quốc, làm thị trường hoạt động sôi động [22, tr.12]
Trang 33
1.3.1.2 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An
Là một tỉnh nằm ở trung tâm khu vực Bắc trung bộ, Nghệ An cũng có nhiều nét tương đồng với Thái Bình về phát triển kinh tế CT, TC Nghệ An là một tỉnh có mật độ dân số đông, quy mô dân số của Nghệ An đứng hàng thứ ba toàn quốc (3.029.000 người),
số người trong độ tuổi lao động: 1.457.000 người, trong đó số dân và số lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (89,7% dân số toàn tỉnh và 60,7% lao động toàn tỉnh) [13, tr.5] Chính vì vậy, trong các chủ trương chính sách phát triển kinh tế, các cấp chính quyền tỉnh đã rất chú trọng tới kinh tế CT, TC – bộ phận kinh tế chiếm số đông dân cư và lao động trong tỉnh
Trong thời gian vừa qua, UBND tỉnh Nghệ An đã xây dựng đồng bộ giải pháp nhằm tạo điều kiện phát triển kinh tế CT, TC Trong đó tập trung vào một số lĩnh vực:
Thứ nhất, đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế CT, TC bằng việc:
+ Nâng cấp các trường dạy nghề và xây dựng mới một số trung tâm dạy nghề để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề cho lao động toàn tỉnh, trong đó có lao động của kinh tế CT,
TC Cụ thể: Nghệ An đã nâng cấp và xây dựng một số trường và trung tâm dạy nghề: Trường đại học sư phạm kỹ thuật Nghệ An, Trường kỹ thuật Việt Đức, Trường dạy nghề số
1 của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Trường dạy nghề số 4 của Bộ quốc phòng, Trung tâm dạy nghề của tỉnh Nghệ An Đồng thời xây dựng mới một số trung tâm dạy nghề ở tuyến huyện
Nhờ vậy, đến năm 2005, tỉnh Nghệ An đã nâng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ 22% (năm 2001) lên 34% (năm 2005) [13]
Hai là, phát triển khoa học công nghệ nhằm đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC
Các cấp chính quyền tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện vật chất để phát triển khoa học công nghệ, như: hỗ trợ về vốn, xây dựng quỹ phát triển khoa học công nghệ, quỹ khen thưởng, chính sách sử dụng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực tại địa phương
Khuyến khích ứng dụng công nghệ sinh học (công nghệ gien, công nghệ tế bào, công nghệ vi sinh) trong chọn, tạo và nhân giống, phát triển công nghệ chế biến bảo quản nông sản, thực phẩm sau thu hoạch
Trang 34
Tổ chức gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và sản xuất, bằng hình thức liên kết các viện nghiên cứu, các trường đại học với các cơ sở sản xuất kinh doanh CT, TC để một mặt, những kết quả nghiên cứu sẽ được nhanh chóng ứng dụng vào sản xuất; mặt khác từ thực tiễn của môi trường sản xuất sẽ nảy sinh những vấn đề, những yêu cầu cần khoa học tiếp tục nghiên cứu
Thứ ba, phát triển các hình thức liên kết hợp tác giữa các hộ CT, TC và với các
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác Cụ thể trong các lĩnh vực sau:
+ Trong nông nghiệp: Thành lập các tổ hợp tác làm khuyến nông cho các hộ xã viên,
tổ chức dịch vụ thiết yếu như: thuỷ lợi, giống, bảo vệ thực vật, thú y, làm đất, cung ứng vật tư nông nghiệp, chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản
+ Trong các ngành tiểu thủ công nghiệp: Tổ chức các HTX sản xuất hoặc có thể cung ứng các dịch vụ cho các hộ
+ Trong lĩnh vực vận tải: Định hướng phát triển các tổ chức hợp tác dịch vụ hỗ trợ cho xã viên như: phân bổ luồng, tuyến vận tải, ký kết hợp đồng bến bãi, dịch vụ kỹ thuật sửa chữa, bảo dưỡng các phương tiện vận tải
+ Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ: Hướng hoạt động tổ chức và tìm thị trường cung ứng vật tư cho sản xuất, thị trường để tiêu thụ nông sản, hàng hoá cho các hộ CT,
TC
Nhờ những chủ trương đúng đắn của UBND tỉnh cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp trên đã giúp cho kinh tế CT, TC ở Nghệ An phát triển mạnh mẽ trong thời gian vừa qua Kinh tế CT, TC đã đóng góp một tỷ trọng lớn vào GDP toàn tỉnh (hơn 40% bình quân hàng năm giai đoạn 2001 – 2005)
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Từ thực tế phát triển kinh tế CT, TC ở Trung Quốc và tỉnh Nghệ An có thể rút ra những kinh nghiệm cho phát triển kinh tế CT, TC ở Thái Bình như sau:
- Nhà nước cần xây dựng môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội, thuận lợi cho kinh tế CT, TC Cụ thể:
Trang 35
+ Về môi trường pháp lý: Cần xây dựng hệ thống pháp luật, chính sách và thể chế phù hợp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế CT, TC, tạo lòng tin cho những hộ CT, TC để
họ yên tâm bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh
+ Về môi trường tâm lý xã hội: Phải giải phóng được tư tưởng về sự tác động tiêu cực của phát triển kinh tế CT, TC đến nền kinh tế XHCN, xoá bỏ tâm lý kỳ thị, phân biệt đối xử trong mọi lĩnh vực đối với kinh tế CT, TC
- Cần thành lập các tổ chức đại diện, tổ chức hỗ trợ đối với kinh tế CT, TC và tăng cường hoạt động của các hiệp hội, các tổ chức đại diện giúp đỡ kinh tế CT, TC phát triển
Với đặc điểm của kinh tế CT, TC là quy mô nhỏ, hoạt động phân tán manh mún, tự phát nên rất cần đến sự hỗ trợ của các hiệp hội, các tổ chức đại diện Sự hỗ trợ của các hiệp hội này có tác dụng: một mặt, tạo điều kiện cho các hộ CT, TC trao đổi và học tập kinh nghiệm lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong việc nắm bắt thông tin thị trường, hiểu biết các chính sách pháp luật của nhà nước, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất và bảo vệ lợi ích chính đáng của các hộ CT, TC Mặt khác, hạn chế được tính tự phát của bộ phận kinh tế này trong nền KTTT định hướng XHCN, hướng nó phát triển theo đúng quỹ đạo XHCN mà Đảng và Nhà nước ta đã lựa chọn
Kết luận chương 1
Kinh tế CT, TC bao gồm những đơn vị kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất vào hoạt động dựa vào sức lao động của từng hộ là chủ yếu Trong TKQĐ lên CNXH ở nước ta, sự tồn tại của kinh tế CT, TC là tất yếu và cần thiết do nó vẫn còn phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, huy động các nguồn lực vào sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Những đóng góp của kinh tế CT, TC vào sự phát triển kinh tế nói chung ngày càng khẳng định vị trí, vai trò là một bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên, trên thực tế kinh tế CT, TC chưa tương xứng với tiềm năng của mình Chính vì vậy, để phát huy vai trò của bộ phận kinh tế này, đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta cần tăng cường những chính sách, chủ trương tạo điều kiện, khuyến
Trang 36
khích, giúp đỡ và hỗ trợ kinh tế CT, TC để trong tương lai có thể khai thác và sử dụng những nguồn lực nội tại để nó phát triển tương xứng với những tiềm năng vốn có
Trang 37
Chương 2
Thực trạng phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ
ở Thái Bình trong giai đoạn từ năm 2001 đến nay
2 1 Những điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển của kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thái Bình là tỉnh đồng bằng ven biển, nằm ở phía nam Châu thổ sông Hồng, ở vị trí
có toạ độ địa lý: 20017 đến 20044 vĩ bắc và 106006 đến 106039 kinh độ đông Phía đông giáp Vịnh bắc bộ, phía tây và tây nam giáp tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam, phía bắc giáp tỉnh Hải Dương, Hưng Yên và thành phố Hải Phòng
Thái Bình có địa hình tương đối bằng phẳng lại được phù sa bồi đắp hàng năm nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp
Diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 154.351 ha, trong đó: Đất nông nghiệp là 103.955
ha, đất lâm nghiệp có rừng 2.500 ha; đất chuyên dùng 25.978 ha; đất thổ cư 12.445 ha và đất chưa sử dụng và sông ngòi là 9.431 ha
Thái Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, bức xạ mặt trời lớn, tạo nên vùng nhiệt độ cao, chịu ảnh hưởng của biển, mùa hè nóng nực, mưa nhiều; mùa đông giá lạnh, mưa phùn vào dịp đầu năm Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23 – 240C, nhiệt độ thấp nhất là 40C và cao nhất là 38 – 390C Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.540 – 1900 mm, cao nhất là 2.428 mm và thấp nhất là 1.173 mm, độ ẩm trung bình ở mức cao từ 85 – 90% [31, tr.1]
Là một địa bàn tỉnh duy nhất ở nước ta được bao quanh và ngăn với các tỉnh bạn trong vùng sinh thái bởi hệ thống sông biển khép kín Có 5 cửa sông lớn đổ ra biển là Văn
úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân và có 4 sông lớn chảy qua địa phận của tỉnh Nhìn chung, các sông chảy qua địa phận tỉnh rồi đổ ra biển, chịu ảnh hưởng của thuỷ triều nên rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế Mùa hè mực nước tăng nhanh, lưu lượng lớn hàm lượng phù sa cao Mùa đông lưu lượng giảm xuống nhiều, nước mặn từ các cửa sông lớn
có thể chuyển sâu vào đất liền thành những vùng nước lợ, rất thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, song cũng gây không ít những khó khăn cho địa phương, hàng năm
Trang 38
phải phải đầu tư cải tạo hàng trăm ha đất nhiễm mặn và xây dựng cơ sở hạ tầng, đê kè thuỷ lợi, mương máng tưới tiêu và phòng chống thiên tai để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống của nhân dân
Tuy vậy, điều kiện khí hậu thủy văn Thái Bình nhờ có thiên nhiên ưu đãi nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với trồng cây lúa nước Với những đặc trưng kinh tế nổi bật của tỉnh nông nghiệp – vựa lúa của Đồng bằng sông Hồng,
từ những năm kháng chiến chống Mỹ với năng suất lúa đạt 5 tấn/ha, đến nay Thái Bình đã đạt 11 – 12 tấn/ha và nhiều năm liền giành thắng lợi toàn diện trên mặt trận nông nghiệp
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Thái Bình là một tỉnh có mật độ dân số cao so với các tỉnh trong cả nước (1200 người/km2) Quy mô dân số của tỉnh xếp hàng thứ 10 toàn quốc Đến năm 2005, dân số của Thái Bình là 1.850.000 người, số trong độ tuổi lao động là 1.083.322 người (chiếm 59,5% tổng số dân, trong đó số dân và số lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn (92,7% dân số và 93,7 lao động sống ở khu vực nông thôn, với 68% lao động nông nghiệp) Có thể nói Thái Bình là tỉnh có tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn cao nhất cả nước Điều đó
đã cho thấy Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp hầu như thuần nông [7, tr.10]
Nhân dân Thái Bình có truyền thống cách mạng, cần cù và rất hiếu học, với một nguồn nhân lực dồi dào và sự ham học hỏi sẽ là một lợi thế lớn đối với sự phát triển kinh
tế, xã hội của tỉnh Nhìn chung nguồn lao động của tỉnh có trình độ văn hoá khá cao nhờ sự chú trọng đầu tư cho giáo dục Tuy nhiên, về lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật giai đoạn 2001 – 2005 mới chỉ có 30%, số còn lại là lao động không có chuyên môn kỹ thuật [27] Số này lại tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn nên chất lượng lao động của kinh tế CT, TC vẫn ở trình độ thấp, do địa bàn hoạt động và lực lượng lao động của bộ phận kinh tế này tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn Do đó, hạn chế đến việc tiếp cận các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ, làm giảm hiệu qủa sản xuất kinh doanh của bộ phận kinh tế này
Trong những năm vừa qua thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và các nhiệm vụ, mục tiêu đề ra trong các NQ của Đảng bộ tỉnh Thái Bình, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh
đã đạt được những thành tựu quan trọng Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân thời kỳ 2000
Trang 39là tỉnh phát triển kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, nền kinh tế còn ở trình độ thấp Chính vì vậy, trong quy hoạch tổng thể đến năm 2010 của tỉnh đã xác định phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đồng thời phát triển toàn diện nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH, chuyển mạnh nông nghiệp sang sản xuất hàng hoá [18, tr.10]
Tóm lại, Thái Bình là tỉnh đồng bằng Bắc bộ còn có rất nhiều tiềm năng để phát
triển kinh tế, xã hội Với những điều kiện thiên nhiên ưu đãi, lợi thế vị trí địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng những truyền thống tốt đẹp của người dân Thái Bình
là những nhân tố rất thuận lợi cho sự phát triển của kinh tế CT, TC Song trên thực tế những tiềm năng này chưa được khai thác đúng mức Hiện nay, nền kinh tế của tỉnh vẫn ở trình độ thấp, tụt hậu so với các tỉnh trong khu vực và bình quân chung của cả nước, nền kinh tế còn mang nặng tính thuần nông, nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn, kinh tế hàng hoá chưa phát triển mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng thấp kém Điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế CT, TC trong thời gian qua
2.2 Những kết quả đạt được của kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Thái Bình trong giai đoạn từ 2001 đến nay
Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra bước ngoặt mới đối với sự phát triển kinh tế nhiều thành phần Đảng ta không chỉ thừa nhận sự tồn tại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong suốt TKQĐ đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN ở nước ta, mà còn thấy được sự cần thiết phải có chính sách sử dụng đúng đắn kinh tế CT,
TC có lợi cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng dân chủ, văn minh
Trang 40
Để thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, Nhà nước ta ban hành Nghị định số 221/HĐBT, ngày 23/7/1991; Nghị định số 66/HĐBT, ngày 2/3/1992; Nghị định số 222/HĐBT về cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn vốn pháp định của Nghị định 221/HĐBT Bằng những nghị định, chỉ thị trên cùng với những quy định của Luật doanh nghiệp ban hành có hiệu lực từ tháng 1/2000, Đảng và Nhà nước ta đã tạo thêm lòng tin và tích cực của mọi công dân trong việc phát triển các loại hình sản xuất kinh doanh của các
hộ CT, TC Nhờ vậy, trong thời gian qua, kinh tế CT, TC ở Thái Bình đã đạt được một số kết quả tích cực đáng ghi nhận
2.2.1 Tình hình thu hút lao động, tạo việc làm của kinh tế cá thể, tiểu chủ
Lao động và việc làm là yếu tố quyết định thu nhập và mức sống của các tầng lớp dân cư, đó là yếu tố quan trọng quyết định tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội
Thái Bình là một trong những tỉnh có lực lượng lao động chiếm tỷ lệ cao so với dân
số (1.083.322 lao động/1.850.000 người) chiếm 59% dân số của tỉnh Lực lượng lao động dồi dào là nguồn tiềm năng lớn để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời cũng gây sức ép lớn đối với vấn đề giải quyết việc làm hàng năm của cấp chính quyền tỉnh [7]
Trong những năm vừa qua, với chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, các thành phần kinh tế đã thu hút được khối lượng lớn lao động của tỉnh vào các hoạt động kinh tế Tuy nhiên, trong điều kiện các doanh nghiệp nhà nước
và kinh tế tập thể đang trong quá trình chuyển đổi và sắp xếp lại, chỉ thu hút được rất ít lao động thì kinh tế CT, TC đã phát huy vai trò tích cực trong giải quyết việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp trên địa bàn tỉnh
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động chia theo thành phần kinh tế [27]